Ban đầu mới chỉ là những quy định mang tính chất sơ khai, chưa rõ nét nhưng đến LDN 2005, những quy định đó đã được cụ thể hóa, đưa công ty hợp danh trở thành một trong những sự lựa chọn
Trang 1TM1.HK – 15: Bình luận các quy định của Luật Doanh nghiệp (2005) về công ti hợp danh
MỤC LỤC:
A LỜI MỞ ĐẦU.
B GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ.
1 Vấn đề tư cách pháp nhân của công ti hợp danh
2 Phân chia rõ ràng hai loại công ti hợp danh
3 Thành viên công ti hợp danh
a Thành viên hợp danh
b Thành viên góp vốn
4 Quản lí công ti hợp danh
5 Vấn đề vốn của công ti hợp danh
C KẾT BÀI.
Trang 2A LỜI MỞ ĐẦU: Luật pháp được ví như là hành lang cho các hoạt động kinh doanh
của các doanh nhân (hành lang pháp lý) Tuỳ từng thời kỳ và giai đoạn phát triển kinh tế
mà Nhà nước quyết định mở rộng ra hoặc thu hẹp lại hành lang pháp lý đi đúng định hướng phát triển của đất nước Kể từ sau khi có LDN năm 1999, khái niệm công ty hợp danh đã bắt đầu đi vào đời sống kinh tê – xã hội ở Việt Nam Ban đầu mới chỉ là những quy định mang tính chất sơ khai, chưa rõ nét nhưng đến LDN 2005, những quy định đó
đã được cụ thể hóa, đưa công ty hợp danh trở thành một trong những sự lựa chọn của các nhà đầu tư khi bỏ vốn thành lập doanh nghiệp kinh doanh
B GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ.
Nhìn nhận ở một góc độ nhất định, việc pháp luật ghi nhận công ty hợp danh là một chủ thể kinh doanh có nghĩa là đã điểm thêm một nét vẽ vào môi trường kinh doanh nhiều màu sắc ở Việt Nam Các nhà đầu tư có thêm một lựa chọn, đó là lựa chọn cho mô hình kinh doanh vừa và nhỏ, lại đảm bảo an toàn bởi sự thân tín và quen biết lẫn nhau Nhưng nhìn từ góc độ khác trong con mắt của những nhà kinh doanh thì điểm yếu của công ty hợp danh so với các loại hình doanh nghiệp khác lại là nguyên nhân để họ có thể đưa công ty hợp danh ra ngoài phạm vi lựa chọn của mình Số lượng doanh nghiệp điều tra qua các năm 2001 – 2009
Đơn vị tính: doanh nghiệp
2.KVDNNNN 35004 44314 55237 64256 84003 105167 123392 147316 196779
DNTN 20548 22777 24794 25653 29980 34646 37323 40468 46530
TNHHTN 10458 16291 23485 30164 40918 52505 63658 77647 103092
CP ko VNN 452 1125 2272 3872 6920 10549 14801 20862 31744 KVcóVĐTNN 1525 2011 2308 2641 3156 3697 4220 4961 5625
Tổng: 42288 51680 62908 72012 91756 112950 131318 155771 205732
Trang 3Nguồn: tổng cục thống kê 2009.
1 Vấn đề tư cách pháp nhân của công ti hợp danh.
LDN 2005, Điều 130 Công ty hợp danh "2 Công ty hợp danh có tư cách pháp nhân kể
từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh"
Công ti hợp danh được luật doanh nghiệp ghi nhận là chủ thể kinh doanh có tư cách pháp nhân, đồng nghĩa với việc công ti được tham gia một cách rộng rãi vào tất cả các hoạt động kinh doanh Nhưng chính trong quy định tưởng chừng đơn giản này lại nảy sinh nhiều tranh cãi cho việc phát triển mô hình kinh doanh này Có hai luồng quan điểm trái chiều: Một là, pháp luật không nên trao tư cách pháp nhân cho công ti hợp danh vì sẽ gây nên nhiều mâu thuẫn trong hệ thống pháp luật Hai là, pháp luật nên trao tư cách pháp nhân cho công ti hợp danh vì sự phát triển của loại hình công ti đối nhân khá mới
mẻ ở Việt Nam Cả hai luồng quan điểm trên đều có lí khi nhìn nhận vấn đề tư cách pháp nhân của công ti hợp danh từ nhiều góc độ khác nhau Xét về mặt pháp luật thực định, công ti hợp danh không đáp ứng được đầy đủ các điều kiện của một pháp nhân theo quy
định của BLDS, một trong những điều kiện đó chính là pháp nhân phải có khối tài sản
tách bạch và phải tự chịu trách nhiệm bằng chính khối tài sản đó, thành viên pháp nhân không phải chịu trách nhiệm dân sự thay cho pháp nhân đối với nghĩa vụ dân sự do pháp nhân xác lập, thực hiện Công ti hợp danh không thể là pháp nhân khi nó luôn tồn tại loại
thành viên hợp danh, chịu trách nhiệm vô hạn đối với mọi nghĩa vụ và khoản nợ của công
ti Vấn đề là LDN sửa đổi và vẫn trao tư cách pháp nhân cho công ti hợp danh Thực tế cho thấy pháp luật nhiều quốc gia khác trên thế giới cũng quy định công ti hợp danh là pháp nhân Điều đó đã tạo cho công ti hợp danh địa vị pháp lí cần thiết để nó có thể tham gia rộng rãi vào môi trường kinh doanh và cạnh tranh bình đẳng với các loại hình doanh nghiệp khác Luật DNVN đã có sự thay đổi theo chiều hướng tích cực đó, từ chỗ không công nhận tư cách pháp nhân của công ti hợp danh đến quy định công ti hợp danh là loại hình doanh nghiệp có tư cách pháp nhân Đó chính là liệu pháp cần thiết nhằm tạo điều kiện cho loại hình công ti này phát triển, thúc đẩy các nhà đầu tư lựa chọn mô hình công
ti hợp danh làm cơ sở kinh tế cho chính mình Sự mâu thuẫn giữa quy định về pháp nhân trong BLDS với việc ghi nhận công ti hợp danh có tư cách pháp nhân sẽ không phải là
Trang 4vấn đề lớn nếu ta nhìn nhận nó một cách đơn giản, bới pháp luật luôn tồn tại những mâu thuẫn của nó và có những ngoại lệ của nó Có thể xem công ti hợp danh là trường hợp ngoại lệ - pháp nhân đặc thù
Thế nhưng vấn đề ở đây là khi còn tồn tại nhiều ý kiến trái chiều, còn có sự mâu thuẫn và tranh cãi thì sẽ gây tâm lí e ngại cho những nhà đầu tư khi họ muốn lựa chọn mô hình công ti hợp danh để hoạt động kinh doanh, hoặc sẽ gây khó khăn trong quá trình hoạt động một khi công ti đã ra đời Các quy định trong hệ thống pháp luật chưa có sự đồng bộ và nhất quán mà cụ thể ở đây là sự mâu thuẫn giữa BLDS và LDN về vấn đề tư cách pháp nhân liên quan đến trường hợp công ti hợp danh Hậu quả là đã góp phần làm cho số lượng công ti hợp danh chỉ dừng lại ở hai con số, so với các con số hàng nghìn hay hàng chục nghìn các doanh nghiệp khác trong cùng khu vực kinh tế tư nhân trên phạm vi toàn quốc Vì vậy, BLDS hay LDN cần có những điều chỉnh, bổ sung cần thiết
để tạo sự nhất quán trong quy định về tư cách pháp nhân của công ti hợp danh Từ đó, thống nhất được nhận thức trong xã hội, tránh những mâu thuẫn không có lợi cho sự phát triển mô hình công ti đối nhân này Bằng cách đơn giản nhất, có thể bổ sung vào điều 84
BLDS cụm từ "trừ trường hợp pháp luật có quy định khác" Như vậy, chúng ta có thể
hiểu công ti hợp danh chính là trường hợp thuộc cụm từ nêu trên Nhiều luật gia Việt Nam cho tới bây giờ vẫn chưa đồng tình với việc Luật Doanh nghiệp năm 2005 quan niệm công ty hợp danh có tư cách pháp nhân Rõ ràng, công ty hợp danh cũng có tên gọi, trụ sở, quốc tịch, sản nghiệp, ý chí và trách nhiệm Điều đó cho thấy không thể quan niệm
nó là một cái gì đó khác hơn pháp nhân
2 Phân chia rõ ràng hai loại công ti hợp danh.
LDN 2005 đã chia công ti hợp danh ra làm hai loại: Loại thứ nhât chỉ bao gồm các thành viên hợp danh; Loại thứ hai có thêm các thành viên góp vốn Quy định như vậy sẽ dân đến một số khó khăn nhất định khi xem xét các trương hợp giải thể bắt buộc của công ti hợp danh Một trong những trường hợp giải thể bắt buộc cho doanh nghiệp nói chung là trong thời hạn 6 tháng liên tiếp không có đủ số lương thành viên tối thiểu theo quy định của LDN Đó là quy định chung cho tất cả các loại hình doanh nghiệp hoạt động theo LDN Quy định này áp dụng cho các doanh nghiệp khác rất đơn giản, chỉ cần dựa
Trang 5vào số lượng thành viên tối thiểu mà Luật yêu cầu, chẳng hạn như đối với công ti TNHH nhiều thành viên thì số lượng thành viên tối thiểu phải có là 2 thành viên, công ti cổ phần
là 3 thành viên… Nhưng đối với công ti hợp danh lại có những khác biệt Có một số ý kiến cho rằng công ti hợp danh sẽ chỉ bị giải thể nếu không đủ số lượng thành viên hợp danh tối thiểu ( 2 thành viên) còn việc công ti có hay không có thành viên góp vốn hoàn toàn không ảnh hưởng gì đến việc tiếp tục tồn tại của công ti Tuy nhiên, hầu như tất cả các nước có quy định về loại hình công ti hợp danh đều phân chia rõ ràng 2 loại công ti mang bản chất hợp danh là công ti hợp danh thông thường và công ti hợp danh hữu hạn Hai loại công ti này về bản chất thì tương đối giống nhau nhưng vẫn có những đặc điểm pháp lí khác biệt, được điều chỉnh bằng những quy định không giống nhau, vì thế, ngay
cả khi giải thể 2 loại hình công ti này cũng có những điểm khác nhau Thành viên góp vốn không có quyền quản lí công ti hợp danh nhưng cũng không thể phủ nhận vai trò của
họ đối với công ty hợp danh Một công ti hợp danh chỉ bao gồm các thành viên hợp danh chắc chăn sẽ rất khác với một công ti có cả thành viên hợp danh và thành viên góp vốn
Vì vậy, việc không còn thành viên góp vốn trong một công ti hợp danh đang có loại thành viên này cũng ảnh hưởng không nhỏ tới sự tiếp tục tồn tại của công ti
Công ti hợp danh là loại hình công ti đóng đặc thù, do đó bất kì biến động nào trong phạm vi thành viên hay cơ cấu vốn góp cũng để ngỏ khả năng phá vỡ nền tảng cơ
sở của công ti và buộc nó phải chuyển đổi loại hình Việc phân chia rõ ràng hai loại hợp danh này còn giúp cho việc chuyển đổi hình thức công ti trở nên dễ dàng hơn Trong trường hợp công ti hợp danh hữu hạn (có thành viên góp vốn) không đáp ứng được điều kiện về só lượng thành viên có thể được chuyển đổi thành loại hình công ti hợp danh thông thường nếu nó vẫn có đủ 2 thành viên hợp danh Như vậy, thay vì giải thể, có thể quy định thêm một số trường hợp chuyển đổi công ti hợp danh từ loại hữu hạn sang loại thông thường và ngược lại (nếu có thay đổi nhân sự trong quá trình hoạt động)
3 Thành viên công ti hợp danh.
a Thành viên hợp danh.
Luật Doanh Nghiệp 2005, Điểm b, Khoản 1,Điều 130 Công ty hợp danh
1 Công ty hợp danh là doanh nghiệp, trong đó:
Trang 6"b Thành viên hợp danh phải là cá nhân, chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình
về các nghĩa vụ của công ty".
Thành viên hợp danh theo Luật Doanh nghiệp năm 2005 phải là cá nhân, có nghĩa
là pháp nhân không thể góp vốn thành lập công ty hợp danh Ở trên đã nói, bản chất thủa ban đầu của công ty hợp danh là sự liên kết giữa các thương gia thể nhân hay thương nhân đơn lẻ để cùng kinh doanh dưới một tên hãng chung Tuy nhiên, ngày nay khi đã cách xa cái thủa ban đầu đó hàng thiên niên kỷ, thì công ty hợp danh mang bản chất là sự liên kết giữa các thương nhân mà trong đó có cả thương gia thể nhân và thương gia pháp nhân, có nghĩa là thành viên của công ty hợp danh có thể là pháp nhân Về mặt lý thuyết cho thấy pháp nhân mô phỏng vị trí pháp lý của thể nhân Nó có tên gọi, cơ sở, quốc tịch,
ý chí, sản nghiệp, trách nhiệm, có nghĩa là nó có các quyền dân sự như thể nhân trừ một
số quyền đặc trưng của thể nhân như về gia đình, về chính trị… Đứng trước pháp luật, thể nhân hay pháp nhân đều được gọi là người, nhưng để phân biệt giữa chúng người ta gắn vào đó các tính từ Sự phân biệt như vậy là cần thiết để thiết lập đời sống pháp lý khác nhau cho chúng, song sự phân biệt đó không làm cản trở tới việc tham gia vào các hoạt động kinh tế của pháp nhân Về mặt pháp luật thực định, chúng ta đã thấy Luật Đầu
tư nước ngoài tại Việt Nam năm 1987 có một hình thức đầu tư là hợp tác kinh doanh trên
cơ sở hợp đồng hay hợp đồng hợp tác kinh doanh mà các luật gia trên thế giới quan niệm
đó chính là hình thức công ti hợp danh, mặc dù khi xây dựng Luật Doanh nghiệp năm
1999, nhiều quan điểm ở Quốc hội cho rằng, hình thức công ti hợp danh là quá mới đối với Việt Nam, nên đã cắt xén dự thảo để chỉ thông qua vỏn vẹn năm điều về công ty hợp danh Điều đáng lưu ý rằng, các bên trong hợp đồng hợp tác kinh doanh theo Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam có thể là pháp nhân Vậy tại sao Luật Doanh nghiệp năm 2005 cho rằng thành viên của công ti hợp danh chỉ có thể là thể nhân? Có lẽ nhà làm luật nghĩ, thành viên hợp danh của công ti hợp danh phải chịu trách nhiệm vô hạn định đối với các khoản nợ của công ti nên buộc phải là cá nhân, vì xem điểm b, khoản 1, Điều 130 của Luật Doanh nghiệp năm 2005 có bóng dáng của những nhận thức như vậy Chịu trách nhiệm vô hạn định có nghĩa là phải chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình hiện
có hoặc sẽ có trong tương lai Vậy cả thể nhân và pháp nhân đều phải chịu trách nhiệm
Trang 7bằng toàn bộ tài sản của mình đối với các khoản nợ của họ, chỉ có điều khác biệt là pháp nhân khi đã bị thanh lý hết tài sản thì có thể không tồn tại nữa, còn thể nhân thì vẫn có cơ hội để làm ăn, có nghĩa là có thể có tài sản trong tương lai Câu chuyện này còn liên quan tới luật phá sản mà chúng ta sẽ có dịp đề cập tới Ngày nay, các công ty thường lựa chọn các hình thức đầu tư rất linh hoạt Họ có thể sử dụng hình thức công ty hợp danh để tạo ra các chi nhánh chung hoặc để kiểm soát hữu hiệu một công ty hoặc nhiều công ty khác trong việc khai thác một cơ hội kinh doanh nào đó
Thành viên hợp danh là những người quyết định sự tồn tại và phát triển của công ti
cả về mặt pháp lí và thực tế Trong quá trình hoạt động các thành viên hợp danh được hưởng những quyền cơ bản, quan trọng của thành viên công ti, đồng thời phải thực hiện nghĩa vụ tương xứng để bảo vệ quyền lợi của công ti và những người liên quan Các quyền và nghĩa vụ của thành viên hợp danh được quy định trong Luật doanh nghiệp và điều lệ của công ti Tuy nhiên, để bảo vệ lợi ích của công ti, pháp luật quy định một số hạn chế đối với quyền của thành viên hợp danh
Luật Doanh nghiệp 2005, Điều 133 Hạn chế đối với quyền của thành viên hợp danh
1 Thành viên hợp danh không được làm chủ doanh nghiệp tư nhân hoặc thành viên hợp danh của công ty hợp danh khác, trừ trường hợp được sự nhất trí của các thành viên hợp danh còn lại.
2 Thành viên hợp danh không được quyền nhân danh cá nhân hoặc nhân danh người khác thực hiện kinh doanh cùng ngành, nghề kinh doanh của công ty đó để tư lợi hoặc phục vụ lợi ích của tổ chức, cá nhân khác.
3 Thành viên hợp danh không được quyền chuyển một phần hoặc toàn bộ phần vốn góp của mình tại công ty cho người khác nếu không được sự chấp thuận của các thành viên hợp danh còn lại.
Việc quy định như vây xuất phát từ đặc điểm của công ti hợp danh đó là dựa trên sự thân tín và quen biết lẫn nhau Việc thay đổi thành viên là rất khó khăn trong công ti hợp danh Một sự biến động về thành viên hợp danh có thể sẽ làm công ti phải chuyển đổi loại hình doanh nghiệp Bởi như vậy, nó sẽ làm mất đi đặc trưng vốn có của công ti hợp danh
Trang 8Trong quá trình hoạt động, công ti hợp danh có quyền tiếp nhận thêm thành viên hợp danh hoặc thành viên góp vốn Việc tiếp nhận thêm thành viên phải được hội đồng thành viên chấp thuận Thành viên hợp danh mới được tiếp nhận vào công ti phải cùng liên đới chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình đối với các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của công ti (trừ trường hợp có thỏa thuận khác) Tư cách thành viên công ti của thành viên hợp danh bị chấm dứt trong các trường hợp sau đây:
+ Thành viên chết hoặc bị Tòa án tuyên bố là đã chết, mất tích, bị hạn chế hoặc mất năng lực hành vi dân sự
+ Tự nguyện rút khỏi công ti hoặc bị khai trừ khỏi công ti Khi tự nguyện rút khỏi công ti hoặc bị khai trừ khỏi công ti, trong thời hạn 2 năm kể từ ngày chấm dứt tư cách thành viên, thành viên hợp danh vẫn phải liên đới chịu trách nhiệm về các nghĩa vụ của công ti
đã phát sinh trước khi chấm dứt tư cách thành viên đó với cơ quan đăng kí kinh doanh
b Thành viên góp vốn.
Công ti hợp danh có thể có thành viên góp vốn Thành viên góp vốn có thể là tổ chức hoặc cá nhân Thành viên góp vốn chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ti
trong phạm vi số vốn đã cam kết góp vào công ti.
Luật Doanh Nghiệp 2005, điểm c, khoản 1, Điều 130 Công ty hợp danh
1 Công ty hợp danh là doanh nghiệp, trong đó:
"c Thành viên góp vốn chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty trong phạm vi
số vốn đã góp vào công ty".
Là thành viên của công ti đối nhân nhưng thành viên góp vốn hưởng chế độ trách nhiệm tài sản như một thành viên của công ti đối vốn Chính điều này là lí do cơ bản dẫn đến thành viên góp vốn có thân phận pháp lí khác với thành viên hợp danh Bên cạnh những thuận lợi được hưởng từ chế độ trách nhiệm hữu hạn, thành viên góp vốn bị hạn chế những quyền cơ bản của một thành viên công ti Thành viên góp vốn không được tham gia quản lí công ti, không được hoạt động kinh doanh nhân danh công ti Pháp luật nhiều nước còn quy định nếu thành viên góp vốn hoạt động kinh doanh nhân danh công ti thì sẽ mất quyền chịu trách nhiệm hữu hạn về các khoản nợ của công ti Các quyền và nghĩa vụ
Trang 9cụ thể của thành viên góp vốn được quy định trong Luật doanh nghiệp và điều lệ của công ti
Khi quy định về thành viên góp vốn, LDN cũng quy định những giới hạn quyền của họ nhưng chưa có chế tài xử lí và chưa dự liệu đầy đủ những trường hợp vi phạm như trong luật về công ti hợp danh của những nước khác trên thế giới Luật chỉ quy định không cho phép thành viên góp vốn được tiến hành công việc kinh doanh nhân danh công
ti Quy định sơ sài như vậy, có thể dẫn đến tình trạng là một trong các thành viên góp vốn vượt quá thẩm quyền của mình trong công ti hợp danh Vấn đê này sẽ xử lí như thê nào? Theo các quy định liên quan của pháp luật hiện hành, một hành vi như vậy sẽ bị coi là không có hiệu lực (vì người thực hiện không có thẩm quyền để thực hiện) Nếu xét về quyền lợi của công ti hợp danh thì rõ ràng trong trường hợp này, công ti hợp danh sẽ không chịu bất cứ ảnh hưởng nào Nhưng xét về quyền lợi của người thứ ba giao dịch thì những người này sẽ phải chịu những hậu quả pháp lí bất lợi từ hành vi vô hiệu gậy ra Với pháp luật VN, một quan hệ vô hiệu sẽ được xử lí theo đường hướng chung mà không cần suy xét xem ai trong số các bên thiết lập đó là bên có lỗi dẫn đến sự vô hiệu của giao dịch Chẳng hạn như một quan hệ hợp đồng thương mại bị coi là vô hiệu do một thành viên góp vốn của công ti hợp danh không có đủ thẩm quyền thiết lập với một bên thứ ba thì quan hệ này sẽ được xử lí theo cách thức chung là các bên trả cho nhau những gì đã nhận, thiệt hại phát sinh các bên tự chịu, bên có lỗi phải bồi thường thiệt hại Tuy nhiên,việc nhìn nhận "bên có lỗi" trong trường hợp này là bên nào: công ti hợp danh hay chính thành viên thực hiện việc giao kết hợp đồng nói trên? Để bảo vệ công chúng giao dịch trong trường hợp các thành viên góp vốn lạm quyền, gây cho bên thứ ba lầm tưởng mình là thành viên hợp danh của công ti hợp danh mà tin tưởng kí kết hợp đồng, pháp luật cần quy định cụ thể các chế tài đối với thành viên góp vốn của công ti hợp danh, đồng thời quy định rõ các trường hợp nếu như thành viên góp vốn này không thực hiện nghĩa vụ của mình thì trách nhiệm của công ti hợp danh được đặt ra như thê nào Kinh nhiệm một số nước cho thấy, nếu rơi vào trường hợp này, hầu hết các nước đều bắt buộc thành viên góp vốn gây ra vụ việc sẽ phải chịu trách nhiệm vô hạn – thay thế vào chế độ trách nhiệm hữu hạn vốn có - trước mọi khoản nợ, mọi rủi ro phát sinh từ thương vụ đó
Trang 10Một vấn đề nữa liên quan đến thành viên góp vốn, đó là vấn đề "thực quyền" của loại thành viên này trong công ti hợp danh Luật doanh nghiệp đã cho phép thành viên góp vốn được tham gia vào cơ quan quản lí cao nhất là hội đồng thành viên nhưng đồng thời quy định thành viên góp vốn không được tham gia quản lí công ti Thực chất quyền quản lí và quyền điều hành công ti đều nằm trong tay thành viên hợp danh Mọi vấn đề quan trọng của công ti đều do các thành viên hợp danh quyết định thông qua việc biểu quyết với tỉ lệ chấp thuận của chỉ các thành viên hợp danh Nhìn nhận một cách khách quan, thành viên góp vốn cũng đóng một vai trò nhất định trong công ti, sự tồn tại, phát triển hay giải thể công ti đều ít nhiều ảnh hưởng đến quyền và lợi ích của họ Vì vậy pháp luật nên co những quy định cụ thể đảm bảo quyền lợi của loại thành viên góp vốn trong việc quyết định những vấn đề quan trọng của công ti hợp danh Từ đó, nâng cao ý thức trách nhiệm của thành viên góp trong hoạt động kinh doanh của công ti, khuyến khích các nhà đầu tư tham gia góp vốn trở thành thành viên của công ti hợp danh
4 Quản lí công ti hợp danh.
Do tính an toàn pháp lí cao đối với công chúng, mặt khác các thành viên thường có quan hệ mật thiết về nhân thân nên việc quản lí công ti hợp danh chịu rất ít sự ràng buộc của pháp luật Về cơ bản, các thành viên có quyền tự thỏa thuận về việc quản lí, điều
hành công ti Tuy nhiên cần lưu ý là quyền quản lí công ti chỉ thuộc về thành viên hợp
danh, thành viên góp vốn không có quyền quản lí công ti Theo quy định của LDN, cơ
cấu tổ chức quản lí công ti hợp danh do các thành viên hợp danh thỏa thuận trong điều lệ của công ti Việc tổ chức quản lí công ti hợp danh phải tuân thủ các quy định về một số vấn đề cơ bản sau đây:
- Trong công ti hợp danh, hội đồng thành viên là cơ quan quyết định cao nhất của công ti bao gồm tất cả các thành viên Hội đồng thành viên bầu một thành viên hợp danh là chủ tịch đồng thời kiêm giám đốc hoặc tổng giám đốc (nếu điều lệ công ti không có quy định
khác) Điều 135 Hội đồng thành viên
1 Tất cả thành viên hợp lại thành Hội đồng thành viên Hội đồng thành viên bầu một thành viên hợp danh làm Chủ tịch Hội đồng thành viên, đồng thời kiêm Giám đốc hoặc Tổng giám đốc công ty nếu Điều lệ công ty không có quy định khác.