Việc học sinh làm việc cá nhân các bài tập và giáo viên đơn thuần chữa bàitrong sách giáo khoa sẽ khiến tiết học khô cứng, uể oải, đánh mất hứng thú tìmhiểu và nhận thức các vấn đề tiếng
Trang 1CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Lê Thị Loan – Giáo viên trường THPT Yên Mô A
Mai Thị Hồng Quế - Giáo viên trường THPT Yên Mô A
Phạm Thị Ánh Nguyệt – Phó trưởng phòng chính trị, tư tưởng – Giáo dục thường xuyên, Sở Giáo dục và Đào tạo Ninh Bình
Trang 2CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
ĐƠN YÊU CẦU CÔNG NHẬN SÁNG KIẾN
Kính gửi : HỘI ĐỒNG SÁNG KIẾN CẤP TỈNH
Chúng tôi ghi tên dưới đây:
TT Họ và tên Ngày tháng
năm sinh Nơi công tác Chức vụ
Trình độ chuyên môn
Tỷ lệ (%) đóng góp vào việc tạo ra sáng kiến
1 Lê Thị Loan 28/07/1988 Trường THPT
Phó trưởng phòng chính trị, tư tưởng - GDTX
1 Tên sáng kiến, lĩnh vực áp dụng
- Tên sáng kiến: Sử dụng hiệu quả một số phương pháp và kĩ thuật dạy học tích cực nhằm phát triển năng lực người học trong các giờ dạy thực hành Tiếng Việt.
- Lĩnh vực áp dụng: Trong một số bài thực hành Tiếng Việt ở chương trìnhNgữ Văn THPT
Trang 32 Nội dung sáng kiến
Trước đây, việc giảng dạy ở những tiết học này, bản thân tôi thường chỉ chohọc sinh luyện tập theo các bài tập trong sách giáo khoa, có thể đưa thêm cácbài tập bên ngoài để luyện tập, củng cố thêm về lí thuyết Ưu điểm của phươngpháp này là học sinh qua những bài tập mẫu, “tiêu biểu” trong sách giáo khoa
mà có thể rút ra vấn đề lí thuyết như khái niệm, đặc điểm… một cách chính xác.Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện nhiều năm tôi nhận thấy những hạn chếsau:
Do học sinh chỉ đơn thuần luyện tập qua các bài tập trong sách giáo khoa thì
sẽ rơi vào trường hợp làm bài – chữa bài nào biết bài đó Khi giáo viên đưathêm các bài tập đa dạng khác, học sinh sẽ lúng túng, có thể không hoàn thànhđược yêu cầu của giáo viên
Việc học sinh làm việc cá nhân các bài tập và giáo viên đơn thuần chữa bàitrong sách giáo khoa sẽ khiến tiết học khô cứng, uể oải, đánh mất hứng thú tìmhiểu và nhận thức các vấn đề tiếng Việt của học sinh
Trang 4Việc chỉ làm bài tập trong sách giáo khoa cũng có thể khiến các em làm bàitrong tâm thế bị động, đối phó, chưa nhận ra được hết ý nghĩa, vai trò của việcthực hành Tiếng Việt không chỉ trong sách vở, mà ý nghĩa lớn lao nhất nằm ởthực tiễn cuộc sống, ở việc đưa những vấn đề Tiếng Việt ấy vào trong nhữngngữ cảnh, hoạt động giao tiếp ngôn ngữ cụ thể.
Hơn thế nữa, việc thực hành về tiếng Việt là một nội dung thường được kiểmtra đánh giá trong các kì thi định kì, kì thi Tốt nghiệp THPT Nó thường xuấthiện dưới các dạng câu hỏi như “Chỉ ra một biện pháp tu từ được sử dụng trongcâu sau?”; “Nêu tác dụng của biện pháp tu từ so sánh/ nhân hóa… trong câusau?”; “Từ ngữ “…” được hiểu như thế nào?”… Việc vận dụng kiến thức vềthực hành tiếng Việt có ý nghĩa quan trọng trong việc giúp các em học sinh cóđược kết quả mong muốn trong kiểm tra, đánh giá
Những hạn chế trên đã cho thấy nếu không đổi mới phương pháp, tổ chứchoạt động trong các kiểu bài thực hành Tiếng Việt thì đồng nghĩa với việc chưaphát huy được hết những năng lực của học sinh như: năng lực hợp tác, giảiquyết vấn đề, năng lực giao tiếp, năng lực sáng tạo… Trước những yêu cầu củachương trình giáo dục phổ thông mới, việc đổi mới phương pháp trong dạy họcthực hành tiếng Việt, chú trọng hiệu quả vận dụng, thực hành tiếng Việt có ýnghĩa quan trọng, cần thiết
Đổi mới phương pháp dạy học, lấy người học làm trung tâm, tạo hứng thúcho học sinh khi học … nhằm phát huy năng lực người học luôn là những yêucầu cấp thiết của giáo dục trong suốt những năm qua Song thực tế, đổi mới nhưthế nào? Áp dụng các phương pháp, các kĩ thuật dạy học tích cực ra sao để pháthuy năng lực người học, để tạo hứng thú cho học sinh khi mà những tiết TiếngViệt vốn mang sẵn “định kiến” khó – khô - khổ
2.2 Giải pháp mới cải tiến
2.2.1 Mô tả bản chất của giải pháp mới.
Trang 5Theo chương trình giáo dục phổ thông môn Ngữ văn ban hành kèm theothông tư số 32/2018, Bộ Giáo dục đào tạo đưa ra định hướng chung chươngtrình môn Ngữ văn vận dụng các phương pháp giáo dục theo định hướng chung
là dạy học tích hợp và phân hóa; đa dạng hoá các hình thức tổ chức, phươngpháp và phương tiện dạy học; phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo tronghọc tập và vận dụng kiến thức, kĩ năng của học sinh Căn cứ vào chương trình,giáo viên chủ động, linh hoạt xây dựng và tổ chức các bài học theo định hướngsau:
- Thực hiện yêu cầu tích hợp nội môn tích hợp liên môn và tích hợp nhữngnội dung giáo dục ưu tiên
- Rèn luyện cho học sinh phương pháp đọc, viết, nói và nghe; thực hành,trải nghiệm việc tiếp nhận và vận dụng kiến thức tiếng Việt, văn học thông quacác hoạt động học bằng nhiều hình thức trong và ngoài lớp học; chú trọng sửdụng các phương tiện dạy học, khắc phục tình trạng dạy theo kiểu đọc chép,phát triển tư duy, rèn luyện kĩ năng sử dụng các phương tiện cho học sinh
- Tăng cường, phát huy tính tích cực, tự lực của học sinh; dành nhiều thờigian cho học sinh nghiên cứu sách giáo khoa và tài liệu học tập, luyện tập, thựchành, trình bày, thảo luận, bảo vệ kết quả học tập để học sinh biết tự đọc, viết,nói và nghe theo những yêu cầu và mức độ khác nhau; kiểm tra, đánh giá việcthực hiện nhiệm vụ học tập của học sinh
Đối với phân môn Tiếng Việt trong chương trình THPT, chương trình giáodục phổ thông mới có nêu rõ mục tiêu: biết vận dụng kiến thức tiếng Việt vàkiến thức về bối cảnh lịch sử, xã hội, tư tưởng, triết học và quan niệm thẩm mĩcủa các thời kì để hiểu các văn bản khó hơn (thể hiện qua dung lượng, độ phứctạp và yêu cầu đọc hiểu) Biết phân tích, đánh giá nội dung và đặc điểm nổi bật
về hình thức biểu đạt của văn bản, nhất là những tìm tòi sáng tạo về ngôn ngữ,cách viết và kiểu văn bản Học sinh có cách nhìn, cách nghĩ về con người và
Trang 6cuộc sống theo cảm quan riêng; thấy được vai trò và tác dụng của việc đọc đốivới bản thân.
Về mặt kiến thức, chương trình mới cũng nêu yêu cầu với cấp trung họcphổ thông: Một số hiểu biết nâng cao về tiếng Việt giúp học sinh hiểu, phân tích
và bước đầu biết đánh giá các hiện tượng ngôn ngữ có liên quan, chú trọngnhững cách diễn đạt sáng tạo và sử dụng ngôn ngữ trong các báo cáo nghiêncứu và trong giao tiếp
Để phát huy các năng lực của học sinh, bản thân tôi đã áp dụng cácphương pháp và kĩ thuật dạy học tích cực để giảng dạy cho kiểu bài thực hànhTiếng Việt Tiến trình tôi thường thực hiện như sau:
* Hoạt động Khởi động:
Mục đích chính của việc tổ chức hoạt động khởi động khi dạy học là đểkích hoạt kiến thức nền cho học sinh Vì vậy, giáo viên cần lưu ý các mục đíchkhác như tạo hứng thú cho học sinh, tạo không khí hứng khởi cho lớp học, kếtnối giáo viên với học sinh… đều đặt sau và chỉ là hiệu quả phát sinh từ việckích hoạt kiến thức nền
Trên cơ sở đó, tôi cho rằng có thể tổ chức các trò chơi như “Đuổi hình bắtchữ”, “Đoán từ qua hình ảnh”, “Ai nhanh hơn” Thông qua những hình ảnh banđầu được giáo viên trình chiếu trên slide, học sinh có thể tìm được các “thànhngữ”, “từ ngữ”, gọi tên chính xác các biện pháp tu từ tương ứng
Giáo viên có thể linh hoạt hơn tăng độ khó của trò chơi bằng cách để họcsinh “đoán ý đồng đội” Một học sinh được xem đáp án chương trình, khôngphải bằng lời nói, mà bằng cử chỉ, hành động, mô tả lại Các thành viên trongnhóm từ sự mô tả đó mà đưa ra đáp án
* Hoạt động Luyện tập
Trang 7- Với mục tiêu “thực hành” được những lí thuyết tiếng Việt, hoạt độngluyện tập phải là hoạt động được đầu tư, thiết kế công phu nhất Hoạt độngluyện tập yêu cầu học sinh phải vận dụng những kiến thức vừa tiếp thu được ởbước hình thành kiến thức để giải quyết những nhiệm vụ cụ thể, qua đó giáoviên xem học sinh đã nắm được kiến thức hay chưa và nắm được ở mức độ nào.Những hoạt động như trình bày, luyện tập, bài thực hành,… giúp cho các emthực hiện tất cả những hiểu biết ở trên lớp và biến những kiến thức thành kĩnăng.
(Tháp học tập phân tích khả năng tiếp nhận kiến thức từ các hoạt động học)
Hoạt động luyện tập có thể thực hiện qua hoạt động cá nhân rồi đến hoạtđộng nhóm để các em học tập lẫn nhau, tự sửa lỗi cho nhau, giúp cho quá trìnhhọc tập hiệu quả hơn
- Trong các tiết học thực hành Tiếng Việt, giáo viên có thể áp dụngphương pháp làm việc nhóm Phương pháp làm việc nhóm phải linh hoạt, hiệuquả Học sinh của một lớp học được chia thành các nhóm nhỏ, trong khoảngthời gian giới hạn, mỗi nhóm tự lực hoàn thành các nhiệm vụ học tập trên cơ sởphân công và hợp tác làm việc Kết quả làm việc của nhóm sau đó được trình
Trang 8bày và đánh giá trước toàn lớp Dạy học nhóm nếu được tổ chức tốt sẽ phát huyđược tính tích cực, tính trách nhiệm; phát triển năng lực cộng tác làm việc vànăng lực giao tiếp của học sinh Để tổ chức một hoạt động dạy học theo hìnhthức thảo luận nhóm, giáo viên cần tiến hành theo các bước:
+ Bước chuẩn bị (giao nhiệm vụ): chuẩn bị đề tài, nội dung, phương tiện
hỗ trợ như phiếu bài tập…
+ Thực hiện nhiệm vụ: Chia nhóm theo yêu cầu, cử nhóm trưởng, ngườibáo cáo, Giáo viên quan sát, hỗ trợ
+ Yêu cầu thực hiện: Mỗi thành viên trong nhóm đều được tham gia bànluận, được lắng nghe, tránh căng thẳng hoặc người được nói quá nhiều, làm việcquá nhiều Mọi thành viên đều tích cực làm việc
+ Trình bày kết quả: Đại diện nhóm trình bày kết quả, các thành viên bổsung thêm Các nhóm khác nhận xét, bổ sung, hỏi thêm, giáo viên nhận xét, bổsung, nhấn mạnh, kết luận
Ở hoạt động Luyện tập, giáo viên có thể thực hiện các hoạt động nhómlinh hoạt như sau:
+ Giáo viên chia lớp thành 4 nhóm, sử dụng kĩ thuật khăn trải bàn.
Trong thời gian nhất định, học sinh làm việc cá nhân tìm ra nhiều thành ngữ/điển cố/ biện pháp nghệ thuật/ hàm ý qua ngữ liệu cụ thể, dùng giấy nhớ/ viếttrực tiếp vào ô ý kiến cá nhân trong bảng “khăn trải bàn”, nhóm trưởng tổnghợp và viết vào phần ý kiến chung trong bảng “khăn trải bàn” Nhóm tìm đượcnhiều và chính xác nhất sẽ chiến thắng
+ Giáo viên chia lớp thành nhóm nhỏ theo kĩ thuật “think – pair – share”
(Nhóm cặp) Học sinh làm việc cá nhân (think) thực hiện các nhiệm vụ: quansát hình ảnh/ đọc ngữ liệu/ tìm từ ngữ… Học sinh nhóm cặp đôi (pair) ngẫunhiên hoặc theo cặp cạnh nhau, cặp bàn trên – bàn dưới để trao đổi thảo luận kếtquả làm việc Học sinh có thể nhóm cặp lớn hơn để trao đổi thảo luận về mộtnhiệm vụ tiếp theo để có sản phẩm chung Học sinh chia sẻ (share) kiến thức,suy nghĩ, cảm nhân của nhóm mình trước lớp
Trang 9Ví dụ: Trong bài “Thực hành về thành ngữ, điển cố”, ở nội dung tìm hiểu
về thành ngữ, giáo viên có thể cho thảo luận nhóm theo kĩ thuật “think – pair –share” như sau: Think - HS ghi ra giấy nhớ tất cả những thành ngữ mà mình biết(trừ thành ngữ đã có trong sách giáo khoa); Pair – học sinh tạo cặp đôi để hoànthiện sản phẩm Nhóm cặp bốn với các bạn trong cùng bàn, trao đổi, thảo luậngiải thích ý nghĩa của hai thành ngữ vừa tìm được, hoàn thiện sản phẩm chung;Share – Dán sản phẩm chung lên bảng, lên tường Nhóm nào tìm được nhiềuthành ngữ đúng nhất, giải thích đúng sẽ chiến thắng
Trong bài “Thực hành phép tu từ ẩn dụ và hoán dụ”, trong nội dung tìmhiểu về biện pháp ẩn dụ, giáo viên có thể cho thảo luận nhóm theo kĩ thuật
“think – pair – share” như sau: Think – học sinh ghi ra giấy nhớ tất cả nhữngcâu thơ, câu văn có sử dụng biện pháp ẩn dụ mà mình biết được, nhớ được; Pair– HS kết hợp cặp đôi để hoàn thiện Tiếp tục nhóm cặp bốn để chọn một ví dụ
cụ thể: chỉ ra biện pháp tu từ và hiệu quả nghệ thuật của biện pháp đó, cùng traođổi, thảo luận và hoàn thiện sản phẩm chung; share – Dán sản phẩm chung lênbảng, lên tường lớp học và báo cáo Nhóm nào tìm được nhiều ví dụ nhất sẽchiến thắng
- Trong các tiết học thực hành Tiếng Việt, giáo viên có thể áp dụngphương pháp đóng vai Khi đóng vai, học sinh được hóa thân, được trải nghiệm.Đóng vai là tạo cơ hội cho các em có môi trường, tình huống, nhu cầu, cảmhứng để luyện kỹ năng nói tự nhiên Thông qua các “vai diễn” học sinh đượcbộc lộ khả năng tự nhận thức, khả năng giao tiếp, khả năng tự giải quyết vấn đềtrong các tình huống cuộc sống Khi đóng vai, học sinh được bày tỏ quan điểm,
ý kiến, thái độ của mình cùng lắng nghe ý kiến, quan điểm của người khác vềcác vấn đề liên quan đến nội dung bài học Đặc biệt với các tiết thực hành TiếngViệt, phương pháp đóng vai sẽ tăng tính thực tiễn trong bài học
Việc thực hiện phương pháp đóng vai có thể thực hiện như sau: giáo viêndựa trên nội dung kiến thức của bài học, chia học sinh thành nhóm thực hiệnnhiệm vụ: xây dựng đoạn đối thoại/ tình huống giao tiếp rồi đóng vai để thể
Trang 10hiện Trong khoảng thời gian nhất định để hoàn thành nhiệm vụ, các nhóm lêndiễn xuất.
Ví dụ, khi thực hiện nội dung tìm hiểu về thành ngữ trong bài “Thực hành
về thành ngữ, điển cố”, giáo viên chia lớp làm 4 nhóm, lựa chọn các câu thànhngữ trong phần bài tập sách giáo khoa, giải thích ý nghĩa của thành ngữ, xâydựng tình huống giao tiếp thể hiện ý nghĩa của câu thành ngữ, sau đó diễn xuấtlại
Có thể thực hiện tương tự với những bài học “Thực hành hàm ý”, “Thựchành các phép tu từ ẩn dụ và hoán dụ”…
- Trong các tiết học thực hành Tiếng Việt, giáo viên có thể ứng dụng sửdụng công nghệ thông tin trong giờ học để tăng tính hiệu quả Quy định mớinhất của Bộ Giáo dục năm 2020, học sinh được phép sử dụng điện thoại di độngnhư một phương tiện hỗ trợ dạy học Học sinh có thể theo các đường link dẫn
mà giáo viên cung cấp để có thêm tri thức Tiếng Việt Hoặc giáo viên có thểyêu cầu học sinh thiết kế hình ảnh (infographic), tranh vẽ qua app điện thoại đểminh họa một nội dung Tiếng Việt
- Trong các tiết học thực hành Tiếng Việt, giáo viên có thể lồng ghép cáctrò chơi để tăng hiệu quả dạy học Đặc biệt với các kiểu bài thực hành về TiếngViệt, việc tham gia trò chơi sẽ phát huy các năng lực hợp tác và giải quyết vấn
đề của HS Ví dụ, khi thực hiện các tiết học “Thực hành các biện pháp tu từ cúpháp”, “Thực hành các biện pháp tu từ ngữ âm”, giáo viên biến tiết học củamình thành một chương trình (gameshow) gồm ba phần thi: “Ai nhanh hơn”(dùng bộ câu hỏi tái hiện kiến thức lí thuyết cũ về biện pháp tu từ cú pháp, biệnpháp tu từ ngữ âm) – “Ai hiểu hơn” (luyện tập các bài tập từ sách giáo khoa) –
“Ai sáng tạo hơn” (luyện tập vận dụng các bài tập khác mà giáo viên đưa thêm)
2.2.2 Tính mới, sáng tạo của giải pháp
- Về phía giáo viên:
Trang 11+ Phương pháp cũ: phụ thuộc vào tài liệu sách giáo khoa, thiết kế bài họcchung chung, không bám sát được các đối tượng học sinh, các hình thức tổ chứchoạt động đơn điệu.
+ Phương pháp cải tiến: Giáo viên huy động được nguồn ngữ liệu phongphú, từ chính học sinh; thiết kế bài dạy linh hoạt, tiếp cận sát hơn với năng lựccủa học sinh
- Đối với học sinh:
+ Phương pháp cũ: học sinh đơn thuần làm bài tập trong sách giáo khoavới ngữ liệu đơn giản, hoạt động đơn điệu, nhàm chán
+ Phương pháp cải tiến: học sinh được trải nghiệm với ngữ liệu phongphú hơn, tham gia nhiều hoạt động hơn: thảo luận, bày tỏ quan điểm, nhập vai,hóa thân,… từ đó hiểu được bản chất của ngôn ngữ là phải được sử dụng trongthực tế cuộc sống Giờ học vui vẻ, sinh động Hiệu quả làm bài ở những câu hỏiđọc – hiểu về nội dung tiếng Việt trong các đề kiểm tra, đề thi hiệu quả hơn
3 Hiệu quả đạt được
Năm học 2018 – 2019, tôi tham gia giảng dạy các lớp 12D, 12H, 12I;Năm học 2019 – 2020, tôi tham gia giảng dạy các lớp 10A, 10D, 10H; Năm học
2020 – 2021, tôi tham gia giảng dạy ở các lớp 11A, 11D, 11H; Năm học 2021 –
2022 tôi tham gia giảng dạy lớp 12A, 12D, 12H Từ thực tiễn 4 năm học qua,tôi đã áp dụng đổi mới các phương pháp, hoạt động dạy học, sử dụng linh hoạtcác kĩ thuật dạy học tích cực cho các lớp học sinh trong các tiết thực hành TiếngViệt, tôi nhận thấy những kết quả tích cực rõ rệt:
- Các em học sinh đã thể hiện sự hứng thú, vui vẻ, sôi nổi rõ rệt trong cáctiết học thực hành tiếng Việt Vì thế mà mục tiêu bài học dễ dàng đạt được Mức
độ hài lòng được thể hiện qua phiếu khảo sát học sinh sau các tiết học Tỉ lệ hàilòng đạt trên 70%, nhất là ở các lớp đại trà và lớp khối khoa học tự nhiên
Khảo sát năm học 2021 - 2022
Lớp Số HS Hài lòng với giải pháp Chưa hài lòng với giải
Trang 12đa ở câu hỏi về phần Tiếng Việt (do chưa nêu đầy đủ các hiệu quả của biệnpháp tu từ) Sau khi thực hành theo phương pháp học tích cực, tỉ lệ điểm tối đa
đã tăng lên
- Khi áp dụng các phương pháp, kĩ thuật dạy học tích cực vào các tiếtthực hành Tiếng Việt, khả năng ghi nhớ lí thuyết của học sinh được cải thiện
Trang 13thông qua những sản phẩm do chính học sinh thiết kế như: infographic, minmap
(infographic do học sinh thiết kế trong tiết học “Thực hành về phép điệp, phép đối”)
Trang 14(Sơ đồ tư duy do học sinh thiết kế trên minmap điện thoại trong tiết học
“Thực hành về phép tu từ cú pháp”)
- Từ góc độ của chính mình, tôi nhận thấy bản thân cũng chủ động hơnvới kiến thức, kĩ năng truyền thụ; hứng thú hơn với công việc khi tiếp cận vớicác năng lực của học sinh, nhất là năng lực sáng tạo
- Từ góc độ của chính mình, tôi nhận thấy bản thân cũng chủ động hơnvới kiến thức, kĩ năng truyền thụ; hứng thú hơn với công việc khi tiếp cận vớicác năng lực của học sinh, nhất là năng lực sáng tạo
4 Điều kiện và khả năng áp dụng
- Giải pháp nhằm phát triển năng lực người học trong các giờ học thựchành Tiếng Việt có thể áp dụng cho học sinh ở cả lớp 10, 11 và 12 Ngoài ra, ởcác kiểu bài luyện tập làm văn, hoặc một số bài đọc hiểu văn học, giáo viênhoàn toàn có thể áp dụng linh hoạt với đối tượng học sinh của mình để đem lạihiệu quả giảng dạy tích cực
5 Cam kết
Tôi cam kết sáng kiến kinh nghiệm này do chính tôi viết Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm trước pháp luật.