Đây đều là những tác phẩm hay nhưng dung lượng kiến thức dài, số tiết dạy cho một văn bản lại quá ít vì vậyảnh hưởng rất lớn đến việc tiếp nhận tri thức của học sinh nếu giáo
Trang 1SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO NAM ĐỊNH TRƯỜNG THPT C NGHĨA HƯNG
BÁO CÁO SÁNG KIẾN
VẬN DỤNG MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP VÀ KĨ THUẬT DẠY HỌC TÍCH CỰC ĐỂ HƯỚNG DẪN HỌC SINH TÌM HIỂU VĂN BẢN TỰ SỰ TRONG CHƯƠNG TRÌNH NGỮ VĂN LỚP 11
Lĩnh vực(mã)/cấp học: Ngữ văn (01)/THPT
Tác giả: NGUYỄN THỊ HUYỀN Trình độ chuyên môn: Cử nhân Ngữ văn Chức vụ: Giáo viên môn Văn
Nơi công tác: Trường THPT C Nghĩa Hưng
Trang 2Nam Định, ngày 01/05/2020
THÔNG TIN CHUNG VỀ SÁNG KIẾN
1 Tên sáng kiến: VẬN DỤNG MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP VÀ KĨ THUẬT DẠY HỌC TÍCH CỰC ĐỂ HƯỚNG DẪN HỌC SINH TÌM HIỂU MỘT SỐ VĂN BẢN TỰ SỰ TRONG CHƯƠNG TRÌNH NGỮ VĂN LỚP 11
2 Lĩnh vực áp dụng sáng kiến: Ngữ văn (01)/THPT
3 Thời gian áp dụng sáng kiến:
- Năm học 2018 – 2019; 2019 – 2020
4 Tác giả:
Họ và tên: NGUYỄN THỊ HUYỀN
Năm sinh: 01/09/1980
Nơi thường trú: Đội 10, Nghĩa Hùng, Nghĩa Hưng, Nam Định
Trình độ chuyên môn: Cử nhân Ngữ văn
Nơi công tác: Trường THPT C Nghĩa Hưng, Nam Định
Địa chỉ liên hệ: Trường THPT C Nghĩa Hưng, Nam Định
Điện thoại: 0368081031
Tỷ lệ đóng góp tạo ra sáng kiến: 90%
5 Đơn vị áp dụng sáng kiến:
Tên đơn vị: Trường THPT C Nghĩa Hưng
Địa chỉ: Thị trấn Đông Bình, Rạng Đông, Nghĩa Hưng, Nam Định
Trang 3A Điều kiện, hoàn cảnh tạo ra sáng kiến 6
I Cơ sở lí luận 6
II Cơ sở thực tiễn 6
B MÔ TẢ GIẢI PHÁP 7
I MÔ TẢ GIẢI PHÁP TRƯỚC KHI TẠO RA SÁNG KIẾN 7
1 Đối tượng khảo sát 7
2 Thời gian, địa điểm và cách thức khảo sát 8
3 Quá trình khảo sát và phân tích kết quả khảo sát 8
3.1 Việc giảng dạy các tác phẩm văn xuôi tự sự trong chương trình Ngữ văn 11 của giáo viên 8
3.2 Việc học các tác phẩm văn xuôi tự sự trong chương trình Ngữ văn 11 của học sinh 8
3.3 Một số nhận xét 9
4 Một số phương pháp dạy học truyền thống 9
5 Các mặt ưu điểm hạn chế của các phương pháp dạy học văn truyền thống 9
II MÔ TẢ GIẢI PHÁP SAU KHI TẠO RA SÁNG KIẾN 10
1 Vấn đề cần giải quyết 10
2 Một số phương pháp và kĩ thuật dạy học tích cực 14
a Khái niệm phương pháp dạy học tích cực 14
b Một số phương pháp và kĩ thuật dạy học tích cực để hướng dẫn học sinh tìm hiểu văn bản tự sự trong chương trình Ngữ văn lớp 11 15
3 Một số gợi ý về việc vận dụng một số phương pháp và kĩ thuật dạy học tích cực giúp học sinh tìm hiểu một số văn bản tự sự trong chương trình Ngữ văn 11 22
3.1 Một số lưu ý 22
3.2 Văn bản “Hai đứa trẻ” -Thạch Lam (xem giáo án minh họa chi tiết ở phần 4) 22
3.3 Văn bản “Chữ người tử tù” – Nguyễn Tuân 25
3.4 Văn bản “Hạnh phúc của một tang gia” (Trích Số đỏ) – Vũ Trọng Phụng
27
3.5 Văn bản Chí Phèo 29
4 Giáo án minh họa “Cách vận dụng một số phương pháp và kĩ thuật dạy
Trang 431
5 Một số kết luận 45
III KHẢ NĂNG ÁP DỤNG VÀO THỰC TẾ CỦA SÁNG KIẾN 46
C HIỆU QUẢ CỦA SÁNG KIẾN ĐEM LẠI 46
1 Hiệu quả về mặt kinh tế 46
2 Hiệu quả về mặt xã hội 47
3 Khả năng áp dụng và nhân rộng 47
D CAM KẾT KHÔNG SAO CHÉP, VI PHẠM BẢN QUYỀN 47
Tài liệu tham khảo 49
Đơn đề nghị công nhận sáng kiến 50
Trang 6BÁO CÁO SÁNG KIẾN
A ĐIỀU KIỆN, HOÀN CẢNH TẠO RA SÁNG KIẾN
I CƠ SỞ LÍ LUẬN
- Tác phẩm văn học là sản phẩm tinh thần của người nghệ sĩ, tất cả những tưtưởng, tình cảm, suy nghĩ, nhận thức, thái độ … đều được họ gửi gắm vào tácphẩm Cho nên để hiểu và cảm được điều đó đòi hỏi trước hết chúng ta phải biết trigiác, cảm thụ tác phẩm, phải hiểu ngôn ngữ, tình tiết, cốt truyện, thể loại để có thểcảm nhận hình tượng trong sự toàn vẹn các chi tiết, các liên hệ Sau đó chúng tatiếp xúc với ý đồ sáng tạo của nghệ sĩ, thâm nhập vào hệ thống hình tượng như là
sự kết tinh sâu sắc của tư tưởng và tình cảm của tác giả Tiếp theo chúng ta phảiđưa hình tượng vào văn cảnh đời sống và kinh nghiệm sống của mình để thểnghiệm, đồng cảm Cuối cùng nâng cấp lí giải tác phẩm lên cấp quan niệm và tínhhệ thống, hiểu được vị trí tác phẩm trong lịch sử văn hóa, tư tưởng, đời sống vàtruyền thống nghệ thuật
- Xuất phát từ phương pháp đổi mới các tiết học của Bộ Giáo dục và Đào tạo
về việc lấy học sinh làm trung tâm của việc học, thầy cô giáo giúp học sinh chủđộng lĩnh hội kiến từ việc hướng dẫn của các thầy cô Để đạt được hiệu quả caonhất của việc giáo dục cho học sinh chủ động lĩnh hội kiến thức thì người giáo viênphải hiểu và giúp học sinh “khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện thành nếp
tư duy sáng tạo của người học” Đặc biệt, với những văn bản khó, mang nhiều tầnghàm nghĩa thì việc giúp cho học sinh chủ động lĩnh hội được kiến thức từ việc tựhọc, tự chiếm lĩnh, làm chủ kiến thức là một điều đặc biệt được quan tâm hàng đầu
- Trong dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề, học sinh vừa nắm được trithức mới, vừa nắm được phương pháp lĩnh hội tri thức đó, phát triển tư duy tíchcực, sáng tạo, được chuẩn bị một năng lực thích ứng với đời sống xã hội, phát hiệnkịp thời và giải quyết hợp lí các vấn đề nảy sinh Phương pháp dạy học tích cựchướng tới việc hoạt động hóa, tích cực hóa hoạt động nhận thức của người học,nghĩa là tập trung vào phát huy tính tích cực của người học chứ không phải tậptrungvào phát huy tính tích cực của người dạy
II CƠ SỞ THỰC TIỄN
- Tuy nhiên việc tiếp cận tác phẩm văn học không phải là dễ, đòi hỏi chúng
ta phải tìm tòi, học hỏi để tìm ra một phương pháp tiếp cận tác phẩm tối ưu nhấtgiúp học sinh lĩnh hội một cách dễ dàng nhất nhưng đạt hiệu quả cao Bởi vì hiệnnay môn Văn trong nhà trường đang có xu hướng bị xem nhẹ Học sinh không cònhứng thú học Văn mà xem như đó là môn học bắt buộc Vì thế, chất lượng học Văn
đã giảm sút đáng kể Học sinh không còn yêu thích môn Văn mà chạy theo những
Trang 7môn được coi là hấp dẫn như Toán, Lí, Hóa, tiếng Anh Chính vì thế càng đòi hỏigiáo viên dạy Văn phải đổi mới phương pháp giảng dạy, tạo được giờ học thu húthọc sinh, làm cho học sinh mong chờ đến tiết học Đồng thời còn giúp các emnhận thức được rằng: Cái đích cuối cùng của văn học là học làm người Học vănkhông chỉ để biết mà còn để sống, để tự nâng mình lên thanh sạch hơn, cao thượnghơn, nhân văn hơn Nếu không thì việc học văn, dạy văn chỉ là công việc phùphiếm Thực tế cảm thụ đã cho thấy nhiều người học đã có những dấu hiệu chuyểnhóa tích cực trong tâm hồn và nhân cách sau những tác động của văn học.
- Tình trạng học sinh ngày càng lười suy nghĩ, học thuộc văn mẫu để làm tưliệu khi làm bài kiểm tra hoặc khi đi thi mà không có sự sáng tạo hay cảm thụ vănchương một cách sâu sắc, mang dấu ấn cá nhân
- Mấy năm gần đây, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã có sự đổi mới trong cách ra
đề thi THPTQG theo hướng liên hệ, so sánh, tích hợp, vận dụng Và để làm đượccác dạng đề như vậy đòi hỏi học sinh phải hiểu vấn đề, biết xác định nội dung nghịluận cần bàn, biết xác định các dạng đề nghị luận thì bài làm mới đi đúng hướng.Một trong những cách giúp học sinh làm bài tốt, chủ động chính là việc giáo viênđịnh hướng cho học sinh chiếm lĩnh tri thức ngay trong từng bài giảng
- Trong chương trình Ngữ văn lớp 11, tập 1, học sinh được học một số văn
bản tự sự của văn học Việt Nam hiện đại giai đoạn 1930 – 1945 như “Hai đứa trẻ” của Thạch Lam, “Chữ người tử tù” của Nguyễn Tuân, “Hạnh phúc của một tang
gia” của Vũ Trọng Phụng, “Chí Phèo” của Nam Cao Đây đều là những tác phẩm
hay nhưng dung lượng kiến thức dài, số tiết dạy cho một văn bản lại quá ít vì vậyảnh hưởng rất lớn đến việc tiếp nhận tri thức của học sinh nếu giáo viên truyền thụkiến thức theo phương pháp dạy học truyền thống
- Từ những thực trạng nêu trên đòi hỏi cần phải có giải pháp đó là vấn đề đổimới phương pháp dạy học Ngữ văn theo hướng tích cực Vì vậy, tôi đưa ra sáng
kiến kinh nghiệm dạy học theo hướng “Vận dụng một số phương pháp và kĩ thuật
dạy học tích cực để hướng dẫn học sinh tìm hiểu văn bản tự sự trong chương trình Ngữ văn lớp 11”.
B MÔ TẢ GIẢI PHÁP
I MÔ TẢ GIẢI PHÁP TRƯỚC KHI TẠO RA SÁNG KIẾN
1 Đối tượng khảo sát
- Trong quá trình tiến hành khảo về việc dạy và học một số tác phẩm vănxuôi tự sự ở lớp 11, tôi tập trung khảo sát trên cơ sở đối tượng:
+ Giáo viên trực tiếp giảng dạy
+ Học sinh khối lớp 11 THPT
Trang 82 Thời gian, địa điểm và cách thức khảo sát
Trong quá trình nghiên cứu, thực hiện đề tài này, tôi tiến hành khảo nghiệmtrong thời gian 2 năm học 2018 – 2019 ở lớp 11A1, 11A8 và 2019 – 2020 ở lớp11A1 và 11A7
Dự giờ dạy học, kết hợp với nghiên cứu tài liệu, tìm hiểu giáo án của giáoviên và bài làm của học sinh, sau đó, tôi lấy ý kiến của giáo viên và học sinh để đưa
ra nhận xét khái quát
3 Quá trình khảo sát và phân tích kết quả khảo sát
3.1 Việc giảng dạy các tác phẩm văn xuôi tự sự trong chương trình Ngữ văn
11 của giáo viên
a Câu hỏi khảo nghiệm
Câu 1: Trong quá trình giảng dạy các tác phẩm văn xuôi tự sự trong chương
trình Ngữ văn 11, các thầy (cô) thường sử dụng những phương pháp dạy học nào?
Câu 2: Việc dạy học theo hướng đó, bản thân thầy (cô) thấy có những ưu
điểm và nhược điểm nào?
Câu 3: Các thầy (cô) có dự định đổi mới phương pháp dạy học các tác phẩm
này không?
b Kết quả
Với câu hỏi thứ nhất: Các thầy cô đều trả lời là có sử dụng kết hợp nhiều
phương pháp như: thuyết trình, vấn đáp…
Với câu hỏi thứ hai: Các thầy cô cho rằng dạy học theo các phương pháp đó
thì mặt ưu điểm là có thể cung cấp cho học sinh nhiều kiến thức, học sinh trật tự,kết quả kiểm tra thi cử đảm bảo … nhưng nhược điểm có thể thấy rõ là tính sángtạo của học sinh rất thấp, tính tích cực không cao …
Với câu hỏi thứ 3: Đa phần các thầy cô đều trả lời là có nhưng trở ngại lớn
nhất là tâm lí ngại đổi mới, thậm chí nhiều thầy cô còn cho rằng nhận thức củamình về các phương pháp và kĩ thuật dạy học còn mơ hồ …
3.2 Việc học các tác phẩm văn xuôi tự sự trong chương trình Ngữ văn 11 của học sinh
a Một số câu hỏi khảo sát
Câu 1: Khi chuẩn bị bài, em thường dựa trên cơ sở nào?
Câu 2: Em cảm thấy như thế nào trong giờ học Văn? Vì sao?
Câu 3: Trong giờ Văn, em học tập được điều gì?
Câu 4: Giờ học Văn có giúp em năng động, sáng tạo, chủ động trong việc
tiếp nhận kiến thức và thực hiện công việc không?
Câu 5: Em mong muốn điều gì trong và sau khi học giờ Văn?
Trang 9b Kết quả
Với câu hỏi thứ nhất: Tất cả học sinh đều trả lời: Dựa vào câu hỏi sách giáo
khoa
Với câu hỏi thứ hai:
- Đa số học sinh trả lời: Chán, buồn ngủ Vì kiến thức dài, nhàm chán, mệtmỏi, thầy cô giảng triền miên, câu hỏi đơn điệu
- Một số ít học sinh thấy hứng thú Vì thầy cô giảng hay, truyền cảm
Với câu hỏi thứ ba: Đa số học sinh đều trả lời: Học tập được một số kiến
thức mà thầy cô truyền đạt
Với câu hỏi thứ tư: Đa số học sinh trả lời: Không.
Với câu hỏi thứ năm: Đa số học sinh trả lời:
- Giờ học cần sáng tạo, linh hoạt
- Bài giảng cần sinh động, phong phú hơn
- Học sinh cần được chủ động hơn
- Việc tiếp nhận kiến thức nhẹ nhàng mà hiệu quả, nhớ lâu hơn
3.3 Một số nhận xét
Như vậy, đa số thầy cô giáo và học sinh đều rất quen thuộc với các tác phẩmvăn xuôi tự sự, tuy nhiên việc dạy và học chủ yếu vẫn diễn ra theo “nếp” cũ, thầy
cô chủ yếu là truyền đạt kiến thức, học sinh lắng nghe, ghi chép và học thuộc
Tình trạng này là do đây đều là những tác phẩm hay nhưng khó, số tiết trênlớp ít … Nhiều thầy cô cũng đã nghĩ tới việc thay đổi phương pháp giảng dạynhưng ngại khó và đặc biệt là những nhận thức về các phương pháp dạy học tíchcực còn mơ hồ
4 Một số phương pháp dạy học truyền thống
Theo các tài liệu và thực tế giảng dạy, dự giờ của đồng nghiệp, tôi nhận thấytrước đây giờ học văn hay sử dụng các phương pháp truyền thống như:
Phương pháp thuyết trình
Phương pháp giảng giải, minh họa
Phương pháp vấn đáp…
5 Các mặt ưu điểm hạn chế của các phương pháp dạy học văn truyền thống
Đó là lối dạy học đề cao vai trò của người dạy học mà quên đi vai trò chủđộng của người học, người dạy không lấy vai trò của học sinh làm trung tâm vì vậygiờ học không mang lại hiệu quả cao
Sử dụng phương pháp dạy học truyền thống có ưu điểm:
- Giáo viên sẽ định hướng cho học sinh hiểu theo những kiến thức mà giáo viên đặt ra để truyền đạt cho học sinh
Trang 10- Học sinh không mất quá nhiều thời gian cho việc suy nghĩ, thuận lợi trongviệc tiếp nhiều tri thức từ giáo viên
Tuy nhiên sử dụng phương pháp dạy học truyền thống để lại nhiều nhượcđiểm như:
- Học sinh thụ động trong việc tiếp thu kiến thức, không phát huy được tínhtích cực của người học trong việc tự học, tự chiếm lĩnh tri thức
- Giáo viên làm nhiều việc thay cho học sinh của mình trong khi học sinh thì
“nhàn rỗi” với công việc học tập
- Giờ học diễn ra nhàm chán, đơn điệu bởi sự hoạt động của thầy cô nhiềuhơn của trò Vì vậy kiến thức “đọng” lại trong lòng học sinh ít và càng cảm thấykhông thích thú với việc học môn Văn, đặc biệt là các tác phẩm văn xuôi
Ví dụ, khi dạy phần Tiểu dẫn trong sách giáo khoa, giáo viên chỉ có thể chohọc sinh đọc, tìm hiểu và trình bày vài nét về cuộc đời, sự nghiệp của Thạch Lam,Nguyễn Tuân, Vũ Trọng Phụng, Nam Cao theo sách Ngoài ra, học sinh khôngđược biết thêm, không được chiêm ngưỡng thêm bất kì hình ảnh nào có liên quanđến các tác giả
Hoặc khi giáo viên cho học sinh tìm hiểu cuộc sống nghèo khổ của nhữngcon người nơi phố huyện, cuộc sống của những người nông dân nghèo khổ trướcCách mạng tháng Tám 1945 học sinh cũng không thể mường tượng được khungcảnh sống nghèo đói của họ như thế nào bởi cuộc sống hiện tại của các em nóichung đã no đủ
Hay khi tìm hiểu về cảnh chờ tàu trong tác phẩm “Hai đứa trẻ” học sinh cũngchỉ biết là đoàn tàu ấy từ Hà Nội về, mà không hiểu rằng đoàn tàu ấy là tuyếnđường sắt nào, ga Cẩm Giàng là nhà ga ra sao bởi các em không được tận mắtngắm nhìn, tất cả chỉ là sự tưởng tượng qua những trang văn của Thạch Lam màthôi
Khi dạy học theo phương pháp giáo viên truyền thụ kiến thức, học sinh thụđộng tiếp thu kiến thức sẽ khiến cho học sinh không có khả năng tích hợp liên môn.Vì thế những giờ học Văn trở nên nặng nề, căng thẳng, không hứng thú
II MÔ TẢ GIẢI PHÁP SAU KHI TẠO RA SÁNG KIẾN
1 Vấn đề cần giải quyết
Trong giờ học giáo viên cần giúp cho học sinh hình thành và phát triển nănglực trong học tập như: năng lực thuyết trình, năng lực tự học, năng lực phát hiện vàgiải quyết vấn đề, năng lực sáng tạo, năng lực giao tiếp và hợp tác … Trong đó,phát triển năng lực sáng tạo, năng lực giải quyết vấn đề của học sinh là mục tiêuquan trọng, qua đó góp phần thúc đẩy sự hình thành và phát triển các năng lực
Trang 11khác Để có thể đạt được mục tiêu đó, phương pháp và kĩ thuật dạy học cần phảiđổi mới sao cho phù hợp với nhận thức khoa học để học sinh có thể tham gia vàohoạt động tìm tòi, sáng tạo giải quyết vấn đề, góp phần đắc lực hình thành năng lựchành động, phát huy tính tích cực, độc lập, sáng tạo của học sinh để từ đó bồidưỡng cho học sinh phương pháp tự học, hình thành khả năng học tập cho bản thân.
Hoạt động học của học sinh bao gồm các hành động với tư liệu dạy học, sựtrao đổi, tranh luận với nhau và sự trao đổi với giáo viên Hành động học của họcsinh với tư liệu hoạt động dạy học là sự thích ứng của học sinh với tình huống họctập đồng thời là hành động chiếm lĩnh, xây dựng tri thức cho bản thân Sự trao đổi,tranh luận giữa học sinh với nhau và giữa học sinh với giáo viên nhằm tranh thủ sự
hỗ trợ xã hội từ phía giáo viên và tập thể học sinh trong quá trình chiếm lĩnh trithức Thông qua các hoạt động của học sinh với tư liệu học tập và trao đổi đó màgiáo viên thu được những thông tin liên hệ ngược cần thiết cho sự định hướng củagiáo viên với học sinh
Hoạt động của giáo viên bao gồm hành động với tư liệu dạy học và sự traođổi, định hướng trực tiếp với học sinh Giáo viên là người tổ chức tư liệu hoạt độngdạy học, cung cấp tư liệu nhằm tạo tình huống cho hoạt động của học sinh Dựatrên tư liệu dạy học, giáo viên có vai trò tổ chức, kiểm tra, định hướng hoạt độngcủa học sinh với tư liệu học tập và định hướng sự trao đổi, tranh luận của học sinhvới nhau
Trong dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề, học sinh vừa nắm được trithức mới vừa nắm được phương pháp lĩnh hội tri thức đó, phát triển tư duy tíchcực, sáng tạo, được chuẩn bị một năng lực thích ứng với đời sống xã hội, phát hiệnkịp thời và giải quyết hợp lí các vấn đề nảy sinh
Như vậy, phương pháp và kĩ thuật dạy học tích cực hướng tới việc hoạt độnghóa, tích cực hóa hoạt động nhận thức của người học, nghĩa là tập trung vào pháthuy tính tích cực của người học chứ không phải là tập trung vào phát huy tính tíchcực của người dạy
Trong điều 24.2, Luật Giáo dục đã ghi: phương pháp giáo dục phổ thông
phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh
Vậy tính tích cực là gì ? Biểu hiện của nó trongdạy học thế nào? Khi nào thìcoimột phương pháp và kĩ thuật dạy học là phương pháp tích cực ?
Trong từ điển Tiếng Việt (Hoàng Phê chủ biên) giải thích: Tích cực là: có ý
Trang 12nghĩa, có tác dụng khẳng định, tác dụng thúc đẩy sự phát triển; tỏ ra chủ động, cónhững hoạt động nhằm tạo ra sự biến đổi theo hướng phát triển; hăng hái, tỏ ranhiệt tình đối với nhiệm vụ, với công việc Việc vận dụng vào dạy học, sự tích cựcthể hiện ở thái độ chủ động, hăng hái, nhiệt tình của giáo viên đối với việc dạy, củahọc sinh trong việc học và thông qua các hoạt động dạy và học tích cực ấy mà tạo
ra sự biến đổi theo hướng phát triển của cả giáo viên và học sinh
Còn nhà giáo dục học Kharlamôp thì cho rằng: “Tính tích cực là trạng thái
hoạt động của chủ thể, nghĩa là của người hành động Tính tích cực nhận thức làtrạng thái hoạt động của học sinh, đặc trưng bởi khát vọng học tập, cố gắng trítuệ và nghị lực cao trong quá trình nắm vững kiến thức” Điều đó có nghĩa là,
“tích cực” bao gồm cả tích cực bên trong: thể hiện ở những vận động tư duy, trínhớ, những chấn động của các cung bậc tình cảm, cảm xúc và tích cực bên ngoài:lộ ra ở thái độ, hành động đối với công việc Vì vậy, phương pháp và kĩ thuật dạyhọc tích cực là phương pháp khi vận dụng vừa đòi hỏi vừa thúc đẩy sự tích cực bêntrong (tư duy, tình cảm) và tích cực bên ngoài (thái độ, hành động) của giáo viên vàhọc sinh
Khi phân tích cụ thể vấn đề này, các nhà giáo dục còn chỉ rõ, tích cực nhậnthức, nếu xét dưới góc độ triết học là thái độ, cải tạo của chủ thể nhận thức đối vớiđối tượng nhận thức, tức là tài liệu học tập được phản ánh vào não của học sinhphải được biến đổi, được vận dụng linh hoạt vào các tình huống khác nhau để cảitạo hiện thực và cải tạo cả bản thân Còn nếu xét dưới góc độ tâm lí học thì tích cựcnhận thức là mô hình tâm lí hoạt động nhận thức, đó là sự kết hợp giữa các chứcnăng nhận thức, tình cảm, ý chí, trong đó chủ yếu là nhận thức của học sinh Môhình này luôn luôn biến đổi, tuỳ theo nhiệm vụ nhận thức cụ thể mà các em phảithực hiện Chính sự biến đổi liên tục bên trong của mô hình tâm lí hoạt động nhậnthức là đặc trưng của tính tích cực nhận thức ở học sinh Sự biến đổi này càng năngđộng bao nhiêu thì càng thể hiện tính tích cực ở mức độ cao bấy nhiêu Vì thế tínhtích cực của học sinh có hai mặt tự phát và tự giác Mặt tự phát của tính tích cựcbiểu hiện ở sự tò mò, hiếu kì, hiếu động, sôi nổi trong hoạt động, đó chính là nhữngyếu tố tiềm ẩn, bẩm sinh của học sinh, cần coi trọng và bồi dưỡng trong quá trìnhdạy học Còn mặt tự giác thể hiện ở óc quan sát, hành vi tự phê phán, nhận xéttrong tư duy, tò mò khoa học, đây chính là trạng thái tâm lí tích cực có mục đích vàđối tượng rõ rệt, có hoạt động để chiếm lĩnh đối tượng đó
Hạt nhân cơ bản của tính tích cực nhận thức là hoạt động tư duy Giáo viên
có thể căn cứ vào những biểu hiện sau (theo các cấp độ từ thấp lên cao) để phát hiện tính tích cực của học sinh:
Trang 13+ Bắt chước: gắng sức làm theo mẫu hành động của thầy, của bạn.
+ Tìm tòi, sáng tạo, tìm ra cách giải quyết mới, độc đáo, hữu hiệu
+ Chú ý học tập, hăng hái tham gia phát biểu ý kiến, ghi chép
+ Tốc độ học tập nhanh
+ Ghi nhớ những điều đã học
+ Hiểu bài và có thể trình bày lại nội dung bài học
+ Hoàn thành tốt những nhiệm vụ học tập được giao
+ Đọc thêm và làm các bài tập khác ngoài những công việc được thầy giao.+ Biết vận dụng những điều đã học vào thực hành
Tính tích cực có liên quan đến nhiều phẩm chất và hoạt động tâm lí nhậnthức của con người Cụ thể là động cơ tạo ra hứng thú, hứng thú lại là tiền đề của tựgiác Hứng thú và tự giác là hai yếu tố tâm lí tạo nên tính tích cực Tính tích cựcsản sinh nếp tư duy độc lập Suy nghĩ độc lập là mầm mống của sángtạo Như thế,
để đạt được mức độ độc lập, sáng tạo trong nhận thức, giáo viên phải thường xuyênphát huy tính tích cực học tập ở học sinh
Tích cực hóa là một tập hợp các hoạt động nhằm làm chuyển biến vị trí củangười học từ thụ động sang chủ động, từ đối tượng tiếp nhận tri thức sang chủ thểtìm kiếm tri thức để nâng cao hiệu quả học tập cho người học Tất cả các phươngpháp và kĩ thuật dạy học nhằm tích cực hóa hoạt động học tập của học sinh đềuđược coi là phương pháp dạy học tích cực Một phương pháp dạy học nào đó tự nókhông tích cực hay tiêu cực Đồng thời phương pháp nào cũng gắn liền với ngườisử dụng phương pháp Cho nên, một phương pháp dạy học có phát huy được tínhtích cực học tập của học sinh hay không còn tùy thuộc vào năng lực của người giáoviên sử dụng nó Tức là, bất kì cách thức tổ chức dạy học nào được thực hiện tạonên sự đổi mới, khiến các em có những vận động trí tuệ, cảm xúc đều là phươngpháp dạy học tích cực
Với sự đổi mới phương pháp và kĩ thuật dạy học, giáo viên không còn đóngvai trò đơn thuần là người truyền đạt kiến thức mà giáo viên trở thành người thiết
kế, tổ chức, hướng dẫn các hoạt động để học sinh tự lực chiếm lĩnh nội dung họctập, chủ động đạt các mục tiêu kiến thức, kĩ năng, thái độ theo yêu cầu của chươngtrình Trên lớp học sinh hoạt động là chính, giáo viên có vẻ nhàn nhã hơn Nhưng
để có được sự đổi mới trong cách dạy và cách học thì khi soạn giáo án, giáo viên đãphải đầu tư công sức, thời gian rất nhiều so với kiểu dạy và học thụ động mới cóthể thực hiện bài lên lớp với vai trò là người gợi mở, xúc tác, động viên, cố vấn,dẫn dắt, trọng tài trong các hoạt động tìm tòi hào hứng, tranh luận sôi nổi của học sinh
Trang 142 Một số phương pháp và kĩ thuật dạy học tích cực
a Khái niệm phương pháp dạy học tích cực
Phương pháp dạy học là lĩnh vực rất phức tạp và đa dạng, có nhiều quanniệm, quan điểm khác nhau về phương pháp dạy học Phương pháp dạy học đượchiểu là cách thức, là con đường hoạt động chung giữa giáo viên và học sinh, trongnhững điều kiện dạy học xác định, nhằm đạt tới mục đích dạy học
Phương pháp dạy học có ba bình diện:
- Bình diện vĩ mô là quan điểm về phương pháp dạy học Ví dụ: Dạy họchướng vào người học, dạy học phát huy tính tích cực của học sinh …
Quan điểm dạy học là những định hướng tổng thể cho các hành động phươngpháp, trong đó có sự kết hợp giữa các nguyên tắc dạy học, những cơ sở lí thuyếtcủa lí luận dạy học, những điều kiện dạy học và tổ chức cũng như những địnhhướng về vai trò của giáo viên và học sinh trong quá trình dạy học Quan điểm dạyhọc là những định hướng mang tính chiến lược, cương lĩnh, là mô hình lí thuyết củaphương pháp dạy học
- Bình diện trung gian là phương pháp dạy học cụ thể Ví dụ: phương phápđóng vai, thảo luận, nghiên cứu trường hợp điển hình, xử lí tình huống, trò chơi,
… Ở bình diện này khái niệm phương pháp dạy học được hiểu với nghĩa hẹp, lànhững hình thức, cách thức hành động của giáo viên và học sinh nhằm thực hiệnnhững mục tiêu dạy học xác định, phù hợp với những nội dung và điều kiện dạyhọc cụ thể Phương pháp dạy học cụ thể quy định những mô hình hành động củagiáo viên và học sinh Trong mô hình này thường không có sự phân biệt giữaphương pháp dạy học và hình thức dạy học, các hình thức tổ chức hay hình thức xãhội (như dạy học theo nhóm) cũng được gọi là các phương pháp dạy học
- Bình diện vi mô là Kĩ thuật dạy học Ví dụ: kĩ thuật chia nhóm, kĩ thuậtgiao nhiệm vụ, kĩ thuật đặt câu hỏi, kĩ thuật khăn trải bàn, kĩ thuật phòng tranh, kĩthuật các mảnh ghép, kĩ thuật hỏi chuyên gia, kĩ thuật hoàn tất một nhiệm vụ,
Kĩ thuật dạy học là những biện pháp, cách thức hành động của giáo viêntrong các tình huống hành động nhỏ nhằm thực hiện và điều khiển quá trình dạyhọc
Các kĩ thuật dạy học chưa phải là các phương pháp dạy học độc lập mà lànhững thành phần của phương pháp dạy học Ví dụ, trong phương pháp thảo luậnnhóm có các kĩ thuật dạy học như: kĩ thuật chia nhóm, kĩ thuật khăn trải bàn, kĩthuật phòng tranh, kĩ thuật các mảnh ghép,
Tóm lại, quan điểm dạy học là khái niệm rộng, định hướng cho việc lựa chọn
Trang 15các phương pháp dạy học cụ thể Các phương pháp dạy học là khái niệm hẹp hơn,đưa ra mô hình hành động Kĩ thuật dạy học là khái niệm nhỏ nhất, thực hiện cáctình huống hành động.
Một số lưu ý:
- Mỗi quan điểm dạy học có những phương pháp dạy học cụ thể phù hợp với
nó, mỗi phương pháp dạy học cụ thể có các kĩ thuật dạy học đặc thù Tuy nhiên, cónhững phương pháp dạy học cụ thể phù hợp với nhiều quan điểm dạy học, cũngnhư có những kĩ thuật dạy học được sử dụng trong nhiều phương pháp dạy họckhác nhau (Ví dụ: kĩ thuật đặt câu hỏi được dùng cho cả phương pháp đàm thoại vàphương pháp thảo luận).
- Việc phân biệt giữa phương pháp dạy học và kĩ thuật dạy học chỉ mang tínhtương đối, nhiều khi không rõ ràng Ví dụ, động não (Brainstorming) có trường hợpđược coi là phương pháp, có trường hợp lại được coi là một kĩ thuật dạy học
- Có những phương pháp dạy học chung cho nhiều môn học, nhưng cónhững phương pháp dạy học đặc thù của từng môn học hoặc nhóm môn học
- Có thể có nhiều tên gọi khác nhau cho một phương pháp dạy học hoặc kĩthuật dạy học Ví dụ: Brainstorming có người gọi là động não, có người gọi là côngnão hoặc tấn công não,
b Một số phương pháp và kĩ thuật dạy học tích cực để hướng dẫn học sinh tìm hiểu văn bản tự sự trong chương trình Ngữ văn lớp 11
* Phân tích phim Video
Phim video có thể là một trong các phương tiện để truyền đạt nội dung bàihọc Phim nên tương đối ngắn gọn (5 - 10 phút) cần xem qua trước để đảm bảo làphim phù hợp để chiếu cho các em xem.Trước khi cho học sinh xem phim, hãy nêumột số câu hỏi thảo luận hoặc liệt kê các ý mà các em cần tập trung, làm như vậy sẽgiúp các em chú ý tốt hơn
Quy trình thực hiện: Giáo viên cho học sinh xem phim video, sau khi họcsinh xem phim video giáo viên yêu cầu học sinh làm việc một mình hoặc theo cặpvà trả lời các câu hỏi hoặc viết tóm tắt các ý cơ bản về nội dung phim đã xem
Ưu điểm: Giáo viên cho học sinh xem video sẽ tạo tâm thế, hứng thú cho họcsinh trong việc chủ động tiếp nhận tri thức đồng thời cung cấp kiến thức thực tiễn,lịch sử cho học sinh giúp học sinh có thêm cái nhìn bao quát về vấn đề tiếp nhận
* Phương pháp tự học
Phương pháp tự học là học sinh tự tìm tòi, tự học để tiếp thu, lĩnh hội tri thứcthông qua sách vở, tài liệu nhằm giải quyết những yêu cầu về vấn đề học tập màgiáo viên đặt ra
Trang 16Ưu điểm: Rèn luyện phương pháp tự học cho học sinh là một biện phápkhông chỉ nâng cao hiệu quả dạy học mà còn là mục tiêu dạy học Nếu rèn luyệncho học sinh có được phương pháp, kĩ năng, thói quen, ý chí tự học thì kết quả họctập sẽ được nhân lên gấp bội Vì vậy giáo viên nên nỗ lực tạo sự chuyển biến chohọc sinh từ học tập thụ động sang chủ động, không chỉ tự học ở nhà mà còn họctrong tiết học có sự hướng dẫn trực tiếp của giáo viên.
Để giúp học sinh thể hiện kết quả học tập một cách chủ động, giáo viên nênáp dụng phương pháp này trong việc cho học sinh chuẩn bị bài ở nhà trước khigiảng dạy văn bản để học sinh hình dung được những phần kiến thức sẽ tiếp nhận.Giáo viên nên soạn những câu hỏi theo cách mình dạy để học sinh tìm tòi, chuẩn bịvà chủ động tìm kiếm tri thức theo cách hiểu của mình Giáo viên không nên chohọc sinh chuẩn bị bài theo những câu hỏi trong sách giáo khoa vì học sinh sẽ dựavào cuốn Để học tốt môn Văn hoặc một số tài liệu tham khảo khác để chép lại kiếnthức, điều này vô tình tạo ra sự thụ động, ỷ lại cho học sinh trong việc chuẩn bị bài
* Phương pháp vấn đáp
Phương pháp vấn đáp là phương pháp giáo viên đặt hệ thống câu hỏi để họcsinh trả lời nhằm gợi mở những vấn đề mới, học sinh tự khai phá những tri thứcmới bằng sự tái hiện những tài liệu đã học hoặc từ những kinh nghiệm đã tích luỹđược trong cuộc sống nhằm giúp học sinh củng cố, mở rộng, đào sâu, tổng kết, hệthống hoá những tri thức mới Từ đó giáo viên có thể kiểm tra, đánh giá học sinh vàgiúp học sinh tự kiểm tra, tự đánh giá việc lĩnh hội tri thức của chính mình
Phân loại: có thể dựa vào mục đích dạy học và dựa vào tính chất nhận thứccủa học sinh chúng ta có những phương pháp vấn đáp sau:
- Dựa vào mục đích dạy học có thể phân loại được một số phương pháp vấnđáp sau:
+ Vấn đáp gợi mở là phương pháp giáo viên khéo léo đặt câu hỏi hoặc mộtchuỗi câu hỏi nhằm dẫn dắt học sinh giải quyết một câu hỏi cơ bản, sau đó đi đếnkết luận Vấn đáp gợi mở sẽ giúp học sinh lĩnh hội được tri thức mới
+ Vấn đáp củng cố là phương pháp giáo viên khéo léo đặt ra một câu hỏihoặc hệ thống câu hỏi nhằm giúp học sinh củng cố những kiến thức cơ bản hoặcgiúp học sinh mở rộng, đào sâu những kiến thức mới
+ Vấn đáp tổng kết là phương pháp giúp học sinh khái quát, hệ thống hoánhững tri thức sau khi đã học một số bài, một chương, một bộ môn nhất định
+ Vấn đáp kiểm tra là phương pháp nhằm kiểm tra những tri thức đã học, đãđược củng cố, khái quát, hệ thống hoá Qua câu trả lời của học sinh, giáo viên cóthể đánh giá, kiểm tra năng lực của học sinh và giúp học sinh tự kiểm tra, tự đánh
Trang 17giá những kiến thức đã lĩnh hội được một cách kịp thời, nhanh gọn.
- Dựa vào tính chất nhận thức của học sinh mà phân ra:
+ Vấn đáp giải thích – minh hoạ là phương pháp mà giáo viên đặt ra nhữngcâu hỏi đòi hỏi học sinh giải thích và nêu lên dẫn chứng đểminh hoạ, làm sáng tỏcho sự giải thích của mình Trong câu trả lời của học sinh không chỉ đòi hỏi nhớ lạinội dung kiến thức mà phải có sự xâu chuỗi lại kiến thức để có sự suy luận cầnthiết
+ Vấn đáp tái hiện là phương pháp giáo viên đặt ra những câu hỏi đòi hỏihọc sinh phải nhớ lại những tri thức đã học và vận dụng chúng để giải quyết nhữngnhiệm vụ học tập trong hoàn cảnh đã biết
+ Vấn đáp tìm tòi – phát hiện là phương pháp mà giáo viên đặt ra những câuhỏi đòi hỏi học sinh phát huy khả năng nhận biết, phát hiện để tìm ra kiến thức
- Ưu điểm và hạn chế của phương pháp vấn đáp: Nếu vận dụng khéo léophương pháp vấn đáp sẽ có tác dụng quan trọng sau:
+ Điều khiển có hiệu quả hoạt động tư duy của học sinh, kích thích tính tíchcực trong việc lĩnh hội kiến thức
+ Bồi dưỡng cho học sinh năng lực diễn đạt bằng ngôn ngữ những vấn đềkhoa học một cách chính xác, đầy đủ, súc tích
+ Giúp giáo viên thu được tín hiệu ngược từ học sinh một cách nhanh, gọn,kịp thời từ đó giáo viên định hướng cách điều chỉnh hoạt động dạy của mình vàhoạt động học của học sinh Đồng thời học sinh cũng thu được tín hiệu ngược đểkịp thời điều chỉnh hoạt động nhận thức – học tập của mình Ngoài ra, giáo viên cókhả năng chỉ đạo hoạt động nhận thức của cả lớp và của từng học sinh
+ Song nếu vận dụng không khéo sẽ dễ làm mất thời gian, ảnh hưởng đến kếhoạch dạy học, biến vấn đáp thành cuộc đối thoại giữa giáo viên và một vài họcsinh, không thu hút toàn lớp tham gia vào hoạt động chung Nếu câu hỏi đặt ra chỉđòi hỏi nhớ lại tri thức một cách máy móc thì sẽ làm ảnh hưởng đến sự phát triển tưduy logic, tư duy sáng tạo của học sinh, không phát huy được tính tích cực của họcsinh
- Nghệ thuật đặt câu hỏi: Việc sử dụng phương pháp vấn đáp phụ thuộc vàonghệ thuật đặt câu hỏi của giáo viên Biết đặt câu hỏi và tăng dần tính phức tạp,tính khó khăn của câu trả lời là một trong những thói quen sư phạm quan trọng vàcần thiết nhất Nghệ thuật đặt câu hỏi phải đảm bảo những yêu cầu sau:
+ Trong tình huống học tập nhất định giáo viên phải đặt câu hỏi cụ thể, rõràng đòi hỏi học sinh phải tích cực hóa tài liệu, vạch ra ý nghĩa cơ bản của kiếnthức lĩnh hội
+ Câu hỏi không đơn thuần đòi hỏi học sinh tái hiện kiến thức đã lĩnh hội mà
Trang 18phải vận dụng những kiến thức đã lĩnh hội được để giải quyết vấn đề mới
+ Câu hỏi phải hướng trí tuệ của học sinh vào mặt tính chất của những sựvật, hiện tượng phải nghiên cứu để hình thành tư duy biện chứng cho học sinh
+ Câu hỏi phải đặt như thế nào để đòi hỏi học sinh xem xét những sự kiện,hiện tượng trong mối quan hệ với nhau, nhìn nhận hiện tượng, sự vật, sự việckhông chỉ theo những thành tố, theo từng bộ phận mà còn theo tính chỉnh thể toànvẹn của chúng
+ Câu hỏi đặt ra phải theo những quy tắc logic
- Yêu cầu đối với việc vận dụng phương pháp vấn đáp:
+ Cần phải đặt câu hỏi cho toàn lớp rồi mới chỉ định học sinh trả lời Khi mộthọc sinh trả lời xong, cần yêu cầu những học sinh khác nhận xét, bổ sung, sửa chữacâu trả lời nhằm thu hút sự chú ý lắng nghe câu trả lời của bạn, qua đó kích thíchhoạt động chung của cả lớp
+ Khi học sinh trả lời, giáo viên cần lắng nghe Nếu cần thiết đặt thêm câuhỏi phụ, câu hỏi gợi mở dẫn dắt học sinh trả lời câu hỏi chính
+ Giáo viên cần có thái độ bình tĩnh khi học sinh trả lời sai hoặc thiếu chínhxác, tránh thái độ nôn nóng, vội vàng cắt ngang ý của học sinh khi không thật cầnthiết Chú ý uốn nắn, bổ sung câu trả lời của học sinh, giúp học sinh hệ thống hoálại những kiến thức đã tiếp thu, lĩnh hội được trong quá trình vấn đáp
+ Không chỉ chú ý kết quả câu trả lời của học sinh mà giáo viên còn phải chú
ý cả cách diễn đạt trong câu trả lời của học sinh một cách chính xác, rõ ràng, hợplogic Đó là điều kiện quan trọng để phát triển tư duy logic cho học sinh
+ Cần chú ý sử dụng mọi biện pháp nhằm thúc đẩy học sinh mạnh dạn trả lờihoặc nêu ra những thắc mắc của mình về nội dung bài học Từ đó giáo viên tạo ratình huống có vấn đề, thu hút toàn lớp tham gia thảo luận, tranh luận để giải quyếtvấn đề đó Qua đó có thể góp phần lấp lỗ hổng kiến thức, sửa chữa những sai lầmhoặc cách hiểu chưa chính xác những nội dung học tập của học sinh
* Phương pháp thảo luận nhóm
Dạy học nhóm còn được gọi bằng những tên khác nhau như: dạy học hợptác, dạy học theo nhóm nhỏ, trong đó học sinh của một lớp học được chia thành cácnhóm nhỏ, trong khoảng thời gian giới hạn, mỗi nhóm tự lực hoàn thành các nhiệm
vụ học tập trên cơ sở phân công và hợp tác làm việc Kết quả làm việc của nhómsau đó được trình bày và đánh giá trước toàn lớp Dạy học nhóm nếu được tổ chứctốt sẽ phát huy được tính tích cực, tính trách nhiệm, phát triển năng lực cộng táclàm việc và năng lực giao tiếp của học sinh
Quy trình thực hiện: Tiến trình dạy học nhóm có thể được chia thành 3 giai
Trang 19+ Chuẩn bị chỗ làm việc
+ Lập kế hoạch làm việc
+ Thỏa thuận quy tắc làm việc
+ Tiến hành giải quyết các nhiệm vụ
+ Chuẩn bị báo cáo kết quả
- Làm việc toàn lớp: Trình bày kết quả, đánh giá
+ Các nhóm trình bày kết quả
+ Đánh giá kết quả
Một số lưu ý khi sử dụng phương pháp thảo luận nhóm trong dạy học:
- Có rất nhiều cách để thành lập nhóm theo các tiêu chí khác nhau, khôngnên áp dụng một tiêu chí duy nhất trong cả năm học Số lượng học sinh của mộtnhóm khoảng từ 6 – 8 học sinh
- Nhiệm vụ của các nhóm có thể giống nhau, hoặc mỗi nhóm nhận mộtnhiệm vụ khác nhau nhưng đều nằm trong một chủ đề chung
Ưu điểm của việc dạy học theo phương pháp thảo luận nhóm là phát huyđược tính
tích cực, chủ động của học sinh trong việc chiếm lĩnh tri thức, tạo sự đoàn kết, gắn
bó giữa các thành viên trong nhóm, các thành viên đều có thể phát huy được khảnăng, sự hiểu biết của chính mình
Nhược điểm của việc dạy học theo phương pháp thảo luận nhóm là sẽ có họcsinh phải làm việc quá nhiều, có học sinh sẽ ỷ lại vào các thành viên còn lại nênkhông tham gia vào hoạt động học Hạn chế lớn nhất của phương pháp thảo luậnnhóm là học sinh nhóm nào thì biết kiến thức của nhóm ấy chứ không lĩnh hội đượckiến thức của nhóm khác bởi khi giao việc giáo viên thường “đặt đơn hàng” trướccho các nhóm Điều này tạo nên lỗ hổng kiến thức cho học sinh
Để phát huy được mặt tích cực và hạn chế mặt tiêu cực của phương phápthảo luận nhóm, giáo viên cần phải yêu cầu tất cả các học sinh chuẩn bị bài về nhà.Khi tiến hành dạy học đến phần kiến có sử dụng phương pháp thảo luận nhóm, giáoviên chia nhóm, yêu cầu nhóm trưởng lên bốc thăm vấn đề học tập cần thảo luận.Trong quá trình học sinh thảo luận nhóm để tìm ra kiến thức mới, giáo viên cần
Trang 20phải quan sát, phát hiện kịp thời để phát hiện ra những điều học sinh cần giúp đỡ,phát hiện ra những học sinh ỷ lại, không có ý thức học tập nhóm.
* Phương pháp đóng vai
Đóng vai là phương pháp tổ chức cho học sinh thực hành, “làm thử” một sốcách ứng xử nào đó trong một tình huống giả định Đây là phương pháp nhằm giúphọc sinh suy nghĩ sâu sắc về một vấn đề bằng cách tập trung vào một sự việc cụ thểmà các em vừa thực hiện hoặc quan sát được Việc “diễn” không phải là phần chínhcủa phương pháp này mà điều quan trọng là sự thảo luận sau phần diễn ấy
Quy trình thực hiện có thể tiến hành đóng vai theo các bước sau:
- Giáo viên nêu chủ đề, chia nhóm và giao tình huống, yêu cầu đóng vai chotừng
nhóm Trong đó có quy định rõ thời gian chuẩn bị, thời gian đóng vai của mỗinhóm
- Các nhóm thảo luận chuẩn bị đóng vai
- Các nhóm lên đóng vai
- Lớp thảo luận, nhận xét về cách ứng xử và cảm xúc của các vai diễn; về ýnghĩa của các cách ứng xử
- Giáo viên kết luận, định hướng cho học sinh về cách ứng xử tích cực trongtình huống đã cho
* Một số lưu ý khi sử dụng phương pháp đóng vai:
- Tình huống đóng vai phải phù hợp với chủ đề bài học, phù hợp với lứa tuổi,trình độ học sinh và điều kiện, hoàn cảnh lớp học
- Tình huống không nên quá dài và phức tạp, vượt quá thời gian cho phép
- Tình huống phải có nhiều cách giải quyết
- Tình huống cần để mở để cho học sinh tự tìm cách giải quyết, cách ứng xửphù hợp, không cho trước “kịch bản”, lời thoại
- Mỗi tình huống có thể phân công một hoặc nhiều nhóm cùng đóng vai
- Phải dành thời gian phù hợp cho học sinh thảo luận xây dựng kịch bản vàchuẩn bị đóng vai
- Cần quy định rõ thời gian thảo luận và đóng vai của các nhóm
- Trong khi học sinh thảo luận và chuẩn bị đóng vai, giáo viên nên đi đếntừng nhóm lắng nghe và gợi ý, giúp đỡ học sinh khi cần thiết
- Các vai diễn nên để học sinh xung phong hoặc tự phân công nhau đảm nhận
- Nên khích lệ cả những học sinh nhút nhát cùng tham gia
- Nên có hóa trang và đạo cụ đơn giản để tăng tính hấp dẫn của tiểu phẩmđóng vai
Trang 21* Kĩ thuật khăn trải bàn
Đây là hình thức tổ chức hoạt động mang tính hợp tác kết hợp giữa hoạtđộng cá nhân và hoạt động nhóm nhằm:
+ Kích thích, thúc đẩy sự tham gia tích cực
+ Tăng cường tính độc lập, trách nhiệm của cá nhân học sinh
+ Phát triển mô hình có sự tương tác giữa học sinh với học sinh
- Cách tiến hành kĩ thuật “Khăn trải bàn”:
+ Học sinh được chia thành các nhóm nhỏ Mỗi nhóm sẽ có một tờ giấy A0đặt trên bàn, như là một chiếc khăn trải bàn
+ Chia giấy A0 thành phần chính giữa và phần xung quanh, tiếp tục chiaphần xung quanh thành các phần nhỏ tuỳ theo số thành viên của nhóm
+ Mỗi thành viên sẽ suy nghĩ và viết các ý tưởng của mình (về một vấn đềnào đó mà giáo viên yêu cầu) vào phần cạnh “khăn trải bàn” trước mặt mình Sau
đó thảo luận nhóm, tìm ra những ý tưởng chung và viết vào phần chính giữa “khăntrải bàn”
Ưu điểm của kĩ thuật khăn trải bàn:
- Giúp cho hoạt động nhóm có hiệu quả hơn, mỗi học sinh đều phải đưa ra ýkiến của mình về chủ đề đang thảo luận, không ỷ lại vào các bạn học khá, giỏi
- Kĩ thuật này áp dụng cho hoạt động nhóm với một chủ đề nhỏ trong tiếthọc, toàn thể học sinh cùng nghiên cứu một chủ đề
* Kĩ thuật phòng tranh
Kĩ thuật này có thể sử dụng cho hoạt động cá nhân hoặc hoạt động nhómnhằm:
- Góp phần giúp học sinh có được khả năng ghi nhớ kiến thức tốt nhất Theomột nghiên cứu khoa học về khả năng ghi nhớ của con người, chúng ta sẽ có thểghi nhớ được khoảng từ 5% đến 10% thông tin kiến thức khi nghe, đọc; ghi nhớđược khoảng 50% thông tin kiến thức khi thảo luận cùng nhau và ghi nhớ đượckhoảng từ 85% đến 90% thông tin kiến thức khi hoạt động và giảng giải cho ngườikhác
- Tạo không khí học tập thoải mái, sinh động nhưng vẫn hiệu quả Người học
sẽ được tạo cơ hội để giao tiếp, thể hiện quan điểm riêng, giá trị bản thân, ước mơ,mục tiêu cá nhân …
- Hình thành và rèn luyện kĩ năng thuyết trình cho tất cả học sinh trong lớp
Từ đó bồi đắp sự tự tin cho các em
Tiến trình dạy học sử dụng kĩ thuật phòng tranh được chia thành 3 vòng:
- Vòng 1: Nhóm chuyên gia:
Trang 22+ Lớp chia thành các nhóm chuyên gia.
+ Mỗi nhóm thực hiện một nhiệm vụ học tập
- Vòng 2: Nhóm ghép đi xem tranh:
+ Sau khi các nhóm chuyên gia hoàn thành nhiệm vụ, các nhóm ghép sẽđược hình thành
+ Mỗi nhóm ghép sẽ bao gồm mỗi thành viên đến từ các nhóm chuyên gia.+ Các nhóm ghép sẽ đi xem “triển lãm tranh”
+ Đến “bức tranh” của nhóm nào thì chuyên gia nhóm đó sẽ thuyết trình.+ Các nhóm sẽ lần lượt di chuyển cho đến hết tranh
- Vòng 3: Giáo viên kiểm tra, tổng kết
3 Một số gợi ý về việc vận dụng một số phương pháp và kĩ thuật dạy học tích cực giúp học sinh tìm hiểu một số văn bản tự sự trong chương trình Ngữ văn 11
3.1 Một số lưu ý
- Dưới đây là gợi ý, không phải là giáo án
- Vận dụng phương pháp và kĩ thuật dạy học phải linh hoạt, tránh khiêncưỡng
3.2 Văn bản “Hai đứa trẻ” - Thạch Lam (xem giáo án minh họa chi tiết ở phần 4)
1 Mục đích yêu cầu: Giúp học sinh:
1.1 Về kiến thức
- Cảm nhận được tình cảm thương xót của Thạch Lam đối với những kiếpngười nghèo khổ, sống quẩn quanh, bế tắc trước cách mạng và sự cảm thông củanhà văn với mong ước, khát khao có một cuộc sống sáng sủa hơn của họ
- Hiểu được phong cách truyện ngắn độc đáo, đặc sắc của Thạch Lam
1.2 Kỹ năng
- Biết cách đọc – hiểu truyện ngắn giàu chất trữ tình
1.3 Thái độ
- Niềm yêu thích văn chương
- Sống có khát vọng ước mơ
1.4 Định hướng các năng lực được hình thành
- Năng lực thu thập thông tin liên quan đến văn bản
- Năng lực công nghệ thông tin truyền thông
- Năng lực giải quyết những tình huống đặt ra trong các văn bản
- Năng lực đọc – hiểu văn bản tự sự
- Năng lực trình bày suy nghĩ, cảm nhận của cá nhân về ý nghĩa của văn bản
Trang 23- Năng lực hợp tác khi trao đổi, thảo luận về nội dung và nghệ thuật của văn bản.
- Năng lực thưởng thức văn học/ cảm thụ thẩm mĩ
2 Một số gợi ý về việc vận dụng phương pháp và kĩ thuật dạy học
* Phương pháp phân tích vi deo
- Trong phần khởi động, giáo viên cho học sinh xem clip “Dặm dài đấtnước” của VTV với chuyên mục “Chuyến tàu văn chương”, sau đó giáo viên nêu ramột số câu hỏi có liên quan đến văn bản “Hai đứa trẻ” nhằm mục đích vừa tạo sựhứng thú, sinh động vừa cung cấp cho học sinh một số kiến thức, hiểu biết về mảnhđất quê ngoại Cẩm Giàng, tuổi thơ của tác giả và một số hình ảnh về đồng quê ởphố huyện Cụ thể như sau:
+ Câu hỏi 1: Trong đoạn video trên, tác giả đã nhắc đến địa danh nào?
+ Câu hỏi 2: Tại sao Cẩm Giàng lại được mệnh danh là “thị trấn văn
chương”?
+ Câu hỏi 3: Nhà văn Khúc Hà Linh đã nhắc đến một nhà văn với tác phẩm
viết về tuổi thơ của hai chị em ở phố huyện Cẩm Giàng, đó là nhà văn nào, tácphẩm ấy là gì?
* Phương pháp tự học
- Trước khi tiến hành giảng dạy văn bản “Hai đứa trẻ” của Thạch Lam, giáoviên cho học sinh chuẩn bị một số câu hỏi, vấn đề liên quan đến việc lĩnh hội trithức Chẳng hạn, giáo viên cho học sinh chuẩn bị một số vấn đề liên quan khi tìmhiểu bức tranh phố huyện lúc chiều tàn:
+ Cảnh thiên nhiên ngày tàn hiện lên qua các âm thanh, hình ảnh, màu sắcnào? Nhận xét về bức tranh thiên nhiên ấy
+ Bức tranh cảnh chợ tàn được tác giả miêu tả như thế nào? Nhận xét vềcảnh chợ tàn
+ Chỉ ra từng cuộc sống nghèo khổ của con người nơi phố huyện Nhận xét
về cuộc sống của họ
+ Trước cảnh phố huyện lúc chiều tàn, tâm trạng của Liên ra sao? Cảm nhậnban đầu của em về nhân vật Liên?
+ Em có thể vẽ lại cảnh bức tranh phố huyện lúc chiều tàn
+ Em hãy tìm một số tác phẩm của Thạch Lam hoặc của tác giả khác có liênquan
Đây là một số câu hỏi không giống với câu hỏi chuẩn bị bài trong sách giáokhoa, điều đó giúp cho học sinh phải tự đọc văn bản, tự tìm hiểu bằng sự hiểu biết,kĩ năng của mình để chuẩn bị bài, tránh được tình trạng học sinh chép y nguyên tài
Trang 24liệu tham khảo.
* Phương pháp thảo luận nhóm
- Khi tìm hiểu đoạn 1 trong văn bản “Hai đứa trẻ”, giáo viên thường giaonhiệm vụ cho mỗi nhóm 1 phần về nhà chuẩn bị, hôm sau nhóm sẽ thảo luận tiếpvà đại diện nhóm sẽ trình bày kết quả thảo luận Điều đó sẽ khiến cho học sinh bỏqua kiến thức nhóm mình không phải chuẩn bị, các em sẽ thụ động Khắc phụcđiều đó, tôi cho cả lớp về nhà chuẩn bị hệ thống câu hỏi Sau đó, khi giảng dạy tạilớp, sau khi chia nhóm tôi yêu cầu các nhóm trưởng lên bốc thăm bất kì câu hỏinào Như thế học sinh sẽ nắm được kiến thức tổng thể và dễ dàng đối chiếu khi cácnhóm khác trình bày
+ Cảnh thiên nhiên ngày tàn hiện lên qua các âm thanh, hình ảnh, màu sắcnào? Nhận xét về bức tranh thiên nhiên ấy
+ Bức tranh cảnh chợ tàn được tác giả miêu tả như thế nào? Nhận xét vềcảnh chợ tàn
+ Chỉ ra từng cuộc sống nghèo khổ của con người nơi phố huyện Nhận xét
về cuộc sống của họ
+ Trước cảnh phố huyện lúc chiều tàn, tâm trạng của Liên ra sao? Cảm nhậnban đầu của em về nhân vật Liên?
* Kĩ thuật khăn trải bàn
- Giáo viên có thể sử dụng kĩ thuật dạy học khăn trải bàn cho phần kiến thứcbức tranh phố huyện lúc đêm tối Giáo viên cho học sinh tìm hiểu 2 vấn đề phầnkiến thức:
+ Cảnh vật phố huyện lúc đêm tối được tác giả miêu tả như thế nào? Em cósuy nghĩ gì về hình ảnh ngọn đèn dầu con của chị Tí và hình ảnh bóng tối dày đặcnơi phố huyện?
+ Cuộc sống của những con người phố huyện lúc đêm tối có thêm những ai?Hãy làm rõ sự xuất hiện của họ Nhận xét chung về cuộc sống của những kiếpngười tàn tạ nơi phố huyện lúc đêm tối?
* Kĩ thuật phòng tranh
- Giáo viên có thể áp dụng kĩ thuật phòng tranh cho phần kiến thức trongcảnh chờ tàu Phần kiến thức về hình ảnh đoàn tàu xuất hiện và ý nghĩa của đoàntàu: giáo viên cho học sinh thảo luận, hoạt động học tập theo nhóm bằng kĩ thuậtphòng tranh Giáo viên chia lớp làm 6 nhóm, mỗi nhóm sẽ lên bốc thăm vấn đề họctập Có 2 câu hỏi hình thành kiến thức cho phần nội dung này:
/ Tìm những hình ảnh, chi tiết thể hiện đoàn tàu xuất hiện Qua đó nhận xét
về cách miêu tả của tác giả
Trang 25/ Đoàn tàu có ý nghĩa gì đối với phố huyện và với chị em Liên?
3.3 Văn bản “Chữ người tử tù” – Nguyễn Tuân
1 Mục đích yêu cầu: Giúp học sinh:
- Biết cách đọc – hiểu tác phẩm tự sự
- Biết cách tạo lập các văn bản truyện ngắn
1.3 Thái độ.
- Niềm yêu thích văn chương
- Yêu cái đẹp
- Trân trọng những giá trị văn hóa của dân tộc
1.4 Định hướng các năng lực được hình thành
- Năng lực thu thập thông tin liên quan đến văn bản
- Năng lực công nghệ thông tin truyền thông
- Năng lực giải quyết những tình huống đặt ra trong các văn bản
- Năng lực đọc – hiểu văn bản tự sự
- Năng lực trình bày suy nghĩ, cảm nhận của cá nhân về ý nghĩa của văn bản
- Năng lực hợp tác khi trao đổi, thảo luận về nội dung và nghệ thuật của văn bản
- Năng lực thưởng thức văn học/ cảm thụ thẩm mĩ
2 Một số gợi ý về phương pháp dạy học và hình thức dạy học
* Phương pháp phân tích video
- Phần khởi động, giáo viên cho học sinh xem một số hình ảnh có liên quanđến nghệ thuật thư pháp và hình ảnh nhân vật lịch sử Cao Bá Quát để học sinh cảmnhận được cái đẹp của chữ và nhận thấy nhà văn Nguyễn Tuân đã xây dựng hìnhtượng nhân vật Huấn Cao dựa trên nguyên mẫu nhân vật lịch sử Giáo viên địnhhướng qua một số câu hỏi như sau:
Câu hỏi 1: Em biết gì về Cao Bá Quát?
Câu hỏi 2: Từ những hình ảnh của nghệ thuật thư pháp, em nhớ tới tác phẩmvăn học nào? Của tác giả nào?
* Phương pháp tự học
- Để giúp học sinh hình dung trước được phần kiến thức trong việc tìm hiểu