Quan hệ thẩm mỹ là quan hệ làm thanh lọc con người, tách con người khỏi những mối ràng buộc có tính cách vật chất nhằm thiết lập một sợi dây tinh thần giữa con người đối với thế giới và
Trang 1MỸ HỌC ĐẠI CƯƠNG Dành cho sinh viên CĐ SP Ngữ văn và CĐ Mầm non
TÁC GIẢ: LƯƠNG HỒNG VĂN
Năm: 2016
TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUẢNG BÌNH
KHOA KHOA HỌC XÃ HỘI
GIÁO TRÌNH
(Lưu hành nội bộ)
BÀI GIẢNG
Trang 2MỤC LỤC
CHƯƠNG 1: ĐỐI TƯỢNG CỦA MỸ HỌC 1
I Mỹ học là gì 1
II Quá trình xác định đối tượng của Mỹ học trong lịch sử 2
CHƯƠNG 2: QUAN HỆ THẨM MỸ 9
I Khái niệm quan hệ thẩm mỹ 9
II Tính chất cơ bản của quan hệ thẩm mỹ 11
CHƯƠNG 3: KHÁCH THỂ THẨM MỸ 12
I Các hiện tượng thẩm mỹ 12
II Cái đẹp 15
III Cái bi 19
IV Cái hài 21
V Cái cao cả 25
CHƯƠNG 4: CHỦ THỂ THẨM MỸ: 26
I Khái niệm chủ thể thẩm mỹ 26
II Ý thức thẩm mỹ và các thành tố cơ bản của nó 27
III Các hình thức tồn tại của chủ thể thẩm mỹ 30
CHƯƠNG 5: NGHỆ THUẬT: 34
I Bản chất xã hội của nghệ thuật 34
II Đặc trưng thẩm mỹ của nghệ thuật 37
III Các loại hình nghệ thuật và cách thưởng thức nghệ thuật 40
IV Nghệ sĩ và vai trò của người nghệ sĩ 50
V Hoạt động thẩm mỹ 54
CHƯƠNG 6: GIÁO DỤC THẨM MỸ 59
I Giáo dục nhận thức thẩm mỹ 59
II Giáo dục năng lực hoạt động thẩm mỹ 62
III Giáo dục năng lực thẩm mỹ nghệ thuật 66
Câu hỏi ôn tập: 68
Tài liệu tham khảo 69
Trang 3LỜI NÓI ĐẦU
Mỹ học một môn khoa học về bản chất của ý thức thẩm mỹ và hoạt động thẩm mỹ của con người nhằm khám phá và phát minh ra những giá trị trên cơ sở quy luật của cái đẹp
Cuốn giáo trình hướng tới làm sâu sắc thêm một số khái niệm cơ bản của mỹ học và vận dụng những quan điểm này vào hoạt động dạy học và giáo dục học sinh
Trong qua trình biên soạn, tác giả đã theo sát chương trình môn học do Trường Đại học Quảng Bình ban hành Những vấn đề cơ bản nhất của mỹ học được trình bày ở dạng khái quát, tinh giản cho phù hợp với tính chất của một giáo trình đại cương
Do khả năng còn có hạn cho nên khó tránh khỏi những thiếu sót, rất mong đồng nghiệp và các bạn sinh viên góp ý để tác giả sửa chữa nâng cao chất lượng trong lần soạn sau
Trang 4
CHƯƠNG 1 ĐỐI TƯỢNG CỦA MỸ HỌC
1 Mỹ học là gì:
Mỹ học là khoa học về bản chất của ý thức thẩm mỹ và hoạt động thẩm mỹ nơi con người nhằm khám phá và phát minh ra những giá trị trên cơ sở quy luật của cái đẹp, trong đó nghệ thuật là giá trị cao nhất Nó bao gồm các tiền đề lý luận sau đây:
-Mỹ học là một khoa học, nghĩa là nó được xây dựng trên cơ sở của các khái niệm và mệnh đề suy lý của tư duy trừu tượng, hướng đến việc tìm hiểu những vấn đề có tính bản chất và quy luật của ý thức thẩm mỹ và hoạt động thẩm mỹ
-Đó là khoa học về hoạt động của tinh thần, ý thức con người trong khi hướng tới thế giới và chính mình Như vậy mỹ học không nhằm nghiên cứu vẻ đẹp của một dòng sông hay một bản nhạc mà nhằm nghiên cứu ý thức của con người trong khi phát hiện ra vẻ đẹp của dòng sông và sáng tạo ra cái đẹp của nhạc phẩm, từ đó mà rút ra đặc điểm chung của phạm trù “cái đẹp”
-Mỹ học gắn liền không chỉ sự khám phá rá những giá trị đã có trong thế giới hiện thực hay trong thế giới tâm linh của con người, mà còn với sự phát minh, sáng tạo ra những giá trị mới Như vậy mỹ học không thể bằng lòng với
lý luận phản ánh mà phải vươn tới lý luận về sự sáng tạo của con người theo quy luật của cái đẹp
-Những giá trị nói ở đây là những giá trị được hình thành và phát triển trên
cơ sở quy luật của cái đẹp, tức là những giá trị thẩm mỹ Nói đến giá trị là nói đến cái nhìn, cách đánh giá, nghĩa là nói đến mối quan hệ Chỉ có thể khám phá, phát minh ra những giá trị thẩm mỹ Tư cách chủ thể của con người đối với thế giới hiện ra trên nhiều mối quan hệ khác nhau: kinh tế, chính trị, đạo đức Quan hệ thẩm mỹ không nhất thiết đối lập với các quan hệ đó, nhưng nhất thiết phải khác về bản chất với các quan hệ đó Quan hệ thẩm mỹ không đặt nền tảng trên sự thoả mãn những động cơ về kinh tế, sự mưu cầu những lợi ích về chính
Trang 5trị hay sự chiều theo những quy luật đạo đức hiện hành Quan hệ thẩm mỹ là quan hệ làm thanh lọc con người, tách con người khỏi những mối ràng buộc có tính cách vật chất nhằm thiết lập một sợi dây tinh thần giữa con người đối với thế giới và đối với chính mình trên cơ sở của cái đẹp
-Thừa nhận thiết kế mỹ thuật và những phương diện khác nhau của đời sống thẩm mỹ cũng là hoạt động khám phá và phát minh ra các giá trị thẩm mỹ, điều đó không có nghĩa là đánh đồng vai trò của chúng với vai trò của nghệ thuật trong tư cách đối tượng nghiên cứu của mỹ học Cần phải xem nghệ thuật
là giá trị thẩm mỹ cao nhất bởi vì ở đó quy luật về sự hài hoà - tức là quy luật của cái đẹp - được thực hiện hoàn hảo hơn đâu hết Không phải ai khác mà chính những nghệ sĩ tài năng là thầy dạy cho công chúng biết thế nào là giá trị thẩm mỹ Mặt khác, với tư cách là đối tượng ưu tiên nhất của nghiên cứu mỹ học, nghệ thuật không chỉ tạo tiền đề cho sự thai nghén và ra đời những tư tưởng mỹ học sâu sắc mà góp phần điều chỉnh, uốn nắn những tư tưởng mỹ học
đã lỗi thời và lạc hậu
2 Quá trình xác định đối tượng của mỹ học trong lịch sử
2.1 Quan niệm mỹ học phương Đông
Trong thời cổ đại Phương Đông, những quan niệm mỹ học đã ra đời cùng với sự xuất hiện các khái niệm mỹ học cơ bản
Ở Ai Cập, Babilon, cái thẩm mỹ, cái đẹp được quan niệm là những cái gắn liền với đời sống vật chất, với hệ thống vũ trụ và với cấu trúc nghệ thuật Tư tưởng mỹ học Ấn Độ đã diễn ra trong sự xung đột giữa những quan niệm về cái đẹp, cái cao cả đậm màu sắc tôn giáo và những quan niệm về cái thẩm mỹ nằm trong đời sống của những người cùng khổ (nông nô, thợ thủ công và trí thức bình dân) Các đại biểu nổi tiếng nhất của mỹ học cổ Ấn Độ đều thuộc về các hệ thống triết học chủ yếu đương thời; và tư tưởng mỹ học thường lẫn vào các quan niệm triết học chung Tư tưởng mỹ học duy vật (Mimansa, Samkhya, Nyaya-Vaisesika, Lokayata, v.v ) xem cái thẩm mỹ có cội nguồn từ thế giới hiện thực, từ vật chất phi ý thức hoặc từ nguyên tử, còn ý thức thẩm mỹ là sản
Trang 6phẩm của cảm giác, là hình ảnh của đối tượng, khách thể Do đó, sáng tạo thẩm
mỹ không thể ở ngoài con người, “thân thể” con người, cũng như không thể tách rời nhận thức kinh nghiệm của con người Chính những người lao động bình thường là chủ nhân của các giá trị văn hoá thẩm mỹ
Đối với các xu hướng triết học - tôn giáo (vedanta, Phật giáo, v.v ), cái thẩm mỹ, quan hệ thẩm mỹ là sản phẩm của ý thức thuần tuý, của “linh hồn vũ trụ” hay “linh hồn cá thể” Đời sống thẩm mỹ, hoạt động thẩm mỹ của con người rút cuộc lại cũng nằm trong “luân hồi” và “nghiệp” Như thế, mọi sáng tạo văn hoá thẩm mỹ của con người đều không thể thoát ra khỏi mục tiêu “niết bàn”, “Không”
Trên thực tế, các quan niệm thẩm mỹ ở Ấn Độ cổ đại có xu hướng chuyển dần sang duy tâm chủ quan và hữu thần
Tư tưởng mỹ học cổ đại Trung Hoa có từ rất sớm (thế kỷ VI trước CN) khi
xã hội ở vào thời kỳ quá độ từ chế độ chiếm hữu nô lệ sang chế độ phong kiến
Mỹ học được xem là một bộ phận, yếu tố của triết học, đạo đức và chính trị, đồng thời là công cụ “tranh minh” về tư tưởng và vũ khí đấu tranh vì lợi ích giai cấp và xã hội
Mỹ học Trung Hoa là sự đan cài và đầy mâu thuẫn giữa các luận thuyết mỹ học khác nhau Kuynh hướng tích cực nhất là xem cái “mỹ” có nguồn gốc ở cái
“chân” của tự nhiên Vì vậy, cái “mỹ” của nghệ thuật cần lĩnh hội cái “chân” đó (có chọn lọc) thông qua sự thể hiện cái “tâm”, “cái “tình” thuần khiết của người sáng tạo Quan niệm này được thể hiện đặc sắc, phong phú trong thi ca và hội hoạ Khuynh hướng mỹ học quý tộc thường đề cao “đạo”, “lý tưởng” phụ thuộc vào hệ tư tưởng thống trị và xem cái thẩm mỹ là phẩm chất “người quân tử” (kẻ đại diện cho quyền lực tinh thần của giai cấp thống trị) Từ góc nhìn “Phương Đông” và “bản địa”, mỹ học cổ đại Trung Hoa đã xây dựng một hệ thống lý luận và các phạm trù cơ bản Nó đề cao sự hoà đồng giữa chủ thể và khách thể, giữa con người với tự nhiên, xã hội Thấm đượm triết lý nhân sinh, đạo đức và chính trị, mỹ học đòi hỏi sự thống nhất giữa mỹ và thiện, tình, ý và đạo lý, sáng
Trang 7tạo thẩm mỹ và trách nhiệm xã hội “Lịch trình phát triển của nó (mỹ học cổ đại Trung Hoa) bao trùm cả hệ thống quy ước của quân chúng và sự đòi hỏi của cá tính con người” Mỹ học cổ đại Trung Hoa đã phát triển trên cơ sở của sự xung đột đa dạng, quyết liệt giữa “bách gia, chư tử” Nho gia với Khổng tử Mạnh
Tử, Mặc gia với Mặc Tử, Đạo gia với Lão Tử, Trang Tử, Pháp gia với Hàn Phi:
Âm Dương- Ngũ Hành, Dịch truyền, Dịch kinh; v.v Khổng Tử, Lão Tử, Tuân
Tử, Khuất Nguyên, Tư Mã Thiên, Lưu Hiệp, Viên Mai, Nguyễn Tịch, Hàn Dũ, Bạch Cư Dị, Nguyên Chẩn, Đỗ Phủ v.v là những chủ soái chủ mỹ học cổ đại Trung Hoa Mỹ học cổ đại Trung Hoa đã có một lịch sử lâu dài và có những thành tựu quý báu, lớn lao Song, do nảy sinh và phát triển trên cơ sở của phương thức sản xuất châu Á và chế độ nông nô, phong kiến, mỹ học này đã không thể vượt lên được và về sau thường rơi vào duy tâm siêu hình
Đặc điểm nổi bật của tư tưởng mỹ học Việt Nam dưới chế độ phong kiến là
sự gắn bó chặt chẽ giữa sáng tạo thẩm mỹ và đời sống nhiều mặt của dân tộc Chủ nghĩa nhân văn về con người và đất nước là cơ sở tinh thần trực tiếp của cảm hứng nghệ thuật Cái đẹp, cái cao cả, cái anh hùng dường như đồng nhất với cái thẩm mỹ Còn cái tâm, cái hồn của con người hoàn toàn hoà hợp với tự nhiên và số phận của dân tộc Về mặt triết học, đó là những quan niệm mỹ học
có tính duy vật mộc mạc Tuy nhiên, ảnh hưởng của quan niệm “văn dỉ tải đạo”
và thuyết “định mệnh”, “thiên mệnh” đã phần nào che mờ cái “chân”, cái
“thiện” và cái “mỹ” Quan niệm mỹ học của Lý Đạo Tái, Trương Hán Siêu, Nguyễn Trãi, Lê Thánh Tông, Nguyễn Du, Ngô Thời Nhậm, Lê Quý Đôn, Bùi Huy Bích, Lý Văn Phúc đã hướng cái thẩm mỹ vào những giá trị vật chất và tinh thần của con người và đất nước Đặc biệt, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyên Gia Thiều, Nguyễn Công Trứ và Cao Bá Quát đã tiếp cận những giá trị tư tưởng
mỹ học hiện thực chủ nghĩa
Mỹ học trong thời đại phong kiến (Trung Hoa, Ấn Độ, Việt Nam ) đã chịu một “chế độ kiểm duyệt châu Á” Điều đó giải thích tại sao những tư tưởng mỹ học trên đây vẫn chưa hoàn toàn thoát khỏi những quan niệm thần bí, siêu hình
Trang 82.2 Quan niệm mỹ học phương Tây
Ở phương Tây, mỹ học với tính cách là một trong những hình thái ý thức
xã hội và là một yếu tố của triết học, lần đầu tiên được hình thành trong xã hội chiếm hữu nô lệ Trong xã hội chiếm hữu nô lệ Hy Lạp, những khuynh hướng
mỹ học chính (gắn liền với các học thuyết triết học) đã có những thành tựu lý luận rõ rệt Các quan niệm mỹ học duy vật của Héraclite, Démocrite, Aristoteles, Epicure đã xem cái thẩm mỹ có nguồn gốc ở các thuộc tính vật chất, các quan hệ bên trong của tồn tại khách quan Quan niệm của các nhà mỹ học
Hy Lạp về mối quan hệ giữa hiện thực khách quan và ý thức thẩm mỹ cũng có yếu tố biện chứng duy vật Ngược lại, mỹ học duy tâm của phái Pythagore, Soctate và đặc biệt Platon cho rằng: cơ sở của cái thẩm mỹ là các quan hệ có bản tính ý niệm, cái đẹp là ý niệm tự tồn tại, cũng như nghệ thuật không có giá trị nhận thức
Mỹ học phong kiến Trung cổ Tây Âu đã tiếp thu và mở rộng mỹ học duy tâm cổ đại Các nhà thần học cho cội nguồn của cái thẩm mỹ, cái đẹp chỉ tìm thấy ở thần thánh: Thần thánh là cái đẹp, cái cao cả vĩnh cửu, siêu cảm và tuyệt đối: do vậy, nghệ thuật cần hoàn toàn phụ thuộc vào giáo lý Nhà Thờ và niềm tin đối với Đảng tối cao
Mỹ học thời đại Phục Hưng đã phát triển truyền thống mỹ học duy vật cổ đại Shakespeare, Cervantes đã xem tự nhiên và con người là đẹp và nghệ thuật
có nhiệm vụ tái tạo cái đẹp đó Đối với các nhà văn hoá Phục Hưng, tự nhiên và con người là nguồn gốc và đối tượng của mô tả nghệ thuật; cũng như các khoa học khác, nghệ thuật cần vươn tới sự nhận thức đúng đắn sự thật khách quan với nhiệt tình khẳng định Những quan điểm mỹ học duy vật trên hoàn toàn đối lập với mỹ học phong kiến và giáo lý Nhà Thờ trong “đêm dài trung cổ”, đã góp phần quan trọng vào “một cuộc đảo lộn tiến bộ lớn nhất” (F.Engen)
Mỹ học của chủ nghĩa cổ điển là cái bóng in đậm màu sắc của chủ nghĩa duy lý trong triết học Nó đòi hỏi cái đẹp phải là “tự nhiên đã được tinh chế” qua lý tưởng duy lý với các chuẩn mực giáo điều, khô cứng hoàn toàn xa rời tính cụ thể, sinh động của các hiện tượng thẩm mỹ trong hiện thực
Trang 9Mỹ học Khai Sáng đã phát triển rực rỡ với các đại biểu: Voltaire, Montesquieu, Diderot, Rousseau, Goethe, Schiller Khuynh hướng duy vật của
họ đòi hỏi phải lấy hiện thực làm cơ sở khách quan của các phạm trù mỹ học cơ bản, xem nghệ thuật có bản chất xã hội và cần đạt tới tính nhân dân Tuy nhiên,
do phương pháp tư duy siêu hình, mỹ học Khai Sáng đã xem xét các hiện tượng thẩm mỹ và sáng tạo nghệ thuật một cách cô lập, máy móc và không vận động Các nhà Khai Sáng chỉ thừa nhận “con người chân chính trong hình tượng một công dân trừu tượng” (C.Mác) Công lao to lớn của mỹ học Khai Sáng là đã khẳng định sức mạnh của lý tưởng nhân đạo, lý trí và ý thức tự do trong con người là những yếu tố cơ bản của quan hệ thẩm mỹ: đồng thời, đã chống lại các quan niệm mỹ học phong kiến, thần bí và các công thức “vô hiệu” của chủ nghĩa cổ điển
Đỉnh cao nhất của mỹ học duy tâm Phương Tây trước Mác là mỹ học cổ điển Đức với các đại biểu nổi tiếng nhất: Kant, Fichte, Schellinge, Hegel Mặc dầu có nhiều mâu thuẫn, nhưng những quan niệm mỹ học của Kant chứa đựng một loạt phỏng đoán thiên tài về bản chất của cái thẩm mỹ và các phạm trù cơ bản của mỹ học, về ý thức thẩm mỹ và nguyên tắc thẩm mỹ Nhược điểm nghiêm trọng của mỹ học Kant là đã phủ nhận tính khách quan của các quy luật thẩm mỹ; chủ quan hoá tuyệt đối đặc thù của cái thẩm mỹ và tách cái thẩm mỹ
ra khỏi các lĩnh vực liên quan (đạo đức, khoa học, chính trị và các lĩnh vực thực tiễn xã hội) Trong hệ thống mỹ học duy tâm khách quan của Hegel, phương pháp biện chứng đã được vận dụng để giải quyết các vấn đề thuộc bản chất cái thẩm mỹ và các phạm trù cơ bản của mỹ học Quan điểm biện chứng cũng đã đưa Hegel đến những khám phá mới về quy luật phát triển và vai trò của nghệ thuật trong đời sống xã hội, về hình tượng nghệ thuật và các hình thức riêng biệt của sáng tạo nghệ thuật Hegel là một trong số những người đầu tiên vạch rõ tính thù địch của chủ nghĩa tư bản đối với nghệ thuật Mặt khác, triết học duy tâm khách quan của Hegel đã quy cái thẩm mỹ và nghệ thuật về “sự tự nhận
Trang 10thức các ý niệm tuyệt đối”, xem tính lịch sử của nghệ thuật phụ thuộc vào cái lôgic tư biện thần bí Đó là “chủ nghĩa duy vật lộn đầu xuống dưới”
Tư tưởng mỹ học tiên tiến Nga thế kỷ XIX giữ vai trò đặc biệt lớn lao trong
sự phát triển mỹ học trước Mác Các đại biểu chính của khuynh hướng này là Biêlinxki, Gherxen, Tsernưsevxki Đôbrôliubov, Tônxtôi, Đôxtôievxki Trong khi phê phán mỹ học duy tâm cổ điển Đức, mỹ học tiên tiến Nga đã giải quyết theo tinh thần duy vật hàng loạt vấn đề thuộc mỹ học và nghệ thuật: Bản chất khách quan của cái thẩm mỹ và các phạm trù liên quan; tính hiện thực, tính tư tưởng và tính nhân dân, vai trò cải tạo và nhân đạo hoá con người của nghệ thuật; khẳng định giá trị tích cực của chủ nghĩa hiện thực và phê phán nghệ thuật suy đồi Tư tưởng mỹ học tiên tiến Nga “đã tiến sát tới chủ nghĩa duy vật biện chứng và đã dừng lại trước chủ nghĩa duy vật lịch sử”, với giá trị có “tầm quan trọng thế giới” (Lênin) Mỹ học phi macxit hiện đại là một trong những biểu hiện tập trung nhất của cuộc khủng hoảng tư tưởng tư sản hiện nay Mặc dù
có nhiều trường phái, khuynh hướng “đối lập” nhau, nhưng các luận thuyết vẫn
có “một tiếng nói chung”, “một điểm hội tụ”: phủ nhận “đến tận gốc rễ” bản chất và năng lực sáng tạo thẩm mỹ của con người Đối với các nhà mỹ học tư sản hiện đại, hoạt động thẩm mỹ, ý thức thẩm mỹ chỉ là “bản sao của Chúa”; là
“cấu trúc ngữ nghĩa thuần tuý”; là “cái tôi tự do nổi loạn”; là “quá trình cảm nghiệm trực giác phi lý tính”; là “sự hoạt động và lòng tin vào cái gì đó có lợi v.v Xét về mặt thế giới quan và phương pháp luận, mỹ học tư sản hiện đại là chủ nghĩa duy tâm và phép siêu hình của triết học tư sản đã được “tái sinh” trong mỹ học và lý luận nghệ thuật tư sản phương Tây hiện đại
2.3 Đối tượng của mỹ học mác-Lênin
Mỹ học Mác-Lênin là khoa học nhân văn phản ánh các thuộc tính, bản chất, các quy luật vận động và phát triển của cái thẩm mỹ, với tư cách là một giá trị đặc biệt được xác định trong mối quan hệ thẩm mỹ của con người đối với hiện thực
Trang 11Vấn đề cơ bản của mỹ học là vấn đề quan hệ giữa ý thức thẩm mỹ của con người và hiện thực Những luận điểm biện chứng duy vật và duy vật lịch sử chủ chủ nghĩa Mác-Lênin là chìa khoá để giải quyết vấn đề nguồn gốc, bản chất, quy luật vận động và phát triển của ý thức thẩm mỹ, hoạt động thẩm mỹ và quan
hệ của chúng đối với thế giới khách quan
Trên cơ sở đó, mỹ học Mác-Lênin nghiên cứu mối quan hệ thẩm mỹ chủ nghĩa-khách thể trong tự nhiên và xã hội, trong sản xuất vật chất, sản xuất tinh thần và trong mọi lĩnh vực sáng tạo theo quy luật của cái đẹp, trong giao tiếp cá nhân - xã hội và đời sống sinh hoạt của con người nói chung
Trong sáng tạo nghệ thuật và tác phẩm nghệ thuật, cái thẩm mỹ vừa là nội dung, phương thức biểu hiện, vừa là định hướng, mục tiêu Vì vậy, mỹ học hướng vào khám phá bản chất và quy luật chung nhất của sự phản ánh thẩm mỹ của nghệ sỹ và đặc thù có tính quy luật của “đứa con tinh thần” do nghệ sĩ sáng tạo ra Xem nghệ thuật là một dạng hoạt động thực tiễn - tinh thần riêng biệt của con người, mỹ học phát triển các quan hệ thẩm mỹ đặc thù: Đời sống - nghệ sỹ - tác phẩm - công chúng trong tính vận động và phát triển của chúng
Bản chất của cái thẩm mỹ thuộc vào quan hệ thẩm mỹ có tính biện chứng: con người (chủ thể thẩm mỹ) - hiện thực (khách thể thẩm mỹ) Hiện thực trong tính chỉnh thể, toàn vẹn, cụ thể, sinh động của nó đã được con người “đối tượng hoá” về mặt thẩm mỹ; và bản thân của con người trong lao động, trong mối quan hệ thẩm mỹ với hiện thực đã là “sự tương đối hoá đời sống có tính loài của con người”, “ngắm nhìn bản thân mình trong thế giới do mình sáng tạo ra” (C.Mác) Tính “người hoá” hiện thực đã dẫn đến chỗ con người định giá và xác định giá trị thẩm mỹ đối với khách thể Đó là loại giá trị độc lập, tự thân - giá trị thực tiễn - tinh thần về mặt thẩm mỹ Giá trị này trở thành nội dung có tính phổ biến khách quan của cái thẩm mỹ và của toàn bộ hệ thống phạm trù, khái niệm
mỹ học gắn liền với nó
Mỹ học Mác-Lênin cho rằng thế giới thẩm mỹ là một thể thống nhất bao gồm toàn bộ các hiện tượng thẩm mỹ Mỗi hiện tượng thẩm mỹ đều vận động
Trang 12và phát triển theo những quy luật đặc thù của riêng nó, đồng thời tuân theo những quy luật chung tồn tại trong mọi hiện tượng thẩm mỹ Trong bất cứ hiện tượng thẩm mỹ nào cũng đều có sự thống nhất của quy luật đặc thù với quy luật chung, và quy luật chung chỉ được biểu hiện thông qua sự hoạt động của các quy luật đặc thù Sự liên quan mật thiết giữa hai loại quy luật này không làm chúng mất đi tính độc lập tương đối, tính xác định không thể thay thế cho nhau được Nghiên cứu cái thẩm mỹ, với tư cách đối tượng của mỹ học nói chung, chính là nghiên cứu những quy luật chung của sự vận động và phát triển của một hiện tượng thẩm mỹ Còn các quy luật đặc thù là đối tượng nghiên cứu của các ngành khoa học cụ thể có liên quan đến mỹ học (nghệ thuật học, văn hoá học, lý luận văn học, mỹ học công nghiệp v.v )
BÀI 2:
QUAN HỆ THẨM MỸ I.Khỏi niệm quan hệ thẩm mỹ
- Thẩm mỹ trong tiếng việt, có nghĩa là sự đấnh giá về phương diện hẹp (thẩm
là đánh giá, thẩm định; mỹ là đẹp ), song thường được hiểu một cách nôm na là
“thuận mắt”,“thuận tai” cũn trong mỹ học Mỏc-Lờnin, cỏi thẩm mỹ được coi là một “siêu” phạm trù vỡ chớnh nú đó mang lại cho khoa học mỹ học và quy định đối tượng nghiên cứu của mỹ học Đối tượng ấy được thể hiện ra ở các phương diện: Cái thẩm mỹ khách quan trong tự nhiên, trong đời sống xó hội, trong sỏng tạo nghệ thuật: cỏi thẩm mỹ chủ quan hay ý thức thẩm mỹ gắn liền với chủ thể thưởng thức, đánh giá, sáng tạo thẩm mỹ
- Trong xó hội tồn tại chăng chịt các mối quan hệ xó hội, đó là những quan hệ giữa người và ntgười, các quan hệ xó hội Đan xen vào những quan hệ xó hội ấy có một quan hệ đặc biệt: Quan hệ thẩm mỹ Đây là quan hệ con người đối với hiện thực, là sự liên hệ tinh thần của chủ thể với khách thể trên cơ sở sự hứng thú không
vụ lợi trực tiếp, dược gợi lên bởi khoái cảm tinh thần ở chủ thể khi tiếp xúc với khách thể
- Trong mỹ học nói quan hệ tức là nói sự tương tác giữa các phương diện của
nó Trong quan hệ thẩm mỹ, phương diện thứ nhất là chủ thể thẩm mỹ Con người
xó hội, cỏc cộng đồng người trong hoạt động thưởng thức đánh giá, sáng tạo giá trị
Trang 13thẩm mỹ Các sự vật, hiện tượng có gí trị thẩm mỹ trong quan hệ đối với chủ thể được xem là khách thể thẩm mỹ
- Khi xem xét chủ thể thẩm mỹ và khách thể thẩm mỹ, một khái niệm luôn được sử dụng là khái niệm giá trị thẩm mỹ đó là: loại giá trị đặc biệt Nó là một loại ý nghĩa của cỏc hiện tượng vật chất cũng như tinh thần thoả món nhu cầu, phục vụ lợi ớch của con người, ở đây các hiện tượng được đánh giá dưới góc độ có
ý nghĩa thiết thực hay khụng, cú ý nghĩa tớch cực hay tiờu cực đối với đời sống xó hội Ngoài những nét chung với các loại giá trị khác, giá trị thẩm mỹ có những đặc tính nổi trội hơn Tính trực tiếp cảm tính của sự tiếp xúc giữa chủ thể và khách thể, tính hứng khởi tinh thần không vụ lợi trực tiếp của chủ thể trước sự đánh giá hỡnh thức cú tớnh nội dung, cấu trỳc, quy mụ tổ chức… của cỏc thực thể thiện hữu Trong quan hệ thẩm mỹ có một thao tác xuyên suốt, thường trực của chủ thể thẩm mỹ đối với khách thể thẩm mỹ đó là đánh giá thẩm mỹ là khả năng xác lập giá trị thẩm mỹ của một khách thể náo đó, là kết quả nhận thức của tri giác thẩm
mỹ, thường được định lại trong phán đoán dạng: “ Cái này đẹp!” hay “ Thật cao thượng”
- Đỏnh giỏ thẩm mỹ cú tớnh tất yếu khi cú sự tiếp xỳc của chủ thể với khỏch thể thẩm mỹ; nú cho kết quả ngay lập tức trong hoặc sau quỏ trỡnh tiếp xúc Sự đánh giá thẩm mỹ giúp chủ thể thẩm mỹ xếp khách thể thẩm mỹ vào một loại hiện tượng thẩm mỹ nào đó (đẹp hay không đẹp, bi hay hài, cao thượng hay thấp hèn)
- Khi đánh giá thẩm mỹ, chủ thể đánh giá đồng thời cả nội dung và hỡnh thức của đối tượng Ở giai đoạn tiếp xúc đầu tiên của chủ thể với đối tượng thỡ đánh giá hỡnh thức là chủ yếu Càng tiếp xỳc với đối tượng lâu hơn, chủ thể càng chú trọng đánh giá nội dung nhiều hơn Kết quả đánh giá thẩm mỹ bao giờ cũng thể hiện sự thống nhất giữa yếu tố khỏch quan và mối quan hệ tinh thần – tỡnh cảm của chủ thể trước đối tượng, thể hiện dưới dạng những cảm xúc, những rung động bộc lộ cả nhu cầu thẩm mỹ, thị hiếu thẩm mỹ, lý tưởng thẩm mỹ…
II Nguồn gốc bản chất của quan hệ thẩm mỹ
- Trong lịch sử, mỹ học có nhiều quan điểm khác nhau về nguồn gốc, bản chất của quan hệ thẩm mỹ
- Chủ nghĩa duy tõm khỏch quan cho rằng, quan hệ thẩm mỹ bắt nguồn từ thế giới tinh thần, siêu nhiên Platôn khẳng định cái Chân - Thiện - Mỹ nằm ở “thế giới
ý niệm”, chỳng chỉ tồn tại như những khái niệm, không có nội dung thực tế Cũn với cỏi đẹp cảm tính được ông xem như là cái thấp kém, không đáng để nhận thức
Trang 14Platôn coi quan hệ thẩm mỹ là quan hệ của những con người trí tuệ với thế giới siêu nhiên
Hờghen cũng giải thớch nguồn gốc của cỏi thẩm mỹ và nghệ thuật là “ý niệm tuyệt đối” Với cách lý giải như vậy, Hêghen đó xem quan hệ thẩm mỹ cú tớnh chất phi hiện thực Ông tuyệt đối hoá cái đẹp trong nghệ thuật, cho nó bắt nguồn từ
ý niệm tuyệt đối Cũn cỏi đẹp trong tự nhiên và xó hội là tản mạn, thấp kộm, khụng
cú tinh thần
- Chủ nghĩa duy tâm chủ quan xuất phát từ thị hiếu thẩm mỹ chủ quan của con người và gạt bỏ các hiện tượng thẩm mỹ khách quan Chẳng hạn, như Kant, Hium, Becxông đó tuyệt đối hoá vai trũ của chủ thể thẩm mỹ, họ coi nguồn gốc của tỡnh cảm thẩm mỹ là con người tự tỡm thấy khoỏi cảm trong bản thõn mỡnh, nguồn gộc của quan hệ thẩm mỹ thuần tuý là những phỏn đoán thẩm mỹ chủ quan của chủ thể thẩm mỹ
- Chủ nghĩa duy vật trước Mác với các đại biểu như Đêmôcrít, Điđrô, Trécnư xépxki… đó coi nguồn gốc bản chất của quan hệ thẩm mỹ là ở trong tự nhiờn và trong xó hội Đó là các thuộc tính tự nhiên của sự vật như cân xứng, hài hoà, tỉ lệ,
cơ sở của cái đẹp Quan hệ giữa cái đẹp và cái có ích, giữa cái đẹp và cái thiện là nguồn gốc tỡnh cảm thẩm mỹ của con người trong quan hệ thẩm mỹ
Các nhà duy vật trước Mác đó tuyệt đối hoá thuộc tính tự nhiên ít chú ý đến phương diện xó hội và xem nhạ tỏch rời với sự đánh giá chủ quan của chủ thể thẩm
mỹ
Mỹ học Mỏc – Lờnin tiếp thu trên tinh thần phê phán các tư tưởng mỹ học trong lịch sử Đứng trên quan điểm duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, đó khẳng định nguồn gốc, bản chất của quan hệ thẩm mỹ: Quan hệ thẩm mỹ là kết quả của quá trỡnh hoạt động sản xuất vật chất và đấu tranh xó hội, nú chớnh là quỏ trỡnh phỏt hiện, cảm thụ của cỏc thuộc tớnh thẩm mỹ của thế giới và sỏng tạo ra những cỏi giỏ trị thẩm mỹ trong đời sống văn hoá nghệ thuật của con người
Mỹ học Mác – Lênin một mặt khẳng định cơ sở khách quan của quan hệ thẩm
mỹ là các hiện tượng thẩm mỹ nảy sinh và tồn tại trong đời sống hiện thực, mặt khác nhấn mạnh tính chủ động, tích cực của chủ thể thẩm mỹ trong mối quan hệ với khách thể thẩm mỹ
Mỹ học Mỏc – Lờnin cũn thừa nhận quan hệ thẩm mỹ mang bản chất xó hội,
ở đó những vấn đề giai cấp, dân tộc thời đại được phản ánh tương đối đậm nét
III Tính chất cơ bản của quan hệ thẩm mỹ
Trang 15Tớnh chất thứ nhất của quan hệ thẩm mỹ là tớnh chất xó hội, nú được thể hiện
ở một số đặc tính:
- Sự ra đời của quan hệ thẩm mỹ gắn liền với sự hỡnh thành xó hội loài người Trỡnh độ phát triển của quan hệ thẩm mỹ thể hiện trỡnh độ phát triển của xó hội
- Quan hệ thẩm mỹ bao giờ cũng do con người trực tiếp tiến hành, do vậy nó mang rừ nột dấu ấn cỏ nhõn, dấu ấn những phẩm chất xó hội của con người thực hiện nó Quan hệ thẩm mỹ bao giờ cũng mang tính lịch sử, tính giai cấp
Quan hệ thẩm mỹ ảnh hưởng tích cực đến các quan hệ xó hội khỏc và bản thõn
nú lại bịu cỏc quan hệ xó hội khỏc chi phối
Tính chất thứ hai là tính trực tiếp - cảm tính tức là đối tượng được đánh giá phải
là những sự vật hiện tượng toàn vẹn, cụ thể - cảm tính hay nói một cách khác, chúng hiện hữu, có thật và chủ thể có thể cảm nhận được một cách trực tiếp thông qua các giác quan của con người
Cỏc giỏc quan của chủ thể thẩm mỹ rất quan trọng, đặc biệt trong quan hệ thẩm
mỹ thỡ hai giỏc quan là tai và mắt được phát triển cao về cả phương diện tự nhiên lẫn phương diện xó hội để có thể cảm nhậ khách thể thẩm mỹ
Quan hệ thẩm mỹ khụng thể thực hiện nếu thiếu sự tiếp xỳc trực tiếp của chủ thể với đối tượng Đây là yếu tố mang tính điều kiện của quan hệ thẩm mỹ Mặc dù
ở các mức độ nhất định, tri thức lý tớnh mang tớnh chi phối tri thức cảm tớnh, nhưng thông thường kết quả đánh giá thẩm mỹ phần lớn do yếu tố cảm tính trực tiếp quyết định
Tớnh chất thứ ba là tớnh tỡnh cảm Tỡnh cảm đóng vai trũ động lực trong quan
hệ thẩm mỹ, trong các hoạt động thưởng thức, đánh giá và sáng tạo thẩm mỹ và nó đặc biệt quan trọng đối với sáng tạo nghệ thuật, hoạt động thẩm mỹ ở trỡnh độ cao nhất của chủ thể thẩm mỹ Tỡnh cảm là sự hệ thống và liờn kết những xỳc cảm, những rung động trực tiếp cụ thể khi phản ánh cuộc sống Ngoài ba tính chất cơ bản nói trên người ta cũn cú thể núi đến một số tính chất khác như tính thời đại, tính dân tộc, tính giai cấp, tính cỏ nhõn… Nhưng xét đến cùng chúng chỉ là hệ quả phát sinh của ba tính chất cơ bản đó nờu
Trang 16những phẩm chất, các thuộc tính tự nhiên của các sự vật, hiện tượng giữ vai trũ quyết định các sự vật hiện tượng ấy là hiện tượng thẩm mỹ Ngược lại quan niệm của những người “ duy xó hội” lại xem vai trũ quyết định là ở những nhận định của
xó hội trong quỏ trỡnh hoạt động thực tiễn đó đi đến “ người hoá” những tính chất của các sự vật, các giá trị thẩm mỹ
Để tránh những cực đoan ấy, một mặt cần xác định những cơ sở khách quan của các hiện tượngt hẩm mỹ: Đó là những kết cấu hỡnh thức-nội dung, là màu sắc dáng vẻ, là mức độ hài hoà tương xứng giữa các bộ phận trong một chỉnh thể với nhau và chính sự vật trong tính chỉnh thể của nó với môi trường xung quanh
Nhưng nếu chỉ dừng lại ở đây, hiện tượng vẫn chưa xuất hiện với tư cách là các hiện tượng thẩm mỹ, vỡ vậy phải đi đến xem xét cơ sở chủ quan của các hiện tượng thẩm mỹ Trong hoạt động của con người có ý thức nhằm đồng hoá thực tại biến thực tại, giới tự nhiên từ bỏ chỗ “tự nó” thành “cho ta”các thuộc tính như màu sắc, dáng vẻ, sự tương xứng…làm cho con người rung cảm, những rung cảm này không bắt nguồn trực tiếp từ sinh lý của con người chính khi đó các sự vật hiện tượng nói trên mới bộc lộ với tư cách là các hiện tượng thẩm mỹ Như vậy, cơ sở của các hiện tượng thẩm mỹ là sự thống nhất giữa yếu tố khách quan và yếu tố chủ quan, giữa các phẩm chất thuộc về các sự vật hiện tượng khách quan và những rung cảm của chủ thể khi thưởng ngoạn các thuộc tính thẩm mỹ ấy
Các hiện tượng thẩm mỹ xuất hiện trong cuộc sống rất đa dạng Sự đa dạng ấy được thể hiện ở hai phương diện: Thứ nhất, bản thân các sự vật, hiện tượng có chứa đựng giá trị thẩm mỹ trong quan hệ với con người thực sự phong phú; Thứ hai, các trạng thái rung cảm ở con người phức tạp và không giống nhau, thậm chí đôi khi trái ngược nhau Nhưng các hiện tượng thẩm mỹ không chỉ dđ dạng mà cũn thống nhất, chỳng được xếp theo các xu hướng khác nhau, tuỳ thuộc vào giá trị thẩm mỹ mà chúng bộc lộ ra đối với chủ thể thẩm mỹ Song dù cá thể có phức tạp đến mấy vẫn tồn tại sự tương đồng nhất định giữa các chủ thể thẩm mỹ với nhau,
đó là một trong những cơ sở xác lập sự thống nhất của các hiện tượng thẩm mỹ với tiêu chí xác định
Để phân loại các hiện tượng thẩm mỹ cú hai loại tiờu chớ chớnh:
Loại thứ nhất, áp dụng đối với các sự vật trong tự nhiên, bao gồm cả con người
về phương diện hỡnh thức của nú, căn cứ vào mức độ phát triển, hoàn thiện của các sự vật so với giống loài của mỡnh
Loại thứ hai, áp dụng đối với các hiện tượng xó hội, bao gồm cả con người xét
về phương diện nội dung của nó, căn cứ vào mức độ phù hợp với tiến bộ xó hội
Trang 17Trong trường hợp ít phổ quát hơn, cũn cú thể ỏp dụng loại tiờu chớ thứ ba, đó là sự phù hợp với tính dân tộc, tính giai cấp, tính Đảng chính trị Ở điều kiện có giai cấp
và đấu tranh giai cấp tiêu chí này cũn chi phối hai loại tiờu chớ trờn
Căn cứ vào tiêu chí phân loại, có thể chia ra ba cặp hiện tượng thẩm mỹ cơ bản: đẹp - xấu, bi - hài, cao cả - thấp hèn, trong đó có bốn hiện tượng được nghiên cứu sâu sắc và cho bốn phạm trù mỹ học cơ bản tương ứng: cái đẹp, cái bi, cái hài, cái cao cả
Trong đời sống thẩm mỹ có hiện tượng thẩm mỹ theo nghĩa đầy đủ ít xuất hiện, chỉ thường gặp các hiện tượng thẩm mỹ phát sinh của các hiện tượng thẩm mỹ cơ bản Thí dụ hiện tượng đẹp có các dạng phát sinh: xinh, duyên dáng, dễ thương, ưa nhỡn, quyến rũ, gợi cảm và một số phẩm chất ở con người đôi khi được xem xét dưới gốc độ thẩm mỹ: thông minh, nhân hậu, tốt bụng…Hiện tượng xấu có các dạng phát sinh: xấu xa, xấu xí, què quặt, thui chột…Hiện tượng thấp hèn có các dạng phát sinh: đê tiện, khốn nạ, bỉ ổi…Hiện tượng cao cả có các dạng phát sinh: anh hùng, vĩ đại, hùng tráng, hùng vĩ…Hiện tượng bi có các dạng phát sinh: bi ai,
bi luỵ, thống khổ, bi đát… Hiện tượng hài có các dạng phát sinh: đáng nực cười, đáng châm biếm, đáng đả kích…
Một loại hiện tượng thẩm mỹ nữa cũng hay gặp đó là hiện tượng thẩm mỹ giáp ranh, chúng dường như vừa thuộc loại hiện tượng thẩm mỹ này, vừa thuộc loại hiện tượng thẩm mỹ kia, thí dụ hiện tượng bi hùng, hiện tượng bi hài
Các loại hiện tượng thẩm mỹ có mối quan hệ biện chứng với nhau, có khả năng chuyển hoá lẫn nhau đối lập với đẹp là xấu, trong hiện tượng đẹp có yếu tố xấu cũng như trong hiện tượng xấu có yếu tố đẹp Đẹp và xấu giả định lẫn nhau Vỡ vậy chỉ được xem là đẹp, là xấu trong những xu hướng, những quan hệ nhất định Khi quy mô tính chất của hiện tượng đẹp quá lớn, yếu tố xấu trong nó bị triệt tiêu hoặc nhỏ không đáng kể, hiện tượng đẹp vượt độ, trở thành cao cả Ngược lại, khi quy mô, tác hại của hiện tượng xấu quá lớn, yếu tố đẹp trong nó không cũn đáng
kể, hiện tượng xấu vượt độ mà thành thấp hèn Đó là kiểu quan hệ theo cấp độ Hiện tượng đẹp luôn luôn tồn tại trong trạng thái đấu tranh với hiện tượng xấu Trong trường hợp nó bị thất bại trong cuộc đấu tranh ấy sẽ xuất hiện hiện tượng bi Ngược lại hiện tượng xấu thường đội lốt, nguỵ trang trong yếu tố đẹp mỏng manh
mà nú cú ớt nhiều Khi việc nguỵ trang thất bại bất ngờ, bản chất xấu phơi bày đột ngột sẽ xuất hiện hiện tượng hài Đõy là mối quan hệ theo tỡnh thỏi
Trong đời sống xó hội, cựng một hiện tượng nhưng được đỏnh giỏ về phương diện thẩm mỹ theo cỏc cỏch khỏc nhau, thậm chớ trỏi ngược nhau Nguyờn nhõn
Trang 18của tỡnh trạng này là ở những cỏc nhõn khỏc nhau, cộng đồng người, tập đoàn người khỏc nhau cú mục đớch sống khỏc nhau Đú là mối quan hệ theo thời gian
và khụng gian của cỏc hiện tượng thẩm mỹ
II Cỏi đẹp
a Bản chất của cỏi đẹp:
Thời HiLạp cổ đại, xuất phỏt từ thế giới quan cho rằng thế giới cỏc vật thụ cảm
là cỏi búng của thế giới ý niệm Platon thừa nhận vẻ đẹp của cỏc sự vật, hiện tượng, nhưng lại cho vẻ đẹp ấy chỉ thoỏng qua, nhất thời ễng cho cỏi đẹp vĩnh hằng là cỏi đẹp trong ý niệm, cỏc đồ vật đẹp chỉ là cỏi búng của ý niệm đẹp
Heghen-nhà duy tõm khỏch quan người Đức mặc dự thừa nhận cỏi đẹp của tự nhiờn, nhưng ụng lại loại trừ nú ra khỏi đối tượng nghiờn cứu của mỹ học, vỡ cho rằng cỏi đẹp trong tự nhiờn chỉ là phản ỏnh cỏi đẹp thuộc về tinh thần ễng quan niệm cỏi đẹp như là một sự thể hiện đặc biệt của ý niệm tuyệt đối dưới hỡnh thức
cụ thể cảm tớnh Sự hài hoà cõn xứng ụng chỉ coi là dấu hiệu của cỏi đẹp ễng khẳng định cỏi đẹp trong tự nhiờn hấp dẫn hơn cỏi đẹp trong nghệ thuật ễng đồng nhất cỏi đẹp trong nghệ thuật với lý tưởng và lý giải đú là sự kết hợp cõn đối giữa nội dung và hỡnh thức Ngay trong nghệ thuật, cỏi đẹp cũng tuỳ thuộc vào sự tương xứng giữa nội dung và hỡnh thức
Về mỹ học, Kant được coi là người cú tư tưởng duy tõm chủ quan một cỏch nhất quỏn, ụng cho rằng cỏi đẹp hoàn toàn phụ thuộc vào chủ thể cảm thụ nú, “vẻ đẹp khụng phải ở mỏ hồng cụ thiếu nữ mà ở trong mắt của kẻ si tỡnh” Nhưng xuất phỏt từ lý luận nhận thức cú tớnh nhị nguyờn, ụng lại khẳng định cỏi đẹp khụng cú khỏi niệm, khụng xỏc định và đi đến nhận định cỏi đẹp thật sự là cỏi đẹp thuần khiết, khụng vụ lợi Những vẻ đẹp gắn với cụng dụng thực tiễn ụng gọi là vẻ đẹp kốm theo hay vẻ đẹp loại hai
Khỏc với chủ nghĩa duy tõm, xu hướng duy vật bàn về bản chất của cỏi đẹp cú Heraclit, nhà tư tưởng duy vật cú tớnh biện chứng chất phỏc đồng nhất cỏi đẹp với
sự hài hoà, cũn bản thõn sự hài hoà là thống nhất giữa cỏc mặt mõu thuẫn ễng phỏt hiện ra tớnh chất tương đối của vẻ đẹp và tuyờn bố con khỉ dự đẹp nhất nếu
so với người vẫn là xấu, giống như trớ tuệ của người thụng minh nhất nếu so với thượng đế vẫn là ngu đần
Nhà nguyờn tử luận Đờmụcrit phỏt hiện vẻ đẹp cú quy mụ vừa phải, nú tồn tại trong sự cõn xứng, cú chừng mực giữa cỏc bộ phận trong một chỉnh thể, ụng quan niệm cỏi đẹp tồn tại khỏch quan, gắn với cỏc sự vật như là cỏc thực thể
Trang 19Như Arixtốt- Một nhà bỏch khoa toàn thư và được coi là nhà lịch sử triết học đầu tiờn, tiếp nhận cỏc tiờu chớ mà cỏc nhà tư tưởng đi trước đưa ra, đồng thời bổ sung cỏc dấu hiệu của cỏi đẹp như hoà nhịp, cõn xứng, xỏc định, chỉnh thể Theo chõn cỏc nhà tư tưởng tiền bối, Arixtốt dường như quy cỏi đẹp về cỏc thuộc tớnh vật chất của nú
Trộcnưxộpxki, nhà dõn chủ cỏch mạng Nga đó cú một bước tiến so với cỏc nhà duy vật Hilạp cổ đại ễng cho cỏi đẹp là cuộc sống, “Một sinh thể đẹp là qua chỳng ta nhỡn thấy cuộc sống đỳng như quan niệm của chỳng ta, một sự vật đẹp là một sự thể hiện cuộc sống hoặc nú nhắc ta nghĩ đến cuộc sống”
Như vậy, cỏc quan niệm mỹ học - triết học về cỏi đẹp trước chủ nghĩa Mỏc đều khụng trỏnh khỏi tớnh phiến diện ở mức độ này hay mức độ khỏc khi họ hoặc xỏc định nguồn gốc của cỏi đẹp là ý niệm hay tinh thần tuyệt đối, hoặc xỏc định nguồn gốc của cỏi đẹp từ cảm xỳc chủ quan của cỏ nhõn, hoặc tuyệt đối hoỏ tớnh khỏch quan của vẻ đẹp, đồng nhất cỏi đẹp với những thuộc tớnh vật chất - vật lý của cỏc
sự vật hiện tượng
Để trỏnh khỏi nhược điểm mà cỏc quan điểm khỏc đó mắc phải, Mỹ học hiện đại trước tiờn xỏc định cỏi đẹp là một phạm trự mỹ học, mà khụng đồng nhất nú với cỏc biểu hiện cụ thể đơn lẻ của nú là cỏc vẻ đẹp sinh động, riờng lẻ, ngẫu nhiờn, trong đời sống thường ngày
Trong số cỏc phạm trự mỹ học, phạm trự cỏi đẹp giữ vị trớ trung tõm được thể hiện ở ba phương diện: trong cuộc sống thường ngày, trong lý luận nghệ thuật và trong mỹ học Trong cuộc sống, với bản tớnh người của mỡnh, con người “nhào nặn vật chất theo những quy luật của cỏi đẹp” (Mỏc) nghĩa là khỏc với loài vật, con người sản xuất một cỏch vạn năng thoỏt khỏi nhu cầu thể xỏc, mang tớnh sinh vật của mỡnh, sản xuất theo kớch thước của mọi loài và tự do đối lập với sản phẩm của mỡnh Ngoài hoạt động sản xuất, trong cỏc hoạt động khỏc như tiờu dựng, giao tiếp, giải trớ…
Trong lý luận nghệ thuật, trong mỹ học, phạm trự cỏi đẹp được nghiờn cứu và được hoàn chỉnh trước hết: Từ hệ tiờu chuẩn của nú, người ta xõy dựng phạm trự
mỹ học cơ bản khỏc
Đối với nghệ thuật, khỏt vọng vươn tới sự hoàn thiện, hoàn mỹ là nguyờn nhõn
cơ bản và mục đớch chõn chớnh của mọi trường phỏi nghệ thuật, mọi nghệ sĩ Những khớa cạnh của cuộc sống được phản ỏnh và trong cỏc tỏc phẩm nghệ thuật xột đến cựng đều xuất phỏt từ tư tưởng đẹp của nghệ sĩ
Trang 20Cỏi đẹp cú cơ sở khỏch quan từ mức độ của sự hài hoà mà biểu hiện cụ thể, chi tiết ra như sự cõn xứng, tương xứng, đối xứng, hợp lý, sự vật được trải ra với một nhịp điệu tiết tấu nhất định…Như những yếu tố cú tớnh khỏch quan này chỉ được đỏnh giỏ là đẹp khi nú phự hợp với những trạng thỏi tõm sinh lý nhất định trước số đụng những người chiờm ngưỡng, cảm thụ Tức là chỳng cũng được xem xột, đỏnh giỏ là tớch cực tuỳ theo những điều kiện lịch sử - xó hội nhất định như tớnh dõn tộc, tớnh giai cấp, tớnh đảng phỏi, nghề nghiệp, lứa tuổi…của chủ thể thẩm mỹ
Sự vật, hiện tượng được đỏnh giỏ là đẹp phải diễn ra hoặc được phản ỏnh lại một cỏch chõn thực, nghĩa là nú khụng thể giả dối Sự chõn thực này khụng đồng nhất với chõn lý trong triết học, nú khụng nhất thiết phải phản ỏnh chớnh xỏc hiện thực khỏch quan mà chủ yếu phải phự hợp với quan niệm của xó hội, dư luận của cộng đồng Nhưng cỏc quan niệm, dư luận núi trờn khụng được trỏi ngược với hiện thực mà phải vận động theo xu thế, theo logic của lịch sử Vỡ vậy, cú nhiều hiện tượng mặc dự cú thật vẫn khụng được đỏnh giỏ là đẹp khụng cú nghĩa là cú thật hoàn toàn
Đối tượng được đỏnh giỏ là đẹp ở trong một chừng mực nhất định phải cú sự thống nhất với điều kiện hoặc ớt nhất khụng bị đỏnh giỏ là ỏc, tức là khụng làm hại đến cuộc sống bỡnh yờn của cỏc cỏ nhõn và xó hội - sự vật trong tự nhiờn được nhỡn nhận là đẹp thụng thường đó phõn hoỏ, được coi là biểu tượng của một phẩm giỏ nào đú ở con người Những con người xó hội, những hiện tượng xó hội chỉ được đỏnh giỏ là đẹp khi nú gúp phần mang lại lợi ớch cho con người, cho xó hội Trước đối tượng được bản thõn mỡnh đỏnh giỏ là đẹp, người cảm thụ thường trong trạng thỏi hõn hoan, vui sướng, thớch thỳ một cỏch vụ tư trong sỏng Song, như vậy khụng cú nghĩa là tỡnh cảm với cỏc sự vật đẹp được tỏch rời hoàn toàn khỏi những đũi hỏi thực tiễn của con người Về sõu xa, nú là sự kết tinh của những tỡnh cảm nhõn loại về cỏc hiện tượng đẹp Những tỡnh cảm ấy nảy sinh trong quỏ trỡnh lao động: Người ta thấy được sự gắn bú giữa vẻ đẹp và sự tiện ớch Ở thời đại ngày nay, cú thể cú rất nhiều người khụng tham gia lao động trực tiếp, họ cú thể khụng nhận biết được sự tiện ớch của cỏc đồ vật như là kết tinh của sức lao động, nhưng những sự vật đẹp đối với họ ớt nhất khụng đe doạ cuộc sống mà thụng thường làm cho cuộc sống của con người thấy dễ chịu hơn Cỏi đẹp cú tớnh lịch sử cụ thể, nghĩa là nú cú thể bị khỳc xạ trong những điều kiện lịch sử xó hội, giai cấp, nghề nghiệp, dõn tộc, giới tớnh, tuổi tỏc của người đỏnh giỏ Cảm quan của người đỏnh giỏ càng phự hợp với xu thế của tiến bộ xó hội bao nhiờu thỡ cỏch đỏnh giỏ càng cú tớnh tớch cực bấy nhiờu Như vậy cỏi đẹp là phạm trự mỹ học
Trang 21trung tõm, phản ỏnh giỏ trị thẩm mỹ ở cỏc sự vật hiện tượng mang lại khoỏi cảm
vụ tư, trong sỏng cho con người
b Cỏc lĩnh vực biểu hiện của cỏi đẹp:
Núi biểu hiện của cỏi đẹp tức là núi đến cỏc sự vật, hiện tượng được đỏnh giỏ
là đẹp, cỏc vẻ đẹp cụ thể Vỡ vẻ đẹp được cảm nhận chủ yếu qua thị giỏc và thớnh giỏc, nờn nơi nào cỏc giỏc quan này với tới được, nơi đú biểu hiện của cỏi đẹp Cú thể phõn ra ba lĩnh vực biểu hiện: Trong tự nhiờn, trong xó hội, trong nghệ thuật
Ở lĩnh vực thứ nhất: Người ta quy vào nú cỏc sự vật hiện tượng đẹp trong tự nhiờn bao hàm trong đú cả con người xột về phương diện tự nhiờn Cỏc sự vật hiện tượng trong tự nhiờn nhỡn chung là đẹp, nhất là khi chỳng thể hiện sức sống và sự phỏt triển Chẳng hạn như cỏc hiện tượng nắng, mưa, giú…được xem là đẹp trong chừng mực chỳng phự hợp với cỏc hoạt động và nguyện vọng của con người Con người như một sinh thể tự nhiờn được xem xột vẻ đẹp về phương diện hỡnh thức bao gồm cỏc yếu tố: sắc diện, hỡnh thể, õm sắc, dỏng điệu, cử chỉ, ngụn từ…Mặc
dự vậy những yếu tố này khụng phải là tự nhiờn thuần tuý mà cú tớnh xó hội với mức độ khỏc nhau Chỳng bị chi phối với cỏc điều kịờn xó hội nhất định
Ở lĩnh vực thứ hai: Trong xó hội, vẫn phải quan tõm đến con người như một thực thể xó hội Vẻ đẹp cú tớnh xó hội của con người hay cũn gọi là vẻ đẹp nội dung của con người, vẻ đẹp của con người xột về phương diện xó hội, nú bao hàm cỏc yếu tố tinh thần như tõm hồn, tỡnh cảm, trớ tuệ, tư tưởng Với những yếu tố tinh thần ấy con người tham gia vào cỏc lĩnh vực tinh thần của đời sống xó hội như đời sống chớnh trị, đạo đức, khoa học, văn hoỏ, nghệ thuật…Khả năng thỳc đẩy những lĩnh vực tinh thần ấy càng cao, con người càng được đỏnh giỏ là đẹp Vẻ đẹp hỡnh thức của con người có ảnh hưởng lớn đến vẻ đẹp nội dung theo cả xu hướng tớch cực lẫn tiờu cực Nhỡn chung, vẻ đẹp nội dung của con người lâu bền hơn so với vẻ đẹp hỡnh thức Nú đại diện cho vẻ đẹp của phẩm chất con người Lao động là hoạt động riêng có của con người trong xó hội, về phương diện thẩm mỹ cũng có thể chia làm hai loại: Lao động tự do, tức là những hoạt động lao động làm cho bản thân con người trực tiếp tham gia vào lao động cảm thấy hứng khởi, say mê, được coi là lao động đẹp, cũn những yếu tố làm con người cảm thấy
nô dịch, đày ải khụng được coi là lao động đẹp - Hai loại lao động này có quan hệ biện chứng qua lại với nhau; Chỉ có trải qua lao động tha hoá con người mới tiến tới lao động tự do Đạt đến lao động tự do thỡ những lao động tha hoá trước đõy đối với cỏc cỏ thể đú khụng cũn tha hoỏ nặng nề nữa, nú cú thể chuyển hoỏ thành lao động tự do
Trang 22Cỏc cuộc đấu tranh xó hội, cỏch mạng…Về phương diện thẩm mỹ đối với từng cỏc nhõn, từng tập đoàn xó hội trong từng giai đoạn lịch sử nhất định được đỏnh giỏ là đẹp, cũng cú thể được xếp vào cỏc loại giỏ trị thẩm mỹ
Trong quan hệ giữa con người với con người: Những cách ứng xử văn minh, lịch sự, nhõn hậu phự hợp với tiến bộ xó hội được quan niệm là đẹp
Trong lĩnh vực nghệ thuật, lĩnh vực thứ ba, vẻ đẹp được bộc lộ một cỏch tập trung hơn, tinh tuý hơn so với hai lĩnh vực đó núi ở trờn Vẻ đẹp xuất hiện trong nghệ thuật cú ngọn nguồn trong hiện thực, nghĩa là nú phản ỏnh vẻ đẹp trong tự nhiờn và xó hội Bằng cỏch điển hỡnh hoỏ vẻ đẹp trong hiện thực phản ỏnh lại trong nghệ thuật trở nờn lộng lẫy hơn, trau chuốt hơn Ngay cả khi tỏc phẩm nghệ thuật phản ỏnh hiện thực xấu, hiện thực ỏc thỡ nú vẫn cú thể đẹp nếu như nú bộc lộ được tư tưởng nhõn bản và tài năng của nghệ sĩ trong việc phản ỏnh điều ỏc, điều xấu ấy Một tỏc phẩm nghệ thuật được coi là đẹp khi nú thoả món cỏc yờu cầu sau:
- Thứ nhất, tỏc phẩm phải phản ỏnh một cỏch sinh động chõn thực cuộc sống
- Thứ hai, tỏc phẩm phải hài hoà, hoàn thiện cả về nội dung lẫn hỡnh thức, trong đú mức độ hoàn thiện của hỡnh thức là yếu tố quyết định sản phẩm ấy cú thể được coi là tỏc phẩm nghệ thuật hay khụng
- Thứ ba, tỏc phẩm phải thể hiện được tỡnh cảm nhõn đạo chủ nghĩa, phải làm cho công chúng nghệ thuật tôn trọng giá trị con người, yêu cuộc sống nhân gian
- Thứ tư, trong điều kiện cú cuộc đấu tranh chớnh trị xó hội cú thể đưa thờm tiờu chớ tớnh đảng, tớnh giai cấp, tớnh dõn tộc để đỏnh giỏ cỏc tỏc phẩm, cỏc xu hướng nghệ thuật
III Cỏi bi
a Bản chất thẩm mỹ của cỏi bi
Cơ sở khách quan của bi kịch là những mâu thuẫn mang tính khách quan giữa con người với tự nhiên, giữa những lực lượng đối khỏng trong xó hội và ngay cả trong bản thõn con người khi đứng trước những lựa chọn của cuộc sống Vỡ lẽ đú,
bi kịch nảy sinh và tồn tại trong tất cả xó hội, kể cả xó hội khụng cú chế độ người bốc lột người, về căn bản bi kịch chỉ đổi từ hỡnh thức này sang hỡnh thức khỏc mà thụi
Cơ sở bi kịch thể hiện qua cỏc tỡnh huống sau:
Thứ nhất, đú là sự thất bại của cỏc lực lượng tiến bộ xó hội họ vựng dậy để khẳng định quyền tồn tại của mỡnh Song, đõy là lực lượng non trẻ vỡ thế dễ bị
Trang 23cỏc thế lực đang cầm quyền đàn ỏp, tiờu diệt Đó là cuộc khởi nghĩa của các tầng lớp nhân dân lao động chống lại sự thống trị của giai cấp thống trị, các tư tưởng khoa học, chớnh trị xó hội mới, những người anh hựng đấu tranh nhằm chống lại
sự bất công phi nhân bản với con người
Thứ hai, đú là tỡnh huống bi kịch của cỏi cũ Thụng thường những lực lượng xó hội cũ này vẫn cũn cú ý nghĩa tớch cực nào đú, hoặc là cỏi cũ đang cố gắng vươn tới cỏi mới song khụng kịp thời, phải trả giỏ cho những sai lầm đó mắc phải trước
đú
Trong xó hội biểu hiện của cỏi bi khỏ đa dạng:
Bi hựng phản ỏnh sự hi sinh cho cỏi mới một cỏch cao cả Nhõn vật trong bi hựng hành động với ý thức trỏch nhiệm sõu sắc trước lịch sử Sự hi sinh của nhõn vật bi hựng này thức tỉnh mọi người đứng dậy đấu tranh cho những lý tưởng nhõn đạo, đấu tranh cho lẽ phải, cho sự công bằng và những khát vọng chân chính của con người
Bi kịch số phận mà cỏc nhõn vật chủ yếu là những lớp người bị bốc lột, bị ỏp bức và tất cả những ai đũi được sống là một con người, bi kịch số phận thường gắn với nguyờn nhõn trực tiếp và cơ bản là nhu cầu mang tớnh vật chất, do vậy nú cú thể giải quyết được cỏch căn bản bằng đấu tranh giai cấp và cỏch mạng xó hội
Bi kịch lầm lạc phản ỏnh sự chống đối tuyệt vọng của những con người có nhân cách, có lý tưởng sống, nhưng lý tưởng sống ấy khụng cũn phự hợp với xu thế lịch
sử Sự chống đối càng quyết liệt bao nhiờu càng bi kịch bấy nhiờu
Bi kịch lạc quan phản ánh sự thất bại của những con người thuộc các lực lượng
xó hội tiờn tiến, tớch cực Sự hi sinh của cỏc nhõn vật bi kịch lạc quan là nhịp cầu đưa tới sự toàn thắng của lý tưởng mà họ theo đuổi
Xỳc cảm chủ yếu của chủ thể thẩm mỹ trước bi kịch là sự đồng cảm xút thương Đú là kết quả của một sự hoà trộn đặc bịờt cỏc sắc thỏi tỡnh cảm như thương xút, đồng cảm, sợ hói, cảm phục, quý trọng
Vỡ vậy, cỏi bi là phạm trự mỹ học phản ỏnh sự thất bại của con người có nhân cách cao đẹp hoặc những lực lượng xó hội tiến bộ trong cuộc đấu tranh chống lại lực lượng đối lập, gõy ra sự đồng cảm xút thương cho chủ thể thẩm mỹ
b Cỏi bi trong nghệ thuật
Cỏi bi trong nghệ thuật phản ỏnh cỏi bi trong cuộc sống một cỏch tập trung nhất, gõy ấn tượng đau thương thấm thớa vào cảm xỳc về sự cao thượng Cỏc thời đại khỏc, cỏc thể chế chớnh trị xó hội khỏc nhau cú cỏc dạng bi kịch khỏc nhau, do
đú trong nghệ thuật cũng cú cỏc hỡnh thức bi kịch khỏc nhau
Trang 24Bi kịch Hy Lạp cổ đại phản ánh sự thất bại của con người chống lại thần linh, định mệnh Cỏc nhõn vật anh hựng ở đõy thường phải chịu thất bại thảm thương hoặc đoạ đày, nhưng vẫn toỏt lên những phẩm chất con người cao quý: sự dũng cảm chống lại thần quyền, bảo vệ khỏt vọng sống, khỏt vọng về cụng bằng, lẽ phải
Bi kịch thời Trung cổ mang nặng màu sắc tụn giỏo, cố tụ vẻ sự hi sinh, dày vũ của con người vỡ những niềm tin hư ảo, hoang đường
Bi kịch thời Phục Hưng phản ỏnh những khỏt vọng nhõn văn lớn lao, tuyệt đớch, chống lại gụng xiềng hà khắc, chống lại sự trỡ trệ, tăm tối của xó hội cầm quyền
Bi kịch của chủ nghĩa cổ điển phõn tớch những giằng xộ nội tõm giữa việc thực hiện những dục vọng cỏ nhõn với những khuụn mẫu, lề thúi của nghĩa vụ, trỏch nhiệm của cụng dõn
Bi kịch thời khai sỏng tràn ngập sự nồng nhiệt đam mê của con người cá nhân trong việc khẳng định mỡnh và chống lại những tàn tớch của đạo đức trung cổ
Bi kịch tư sản hiện đại khắc hoạ sõu vào sự bi quan, mất niềm tin hoặc cảm nhận phi lý về đời sống hiện thực, hoặc cỏi nhỡn u ỏm về tương lai của nhõn loại Điều này đặc biệt nổi trội ở thời kỡ sau chiến tranh
Bi kịch lạc quan xuất hiện chủ yếu trong nghệ thuật xó hội chủ nghĩa, nú xuất hiện ở thời kỡ đấu tranh giành và giữ chớnh quyền cỏch mạng Những nhõn vật bi kịch lạc quan chiến đấu vỡ một mục đớch cao cả, mang tớnh hiện thực, với nhận thức rừ ràng Họ đún nhận sự hi sinh một cỏch anh dũng, tự nguyện Sự hi sinh đú khụng uổng phớ; nú khơi dậy niềm tin vào con người, vào tương lai, nú đoàn kết mọi người, lụi cuốn họ vào cuộc đấu tranh chung vỡ những khỏt vọng cao đẹp của con người
Nhõn dõn Việt Nam ta đó đối diện với thế lực hựng mạnh nhất vỡ chớnh nghĩa, cỏc xung đột bi kịch mà chỳng ta phản ỏnh trong nghệ thuật sẽ làm sỏng tỏ cỏi bi kịch lạc quan ấy và đặt ra những vấn đề bức thiết về số phận con người
IV Cỏi hài
a Bản chất thẩm mỹ của cỏi hài
Thời Hi Lạp cổ đại, Platụn khi xem xột cỏi hài đối lập với sự nghiờm tỳc, ụng nhận định rằng hai mặt đối lập nhau cựng tồn tại Platụn cũng cho rằng cỏi hài cũng là một phương tiện cần thiết để nhận thức được cỏi nghiờm tỳc; cỏi nghiờm tỳc chỉ cú thể nhận thức được nếu cú cỏi khụi hài Về phương diện xó hội ụng đó nhận thấy được vai trũ của cỏi hài là một phương tiện hữu hiệu để đũi hỏi dõn chủ,
là vũ khớ để người dưới cụng kớch kẻ trờn, người thường chế nhạo thần thỏnh
Trang 25Arixtốt cho hài kịch là cỏi bắt chước cỏi xấu nhưng khụng phải toàn bộ sự xấu
xa, bỉ ổi mà chỉ là một sai lầm, một sự kỳ quặc nào đú ễng đũi hỏi cỏc nghệ sĩ khi bắt chước cỏi xấu khụng được quỏ đà vỡ cỏi mặt nạ khụi hài là cỏi mặt xấu và mộo
mú “nhưng khụng đau đớn”
Kant xột cỏi hài trong tương quan giữa cỏi thấp hốn và cỏi cao cả ễng nhỡn thấy cỏi hài cú chức năng là huỷ bỏ, phỏ vỡ những ảo tưởng về khỏch thể Kant khẳng định “Cỏi cười là hiệu quả của sự biến húa bất thần, sự chờ đợi căng thẳng thành cỏi chẳng cú ý nghĩa gỡ”
Hờghen đặt cỏi hài vào trong mõu thuẫn giữa cỏi cú nghĩa, chõn thực, đỳng đắn với sự trống rỗng, hời hợt bề ngoài, sự sai lệch hoặc là khi cỏi mục đớch vụ nghĩa lại được đeo đuổi với cỏi vẻ hết sức nghiờm tỳc
Đối tượng của hài kịch Hờghen cú thể là một trong cỏc trường hợp sau:
Thứ nhất, khi cỏi mục tiờu nhỏ bộ và vụ nghĩa được theo đuổi với cỏi vẻ bề ngoài rất nghiờm trang và với những thủ phỏp rất phức tạp
Thứ hai, mục đớch cao, tham vọng lớn mà bản thõn lại cú những cụng cụ hốn kộm
Thứ ba, những điều rắc rối vừa đa dạng vừa kỡ quặc thường tạo nờn thế tương phản giữa mục đớch và việc thực hiện mục đớch, giữa cỏi tớnh thõm trầm và việc biểu hiện bờn ngoài
Hờghen quan tõm đến cỏc thủ phỏp Một dạng biểu hiện của cỏi hài là chõm biếm được ụng xem là sự đổ vỡ của lý tưởng Hờghen phỏt hiện và lý giải một cỏch đỳng đắn tớnh lịch sử của cỏi hài khi cho rằng chỉ vào những thời điểm nhất định của lịch sử mới cú những kiệt tỏc hài kịch
Trộcnexepxki cho rằng, cỏi hài nảy sinh khi cú mõu thuẫn trống rỗng bờn trong và khuếch đại bờn ngoài ễng khẳng định ý nghĩa giỏo dục của hài kịch “Khi cười nhạo cỏi xấu, chỳng ta trở nờn cao hơn nú”
Mỹ học Mỏc - Lờnin xỏc định cơ sở khỏch quan của cỏi hài là sự thống nhất giữa phẩm chất bờn trong của hiện tượng hài và sự thể hiện bờn ngoài của nú, là sự khụng phự hợp giữa một sự vật, hiện tượng nào đú với mụi trường, với xu thế vận động của ngoại cảnh
Do kiểu vi phạm vào cỏc chuẩn mực của đời thường và xu thế vận động của ngoại cảnh, của xó hội loài người, cỏc khỏch thể đỏng cười cú thể nằm trong cỏc dạng cơ bản như sau:
Dạng hài lịch sử - xó hội cú cơ sở mõu thuẫn giữa xu hướng phỏt triển của tiến bộ xó hội, của cỏc lực lượng cỏch mạng với cỏc lực lượng xó hội lạc hậu đó
Trang 26hết vai trũ lịch sử và đang cản trở bước tiến của xó hội nhưng cố chứng tỏ vai trũ
“cần thiết”, “quan trọng” của mỡnh
Dạng hài tệ nạ xó hội thường gắn với những cỏ nhõn và hành động tiờu cực nhưng mạo xưng là tiờn tiến, tớch cực, tạo vẻ tớch cực giả dối để huấn thị-dạy đời
Cú thể nhỡn thấy dạng này khỏ phổ biến ở những kẻ may mắn, hoặc dựng những mỏnh khúe tiến thõn, nhưng đến khi thành đạt lại cao giọng rao giảng cho cỏc thế
hệ sau phải cố gắng, phải phấn đấu Kẻ phản trắc lại thuyết giỏo về lũng trung thành Kẻ gian dối lại hay tỏn dương về đạo đức, về sự khụn ngoan của bản thõn
Kẻ dốt nỏt, kộm cỏi khi chiếm được diễn đàn, bục giảng lại mắng chửi người nghe
là ngu dại, chậm hiểu…
Dạng hài đời thường xuất hiện phong phỳ, đa dạng hơn cả; bất kỡ con người nào cũng cú thể mắc phải với cỏc mức độ và tần suất khỏc nhau vỡ nú liờn quan đến lối sống, quan hệ, giao tiếp, sinh hoạt thường ngày Những lời núi, ngụn từ, õm sắc, hành vi, cử chỉ khụng hợp chuẩn quen thuộc của cộng đồng đều cú thể trở thành khỏch thể hài
Về phương diện chủ thể, trước cỏc đối tượng hài, ở chủ thể thẩm mỹ xuất hiện cảm xỳc đặc biệt, cảm xỳc này bộc lộ ra dưới dạng cười nhạo, nội dung của phản ứng cười này là phủ nhận đối tượng dưới gốc độ thẩm mỹ
Trước đối tượng hài, tựy quy mụ và mức độ vi phạm của nú vào chuẩn mực thẩm mỹ tớch cực, chủ thể thẩm mỹ xử lý bằng cỏc hỡnh thức sau:
Đả kớch:phủ nhận đối tượng một cỏch mạnh mẽ, quyết liệt, trực diện đối với một chế độ xó hội, một thể chế chớnh trị phỏt xớt, độc tài, quõn phiệt hoặc những nhõn vật giữ vai trũ quan trọng trong thể chế ấy
Mỉa mai, chõm biếm: nhằm vào cỏc thể chế, tập đoàn xó hội về bản chất cú thể gõy nguy hiểm và tổn thất cho xó hội Tiếng cười ở đõy khụng cú tớnh bạn bố
mà cú tớnh cỏch ly, phế bỏ Nú tuyờn ỏn sự khụng hoàn thiện nhõn danh, sự cải tạo tận gốc rễ, hướng tới một thế giới lý tưởng Chõm biếm nhất thiết phải cú tớnh thời sự núng hổi nú chỉ nhằm tới những gỡ mà con người cho là quan trọng, có ảnh hưởng đến đời sống của cộng đồng rừ ràng, khụng thể bỏ qua được Nú lột trần, làm nổi bật lờn những hiện tượng trong cuộc sống mà nú chĩa mũi nhọn chống lại Bụng đựa hài hước: là biến thể của cỏi hài, nú mang tớnh bạn bố, khoan dung, dàn hoà, khụng cú thỏi độ ỏc ý mà mang tinh thần gúp ý, xõy dựng nú khụng nhằm thủ tiờu đối tượng mà như một phương thuốc “trị bệnh cứu người” Tiếng cười hài hước này làm cho con người cảm thông và gần gũi nhau hơn
Trang 27Một điều vụ cựng quan trọng trong ý thức của chủ thể khi phỏt ra tiếng cười hài là cõu hỏi: ta cười ai?
Người sống nụng nổi, và hời hợt luụn luụn cười cỏi ở bờn ngoài bản thõn mỡnh, cười cỏi xấu, cỏi khụng hoàn thiện ở kẻ khỏc mà khụng khi nào chịu kiểm nghiệm lại bản thõn mỡnh Đõy là biểu hiện của một nhõn cỏch kộm phỏt triển, thường sống trong trạng thỏi kốn cựa, ghen tị, khinh mạn đối với cỏc cỏ thể khỏc Người cú cuộc sống nội tõm sõu sắc, cú bản lĩnh, chủ yếu cười nhạo bản thõn mỡnh, hoặc khi cười bất cứ chuyện gỡ bờn ngoài đều lập tức xem xột lại chớnh mỡnh, tư chất ấy sẽ tạo nờn sự điềm tĩnh, thỏi độ khoan dung đối với những người xung quanh Tất cả những khớa cạnh tiờu cực nổi bật nhất ở khỏch thể đỏng cười
và những sắc thỏi chủ đạo ở chủ thể hài đều được phản ỏnh vào trong nghệ thuật dưới hỡnh thức hài kịch
b Đặc trưng của tiếng cười hài
Tiếng cười trong cỏi hài khỏc tiếng cười sinh lý đơn thuần vỡ một đằng mang
ý nghĩa nhận thức, khỏm phỏ, một đằng là biểu hiện sự phấn khớch do được đỏp ứng những nhu cầu của vụ thức ngoài thẩm mỹ
Để cú tiếng cười hài, chủ thể cần cú sự nhạy cảm thẩm mỹ, sự sỏng tạo ra điều kiện hài hước lành mạnh đũi hỏi trớ tuệ sắc sảo và nhõn cỏch phỏt triển và tư duy tạo bạo cuối cựng chủ thể cần phải cú một lũng nhõn ỏi, bao dung
Tiếng cười hài thường nhõn danh xu hướng dõn chủ bờnh vực những người
ỏp bức đố nộn, chống lại xu hướng tập trung quan liờu, chống lại thỏi độ hống hỏch, cửa quyền Tuy nhiờn những tiếng cười hài trong đời thường khụng phải bao giờ cũng cú ý nghĩa tớch cực, đụi khi nú giỳp chủ thể trấn an, gõy cảm giỏc thắng lợi tinh thần phi thực tế, hoặc tiếng cười vụ cảm khụng cú tỏc dụng nõng đỡ nhân cách con người
Túm lại cỏi hài là phạm trự mỹ học phản ỏnh dưới hỡnh thức diễu cợt giỏ trị thẩm mỹ tiờu cực khụng phự hợp với tiến bộ xó hội hoặc vi phạm cỏc chuẩn mực thụng thường mang lại tiếng cười cho chủ thể thẩm mỹ
V Cỏi cao cả
a Bản chất thẩm mỹ của cỏi cao cả
Cỏc hiện tượng thẩm mỹ cao cả tồn tại một cỏch khỏch quan trong hoạt động thực tiễn của con người, nó có bao chứa một giỏ trị thẩm mỹ lớn hơn, gõy cảm xỳc tớch cực mạnh hơn so với hiện tượng đẹp
Mỹ học Mỏc – Lờnin xỏc định rằng hiện tượng thẩm mỹ được xem là đối tượng của cỏi cao cả bao gồm hai phương diện:
Trang 28Về phương diện khỏch thể: sự vật được coi là cao cả, hựng vĩ khi cú quy mụ, khối lượng và kớch thước vượt xa cỏc chuẩn mực quen thuộc Tất nhiờn cỏc sự vật
đú khụng phải thuộc về cỏi thiờn nhiờn tự nú, mà là cỏi thiờn nhiờn được con người cải tạo, hiện ra như là tác phẩm của con người Nhỡn cỏi thiờn nhiờn đó con người thấy hỡnh búng của chớnh mỡnh và con người thấy tràn ngập niềm hân hoan, kiêu hónh về khả năng, về tầm vúc của mỡnh
Con người với tư cỏch là đối tượng phản ỏnh của cỏi cao cả phải cú nhõn cỏch phi thường, đúng gúp cho sự phỏt triển của xó hội một cỏch nổi bật Sự thể hiện của con người như thế cú thể là hành động của Đam San chiến đấu với tự nhiờn, với kẻ thự đến cướp búc để bảo vệ cộng đồng, cú thể là người anh hựng Phự Đổng với kiếm sắt, ỏo giỏp sắt, ngựa sắt chống giặc ngoại xõm, đến khi thắng lợi lại khụng ỷ vào cụng lao, từ chối đền đỏp của người đời đối với mỡnh, bay thẳng lờn trời Cú thể với những con người với những phát minh sáng tạo làm cho loài người trở nờn mạnh mẽ hơn, có thể là con người với những lời dạy bảo để cho giống người sống đẹp đẽ; hiểu biết và ngay thẳng xứng đỏng với danh hiệu Người cao quý
Về phương diện chủ thể: trước cỏc đối tượng nờu trờn, ở chủ thể xuất hiện những tỡnh cảm thẩm mỹ mạnh mẽ, hoà trộn nhiều sắc thỏi như ngạc nhiờn, thỏn phục, khõm phục, hõn hoan Trước cỏc vẻ đẹp, những con người bỡnh thường cũng cú thể bị lay động, bị quyến rũ
Túm lại cỏi cao cả là phạm trự mỹ học cơ bản, phản ỏnh giỏ trị thẩm mỹ tớch cực ở cấp độ phi thường, gõy nờn cảm xỳc phõm phục, choỏng ngợp cho chủ thể thẩm mỹ
b Cỏc lĩnh vực biểu hiện của cỏi cao cả
Cỏc sự vật, hiện tượng trong tự nhiờn được coi là biểu hiện của cỏi cao cả phải cú quy mụ và sức mạnh phi thường, lại phải cú một khoảng cỏch tương đối gần đối với chủ thể thẩm mỹ Thiờn nhiờn vụ cựng tận, tớnh chất vĩnh hằng, bất diệt của nú là biểu hiện một cỏch tập trung nhất của cỏi cao cả trong tự nhiờn, mặc
dự vậy nú đó được người hoỏ, nú bộc lộ ở một trỡnh độ nhất định những phẩm chất người
Trong xó hội, cỏi cao cả được biểu hiện ở cỏc giai cấp khi nú đại diện cho sự phỏt triển của xó hội, ở cỏc cuộc cỏch mạng thay đổi một cỏch căn bản trật tự xó hội, tạo bước ngoặt cho sự phỏt triển mạnh mẽ tiếp theo sau và cuối cựng, cỏi cao
cả trong xó hội biểu hiện ra ở cỏc vĩ nhõn, danh nhõn với sự đúng gúp lớn lao của
họ vỡ sự tiến bộ của xó hội loài người
Trang 29Cỏi cao cả được thể hiện ra trong nghệ thuật thụng thường qua cỏc hỡnh thức điển hỡnh như tớnh đồ sộ, hoành trỏng Nghệ thuật Hi Lạp cổ đại lấy hỡnh tượng thần Zớt làm biểu tượng cho cỏi vĩ đại, cao cả Cỏc kim tự thỏp Ai Cập gõy cảm giỏc về sự vĩ đại của Pharaụn bằng cỏch trấn ỏp tinh thần cỏc nhõn cỏch khỏc Cỏc cụng trỡnh kiến trỳc thời Trung cổ bằng cỏc tường cột vươn thẳng lờn trời tạo sự liờn tưởng về sự liờn hệ giữa cỏc khỏt vọng trần thế với đấng tối cao Cũn bản thõn cỏc tỏc phẩm nghệ thuật cú thể coi là biểu hiện của cỏi cao cả nếu như sự sỏng tạo nú đạt đến độ hoàn mỹ tối đa về mọi phương diện nghệ thuật Cú thể kể đến một số kỡ quan trong kiến trỳc cổ đại: kim tự thỏp Ai Cập, vườn treo Babilon, đền thờ thần, Hải đăng Alờchxanđria; cỏc tỏc phẩm của Hụmer, Xecvantộc, Sờchxpia, Mụlie, Róin, Coúcnõy, Sille, Hainơ, Puskin, Bazăc, Huygụ, Lộptụnxtụi Một số tỏc phẩm cũn lưu giữ được của Leụnađơvenxi, Mikenlăng Zờrụ, Raphaen Một số tỏc phẩm chớnh của Haiđơn, Mụzart, Bettụven được coi là mẫu mực cao cả muụn đời
Cũn chủ thể thẩm mỹ là phương diện thứ hai của quan hệ thẩm mỹ, đó chính
là con người xó hội, cỏc tập đoàn xó hội cỏc hoạt động người trong hoạt động thưởng thức, đỏnh giỏ, sỏng tạo cỏc giỏ trị thẩm mỹ
Để trở thành chủ thể thẩm mỹ, thụng thường chủ thể xó hội phải vượt qua trạng thái thực dụng, những nhu cầu thực dụng trực tiếp, cấp bách, con người đang đấu tranh giành giật sinh tử thỡ khụng quan hệ với hiện thực với tư cỏch là chủ thể thẩm mỹ
Tuy nhiờn, việc phõn định chủ thể thẩm mỹ với khỏch thể thẩm mỹ chỉ là tương đối, trong những tỡnh thỏi, những quan hệ nhất định Ngoài cỏc hỡnh thỏi
và quan hệ ấy, sự phõn vai này sẽ buộc phải thay đổi
II í thức thẩm mỹ và cỏc thành tố cơ bản của nú
a í thức thẩm mỹ
Cú nhiều quan niệm khỏc nhau về ý thức thẩm mỹ: Xu hướng bản thể luận coi
ý thức thẩm mỹ là phản ỏnh bản thõn tồn tại theo những nguyờn tắc chung, xu hướng nhận thức luận lại coi ý thức thẩm mỹ là một thuộc tớnh của ý thức con
Trang 30người Mỹ học Mác – Lênin xác định ý thức thẩm mỹ là một trong những hỡnh thỏi ý thức xó hội, phản ỏnh tồn tại xó hội dưới gúc độ thẩm mỹ
Đối tượng mà ý thức thẩm mỹ phản ỏnh là “thế giới con người” (theo cỏch núi của Mỏc), nghĩa là cỏi hiện thực xó hội đó được đồng hoỏ bởi kinh nghiệm xó hội-văn hoỏ của con người Chủ thể phản ỏnh của ý thức thẩm mỹ chớnh là chủ thể thẩm mỹ hay núi một cỏch khỏc là cỏc giai cấp, cỏc nhúm người cú thể tham gia vào việc sản xuất giỏ trị thẩm mỹ
í thức thẩm mỹ là khỏi niệm đi liền với khỏi niệm hoạt động thẩm mỹ, một mặt hoạt động là quỏ trỡnh hiện thực hoỏ ý thức thẩm mỹ, mặt khỏc nú là một thành tố của ý thức thẩm mỹ như cảm xỳc thẩm mỹ, thưởng thức thẩm mỹ đó đồng thời là hoạt động thẩm mỹ
í thức thẩm mỹ cú đặc trưng là sự phản ỏnh mang tớnh hỡnh tượng - cảm tớnh
về thế giới hiện thực khỏch quan Đú là hiện tượng con người tiếp nhận sự thống nhất toàn vẹn của đối tượng dưới dạng cảm xỳc Hỡnh tượng – cảm xỳc là sỏng tạo chủ quan của ý thức con người, không phải là bản sao nguyên xi của hiện thực khách quan, mặc dù hiện thực khách quan ấy quy định nội dung của ý thức phản ỏnh
í thức thẩm mỹ khụng chỉ phản ỏnh tồn tại xó hội một cỏch thụ động mà cũn tỏc động tớch cực trở lại đối với sự phỏt triển của tồn tại xó hội ấy Nú khụng chỉ đưa lại một hỡnh ảnh đỳng đắn, chỉnh thể về thế giới, cỏi thế giới mong muốn và khụng mong muốn mà cũn đưa lại một hỡnh mẫu của một tương lai mong đợi, tạo dựng cơ sở cảm xỳc – ý thức cho mỗi cỏ nhõn nhằm cải biến hiện thực
b Cảm xỳc thẩm mỹ
Là một trong những thành tố đầu tiờn của ý thức thẩm mỹ, đú là trạng thỏi cảm xỳc trực tiếp nảy sinh ở chủ thể thẩm mỹ trước đối tượng thẩm mỹ, nú là sự hoà trộn phức tạp những tỡnh cảm khỏc nhau, như sung sướng và khổ đau, vui và buồn, thiện cảm và ỏc cảm, tỡnh yờu và hận thự…
Cảm xỳc thẩm mỹ cú cơ sở khỏch quan là đối tượng thẩm mỹ, tức là cỏc sự vật hiện tượng tồn tại trong một chỉnh thể, độc đỏo và cú thể tri giỏc một cỏch trực tiếp, sinh động và những nội dung, thuộc tớnh, bản chất được bộc lộ ra hỡnh thức bờn ngoài dưới dạng vật chất cụ thể nào đú Trước những đối tượng thẩm mỹ ấy,
do khả năng tiếp nhận những kớch thớch từ bờn ngoài được hỡnh thành từ bản chất người của chủ thể, với mỗi đối tượng thẩm mỹ, trong thời gian khỏc nhau cú thể cú một khụng gian cảm xỳc thẩm mỹ khỏc nhau ở chủ thể
Trang 31c.Nếu như cảm xỳc thẩm mỹ là trạng thỏi tinh thần nảy sinh khi cú sự kớch thớch của đối tượng thẩm mỹ vào chủ thể thẩm mỹ thụng qua cỏc giỏc quan thẩm
mỹ thỡ nhu cầu thẩm mỹ là tiềm năng tinh thần của chủ thể thẩm mỹ, là trạng thỏi đũi hỏi cỏc sự thoả món cỏc giỏ trị của con người Nhu cầu thẩm mỹ là một trong những thành tố cơ bản của ý thức thẩm mỹ, phản ỏnh tỡnh trạng khụng tương hợp giữa con người với thế giới xung quanh và nỗi khát khao khắc phục sự không tương hợp đú, khắc phục sự hữu hạn, hẹp hũi của quan hệ hàng ngày giữa con người với thực tại
Nhu cầu núi chung của con người có thể xếp vào hai tuyến: Tuyến tự nhiên và tuyến xó hội Nhu cầu thẩm mỹ thuộc về tuyến xó hội, nú mang tớnh tinh thần, song chỉ cú thể đỏp ứng thụng qua những sự vật hiện tượng tồn tại trong một dạng vật chất cụ thể nào đú cú chứa giỏ trị thẩm mỹ
Lũng mong muốn vươn tới thoả món những giỏ trị thẩm mỹ tớch cực là một trong những yếu tố nõng con người vượt qua những nhu cầu thực dụng thụ thiển và những đũi hỏi bản năng Kant đó rất cú lý khi nhận định rằng: Nhu cầu thẩm mỹ chỉ được thoả món, tỡnh cảm thẩm mỹ chỉ được nảy sinh khi con người vượt lờn trờn những suy tớnh vụ lợi, ớch kỷ tầm thường
Nhu cầu thẩm mỹ ở con người được bộc lộ ra qua hai xu hướng tuỳ thuộc vào
cỏ tớnh Những người cú cỏ tớnh yếu thường cú xu hướng hoà nhập, tiếp nhận những giỏ trị phổ biến theo trào lưu chung của cộng đồng Những người cú cỏ tớnh mạnh thường cú xu hướng tỏch biệt ra để khẳng định cỏi “tụi” của mỡnh Họ cú thể phỏ bỏ một số giỏ trị truyền thống, tạo lập ra những giỏ trị thẩm mỹ mới, độc đỏo, đặc biệt cho xó hội
d Thị hiếu thẩm mỹ
Thị hiếu thẩm mỹ là sở thích của con người về phương diện thẩm mỹ Đú là thỏi độ tỡnh cảm của con người trước cỏi đẹp, cỏi xấu, cỏi bi, cỏi hài, cỏi cao cả trong cuộc sống và trong nghệ thuật
So với cảm xỳc thẩm mỹ, thị hiếu thẩm mỹ ổn định và bền vững hơn, nú đó là
sự thống nhất giữa tỡnh cảm thẩm mỹ và lý trớ Song, thị hiếu thẩm mỹ vẫn bộc lộ tớnh mau lẹ và nhạy cảm Dường như bao giờ người ta cũng cú thể trả lời ngay cõu hỏi trước mỗi một hiện tượng thẩm mỹ Thị hiếu thẩm mỹ nghiờng về phớa tỡnh cảm sẽ thay đổi nhanh, nếu nghiờng về phớa lý trớ thỡ sẽ bền vững, ổn định hơn Trỡnh độ học vấn, mức độ được giỏo dục về mặt thẩm mỹ, được tiếp xỳc với nghệ thuật, ảnh hưởng và chi phối mạnh đến thi hiếu thẩm mỹ của mỗi cỏ nhõn
Trang 32Thị hiếu thẩm mỹ ở mỗi con người không phải là bẩm sinh, bất biến, mà thay đổi tuỳ theo từng lứa tuổi, từng thời kỳ, theo giới tớnh khỏc nhau Nú vừa mang tớnh cỏ nhõn, vừa mang tớnh xó hội Thị hiếu của cỏ nhõn và của xó hội đen xen
và ảnh hưởng đến nhau: cỏ nhõn cú cỏ tớnh yếu thượng chịu sự chi phối, ràng buộc của thị hiếu xó hội, thị hiếu cộng đồng Song nếu cỏ nhõn cú cỏ tớnh mạnh, lại cú sự thành đạt nổi bật trong xó hội thỡ thị hiếu thẩm mỹ của anh ta tỏc động mạnh đến thị hiếu cộng đồng, thậm chớ làm thay đổi cả những quan điểm thẩm mỹ của xó hội
Giữa thị hiếu thẩm mỹ lành mạnh và thị hiếu thẩm mỹ độc hại khụng cú ranh giới cứng nhắc, chỳng chịu sự chi phối của quan điểm chớnh trị của một xó hội nhất định nào đú Sự thớch thỳ cựng một đối tượng thẩm mỹ ở cỏc cỏ nhõn khỏc nhau cú thể xuất phỏt từ cỏc loại thị hiếu lành mạnh, độc hại trỏi ngược nhau Một đối tượng thẩm mỹ cú thể là lành mạnh, độc hại tuỳ thuộc vào người cảm nhận và mức độ tiếp xỳc của người đú với đối tượng
Người cú thẩm mỹ phỏt triển cao, một mặt do xuất phỏt từ bản năng nhạy cảm khỏc nhau đối với thế giới xung quanh, do được tiếp nhận một nền học vấn tiến
bộ, tớch cực do được tiếp xỳc và được giỏo dục nhiều với nghệ thuật và bởi nghệ thuật tiờn tiến Ngược lại người cú thị hiếu kộm phỏt triển một phần cú thể cũn mang nhiều bản năng thụ lỗ, một phần do phải sinh sống lõu năm trong những điều kiện vật chất quỏ thiếu thốn, trong mụi trường đời sống của cộng đồng tăm tối Sự thấp kộm về thị hiếu thẩm mỹ này cú thể được khắc phục một mức độ lớn bởi sự thay đổi những điều kiện kinh tế - Xó hội Mốt thụng thường đi đụi với thị hiếu thẩm mỹ, mặc dự thị hiếu thẩm mỹ là trạng thỏi tỡnh cảm tương đối ổn định được lặp đi lặp lại trước đối tượng thẩm mỹ, cũn mốt là cỏi chưa ổn định được đưa ra cho thị hiếu thẩm mỹ thử thỏch
Mốt – xem xột dưới gốc độ mỹ học - triết học – là sự thay đổi một cỏch thường xuyờn, cục bộ cỏc hỡnh thức bề ngoài, xảy ra dưới sự ảnh hưởng của nhiều yếu tố
xó hội ( kinh tế - tõm lý xó hội, văn hoỏ đạo đức và thẩm mỹ)
Mốt cú liờn hệ với truyền thống văn hoỏ, cỏc phong tục và truyền thống trong xó hội thường bị khỳc xạ trong mốt
Được thử thỏch qua một thời gian, nếu mốt phự hợp với truyền thống văn hoỏ và đỏp ứng với những nhu cầu lịch sử, nú sẽ tồn tại khỏ bền vững và bổ sung vào vốn văn hoỏ truyền thống trở nờn lỗi thời, khụng phự hợp với cuộc sống hiện tại Cũng
cú thể chớnh bản thõn mốt nếu khụng phự hợp với hoàn cảnh tõm lý – xó hội, khụng phự hợp với mụi trường, khụng hoà nhịp với xu thế vận động xó hội sẽ
Trang 33nhanh chúng bị loại bỏ Nhưng sự ra đi của nú thầm lặng, khụng ồn ào như khi mới xuất hiện
Lý tưởng thẩm mỹ được biểu hiện ra thụng qua hỡnh tượng mang tớnh toàn vẹn
và cụ thể cảm tớnh Những hỡnh tượng ấy thường là con người thuộc một thời đại nhất định với quan hệ cụ thể của họ với thế giới xung quanh Lý tưởng thẩm mỹ ở mỗi thời đại, mỗi xó hội thể hiện rừ rệt nhất qua nghệ thuật, qua cỏc tỏc phẩm nghệ thuật tiờu biểu ở mỗi thời đại, mỗi xó hội ấy Thụng thường lý tưởng thẩm mỹ được thể hiện trực tiếp qua cỏc hỡnh tượng, những nhõn vật tớch cực, nhõn vật chớnh diện, nhõn vật anh hựng, song trong xu thế nghệ thuật hiện thực phờ phỏn,
lý tưởng thẩm mỹ được thể hiện một cỏch giỏn tiếp qua cỏc tỏc phẩm nghệ thuật
mổ xẻ phờ phỏn và đó kớch cỏc hiện tượng tiờu cực, cả về phương diện đạo đức
cả phương diện chớnh trị xó hội
Lý tưởng thẩm mỹ trong nghệ thuật là sự thể hiện một cỏch tập trung sõu sắc lý tưởng thẩm mỹ ngoài đời sống xó hội, nú cú khả năng dẫn dắt lý tưởng thẩm mỹ ngoài hiện thực
III Cỏc hỡnh thức tồn tại của chủ thể thẩm mỹ
Quan hệ thẩm mỹ của con người với hiện thực đó hỡnh thhành cỏc chủ thể thẩm
mỹ khỏc nhau Hiện nay Mỹ học Mỏc – Lờnin phõn thành 5 nhúm chủ thể thẩm
mỹ chủ yếu:
a Nhúm chủ thể thưởng thức
Nhúm này cũn được gọi là nhúm cảm thụ cỏc giỏ trị thẩm mỹ, nú cú quy mụ rộng lớn nhất, nú bao trựm hai nhúm cũn lại, hầu như mỗi con người xó hội đều cú cơ hội để trở thành một chủ thể thưởng thức trong những tỡnh huống nhất định nào
đú
Nhúm chủ thể thưởng thức phản ỏnh giỏ thụ cảm những quỏ trỡnh thẩm mỹ xảy
ra trong cuộc sống và nghệ thuật nhờ vào giỏc quan mà tớch luỹ được những giỏ trị thẩm mỹ Khả năng tiếp nhận, cảm thụ cỏc giỏ trị thẩm mỹ phụ thuộc vào nhiều
Trang 34yếu tố như mức độ nhạy cảm và được giỏo dục về nghệ thuật, trỡnh độ học vấn, điều kiện kinh tế và mụi trường sống
b Nhúm định hướng cỏc giỏ trị thẩm mỹ
Nhúm này bao gồm cỏc thành viờn như cỏc nhà quản lý văn hoỏ nghệ thuật, giới nghiờn cứu mỹ học, cỏc nhà phờ bỡnh và lý luận nghệ thuật Nhúm này giữ vai trũ quan trọng trong việc liờn kết cỏc cản phẩm sỏng tạo cú giỏ trị thẩm mỹ cao với người tiờu thụ Nếu thụng tin chớnh xỏc về quy luật tồn tại của sản phẩm thẩm mỹ, thức tỉnh cụng chỳng trong việc cảm thụ cỏc tỏc phẩm nghệ thuật, cho cụng chỳng biết thực chất và ý đồ chủ thể sỏng tạo
Nhúm định hướng cũn cú chức năng liờn kết cỏc khả năng sỏng tạo chung, nờu cỏc giỏ trị của sự nghiệp sỏng tạo khụng những của cỏc nghệ sĩ cựng thời mà là của cả kho tàng văn hoỏ nghệ thuật của nhõn loại Do vậy, họ cần cú một nhón quan rộng, kiến thức dồi dào bao quỏt trong từng lĩnh vực sỏng tạo, nắm được nhu cầu thẩm mỹ của nhúm tiờu thụ cỏc giỏ trị thẩm mỹ, cụng việc đỏnh giỏ và định hướng cũn đũi hỏi chủ thể phải cú một thị hiếu phỏt triển, một lý tưởng thẩm mỹ đỳng đắn Tớnh chất sỏng tạo của chủ thể đỏnh giỏ cũn cú vai trũ quan trọng ở chỗ khai thỏc cỏc giỏ trị thẩm mỹ cũn chỡm ẩn trong cỏc tỏc phẩm nghệ thuật, giỳp cho cụng chỳng nghệ thuật cảm nhận cỏc tỏc phẩm một cỏch sõu sắc hơn
c Nhúm chủ thể sỏng tạo thẩm mỹ
đõy là một chủ thể tiếp nối quỏ trỡnh tiờu thụ, quan sỏt của nhúm chủ thể thưởng thức để chuyển sang một quỏ trỡnh mới – quỏ trỡnh sản xuất, hoạt động sản xuất
ra những giỏ trị thẩm mỹ trước hết cũng là một hoạt động phản ỏnh
đặc điểm cơ bản đầu tiờn của sự thụ cảm biến đổi trong chủ thể sỏng tạo là biết rỳt ra từ đối tượng, những nột bản chất Việc quan sỏt của chủ thể sỏng tạo khụng phải là nhận thức đơn thuần Đú là quỏ trỡnh nhận thức sõu hơn về nbản chất đối tượng Mục đớch của chủ thể sỏng tạo là liờn kết những xỳc cảm về đối tượng và nờu lờn những nột nổi bật, chớnh xỏc của đối tượng Trong khi tỏi tạo những giỏ trị thẩm mỹ khỏch quan của đối tượng thỡ yếu tố sỏng tạo bắt ddaauf từ khả năng lựa chọn và biến đổi đối tượng thành đối tượng cú tớnh chất chủ thể Nghệ sĩ được coi là chue thể sỏng tạo bởi khi phản ỏnh lại hiện tượng thẩm mỹ họ đó rỳt ra cỏc hiện tượng ấy những mặt, những khớa cạnh, những khả năng thực tế và từ đú nảy sinh cỏc ý đồ sỏng tạo
Quỏ trỡnh tiếp theo của những xỳc cảm biến đổi ấy là những xỳc cảm phải được vật chất hoỏ
Trang 35Cỏc mức độ khỏc nhau của quỏ trỡnh vật chất hoỏ, đối tượng hoỏ cú thể núi lờn năng lực thẩm mỹ của chủ thể sỏng tạo Đối với nghệ sĩ quỏ trỡnh vật chất hoỏ, đối tượng hoỏ khụng thể tự diễn ra nếu khụng cú cỏc phương diện truyền cảm Vỡ thế xỳc cảm sỏng tạo cần thụng qua ngụn từ, điệu bộ hay những loại hỡnh vật chất khỏc nhau mới cú thể núi rừ bản chất của chủ thể sỏng tạo Đối với cỏc nghệ sĩ sỏng tỏc thỡ thường dựng õm thanh, ngụn từ, đường nột, màu sắc và tất cả cỏc loại hỡnh nghệ thuật khụng gian, thời gian để vật chất hoỏ cỏc năng lực sỏng tạo
Bản chất của quỏ trỡnh sỏng tạo là phản ỏnh Quỏ trỡnh này nờu rừ mục đớch, tớnh giỏi cấp, tớnh dõn tộc, bản chất xó hội cũng như cỏc đặc trưng thẩm mỹ của quỏ trỡnh sỏng tạo Phản ỏnh trong quỏ trỡnh sỏng tạo của quỏ trỡnh chủ thể thẩm
mỹ đũi hỏi chủ thể phải gắn bú với mụi trường, với thế giới quan Thụng qua phản ỏnh, những quan hệ cảm xỳc, tõm lý, đạo đức thẩm mỹ được bộc lộ
Trong chủ thể sỏng tạo nghệ thuật thỡ tưởng tượng, liờn tưởng và cỏ tớnh sỏng tạo cú vai trũ cực kỳ quan trọng Chủ thể sỏng tạo nghệ thuật khụng phải là chủ thể thụ động mà là chủ thể tớch cực cải tạo hiện thực Những mục tiờu sỏng tạo, cỏch thức sỏng tạo, cỏc liờn tưởng và tưởng tượng phỏn ỏnh rừ cỏ tớnh của chủ thể sỏng tạo
Sỏng tạo thẩm mỹ là sỏng tạo theo quy luật cỏi đẹp, được thể hiện cao nhất trong sỏng tạo nghệ thậut, sỏng tạo thẩm mỹ, sỏng tạo nghệ thuật thường gắn với tưởng tượng, với hư cấu, với phopng cỏch và trờn hết là gắn bú chặt chẽ với cuộc sống Chủ thể sỏng tạo luụn gắn bú tỡnh cảm và lý chớ Thế giới quan là nhõn tố đặc biệt quan trọng của nhúm chủ thể sỏng tạo
Ngoài ra trong lao động sỏng tạo, người nghệ sĩ bắt buộc phải cú tõm hồn nhạy cảm nhiều khi đến độ bất thường Đú chinh là vẽ đệp tõm hồn, độc đỏo của cỏc nghệ sĩ thuộc nhúm sỏng tạo
Trang 36Mỗi chủ thể biểu hiện khụng thể tự mỡnh biểu đạt được cỏc sản phẩm sỏng tạo
mà họ cần phải cú những cụng cụ, phương tiện để biểu đạt
Việc làm chủ cỏc phương tiện biểu hiện vào cỏc cỏch thức biểu hiện là hoạt động thẩm mỹ cực kỳ quan trọng của nhúm chủ thể này Bởi nhúm chủ thể này thường gắn liền với kết cầu cơ thể, sinh lý của bản thõn chủ thể nờn người ta thường nờu lờn lý thuyết về cỏc tài năng bẩm sinh Song, vấn đề cơ bản của chủ thể biểu diễn
đú là khả năng rốn luyện, khả năng lao động kiờn trỡ Chỳng ta cũng khụng được nhầm lẫn rằng biều hiện một sỏng tạo thỡ dễ hơn là bản thõn cụng việc sỏng tạo Chủ thể biểu hiện cũng là một chủ thể sỏng tạo Đú là một chủ thể nhõn giỏ trị sỏng tạo đú lờn gấp hai lần
e Nhúm chủ thể tổng hợp cỏc giỏ trị thẩm mỹ
Nhúm này vừa cú thể là người thụ cảm, vừa là người sỏng tạo, vừa là người biểu hiện và cũng là nhà phờ bỡnh Đú là những người thụng hiểu cả nghệ thuật khụng gian lần nghệ thuật thời gian, nghệ thuật động và nghệ thuật tỉnh
Phương tiện thực hiện và thể hiện cỏc hoạt động thẩm mỹ của nhúm chủ thể tổng hợp cỏc giỏ trị thẩm mỹ rất rộng lớn Cỏc phương tiện ấy bao gồm cỏc sản phẩm của người sỏng tạo, cỏc thủ phỏp sỏng tạo, cỏc cụng cụ sỏng tạo chủa chủ thể biểu hiện và cả bản thõn của chủ thể biểu hiện í đồ điện ảnh của nhà đạo diễn chỉ cú thể thụng qua diễn viờn và toàn bộ năng lực biểu hiện của họ í đồ của người nhạc trưởng cũng chỉ cú thể thực hiện được khi phỏt động toàn bộ năng lực của nhạc cụng và sự phối hợp giữa cỏc phương tiện của họ
Khả năng sỏng tạo của chủ thể tổng hợp cỏc giỏ trị thẩm mỹ là khụng hạn chế Bởi vỡ chủ thể tổng hợp sử dụng một khối lượng phương tiện cực kỳ đa dạng Nếu khụng thấu hiểu hết khả năng và chức năng, cỏc giỏ trị và phản giỏ trị của cỏc phương tiện đú thỡ khụng sao nờu bật được ý đồ của người sản xuất, đỏp ứng đỳng thị hiếu lành mạnh của chủ thể tiờu thụ
Túm lại, Sự phõn loại năm hỡnh thức tồn tại của chủ thể thẩm mỹ như trờn là cú tớnh chất tương đối và khụng hề căn cứ vào sự đỏnh giỏ khả năng của bất kỳ một nhúm chủ thể nào, giữa chỳng cú sự thõm nhập qua lại và thõm nhập vào nhau, hỗ trợ lần nhau
BÀI 5
HÌNH THÁI THẨM MỸ NGHỆ THUẬT
I Bản chất xó hội của nghệ thuật
a Nghệ thuật là một hiện tượng xó hội
Nghệ thuật ra đời trong lao động xó hội: