Môn Địa lí trong nhà trường THPT cung cấp cho học sinh những kiến thức khoa học về tự nhiên, về dân cư về chế độ xã hội, về các hoạt động kinh tế của con người ở khắp nơi trên Trái Đất..
Trang 1I- ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong đường lối phát triển kinh tế xã hội của Đảng đề ra năm 1991 có
nghi rõ “ Giáo dục là sự nghiệp đào tạo và xây dựng con người vừa phục vụ nhiệm vụ kinh tế xã hội trước mắt, vừa chuẩn bị cho đất nước bước vào những giai đoạn phát triển lâu dài” và nhiệm vụ trung tâm của giáo dục là: “Đào tạo thế
hệ trẻ thành những người lao động có ý thức làm chủ, có tri thức, thành thạo nghề nghiệp và có thái độ lao động tích cực sáng tạo”
Đó là nhiệm vụ nặng nề, phức tạp đòi hỏi mỗi môn học trong nhà trường
phổ thông phải dựa vào đặc trưng bộ môn mà xác định rõ vị trí, chức năng và nhiệm vụ của mình trong nhiệm vụ chung, cũng như tất cả các môn học khác, môn địa lí phải góp phần giáo dục những người công dân tương lai phù hợp với
yêu cầu xã hội
Môn Địa lí trong nhà trường THPT cung cấp cho học sinh những kiến thức
khoa học về tự nhiên, về dân cư về chế độ xã hội, về các hoạt động kinh tế của con người ở khắp nơi trên Trái Đất Qua bức tranh toàn cảnh về tự nhiên, và về kinh tế xã hội của các lãnh thổ khác nhau học sinh sẽ nắm được và biết các hiện tượng, các mối quan hệ đã tạo nên những thay đổi và phát triển trong môi trường
tự nhiên cũng như trong nền kinh tế, xã hội Đặc biệt trong giai đoạn chuyển hướng nền kinh tế nước ta hiện nay
Ngoài ra môn Địa lí THPT còn trang bị cho học sinh những kĩ năng để học sinh vận dụng kiến thức của khoa học Địa lí vào thực tiễn, làm quen với phương pháp thu thập và xử lí thông tin để sau này các em không bỡ ngỡ trước những hoạt động phức tạp và đa dạng của cuộc sống Vì vậy việc vận dụng các kĩ thuật dạy học như: khăn phủ bàn, kĩ thuật hợp tác, kĩ thuật chia nhóm trong giảng dạy môn Địa lí ở trường THPT là yêu cầu cần thiết nhằm phát huy tính tích cực, tính trách nhiệm, phát triển năng lực cộng tác, năng lực giao tiếp của học sinh
Trang 2II- GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
1- Cơ sở lý luận của vấn đề
Môn Địa lí giáo dục cho học sinh lòng yêu nước, thái độ nhiệt tình lao động, bồi dưỡng cho các em ý thức làm chủ, lòng mong muốn góp phần làm cho đất nước quê hương giàu đẹp Môn Địa Lí góp phần bồi dưỡng cho học sinh quan điểm duy vật lịch sử, tư duy kinh tế, tư duy sinh thái từ đó có quyết tâm
ra sức học tập, nghiên cứu khoa học kĩ thuật để làm hành trang tiếp bước cho ngày mai
Trong các Nghị quyết của Đảng và Nhà nước, giáo dục được coi là quốc sách hàng đầu Đồng thời Bộ Giáo dục - Đào tạo đã có chủ trương đổi mới chương trình sách giáo khoa gắn liền với đổi mới phương pháp dạy học, kĩ thuật, thiết bị dạy học, đổi mới cách đánh giá kết quả học tập của học sinh Đưa phương pháp lấy học sinh làm trọng tâm trong các cấp học, các môn học, thay sách giáo khoa cho phù hợp, đáp ứng nhu cầu phát triển của xã hội và các nước trong khu vực, cũng như trên toàn thế giới
Tuy vậy, khả năng nhận thức của học sinh còn nhiều hạn chế, chỉ học vẹt, học đối phó, thậm chí các khái niệm còn mơ hồ… dẫn đến chưa nắm rõ bản chất của vấn đề và suy nghĩ thiếu chắc chắn Để nâng cao chất lượng dạy và học, khắc phục quan điểm học môn Địa lí chỉ cần học vẹt, học thuộc lòng thì việc vận dụng các kĩ thuật dạy học tích cực là một trợ thủ đắc lực thúc đẩy quá trình nhận thức, phát triển tư duy, sánh tạo, tinh thần trách nhiệm, rèn luyện năng lực hợp tác, năng lực giao tiếp của học sinh
2- Thực trạng của vấn đề
Đối với môn Địa lí, một trong những môn học chưa được quan tâm đúng mức trrong nhà trường phổ thông, nên khả năng nhận thức của học sinh còn nhiều hạn chế, học sinh chỉ học đối phó, có tính ỷ lại không chịu tìm tòi, tiếp thu tri thức khoa học địa lí một cách thụ động, khả năng tổng hợp kiến thức kém,
Trang 3tiếp thu bài chậm, học theo kiểu giáo viên là người “phát” còn học sinh là người
“thu”
Mặt khác, nhiều người dạy môn học này quá nghiêm khắc, máy móc, bài giảng chưa hấp dẫn, chưa thu hút học sinh Có người lại coi nặng về lí thuyết, phương pháp dạy học của thầy cô còn thiếu tính sáng tạo Khả năng so sánh, phân tích, tổng hợp, áp dụng thực tiễn vào trong bài giảng còn yếu Vấn để giải quyết các mối liên hệ giữa tự nhiên và kinh tế xã hội, giữa các sự vật và hiện tượng địa lí còn nhiều hạn chế
Đứng trước vấn đề đó, buộc cả giáo viên và học sinh phải tích cực hơn nữa trong công tác giảng dạy cũng như trong học tập Và hiện nay việc đổi mới phương pháp dạy học đang đặt ra vấn đề cấp bách, khơi nguồn cảm xúc và tạo trí tò mò cho học sinh Bởi vậy, phải chuyển vai trò chủ động sang học sinh, giáo viên chỉ là người gợi mở, hướng dẫn các em, giúp cho học sinh hiểu biết, vận dụng những kiến thức tổng hợp, kiến thức liên môn để giải quyết các vấn đề của môn địa lí cũng như các vấn đề trong đời sống xã hội
Nhà trường đã được công nhận là trường chuẩn quốc gia, đươc sự đầu tư
về cơ sở vật chất, sự quan tâm của ban giám hiệu, song cả hai tổ Văn và Sử-Địa- GDCD còn đang dùng chung một phòng máy chiếu đa năng trong khi nhà trường có 35 lớp học buổi sáng
Môn Địa lí lớp 11 không thi tốt nghiệp hay thi đại học nên một bộ phận học sinh còn xem thường, lơ là và ngại học Đặc biệt nếu giáo viên dạy theo phương pháp cũ Sẽ được hay hơn và học sinh hứng thú học hơn, tiếp thu bài hiệu quả hơn khi được học bằng máy chiếu đa năng
Kiến thức môn địa lí lớp 11 đã được học sinh tiếp cận một phần ở bậc THCS Đồng thời, kiến thức môn Địa lí học sinh có thể tiếp nhận thông tin từ nhiều nguồn khác nhau qua các phương tiện thông tin đại chúng như tivi, Internet
Trang 4Do cả các nguyên nhân chủ quan và nguyên nhân khách quan và xuất phát
từ thực tế trên, tôi thấy việc vận dụng các kĩ thuật dạy học tích cực trong môn Địa lí lớp 11, để mang lại hứng thú học tập cho học sinh là rất cần thiết
3- Giải pháp và tổ chức thực hiện
3.1 Các giải pháp thực hiện
Xuất phát từ yêu cầu đổi mới chương trình và phương pháp dạy học, nâng cao tính chủ động, sáng tạo, phát huy khả năng và xu tế phát triển toàn diện của học sinh trong quá trình học tập và rèn luyện Thầy cô là người đưa ra vấn đề, trò là người giải quyết vấn đề
Chương trình Địa lí lớp 11 góp phần cung cấp kiến thức về hoạt động của con người trong các quốc gia, khu vực khác nhau trên toàn cầu làm cơ sở cho việc tiếp tục phát triển tư tưởng, tình cảm đúng đắn, đồng thời hướng học sinh đến cách hành động ứng xử phù hợp với yêu cầu của đất nước và thời đại, bồi dưỡng cho học sinh ý thức trách nhiệm, tình yêu đối với thiên nhiên và con người trên các lãnh thổ khác nhau trên thế giới, tăng cường thêm ý chí phấn đấu vươn lên góp phần làm dân giàu, nước mạnh, sánh vai với các nước có nền kinh
tế phát triển hơn trong khu vực và trên thế giới
Nhằm giúp học sinh nắm vững, hiểu sâu sắc bài học, biết vận dụng, liên
hệ kiến thức đã học vào thực tiễn cuộc sống Tôi đã vận dụng các kĩ thuật dạy học tích cực như: khăn phủ bàn, kĩ thuật chia nhóm, kĩ thuật đặt câu hỏi thúc đẩy sự tham gia tích cực, tăng cường tính độc lập, trách nhiệm của cá nhân học sinh, phát triển sự tương tác giữa học sinh với học sinh, dẫn dắc học sinh suy nghĩ khám phá tri thức mới tạo điều kiện cho học sinh tích cực tham gia vào quá trình học tập
Sử dụng phương pháp này để những tiết học không sử dụng phòng máy thì giáo viên dùng bảng, giấy, tránh được sự nhàm chán, tạo sự hứng thú ở học sinh, đặc biệt phát huy được tính tích cực, chủ động ở học sinh, kích thích quá trình học tập và rèn luyện của học sinh
Trang 5* Nguyên tắc khi vận dụng các kĩ thuật dạy học tích cực như sau:
+ Về phía giáo viên:
- Trước tiên giáo viên phải có phương tiện đồ dùng dạy học, đáp ứng được mục tiêu và phù hợp với nội dung của việc giảng dạy
- Sử dụng phương tiện đồ dùng dạy học đúng chỗ, chọn vị trí đặt để học sinh nào cũng được tiếp cận Luôn đề cao vai trò chủ động của học sinh, tạo điều kiện tối đa cho học sinh làm việc với phương tiện đồ dùng dạy học khám phá tìm tòi các tri thức cần thiết, đảm bảo không có học sinh nào bị “ bỏ rơi”
- Vận dụng các kĩ thuật dạy học phù hợp với nội dung bài học
- Phối hợp các kĩ thuật dạy học khác nhau, không nên quá lạm dụng vào một kĩ thuật nào đó sẽ gây nhàm chán
+ Về phía học sinh:
- Học sinh cần nghiên cứu kỹ bài học
- Có những hiểu biết nhất định về thực tiễn cuộc sống
- Thu thập mở rộng thông tin kiến thức
- Có tinh thần học hỏi, giao lưu
3-2 Các biện pháp thực hiện
Bài 4: Thực hành Tìm hiểu những cơ hội và thách thức của toàn cầu hóa đối với các
nước đang phát triển.
Khi dạy mục 1: Những cơ hội và thách thức của toàn cầu hóa đối với các nước đang phát triển (Vận dụng kĩ thuật khăn phủ bàn) Thời gian thực hiện
từ 22 phút đến 25 phút
Bước 1 (Thời gian thực hiện từ 6- 7phút)
Giáo viên chia lớp thành 7 nhóm, mỗi nhóm 6-7 học sinh (tùy thuộc vào sĩ
số của từng lớp) và giao nhiệm vụ cho các nhóm Mỗi nhóm đảm nhận một
thông tin Các nhóm cử nhóm trưởng thư kí
Trang 6Nhiệm vụ của các nhóm đọc thông tin được giao, kết hợp với hiểu biết của bản thân, hãy làm rõ những cơ hội và thách thức của toàn cầu hóa đối với các nước đang phát triển sau mỗi ô kiến thức
Mỗi nhóm sẽ có một tờ giấy A0 đặt lên bàn, chia giấy A0 thành phần chính giữa và phần xung quanh, chia phần xung quanh thành 6-7 phần Tùy vào sĩ số của từng lớp
Các thành viên suy nghĩ và viết các ý tưởng của mình về vấn đề được giao của nhóm vào phần số thứ tự được giao
Bước 2 (Thời gian thực hiện từ 5- 6 phút)
Thảo luận nhóm tìm ra các ý tưởng chung và viết vào phần chính giữa “khăn phủ bàn”
Sơ đồ “Khăn phủ bàn”
Trong khi học sinh làm việc, giáo viên quan sát, kịp thời uốn nắn nếu học sinh
“vượt’’ra khỏi vấn đề tìm hiểu
Sau khi hoàn thiện xong các nhóm treo kết quả lên bảng lớp học
Bước 3: (Thời gian thực hiện từ 8-10 phút)
Trang 7Đại diện các nhóm phát biểu, các nhóm khác bổ sung , giáo viên chuẩn kiến thức bằng phiếu học tập (có thể bằng máy chiếu đa năng hoặc bằng giấy treo tường)
Phiếu học tập
Cơ hội và thách thức của toàn cầu hóa đối với các nước đang phát triển.
1 Giảm thuế, hàng hóa có điều
kiện lưu thông rộng rãi
Khả năng cạnh tranh hàng hóa
Tệ nạn buôn lậu
2 Tăng cường sử dụng khoa học
và công nghệ, nâng cao hiệu quả sản xuất
Phát triển các ngành công nghiệp hiện đại
Cần nhiều vốn đầu tư, đòi hỏi người lao động phải có chuyên môn cao
Các ngành công nghiệp hiện đại chưa phát triển, khả năng cạnh tranh của sản xuất chưa cao
3 Tiếp thu tinh hoa văn hóa hiện
đại, làm phong phú văn hóa dân tộc
Tạo sự đồng nhất về văn hóa giữa các nước
Bị các siêu cường tìm cách áp đặt lối sống và nền văn hóa
Các giá trị đạo đức và truyền thống văn hóa tốt đẹp dân tộc
có nguy cơ bị xói mòn
4 Đổi mới công nghệ, thúc đẩy
quá trình công nghiệp hóa, thúc đấy kinh tế phát triển
Ô nhiễm môi trường
Tài nguyên thiên nhiên bị cạn kiệt, Các nước đang phát triển trở thành bãi rác thải công nghiệp cho các nước phát triển
5 Tiếp nhận nhanh chóng các
công nghệ hiện đại, nâng cao hiệu quả sản xuất
Thiếu vốn đầu tư, khó khăn
mở rộng thị trường
Tính cập nhật thông tin và
Trang 8trình độ lao động chưa cao.
6 Đón nhận sự chuyển giao
khoa học kĩ thuật và công nghệ
để nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm
Tăng trình độ chuyên môn kĩ thuật và khả năng quản lí cho người lao động
Nâng cao trình độ để tiếp nhận những thành tựu khoa học hiện đại
Khó khăn cho quản lí thương hiệu
7 Tăng cường hợp tác với nhiều
nước trên thế giới
Mở rộng thị trường tăng sức cạnh tranh
Dễ bị phụ thuộc do sự chênh lệch về trình độ
Câu hỏi mở rộng cho mục 1: Vận dụng kỹ thuật động não (Thời gian
thực hiện từ 5- 6 phút)
Bước 1 Giáo viên đặt câu hỏi: Bằng hiểu biết của bản thân, em hãy nêu những
ví dụ chứng tỏ toàn cầu hóa đem lại nhiều cơ hội và không ít thách thức cho Việt Nam
Học sinh trả lời, Giáo viên khích lệ học sinh phát biểu ý kiến càng nhiều càng tốt
Bước 2 Giáo viên liệt kê các ý kiến, phân loại các ý kiến, làm sáng tỏ các ý
kiến chưa rõ ràng của học sinh và rút ra kết luận
Thời cơ:
+ Mở rộng thi trường ra nước ngoài, trên cơ sở hiệp định song phương và đa phương
Trang 9+ Đặc biệt khi Việt Nam gia nhập vào WTO thì sẽ nhận quyền ưu đãi tối huệ quốc (MFN) và có nhiều thuận lợi về xuất khẩu hàng hóa vào các nước khác trong WTO
+ Có cơ hội thu hút vốn đầu tư nước ngoài
+ Có nhiều cơ hội tiếp nhận và đổi mới công nghệ, trang thiết bị
+ Mở cửa tạo điều kiện phát huy nội lực
+ Có sự phân công lao động mới và chuyển dịch cơ cấu kinh tế diễn ra trên nhiều lĩnh vực
Thách thức
+ Thực trạng nền kinh tế nước ta còn nghèo nàn so với khu vực và trên thế giới + Trình độ kinh tế nhìn chung còn thấp, quá trình chuyển đổi cơ cấu kinh tế còn chậm, sử dụng các nguồn vốn còn chưa hiệu quả
+ Gia tăng sự lệ thuộc vào nền kinh tế bên ngoài, đặc biệt là những nước có nền kinh tế phát triển
Bài 8: Liên Bang Nga
Khi dạy mục II- Điều kiện tự nhiên (Vận dụng kĩ thuật chia nhóm)
(Thời gian thực hiện từ 18- 20 phút)
Bước 1 (Thời gian thực hiện từ 6-7 phút)
Giáo viên chia lớp thành 4 nhóm, phát phiếu học tập và giao nhiệm vụ: Quan sát bản đồ tự nhiên Châu á, kết hợp với hình 8.1 sách giáo khoa Tìm hiểu đặc điểm tự nhiên của Liên Bang Nga và đánh giá ảnh hưởng của tự nhiên
đối với sự phát triển kinh tế nước này
Các nhóm trao đổi bổ sung cho nhau ghi kết quả vào phiếu học tập
Bước 2 (Thời gian thực hiện từ 6-7 phút)
Đại diện nhóm phát biểu, các nhóm khác bổ sung
GV chuẩn kiến thức( thông tin phản hồi phần phụ lục)
Trang 10Phiếu học tập
phát triển kinh tế
Địa Hình
Khoáng sản
Khí hậu
Sông ngòi
Rừng
* GV tiếp tục đặt câu hỏi cho các nhóm.
Câu hỏi cho nhóm 1: Tại sao các sông ở miền Đông không có giá trị về giao
thông mà chỉ có giá trị về thủy điện?
Đáp án: Vì:- Sông bắt nguồn từ vùng núi cao phía Nam đổ ra Bắc Băng Dương
nên sông có nhiều thác nghềnh có giá trị về thủy điện.(Liên Bang Nga là nước
có tiềm năng thủy điện lớn nhất trên thế giới, đạt 320 triệu kW 9/10 tiềm năng thủy điện là của các con sông ở miền Đông)
- Do địa hình và do sông bị đóng băng vào mùa đông nên giao thông đi lại trên các dòng sông bị hạn chế
Câu hỏi cho nhóm 2: Vì sao khí hậu miền Tây Liên Bang Nga ôn hòa hơn khí
hậu miền Đông?
Đáp án: Phần lớn lãnh thổ nước Nga nằm trong đới khí hậu ôn đới lục địa Ở
phía Tây khí hậu ôn hòa hơn do gió tây ôn đới thổi từ Đại Tây Dương mang theo hơi ẩm làm miền Tây mưa nhiều Càng đi sang phía đông khí hậu càng mang tính lục địa rõ rệt Mặt khác , đây là vùng cao nguyên Xi-bia là nơi thống lĩnh khí áp cao vào mùa đông nên mưa rất ít
Câu hỏi cho nhóm 3: Bằng hiểu biết của mình, hãy giới thiệu về hồ Bai- can?
Đáp án: Hồ Bai- can được hình thành cách đây 2000-2500 năm, đây là một hồ
thiên nhiên cổ nhất thế giới Chiều dài hồ 636 km, đoạn rộng nhất 79.4 km, nơi sâu nhất hơn 1700m, diện tích rộng 35 000km2 Có thể nói hồ Bai- can sâu nhất
và chứa được nước ngọt nhất thế giới Khoảng 23000m3 chiếm 4/5 lượng nước