1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Bài giảng phương pháp nghiên cứu khoa học

43 51 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 43
Dung lượng 716,8 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Công nghệ gồm có 4 phần chính và quan trọng như nhau: + Quản lý + Kỹ thuật máy móc, thiết bị + Thông tin hướng dẫn sử dụng, sản xuất … + Con người được đào tạo để vận hành Chuyển gia

Trang 1

MỤC LỤC

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ NGHIÊN CỨU KHOA HỌC

1.1 Khoa học, công nghệ

1.2 Nghiên cứu khoa học

1.3 Phương pháp nghiên cứu khoa học

1.4 Phương pháp luận và tiến trình nghiên cứu khoa học

1.5 Thống kê trong nghiên cứu khoa học

1.6 Đặc thù nghiên cứu khoa học của sinh viên

CHƯƠNG 2 XÁC ĐỊNH ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU

2.1 Khái niệm và quy mô của đề tài

2.2 Xuất phát điểm của một đề tài nghiên cứu

2.3 Xác định đề tài nghiên cứu

2.4 Các hướng nghiên cứu trong lĩnh vực sinh học và giáo dục

CHƯƠNG 3 XÂY DỰNG ĐỀ CƯƠNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 Xây dựng đề cương nghiên cứu

3.2 Xây dựng phương pháp nghiên cứu

CHƯƠNG 4 TRIỂN KHAI NGHIÊN CỨU

4.1 Thu thập và quản lý thông tin

4.2 Lưu ý khi thực hiện nghiên cứu và xử lý số liệu

CHƯƠNG 5 CÔNG BỐ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

5.1 Công bố một báo cáo khoa học

5.2 Cách trình bày và bảo vệ đề tài, chuyên đề tốt nghiệp đại học

ĐÁNH GIÁ BÀI TẬP TỰ NGHIÊN CỨU

Trang 2

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ NGHIÊN CỨU KHOA HỌC

1.1 Khoa học, công nghệ

* Khái niệm về khoa học

Hệ thống tri thức chung của con người về TGTN (Con người sống cần có những

hiểu biết tối thiểu về tự nhiên Khoa học là tập hợp của các quy luật tự nhiên, xã hội và

tư duy mà con người tìm hiểu và tích lũy được trong quá trình phát triển của mình)

E.g

Tìm hiểu quy luật biến đổi của thời tiết

Tìm hiểu nguyên nhân của hiện tượng cá nổi đầu vào sáng sớm

Tìm hiểu mối liên quan giữa oxy hòa tan và năng suất tôm

Tìm hiểu nguyên nhân tôm kéo thành đàn chạy quanh ao khi trời mưa

* Dạng tồn tại (của thông tin khoa học)

Các dẫn liệu về thế giới tự nhiên (e.g bản mô tả, ghi chép, số liệu)

Các nguyên lý, qui luật đúc kết từ nhiều quan sát hoặc đã được thực nghiệm

Các phương pháp nhận thức

Các thông tin về công nghệ, qui trình sản xuất (i.e dạng ứng dụng của thông tin khoa học)

* Phân loại khoa học

Có tính linh động cao (Khoa học càng phát triển, nghiên cứu càng sâu thì nhất thiết phải chia thành nhiều ngành nhỏ “i.e quy luật phân hóa” Nhưng để giải quyết những yêu cầu lớn lại phải tập hợp một nhóm các ngành nhỏ thành một ngành mới, rộng hơn

“i.e quy luật tích hợp”)

UNESCO chia khoa học thành 5 lĩnh vực:

- Khoa học tự nhiên và khoa học chính xác (bao gồm sinh học)

- Khoa học kỹ thuật

- Khoa học nông nghiệp (bao gồm NTTS)

- Khoa học sức khỏe

- Khoa học xã hội và nhân văn (bao gồm kinh tế, giáo dục)

* Khái niệm công nghệ

Là tập hợp của nhiều biện pháp kỹ thuật (techniques) nhằm thực hiện một công việc/ vấn đề lớn

E.g Công nghệ sản xuất nhân tạo tôm sú giống là tập hợp của nhiều kỹ thuật như: vận chuyển và nuôi vỗ tôm bố mẹ, cắt mắt, ương nuôi ấu trùng, thay nước, cho ăn, thu hoạch, v.v

Là kết quả quá trình áp dụng các thành tựu của khoa học vào đời sống và sản

xuất C.nghệ mới xuất hiện sẽ tạo ra các ngành nghề lao động mới

Trang 3

Công nghệ gồm có 4 phần chính và quan trọng như nhau:

+ Quản lý

+ Kỹ thuật (máy móc, thiết bị)

+ Thông tin (hướng dẫn sử dụng, sản xuất …)

+ Con người (được đào tạo để vận hành)

Chuyển giao c.nghệ (q.sở hữu, sử dụng)

- Vì thế phải thực hiện đầy đủ cho cả 4 phần trên

- Chuyển giao dọc và chuyển giao ngang

* So sánh khoa học & công nghệ

NC mang tính xác suất

Hđộng luôn đổi mới

Khó định hình trước được sản phẩm

Thông tin cao

Linh hoạt, mang tính sáng tạo cao

Có thể mang mục đích tự thân

P.minh tồn tại mãi với tg

Đ.hành mang tính xđịnh Được lặp lại theo chu kỳ Định hình được theo thiết kế Tùy thuộc đầu vào

Lao động định khuôn theo Qđịnh

Có thể không mang mục đích tự thân Sáng chế tồn tại nhất thời

1.2 Nghiên cứu khoa học

Khoa học là hệ thống tri thức chung của nhân loại về thế giới tự nhiên

Thông tin khoa học được hình thành từ hoạt động tìm hiểu, khám phá thế giới tự nhiên (gọi là nghiên cứu khoa học) của con người và tích luỹ qua các thế hệ

* Chức năng (Mức độ)

NCKH có 3 chức năng chính: mô tả, giải thích và dự báo Thể hiện trình độ phát triển khoa học

Mô tả: định tính (màu da) và định lượng (sức SS)

Giải thích: làm rõ nguyên nhân, bản chất quy luật chi phối

Dự đoán: Dự báo được xu thế vận động, phát triển

(Sức mạnh của nghiên cứu khoa học là ở sự sáng tạo - C.Năng dự báo)

* Các loại hình (giai đoạn nghiên cứu)

Trang 4

Cơ bản (thuần tuý và có định hướng); Ứng dụng; Triển khai; Dự báo

- Tính kết nối giữa các loại hình NCKH

- Xu hướng tập trung vào các NCKH cơ bản có định hướng (ví dụ: cơ chế điều khiển hoạt động sinh sản của tôm He, công nghệ sinh học)

Loại hình Mục đích/ nhận dạng Ví dụ

NCCB Khám phá q.luật, b.chất của hiện tượng (k

nh.thiết ph.đi kèm với ư.dụng)

Có thể là NCCB thuần túy hoặc NCCB có

định hướng

Tốn kém, đòi hỏi phương tiện nghiên cứu và

trình độ cao

Sản phẩm: tri thức, thường không dự kiến

hết được do trình độ khoa học đương thời

Sự phân bố của các tế bào sắc

tố trên biểu bì của cá Gen của các virus gây bệnh ng.hiểm ở tôm

Các loại hormone th.gia vào kiểm soát q.trình thành thục

đẻ trứng ở tôm he

NCUD Vận dụng kết quả của nghiên cứu cơ bản

vào thực tiễn sản xuất và đời sống xã hội

Thời gian nghiên cứu ngắn, phù hợp với các

nước kém phát triển

Sản phẩm: giải pháp (kỹ thuật, công nghệ

hoặc quản lý)

Sử dụng PCR để phát hiện bệnh do virus trên tôm nuôi Sản xuất antibodies để kích dục thành thục buồng trứng

NCDB Phát hiện triển vọng, đánh giá khả năng xu

hướng của một hoạt động nào đó trong

TS ở Quing Dao (CFD)

* Yêu cầu

Tính mới NC sau phải mới hơn NC trước (nội dung, phương pháp, bối cảnh

…) Tính thông tin Kết quả phải được công bố, thông tin có thể chỉ mang tính nhất thời Tính rủi ro NCKH có thể thất bại (thất bại = thành công?)

Trang 5

Tính tin cậy Phương pháp đúng, NC lặp lại được

Tính khách

quan

Không để chủ quan ảnh hưởng đến kết quả, mọi nhận xét - kết luận đều phải có cơ sở

Tính cá nhân Khả năng dẫn dắt, tính độc lập, quyền tác giả

Tính kế thừa Kế thừa, phát triển kết quả NCKH trước; tạo tiền đề cho NCKH sau Tính phi kinh tế Khó đánh giá lao động khoa học, đầu từ hiện tại - hiệu quả tương lai

* Hình thức tổ chức nghiên cứu khoa học

Đề tài là một hình thức tổ chức NCKH do một người hoặc một nhóm người thực hiện Một số hình thức tổ chức nghiên cứu khác không hoàn toàn mang tính chất nghiên cứu khoa học, chẳng hạn như: Chương trình, dự án, đề án Sự khác biệt giữa các hình thức NCKH nầy như sau:

Đề tài: được thực hiện để trả lời những câu hỏi mang tính học thuật, có thể chưa để

ý đến việc ứng dụng trong hoạt động thực tế

Dự án: được thực hiện nhằm vào mục đích ứng dụng, có xác định cụ thể hiệu quả

về kinh tế và xã hội Dự án có tính ứng dụng cao, có ràng buộc thời gian và nguồn lực Chương trình: là một nhóm đề tài hoặc dự án được tập hợp theo một mục đích xác định Giữa chúng có tính độc lập tương đối cao Tiến độ thực hiện đề tài, dự án trong chương trình không nhất thiết phải giống nhau, nhưng nội dung của chương trình thì phải đồng bộ

Đề án: là loại văn kiện, được xây dựng để trình cấp quản lý cao hơn, hoặc gởi cho một cơ quan tài trợ để xin thực hiện một công việc nào đó như: thành lập một tổ chức; tài trợ cho một hoạt động xã hội, Sau khi đề án được phê chuẩn, sẽ hình thành những

dự án, chương trình, đề tài theo yêu cầu của đề án

1.3 Phương pháp nghiên cứu khoa học

Những ngành khoa học khác nhau cũng có thể có những PPKH khác nhau Ngành khoa học tự nhiên như vật lý, hoá học, nông nghiệp sử dụng PPKH thực nghiệm, như tiến hành bố trí thí nghiệm để thu thập số liệu, để giải thích và kết luận Còn ngành khoa học xã hội như nhân chủng học, kinh tế, lịch sử… sử dụng PPKH thu thập thông tin từ

sự quan sát, phỏng vấn hay điều tra Tuy nhiên, PPKH có những bước chung như: Quan sát sự vật hay hiện tượng, đặt vấn đề và lập giả thuyết, thu thập số liệu và dựa trên số liệu để rút ra kết luận Nhưng vẫn có sự khác nhau về quá trình thu thập số liệu, xử lý và phân tích số liệu

* Khái niệm

PPNCKH là cách thức, phương tiện hoặc công cụ để NCKH

Cách thức

Trang 6

- Cách thức tiếp cận (lựa chọn chổ đứng để quan sát đối tượng khảo sát, xem xét đối tượng nghiên cứu)

Theo Vũ Cao Đàm, 2008 (PPNCKH, trang 96):

Nội quan (theo ý mình)/ Ngoại quan (ý người khác);

Quan sát (quan sát, mô tả để giải thích, không tác động lên đối tượng- sử dụng đối với nhiều loại hình nckh)/ Thực nghiệm (sử dụng trong khoa học thực nghiệm);

Chuyên biệt (quan sát sự vật độc lập với sự vật khác)/ So sánh (đặt trong tương quan=> làm đối chứng);

Lịch sử (có cái nhìn toàn cảnh sự xuất hiện, phát triển, diễn biến và kết thúc đối tượng Từ lịch sử tìm ra logic)/ Logic (phân tích logic dựa trên lịch sử);

Phân tích (chia nhỏ sự vật có bản chất khác biệt nhau)/ Tổng hợp (thiết lập mối liên hệ tất yếu, đánh giá tổng hợp đối với sự vật được xem xét);

Định tính/ Định lượng (Kết hợp ĐT&ĐL?);

Hệ thống (xem xét đối tượng toàn diện nhiều mặt, nhiều mối quan hệ, trong trạng thái vận động và phát triển, trong hoàn cảnh cụ thể để tìm ra bản chất và quy luật)/ Cấu trúc

- Cách thu thập (Quan sát, điều tra hoặc thực nghiệm “TN là linh hồn của NCKH hiện đại, QS làm cơ sở cho TN, TN tạo đk QS kỹ hơn”) và xử lý (&P.tích) số liệu để trả

lời một câu hỏi hoặc chứng minh một giả thiết

Cho phép chia nhỏ vấn đề cần nghiên cứu, khả năng can thiệp, lặp lại

Có thể nghiên cứu, quan sát vấn đề một cách sâu hơn

- Phải chuẩn, được thừa nhận, lặp lại được (xử lý thống kê)  đảm bảo độ tin cậy

Phương tiện, công cụ sẽ hỗ trợ đắc lực cho việc thu thập, xử lý số liệu và trình

bày kết quả (P.tiện > C.cụ)

E.g Nghiên cứu bệnh thủy sản

Bài tập: Xác định C.thức, CC, P.tiện của các đề tài sau

E.g.1 Thành phần loài và độ che phủ của thực vật đáy trong vịnh Nha Trang

Trang 7

- Điều tra cơ bản tại hiện trường (x.định loài, thu mẫu k.định lại, ước tính m.độ che phủ…)

- Khóa phân loại; máy chụp ảnh quay phim dưới nước; thiết bị lặn; máy định vị; thiết bị thu mẫu, đo đạc môi trường nước – PP thu và xử lý mẫu; PP hiệu chỉnh và use các thiết bị

E.g.2 Xác định hàm lượng lipid tối ưu trong thức ăn viên cho cá bớp Rachycentron canadus

- Thực nghiệm (bố trí thí nghiệm cho cá ăn thức ăn viên có hàm lượng lipid khác nhau để xđ hl tối ưu)

- Thiết bị xác định hàm lượng lipid; phối chế & sx th.ăn; lồng, bể nuôi; th.bị q.trắc m.trường – PP ph.tích h.lượng lipid; PP thu mẫu, xử lý SL

E.g.3 Khả năng sử dụng tảo khô Spirulina trong sản xuất con giống tôm he Penaeus vannamei

- Kết hợp quan sát (i.e điều tra các cơ sở sx giống) và thực nghiệm

- Phiếu đ.tra, máy ghi âm, chụp hình, kính hv, bể ương nuôi… - PP đ.tra, PTS.liệu; k.thuật pha chế tảo khô, chăm sóc, q.lý ấu trùng, PP x.định TLS

* Phân loại phương pháp nghiên cứu khoa học

Gồm 2 loại: phương pháp chung (sử dụng trong nhiều nghiên cứu) và phương pháp cụ thể (đặc thù cho nghiên cứu)

PP chung: thu thập và quản lý thông tin, xây dựng đề cương NC, điều tra, bố trí thí nghiệm, thống kê, viết báo cáo khoa học

PP cụ thể (sử dụng chuyên biệt cho từng ngành, thường đi kèm với thiết bị chuyên dụng): phân tích thành phần amino acids, đo đạc DO, sử dụng hormone để chuyển đổi giới tính của cá rô phi

1.4 Phương pháp luận và tiến trình nghiên cứu khoa học

* Phán đoán

Trang 8

Trong nghiên cứu, người ta thường vận dụng các khái niệm để phán đoán hay tiên đoán Phán đoán là vận dụng các khái niệm để phân biệt, so sánh những đặc tính, bản chất của sự vật và tìm mối liên hệ giữa đặc tính chung và đặc tính riêng của các

+ Các đặc tính của giả thuyết:

- Giả thuyết phải theo một nguyên lý chung và không thay trong suốt quá trình nghiên cứu

- Giả thuyết phải phù hợp với điều kiện thực tế và cơ sở lý thuyết

- Giả thuyết càng đơn giản càng tốt

- Giả thuyết có thể được kiểm nghiệm và mang tính khả thi

Một giả thuyết tốt phải thoả mãn các yêu cầu sau:

- Phải có tham khảo tài liệu, thu thập thông tin

- Phải có mối quan hệ nhân - quả

- Có thể thực nghiệm để thu thập số liệu

+ Mối quan hệ giữa giả thuyết và “vấn đề” khoa học

Sau khi xác định câu hỏi hay “vấn đề” nghiên cứu khoa học, người nghiên cứu hình thành ý tưởng khoa học, tìm ra câu trả lời hoặc sự giải thích tới vấn đề chưa biết (đặt giả thuyết) Ý tưởng khoa học nầy còn gọi là sự tiên đoán khoa học hay giả thuyết giúp cho người nghiên cứu có động cơ, hướng đi đúng hay tiếp cận tới mục tiêu cần nghiên cứu Trên cơ sở những quan sát bước đầu, những tình huống đặt ra (câu hỏi hay vấn đề), những cơ sở lý thuyết (tham khảo tài liệu, kiến thức đã có,…),

sự tiên đoán và những dự kiến tiến hành thực nghiệm sẽ giúp cho người nghiên cứu hình thành một cơ sở lý luận khoa học để xây dựng giả thuyết khoa học

Thí dụ, khi quan sát thấy hiện tượng xoài rụng trái, một câu hỏi được đặt ra là làm thế nào để giảm hiện tượng rụng trái nầy (vấn đề nghiên cứu) Người nghiên cứu

sẽ xây dựng giả thuyết dựa trên cơ sở các hiểu biết, nghiên cứu tài liệu, … như sau: Nếu giả thuyết cho rằng NAA làm tăng sự đậu trái xoài Cát Hòa Lộc Bởi vì NAA giống như kích thích tố Auxin nội sinh, là chất có vai trò sinh lý trong cây giúp tăng sự đậu trái, làm giảm hàm lượng ABA hay giảm sự tạo tầng rời NAA đã làm tăng đậu trái trên một số loài cây ăn trái như xoài Châu Hạng Võ, nhãn …, vậy thì

Trang 9

việc phun NAA sẽ giúp cây xoài Cát Hòa Lộc đậu trái nhiều hơn so với cây không phun NAA

+ Cấu trúc của một “giả thuyết”

- Cấu trúc có mối quan hệ “nhân-quả”

Cần phân biệt cấu trúc của một “giả thuyết” với một số câu nói khác không phải

là giả thuyết Thí dụ: khi nói: “Cây trồng thay đổi màu sắc khi gặp lạnh” hoặc “Tia ánh sáng cực tím gây ra đột biến”, câu này như là một câu kết luận, không phải là câu giả thuyết

Đôi khi giả thuyết đặt ra không thể hiện mối quan hệ ướm thử và không thể thực hiện thí nghiệm để chứng minh Thí dụ: “tôi chơi vé số, vậy thì tôi sẽ giàu” hoặc

“nếu tôi giữ ấm men bia, vậy thì nhiều hơi gas sẽ sinh ra”

Cấu trúc của một giả thuyết có chứa quá nhiều “biến quan sát” và chúng có mối quan hệ với nhau Khi làm thay đổi một biến nào đó, kết quả sẽ làm thay đổi biến còn lại Thí dụ: Cây trồng quang hợp tốt sẽ cho năng suất cao Có quá nhiều yếu tố ảnh hưởng đến khả năng quang hợp của cây

Một cấu trúc “giả thuyết” tốt phải chứa đựng “mối quan hệ nhân-quả” và thường sử dụng từ ướm thử “có thể”

Thí dụ: giả thuyết “Phân bón có thể làm gia tăng sự sinh trưởng hay năng suất cây trồng” Mối quan hệ trong giả thuyết là ảnh hưởng quan hệ giữa phân bón và sự sinh trưởng hoặc năng suất cây trồng, còn nguyên nhân là phân bón và kết quả là sự sinh trưởng hay năng suất cây trồng

(1) Giả thuyết nầy có thể tiến hành thực nghiệm được không?

Trang 10

(2) Các biến hay các yếu tố nào cần được nghiên cứu?

(3) Phương pháp thí nghiệm nào (trong phòng, khảo sát, điều tra, bảng câu hỏi, phỏng vấn, …) được sử dụng trong nghiên cứu?

(4) Các chỉ tiêu nào cần đo đạt trong suốt thí nghiệm?

(5) Phương pháp xử lý số liệu nào mà người nghiên cứu dùng để bác bỏ hay chấp nhận giả thuyết?

Một giả thuyết hợp lý cần có các đặc điểm chính sau đây:

- Giả thuyết đặt ra phải phù hợp và dựa trên quan sát hay cơ sở lý thuyết hiện tại (kiến thức vốn có, nguyên lý, kinh nghiệm, kết quả nghiên cứu tương tự trước đây, hoặc dựa vào nguồn tài liệu tham khảo), nhưng ý tưởng trong giả thuyết là phần

lý thuyết chưa được chấp nhận

- Giả thuyết đặt ra có thể làm sự tiên đoán để thể hiện khả năng đúng hay sai (thí dụ, một tỷ lệ cao những người hút thuốc lá bị chết do ung thư phổi khi so sánh với những người không hút thuốc lá Điều này có thể tiên đoán qua kiểm nghiệm)

- Giả thuyết đặt ra có thể làm thí nghiệm để thu thập số liệu, để kiểm chứng hay chứng minh giả thuyết (đúng hay sai)

Tóm lại, giả thuyết đặt ra dựa trên sự quan sát, kiến thức vốn có, các nguyên lý, kinh nghiệm trước đây hoặc dựa vào nguồn tài liệu tham khảo, kết quả nghiên cứu tương tự trước đây để phát triển nguyên lý chung hay bằng chứng để giải thích, chứng minh câu hỏi nghiên cứu Xét về bản chất logic, giả thuyết được đặt ra từ việc xem xét bản chất riêng, chung của sự vật và mối quan hệ của chúng hay gọi là quá trình suy luận Quá trình suy luận là cơ sở hình thành giả thuyết khoa học

Thí dụ: khi quan sát sự nẩy mầm của các hạt đậu hoặc dựa trên các tài liệu nghiên cứu khoa học người nghiên cứu nhận thấy ở hạt đậu bình thường, hạt no, vỏ hạt bóng láng thì nẩy mầm tốt và đều (đây là một kết quả được biết qua lý thuyết, tài liệu nghiên cứu trước đây,…) Như vậy, người nghiên cứu có thể suy luận để đặt ra câu hỏi đối với các hạt đậu có vỏ bị nhăn nheo thì nẩy mầm như thế nào? (Đây là câu hỏi) Giả thuyết được đặt ra là “Nếu sự nẩy mầm của hạt đậu có liên quan tới vỏ hạt, vậy thì hạt đậu có vỏ nhăn có thể không nẩy mầm” Đây là một giả thuyết mà có thể

dễ dàng làm thí nghiệm để kiểm chứng

+ Kiểm chứng giả thuyết qua so sánh giữa tiên đoán với kết quả thí nghiệm

Bên cạnh việc kiểm nghiệm, một yếu tố quan trọng là đánh giá sự tiên đoán Nếu như sự tiên đoán được tìm thấy là không đúng (dựa trên kết quả hay bằng chứng thí nghiệm), người nghiên cứu kết luận rằng giả thuyết (một phần giả thuyết) “sai” (nghĩa là bác bỏ hay chứng minh giả thuyết sai) Khi sự tiên đoán là đúng (dựa trên kết quả hay bằng chứng thí nghiệm), kết luận giả thuyết là “đúng”

Trang 11

Thường thì các nhà khoa học vận dụng kiến thức để tiên đoán mối quan hệ giữa biến độc lập và biến phụ thuộc Thí dụ: giả thuyết đặt ra trên sự tiên đoán là “Nếu gia tăng phân bón, làm gia tăng năng suất, vậy thì các cây đậu được bón phân nhiều hơn

sẽ cho năng suất cao hơn” Nếu sự tiên đoán không dựa vào kiến thức khoa học, tài liệu nghiên cứu đã làm trước đây thì sự tiên đoán có thể vượt ra ngoài kết quả mong muốn như thí dụ “Đáp ứng của năng suất theo liều lượng phân N cung cấp ở cây đậu”

* Luận đề

Luận đề trả lời câu hỏi “cần chứng minh điều gì?” trong nghiên cứu Luận đề là một “phán đoán” hay một “giả thuyết” cần được chứng minh Thí dụ: Lúa được bón quá nhiều phân N sẽ bị đỗ ngã

* Luận cứ

Để chứng minh một luận đề thì nhà khoa học cần đưa ra các bằng chứng hay luận cứ khoa học Luận cứ bao gồm thu thập các thông tin, tài liệu tham khảo; quan sát và thực nghiệm Luận cứ trả lời câu hỏi “Chứng minh bằng cái gì?” Các nhà khoa học sử dụng luận cứ làm cơ sở để chứng minh một luận đề Có hai loại luận cứ được sử dụng trong nghiên cứu khoa học:

Luận cứ lý thuyết: bao gồm các lý thuyết, luận điểm, tiền đề, định lý, định luật, qui luật đã được khoa học chứng minh và xác nhận là đúng Luận cứ lý thuyết cũng được xem là cơ sở lý luận

Luận cứ thực tiễn: dựa trên cơ sở số liệu thu thập, quan sát và làm thí nghiệm

* Luận chứng

Để chứng minh một luận đề, nhà nghiên cứu khoa học phải đưa ra phương pháp

để xác định mối liên hệ giữa các luận cứ và giữa luận cứ với luận đề Luận chứng trả lời câu hỏi “Chứng minh bằng cách nào?” Trong nghiên cứu khoa học, để chứng minh một luận đề, một giả thuyết hay sự tiên đoán thì nhà nghiên cứu sử dụng luận chứng, chẳng hạn kết hợp các phép suy luận, giữa suy luận suy diễn, suy luận qui nạp và loại suy Một cách sử dụng luận chứng khác, đó là phương pháp tiếp cận và thu thập thông tin làm luận cứ khoa học, thu thập số liệu thống kê trong thực nghiệm hay trong các loại nghiên cứu điều tra

* Phép suy luận:

Phép SL có thể coi là công cụ phục vụ NCKH Có 2 cách suy luận thường sử dụng trong nghiên cứu khoa học đó là suy luận “suy diễn” (từ qui luật chung, suy diễn cho từng hiện tượng đơn lẻ) và suy luận “qui nạp" (từ nhiều hiện tượng đơn lẻ, tìm ra các qui luật chung) Trình độ của người làm NCKH phụ thuộc vào khả năng tổng hợp

Trang 12

(qui nạp) và phân tích (diễn dịch) vấn đề của họ Ngoài ra, người nghiên cứu còn dùng phép suy luận “loại suy”

Cách suy luận suy diễn: Theo Aristotle, kiến thức đạt được nhờ sự suy luận

Muốn suy luận phải có tiền đề và tiền đề đó đã được chấp nhận Vì vậy, một tiền đề

có mối quan hệ với kết luận rất rõ ràng Suy luận suy diễn theo Aristotle là suy luận

đi từ cái chung tới cái riêng, về mối quan hệ đặc biệt Thí dụ về suy luận suy diễn của Aristotle

Tiền đề chính: Tất cả sinh viên đi học đều đặn

Tiền đề phụ: Nam là sinh viên

Kết luận: Nam đi học đều đặn

Suy luận qui nạp: Vào đầu những năm 1600s, Francis Bacon đã đưa ra một

phương pháp tiếp cận khác về kiến thức, khác với Aristotle Ông ta cho rằng, để đạt được kiến thức mới phải đi từ thông tin riêng để đến kết luận chung, phương pháp này gọi là phương pháp qui nạp Phương pháp nầy cho phép chúng ta dùng những tiền đề riêng, là những kiến thức đã được chấp nhận, như là phương tiện để đạt được kiến thức mới Thí dụ về suy luận qui nạp

Tiền đề riêng: Nam, Bắc, Đông và Tây tham dự lớp đều đặn

Tiền đề riêng: Nam, Bắc, Đông và Tây đạt được điểm cao

Kết luận: Sinh viên tham dự lớp đều đặn thì đạt được điểm cao

(Suy luận khoa học phải dựa trên luận cứ và luận chứng để chứng minh cho luận điểm, luận đề)

1.4.2 Cấu trúc của phương pháp luận nghiên cứu khoa học

Nghiên cứu khoa học phải sử dụng PPKH: bao gồm chọn phương pháp thích hợp (luận chứng) để chứng minh mối quan hệ giữa các luận cứ và giữa toàn bộ luận cứ với luận đề; cách đặt giả thuyết hay phán đoán sử dụng các luận cứ và phương pháp thu thập thông tin và xử lý thông tin (luận cứ) để xây dựng luận đề

1.4.3 Các cấp độ lý luận trong phương pháp nghiên cứu khoa học

Phương pháp nghiên cứu khoa học biểu hiện ở 3 cấp độ: (i) Phương pháp luận, (ii) Phương pháp cụ thể, (iii) Logic của tiến trình thực hiện hoạt động nghiên cứu

Ba vấn đề này có mối quan hệ theo cấp độ lý luận và tính cụ thể để tổ chức nghiên cứu Trong đó, cấp độ (i) thể hiện mức độ lý luận cao nhất còn cấp độ (iii) là mức độ cụ thể cao nhất

Trong nghiên cứu khoa học, hai khái niệm phương pháp luận và phương pháp cụ thể là gần gủi với nhau nhưng không đồng nhất Phương pháp luận là hệ thống quan điểm, nguyên tắc chỉ đạo để xác định phương hướng tiếp cận để giải quyết vấn đề nghiên cứu; vì vậy nó thuần túy lý luận Phương pháp cụ thể là cách thức, thủ thuật cụ

Trang 13

thể; vừa có tính lý luận vừa thực tiễn Phương pháp luận chỉ đạo phương pháp cụ thể, phương pháp cụ thể xuất phát từ phương pháp luận trong sự thống nhất chung

1.4.4 Cơ chế sáng tạo khoa học

- Cơ chế trực giác (xuất hiện ở những nhà khoa học nổi tiếng) Các ý tưởng nghiên cứu hoặc giải pháp xuất hiện một cách đột ngột trong suy nghĩ của họ, khiến cho các vấn

đề nan giải trở nên đơn giản

- Cơ chế thứ hai - Agorithm hay còn gọi là thuật toán (tuân thủ các bước đi theo trình tự logic hợp lý)

- Cơ chế thứ ba - Heuristics lại tập trung chủ yếu vào việc xây dựng và kiểm chứng giả thuyết nghiên cứu Nói cách khác, quá trình nghiên cứu khoa học được thực hiện bằng cách đề xuất và kiểm chứng giả thuyết về một sự kiện, hiện tượng quan sát được gọi là sáng tạo theo cơ chế Heuristics

1.4.5 Trình tự của nghiên cứu khoa học (Tham khảo thêm ở Hoàng Tùng, 2006, Phương pháp nghiên cứu khoa học, Chương 2)

Nghiên cứu khoa học nhất thiết phải tiến hành theo một trình tự Người làm nghiên cứu cần thu thập thông tin, viết đề cương nghiên cứu, làm thí nghiệm hoặc tiến hành điều tra, đo đạc, thu thập, ghi chép số liệu, xử lý số liệu và viết báo cáo Tất cả những hoạt động này đều có liên hệ logic với nhau và nhằm phục vụ một mục đích duy nhất đó

là kiểm chứng giả thuyết nghiên cứu (một phán đoán cụ thể dựa trên các lập luận khoa học), làm sáng tỏ các vấn đề - hiện tượng nghiên cứu và tương tác giữa chúng

Người làm nghiên cứu cần xây dựng cho mình một mô hình lý thuyết (tức là những lập luận, suy đoán khoa học để giải thích một hiện tượng quan sát được) và tiến hành kiểm chứng tính hợp lệ của mô hình đó Các thông tin thu thập được trong quá trình quan sát hiện tượng, kết hợp với những hiểu biết đã được xác lập sẽ giúp cho người làm nghiên cứu đặt ra các giả thuyết để giải thích mô hình lý thuyết đã xây dựng và tiến hành kiểm chứng những giả thuyết này Những hoạt động tiếp theo như viết đề cương nghiên cứu (e.g bố trí thí nghiệm), đo đạc thu thập các thông số cần thiết, xử lý số liệu

và diễn giải kết quả để đi đến kết luận chỉ tập trung vào một mục đích duy nhất là kiểm chứng giả thuyết nghiên cứu Tuỳ theo kết quả (giả thuyết đưa ra sai hay không sai) mà

mô hình lý thuyết sẽ được điều chỉnh, phát triển hoặc loại bỏ Các giả thuyết mới sẽ hình thành và tiếp tục được kiểm chứng Tiến trình nghiên cứu này là một vòng xoay không

có điểm dừng Các giả thuyết và mô hình lý thuyết đặt ra ngày càng phức tạp hơn và giải thích rõ ràng hơn hiện tượng quan sát được

Phương pháp luận chính là tính logic trong việc lựa chọn cách tiếp cận vấn đề và

tổ chức các công đoạn của đề tài nghiên cứu theo hướng tiếp cận đã lựa chọn Người làm nghiên cứu nếu không xây dựng được cho mình một khung logic chặt chẽ khi thực

Trang 14

hiện nghiên cứu khoa học sẽ khó nêu các lý lẽ xác đáng bảo vệ cho cách thức triển khai nghiên cứu của mình và làm cho các hiện tượng sinh học, vốn đã phức tạp, trở nên rắc rối hơn

Tiến trình nghiên cứu khoa học

- Tiến trình nghiên cứu: Quan sát => xây dựng mô hình lý thuyết => phán đoán, giả thuyết => Thí nghiệm và phân tích kết quả => Định hướng tiếp theo

(1) Quan sát: Mô tả  khẳng định có thực  giải thích thông qua đưa ra mô hình giả thuyết  quan sát có mục đích để tăng thêm hiểu biết

(2) Xây dựng mô hình lý thuyết: PP loại suy để chọn cách giải thích có lý nhất và kiểm chứng (tránh nghiên cứu theo kiểu thử - sai)  thu thập đầy đủ thông tin  xử lý khách quan

(3) Phán đoán, giả thuyết: dùng phép chứng minh sai (chứng minh giả thuyết vô hiệu)

(4) Thí nghiệm và phân tích kết quả: Phỏng đoán số liệu thu thập  kiểm chứng giả thuyết đối nghịch

(5) Định hướng tiếp theo: Tiến trình nghiên cứu khoa học là một vòng xoay không

Trang 15

(ii) sự rõ ràng trong lập luận và mô tả thí nghiệm (để người đọc biết vì sao người nghiên cứu làm như vậy mà không làm khác đi, để biết số liệu thu được trong những điều kiện như thế nào nhờ đó mà học hỏi được cũng như phát hiện được các sai sót mà người nghiên cứu không thấy được) Khi công bố kết quả hay trình bày về nghiên cứu của mình, người làm nghiên cứu phải làm nổi bật được trình tự logic nêu trên Nên tránh chỉ chú tâm công bố kết quả nghiên cứu mà trình bày quá sơ lược phần Mở đầu (dẫn dắt người đọc vì sao có nghiên cứu này, để làm gì? mới ở chỗ nào? đóng góp được gì cho khoa học, cho thực tiễn sản xuất?), bỏ qua những chi tiết quan trọng trong phần mô tả Phương pháp nghiên cứu và trình bày thiếu các lập luận cơ sở cho cách thức bố trí thí nghiệm, thu mẫu của mình

1.5 Thống kê trong nghiên cứu khoa học

1.6 Đặc thù nghiên cứu khoa học trong từng lĩnh vực chuyên ngành

- Khoa học phát triển nông thôn nghiên cứu các vấn đề chủ yếu về kinh tế xã hội nông thôn:

Ở tầm vĩ mô như: toàn quốc, vùng, tỉnh, huyện, đảm bảo sự phát triển tổng hoà trên các lĩnh vực hoạt động kinh tế, xã hội, môi trường, thể hiện mối quan hệ phát triển tương hỗ giữa các khu vực đô thị và nông thôn trong phạm vi vùng nghiên cứu

Ở tầm vi mô về kinh tế xã hội nông thôn như: xã, bản, làng, thôn, xóm đến các hộ gia đình nông thôn

Đó thường là các nghiên cứu điều tra, xác định thực trạng, đề xuất giải pháp, xây dựng chiến lược, dự báo xu thế; Có sự tương tác giữa nhiều ngành nghề, lĩnh vực, nhiều đối tượng; Nghiên cứu trong thực tiễn đời sống kinh tế xã hội nông thôn với nhiều mối quan hệ xã hội phức tạp

- Đặc thù nghiên cứu khoa học trong khối ngành Sinh học ứng dụng và Nông – Lâm – NTTS:

Thường là NCKH ứng dụng (sử dụng kết quả nghiên cứu cơ bản trong các lĩnh vực …) hoặc triển khai

Chịu tác động của thị trường Thiếu tính đón đầu, chiến lược

Tính mùa vụ cao

Trang 16

Phức tạp, tốn kém, khó bố trí thí nghiệm trong thực tiễn sản xuất

- Đặc thù nghiên cứu khoa học trong lĩnh vực giáo dục

Ngành khoa học có nét đặc thù riêng, không những nó tận dụng được mọi thành tựu của các ngành khoa học xã hội, tự nhiên và kĩ thuật mà nó còn là nơi nghiên cứu để tạo ra những lớp người trở lại làm việc thúc đẩy các ngành khoa học ấy phát triển;

Thường sử dụng các phương pháp nghiên cứu quan sát, điều tra, tổng kết kinh nghiệm và thực nghiệm sư phạm

- Nghiên cứu khoa học của sinh viên

Nghiên cứu sinh: thông tin mới, phương pháp chuẩn, lập luận khoa học chính xác, công bố kết quả đúng cách đào tạo người nghiên cứu độc lập, có khả năng xác định vấn đề NC và tổ chức triển khai

Học viên cao học: giống như cho NCS nhưng yêu cầu về tính mới thấp hơn, độ khó không cao bằng (do thời gian và trình độ) đào tạo cán bộ NC có khả năng thực hiện các nội dung nghiên cứu nhỏ một cách chính xác

Sinh viên đại học: bước đầu làm quen với phương pháp NCKH, tập xác định vấn

đề, lựa chọn phương pháp, biết cách xử lý số liệu và viết báo cáo

Trang 17

CHƯƠNG 2 XÁC ĐỊNH ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 2.1 Đề tài nghiên cứu và quy mô của đề tài

- Khái niệm

Là một nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể

Xuất phát từ yêu cầu thực tiễn và/hoặc khoa học

Thực hiện bởi cá nhân hoặc một nhóm nghiên cứu

Thời gian cụ thể, địa điểm xác định

- Quy mô

Qui định bởi nội dung và độ khó

Chương trình nghiên cứu (research program): nhằm giải quyết những vấn đề mang tính chiến lược, gồm nhiều đề tài nhánh

Đề tài nghiên cứu các cấp (nhà nước, bộ, sở, đơn vị) - research project

Đề tài nghiên cứu của NCS, học viên cao học, sinh viên đại học (thesis research) 2.2 Xuất phát điểm của một đề tài nghiên cứu

- Ý tưởng nghiên cứu (đi kèm với giả thiết nghiên cứu)

Hội nghị khoa học/ Quan sát thực tiễn/ Nghiên cứu tài liệu/ Đơn đặt hàng

- Phát triển ý tưởng nghiên cứu (kiểm chứng tính hợp lệ của ý tưởng)

Quan sát thêm; Tham khảo tài liệu liên quan; Thảo luận với đồng nghiệp,

Kiểm chứng tính hợp lệ thông qua: cơ sở khoa học của ý tưởng nghiên cứu, ý nghĩa thực tiễn, ý nghĩa khoa học của ý tưởng

- Cụ thể hóa ý tưởng nghiên cứu

Cụ thể hóa lý do thực hiện đề tài: Xuất phát từ quan sát nào? Dựa trên lập luận gì? Tính cấp thiết của đề tài?

Cụ thể hóa mục đích của đề tài: Đề tài nếu thành công sẽ giúp giải quyết vấn đề gì cho thực tiễn, khoa học?

2.3 Xác định đề tài nghiên cứu

Đề tài nghiên cứu cụ thể được xác định với:

Tên đề tài; Lý do thực hiện, mục đích; Nội dung nghiên cứu; Phương thức giải quyết, tiếp cận; Dự kiến kết quả; Kế hoạch thực hiện; và Đánh giá tính khả thi (Quỹ thời gian, người hướng dẫn, trang thiết bị cần thiết, kinh phí nghiên cứu):

☺ Tên đề tài

 Ngắn gọn, chính xác

 Phản ánh được nội dung nghiên cứu chính

 đối tượng NC, địa điểm

 Hấp dẫn, lôi cuốn

VD: Thử nghiệm nuôi luân trùng bằng tảo Spirulina khô

Trang 18

VD: Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học sinh sản của tôm he Rằn (Penaeus semisulcatus de Hann) nhằm xây dựng qui trình ương nuôi thương phẩm tại địa bàn tỉnh

Thừa Thiên Huế

☺ Lý do thực hiện, mục đích (lưu ý phân biệt mục đích và mục tiêu)

VD: Quy trình nuôi vỗ cá bố mẹ/ Đặc điểm sinh học của đối tượng/ Công nghệ nuôi nhân tạo tôm sú bố mẹ

 Mục đích: Cái hướng đến (Để làm gì?)

 Mục tiêu: Cái cần đạt được (Làm cái gì?)

Ví dụ: Ao nuôi tôm bị bỏ hoang nhiều do tôm hay bị bệnh Đề tài nghiên cứu khả năng đưa cá rô phi vào nuôi ở các khu vực này

Mục đích: tận dụng các ao nuôi tôm, tăng thu nhập cho người nuôi, giảm thiểu các tác động bất lợi lên môi trường, phát triển nghề NTTS, …

Mục tiêu: xem xét khả năng sinh trưởng của cá trong môi trường nước lợ và nước mặn, đánh giá hiệu quả kinh tế

☺ Nội dung nghiên cứu (nhằm trả lời cho câu hỏi hoặc kiểm chứng giả thiết nghiên cứu đặt ra)

 Càng cụ thể càng tốt (nhằm trả lời các câu hỏi đã đặt ra hoặc kiểm chứng giả thiết nghiên cứu)

 Có thể thực hiện được

Ví dụ: muốn nuôi cá rô phi trong ao tôm Câu hỏi đặt ra là:

Độ mặn tối đa cá có thể sống là bao nhiêu?  xác định ngưỡng độ mặn của cá rô phi

Khoảng độ mặn nào là thích hợp nhất để nuôi cá?  xác định tỉ lệ sống và tốc độ tăng trưởng của cá rô phi nuôi ở các độ mặn khác nhau

 Câu hỏi và giả thiết nghiên cứu (Research question vs hypothesis)

Đề tài điều tra: cùng một lúc trả lời nhiều câu hỏi (thường không có giả thiết) cái

gì, ở đâu, khi nào, như thế nào?

Thí nghiệm: câu hỏi dưới dạng giả thiết nghiên cứu (cần phải chứng minh bằng số liệu thu thập được là đúng hay không đúng – quan hệ nhân quả, có hay không có – tương quan) trả lời câu hỏi tại sao?

 Giả thiết nghiên cứu

NCKH dù ở bất cứ trình độ nào đều bắt đầu với một phỏng đoán (vượt ngoài giới hạn của sự hiểu biết và suy luận logic) hoặc tưởng tượng về chân lý” – (Medawar 1972) Giả thiết đưa ra nhận định về mối quan hệ giữa các biến nghiên cứu

Trang 19

Phương pháp nghiên cứu sẽ được xây dựng sao cho giả thiết đưa ra có thể kiểm nghiệm được  lựa chọn thông tin cần thu thập, tránh lãng phí thời gian

☺ Phương thức giải quyết, tiếp cận (kiểm nghiệm được giả thiết đưa ra khả thi nhất, sơ đồ hóa)

 Cách thức mà người nghiên cứu sẽ sử dụng để thực hiện (các nội dung của) đề tài nghiên cứu

 Khái quát, ngắn gọn, có thể dùng sơ đồ

Ví dụ: để xác định ngưỡng độ mặn của cá rô phi tiến hành nâng dần độ mặn của môi trường nuôi từ 0 ppt đến 35 ppt với tốc độ 5 ppt/ngày và xác định LD50 và LD100 Thực hiện nghiên cứu trên nhiều nhóm kích thước: hương, giống, tiền trưởng thành

Để biết khoảng độ mặn nào là thích hợp nhất để nuôi cá: thử nghiệm nuôi cá ở các

độ mặn: 5, 10, 15, 20 và 25 ppt trong thời gian 2 tháng, xác định tỉ lệ sống và tốc độ tăng trưởng của cá, hệ số chuyển đổi thức ăn

☺ Dự kiến kết quả

 Quy trình, bản vẽ kỹ thuật, con giống, bảng số liệu, báo cáo khoa học

 Tương ứng với từng nội dung

 Giới hạn phạm vi nghiên cứu

Cụ thể các điều kiện nghiên cứu

Khả năng ứng dụng kết quả, i.e độ tương đồng giữa điều kiện nghiên cứu và điều kiện thực tế nơi muốn áp dụng kết quả

Chỉ rõ các hạn chế của đề tài, e.g chỉ nghiên cứu giai đoạn cá hương - giống hay chưa có điều kiện phân tích thành phần sinh hoá của luân trùng nuôi bằng tảo khô

☺ Kế hoạch thực hiện (Thời gian nào thực hiện nội dung gì?)

☺ Đánh giá tính khả thi

 Quỷ thời gian (hạn chế nội dung, lên kế hoạch),

 Người hướng dẫn,

 Trang thiết bị cần thiết,

 Kinh phí nghiên cứu

 Tóm tắt các việc cần làm để xây dựng một đề tài nghiên cứu

TT Việc cần làm Hướng dẫn thực hiện

1 Liệt kê danh mục các ý

tưởng nghiên cứu Từ quan sát thực tiễn, tham khảo tài liệu, thảo luận, hội nghị, …

tâm nghiên cứu

Lập danh mục các câu hỏi, nghi vấn muốn giải đáp thông qua đề tài

Trang 20

2.4 Các hướng nghiên cứu

 Trong PTNT

- Những đặc điểm và hiện trạng của nông thôn (Lao động; ứng dụng khoa học công nghệ; nguồn vốn; tài nguyên; ngành nghề phát triển nông thôn; cơ sở hạ tầng; chính sách; quản lý; đời sống tinh thần, văn hóa xã hội, bản sắc dân tộc; đời sống vật chất, an ninh xã hội…) nhằm tìm ra điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội, thách thức đối với phát triển nông thôn

- Lý luận phát triển: nhằm hướng đến phục vụ cho công tác hoạch định các mục tiêu, chỉ tiêu phát triển, nguyên tắc phát triển, kế hoạch và chiến lược phát triển nông nghiệp, nông thôn

- Nghiên cứu các chiến lược và chính sách phát triển; tài chính và tín dụng nông thôn; cơ cấu và thành phần kinh tế nông nghiệp, nông thôn

Chiến lược phát triển ngành (chăn nuôi, thủy sản, chế biến thực phẩm, chế biến gỗ ) góp phần định hướng phát triển bền vững các ngành nông nghiệp và nông thôn

- Nghiên cứu về lĩnh vực phát triển: tiểu thủ công nghiệp (TTCN) nông thôn, phát triển dịch vụ nông thôn (DVNT), du lịch nông thôn, phát triển công nghiệp nông thôn

- Các hệ thống nông nghiệp; mô hình phát triển nông nghiệp, nông thôn bền vững (các ngành nghề như chăn nuôi, thủy sản, chế biến thực phẩm, chế biến gỗ các mô hình hợp tác xã kiểu mới, kinh tế trang trại, nông hộ, các mô hình sản xuất theo chuỗi,

mô hình dự báo giá cả…)

 Trong NTTS

- Nghiên cứu về đối tượng nuôi

- Nghiên cứu xây dựng biện pháp kỹ thuật hoặc qui trình kỹ thuật

- Bệnh học thủy sản

- Dinh dưỡng

- Nghiên cứu về môi trường nuôi

- Tìm hiểu hiện trạng, các khó khăn của nghề nuôi, dự báo xu thế phát triển

 Trong sinh học

Trang 21

- Nghiên cứu đặc điểm sinh học các đối tượng sinh vật: nghiên cứu về cây (botany); nghiên cứu về động vật (zoology); và nghiên cứu về các vi sinh vật (microbiology)

- Nghiên cứu về các quá trình sinh hóa cơ bản của sự sống (biochemistry);

- Nghiên cứu các tương tác phức tạp giữa các hệ thống của các phân tử sinh học (molecular biology);

- Tìm hiểu các cấu trúc cơ bản tạo thành mọi sự sống (cellular biology), sinh lý học

tế bào (physiology), giải phẫu học và mô học

- Sinh học phát triển nghiên cứu sự sống ở các giai đoạn phát triển khác nhau hoặc phát triển cá thể (ontogeny) của sinh vật

- Phong tục học (ethology) nghiên cứu nhóm hành vi của một tập hợp cá thể

- Di truyền học quần thể (population genetics) xem xét toàn bộ quần thể và hệ thống học quan tâm đến sự tiến hóa của nhiều loài thuộc các nhánh tiến hóa (lineage)

- Sinh Thái Học và sinh học tiến hóa xem xét mối quan hệ qua lại giữa các quần thể với nhau và với ổ sinh thái của chúng

- Sinh Học Vũ Trụ (astrobiology hoặc xenobiology) nghiên cứu về khả năng tồn tại sự sống ngoài Trái Đất

 Trong khoa học giáo dục

Nhà trường trên thế giới phát triển rất nhanh cho nên việc nghiên cứu KHGD không bó gọn trong môi trường trường học nữa mà tự nó cũng thấy được, quá trình giáo dục, quá trình dạy học phải nằm trong một hệ thống giáo dục thống nhất của một quốc gia, chịu sự chỉ đạo trực tiếp của những người quản lí giáo dục Hay nói khác đi, những vấn đề vĩ mô của giáo dục phải được nghiên cứu cặn kẽ mang tính chiến lược giáo dục quốc gia Vì vậy có 4 hướng nghiên cứu KHGD hiện nay:

- Nghiên cứu hệ thống giáo dục quốc dân

Trong sự phát triển của xã hội cũng như sự tăng lên theo cấp số nhân về tri thức,

hệ thống trường, lớp cũng phải thay đổi theo Nhu cầu của xã hội về số lượng người đào tạo, sự phát triển tâm sinh lí của học sinh cũng làm cho các nhà KHGD suy nghĩ, tìm tòi các loại hình trường, các dạng đạo tạo, số năm đào tạo v.v Ðó là các đề tài của hướng nghiên cứu 1

- Nghiên cứu quá trình giáo dục

Quá trình giáo dục (QTGD) hiểu theo nghĩa hẹp: các hoạt động của giáo viên chủ nhiệm cũng như việc tổ chức phong trào thi đua của lớp, trường Hoặc có thể hiểu theo nghĩa rộng: Các mối liên kết giữa nhà trường, gia đình và xã hội trong việc xây dựng

Ngày đăng: 02/11/2017, 15:48

TỪ KHÓA LIÊN QUAN