1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Bài giảng phương pháp nghiên cứu khoa học

76 9 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 76
Dung lượng 1,22 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Kết quả giải quyết các nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài phụ thuộc vào phương pháp luận, phương pháp hệ mà trực tiếp vào các phương pháp nghiên cứu cụ thể được tổ chức và thực hiện một cách

Trang 1

ĐẠI HỌC QUẢNG BÌNH KHOA NÔNG – LÂM - NGƯ

-   -

BÀI GIẢNG

(Lưu hành nội bộ)

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU KHOA HỌC

(Dành cho sinh viên Đại học)

Người biên soạn: TS Trần Thế Hùng

Quảng Bình, năm 2017

Trang 2

MỤC LỤC

A Lời mở đầu 1

B Mục tiêu–yêu cầu 1

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ NCKH 2

1.1 Khoa học 2

1.1.1 Định nghĩa 2

1.1.2 Nội dung của khoa học 3

1.1.3 Tri thức kinh nghiệm 3

1.1.4 Tri thức khoa học 3

1.2 Nghiên cứu khoa học 4

1.2.1 Định nghĩa 4

1.2.2 Mục đích của nghiên cứu khoa học 4

1.2.3 Chức năng của nghiên cứu khoa học 5

1.2.4 Đặc trưng cơ bản của nghiên cứu khoa học 5

1.2.5 Phân loại khoa học và nghiên cứu khoa học 6

1.2.6 Ngụy khoa học 8

1.3 Các khái niệm khác 10

1.3.1 Khái niệm 10

1.3.2 Khái niệm đề tài 11

1.3.3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu 12

1.3.4 Mục đích và mục tiêu nghiên cứu 12

1.3.5 Vấn đề nghiên cứu khoa học 12

1.3.6 Cách phát hiện “vấn đề” nghiên cứu khoa học 14

CHƯƠNG 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU KHOA HỌC 14

2.1 KHÁI NIỆM VỀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU KHOA HỌC 15

2.1.1 Phương pháp nghiên cứu khoa học là gì? 15

2.1.2 Đặc trưng cơ bản của phương pháp nghiên cứu khoa học 17

2.1.3 Phân loại phương pháp nghiên cứu khoa học 18

2.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU KHOA HỌC 20

2.2.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý thuyết 20

2.2.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn 23

2.2.3 Nhóm phương pháp nghiên cứu toán học 30

CHƯƠNG 3 CÁC PHƯƠNG PHÁP THU THẬP SỐ LIỆU NCKH 32

3.1 Tài liệu 32

3.1.1 Mục đích thu thập tài liệu 32

3.1.2 Phân loại tài liệu nghiên cứu 32

3.2 Giả thuyết 33

3.2.1 Định nghĩa giả thuyết 33

3.2.2 Các đặc tính của giả thuyết 33

3.2.3 Mối quan hệ giữa giả thuyết và “vấn đề” khoa học 33

3.2.4 Cấu trúc của một giả thuyết 33

3.2.5 Cách đặt giả thuyết 34

3.2.6 Kiểm chứng giả thuyết qua so sánh giữa tiên đoán với kết quả thí nghiệm 35

3.3 Các phương pháp thu thập số liệu 36

3.3.1 Phương pháp thu thập số liệu từ tham khảo tài liệu 36

3.3.2 Phương pháp thu thập số liệu từ những thực nghiệm 36

3.3.3 Bố trí thí nghiệm để thu thập số liệu nghiên cứu 37

Trang 3

3.3.4 Thu phập số liệu phi thực nghiệm 43

3.3.5 Một số biện pháp để kích thích người trả lời phỏng vấn 49

CHƯƠNG 4 CÁC KỸ NĂNG CƠ BẢN TRONG NCKH 51

4.1 Quy trình thực hiện đề tài NCKH 51

4.2 Các bước viết đề cương NCKH 51

4.2.1 Định nghĩa của một đề cương nghiên cứu 51

4.2.2 Cấu trúc của một đề cương nghiên cứu khoa học 51

4.2.3 Phương pháp chọn đề tài 52

4.2.4 Một số tiêu chuẩn để ưu tiên chọn đề tài 54

4.2.5 Phương pháp đặt vấn đề 56

4.2.6 Phương pháp nêu giả thuyết 56

4.2.7 Mục tiêu của đề tài 56

4.2.8 Đặt tên cho đề tài 57

4.2.9 Phương pháp trình bày nội dung nghiên cứu 57

4.2.10 Phương pháp xây dựng kế hoạch nghiên cứu 59

4.2.11 Dự toán kinh phí đề tài 59

4.3 Trình bày kết quả nghiên cứu 60

4.3.1 Trình bày bằng bảng tần số 60

4.3.2 Trình bày bằng biểu đồ và đồ thị 61

CHƯƠNG 5 KỸ THUẬT VIẾT VÀ TRÌNH BÀY BÁO CÁO KHOA HỌC 65

5.1 Một số lưu ý khi viết báo cáo khoa học 65

5.1.1 Tại sao phải viết báo cáo khoa học ? 65

5.1.2 Một số loại báo cáo khoa học 65

5.2 Viết một báo cáo khoa học như thế nào 69

5.2.1 Các phần của báo cáo khoa học 69

5.2.2 Nội dung chính của báo cáo khoa học 69

5.3 Viết và trình bày báo cáo tóm tắt kết quả nghiên cứu 71

Trang 4

A Lời mở đầu

Nghiên cứu khoa học (NCKH) là một hoạt động then chốt hàng đầu trong những ngành khoa học Kết quả từ NCKH là những phát hiện mới về kiến thức, về bản chất sự vật, phát triển nhận thức khoa học về thế giới, sáng tạo phương pháp và phương tiện kỹ thuật mới có giá trị cao Thực tế cho thấy, sinh viên khi bắt đầu làm luận văn tốt nghiệp

và ngay cả những người mới ra trường làm việc trong các cơ quan nghiên cứu đòi hỏi phải có kiến thức và có phương pháp NCKH Vì vậy, môn học phương pháp NCKH học

là nền tảng để trang bị cho các sinh viên tiếp cận NCKH

Bài giảng với nhiều nội dung cung cấp những thông tin, kiến thức cơ bản, các bước trong NCKH, những kỹ thuật cần thiết để tiếp cận phương pháp thí nghiệm và cách trình bày các kết quả NCKH Với những ví dụ cụ thể, dễ hiểu trong lĩnh vực nông lâm ngư nghiệp, tài nguyên môi trường giúp học viên có cái nhìn thực tế trong lĩnh vực này Hy vọng rằng bài giảng này sẽ mang lại những kiến thức bổ ích và những thông tin thiết thực cho sinh viên và những người bắt đầu làm công tác NCKH

B Mục tiêu–yêu cầu

1 Nắm bắt các kiến thức cơ bản về phương pháp nghiên cứu khoa học ngay từ những năm đầu học đại học giúp sinh viên có những bước tiếp cận sớm với nghiên cứu khoa học

2 Cách chọn lựa đề tài nghiên cứu, giới hạn vấn đề - phạm vi nghiên cứu, lập đề cương chi tiết, lên kế hoạch trước khi bắt tay vào triển khai nghiên cứu

3 Phương pháp thu thập và xử lý các tài liệu tham khảo/thông tin thứ cấp; cũng như các kỹ thuật thiết kế nghiên cứu để thu thập thông tin sơ cấp

4 Cách thức viết, trình bày bản báo cáo kết quả nghiên cứu

5 Rèn luyện các kỹ năng trong nghiên cứu khoa học

- Kỹ năng hiểu biết lịch sử nghiên cứu

- Kỹ năng vận dụng các phương pháp nghiên cứu

- Kỹ năng tìm kiếm thông tin khoa học kĩ thuật: Các công cụ tìm kiếm thông tin tham khảo như Google (71,4 %), Yahoo (9,5 %)

- Kỹ năng nghiên cứu và tổng hợp tài liệu

- Kỹ năng ngoại ngữ

Trang 5

- Aristote cho rằng: “Chỉ có cái tổng quát mới đáng gọi là khoa học”

- Furie: “Khoa học phải hướng tới cái chân lí tổng quát hoặc hơn nữa là cái tất yếu về cùng một đối tượng”

- Cuvrie: “Khoa học là hệ thống những nhận thức và nghiên cứu có phương pháp nhằm mục đích khám phá ra những qui luật tổng quát về các hiện tượng”

- “Khoa học là một hệ thống tri thức về tự nhiên, xã hội và tư duy được tích luỹ trong quá trình nhận thức trên cơ sở thực tiễn, được thể hiện bằng những khái niệm, phán đoán, học thuyết”

- “Khoa học là hệ thống tri thức về mọi loại qui luật của vật chất và sự vận

động của vật chất, những qui luật của tự nhiên, xã hội, tư duy” (Pierre Auger:

Tendences actuelles de la recherche scientifique, UNESCO, Paris, 1961, tr 17-19)

- “Khoa học là một hệ thống tri thức về tự nhiên, xã hội và tư duy, về những qui luật phát triển khách quan của tự nhiên, xã hội và tư duy, hệ thống tri thức này hình thành trong lịch sử và không ngừng phát triển trên cơ sở thực tiễn xã hội”

- Nguyễn Sinh Huy - Trần Trọng Thuỷ: “Khoa học là toàn bộ hệ thống kiến thức

mà nhân loại đã tích luỹ được về những qui luật trong sự phát triển của thiên nhiên, của xã hội và tư duy, về những biện pháp tác động có kế hoạch đến thế giới xung quanh đến sự nhận thức và làm biến đổi thế giới đó nhằm phục vụ lợi ích cho con người”

- Từ điển tiếng Việt: “Khoa học là một hệ thống tri thức tích luỹ trong quá trình lịch sử và được thực tiễn chứng minh, phản ánh qui luật khách quan của thế giới bên ngoài cũng như của hoạt động tinh thần của con người, giúp con người có khả năng cải tạo thế giới hiện thực”

Theo Từ điển Triết học của Nhà xuất bản Tiến bộ Mátxcơva: “Khoa học là lĩnh vực nghiên cứu nhằm mục đích sản xuất ra những tri thức mới về tự nhiên, xã hội và tư duy và bao gồm tất cả những điều kiện và những yếu tố của sự sản xuất này

Từ những quan niệm trên, ta có thể rút ra định nghĩa khái quát: “Khoa học (KH)

là hệ thống những tri thức về tự nhiên, xã hội và tư duy, về quy luật phát triển của tự nhiên, xã hội và tư duy Hệ thống tri thức này được hình thành trong lịch sử và không ngừng phát triển trên cơ sở thực tiễn xã hội”

Những kiến thức hay học thuyết mới này tốt hơn, có thể thay thế dần những cái cũ, không còn phù hợp Thí dụ: Quan niệm thực vật là vật thể không có cảm giác được thay thế bằng quan niệm thực vật có cảm nhận hay thực vật không chuyển động bằng có thể chuyển động

Trang 6

Xuất phát từ những sự kiện của hiện thực, khoa học giải thích một cách đúng đắn nguồn gốc của sự phát triển của những sự kiện ấy, phát hiện những mối liên hệ bản chất của các hiện tượng, trang bị cho con người những tri thức về quy luật khách quan của thế giới hiện thực để con người áp dụng những quy luật đó trong thực tiễn sản xuất và đời sống

Khoa học góp phần nghiên cứu thế giới quan đúng đắn, xem xét sự kiện một cách biện chứng, giải phóng con người khỏi những mê tín, dị đoan, mù quáng, hoàn thiện khả năng trí tuệ của con người

Khoa học còn góp phần làm giảm nhẹ lao động và làm cho đời sống con người ngày càng dễ dàng hơn, tạo điều kiện để con người có thể nâng cao quyền lực đối với các lực lượng tự nhiên

Hệ thống tri thức hình thành trong lịch sử và không ngừng phát triển trên cơ sở thực

tiễn xã hội Phân biệt ra 2 hệ thống tri thức: tri thức kinh nghiệm và tri thức khoa học

Là sản phẩm trí tuệ của người nghiên cứu

1.1.2 Nội dung của khoa học

- Những tài liệu về thế giới do quan sát, điều tra, thí nghiệm mà có

- Những nguyên lí được rút ra dựa trên những sự kiện đã được thực nghiệm chứng minh

- Những qui luật, những học thuyết được khái quát bằng tư duy lí luận

- Những phương pháp nhận thức sáng tạo khoa học

- Những qui trình vận dụng lí thuyết khoa học vào sản xuất và đời sống xã hội

1.1.3 Tri thức kinh nghiệm

Tri thức kinh nghiệm là những hiểu biết được tích lũy qua hoạt động sống hàng

ngày trong mối quan hệ giữa con người với con người và giữa con người với thiên nhiên

Quá trình này giúp con người hiểu biết về sự vật, về cách quản lý thiên nhiên và hình thành mối quan hệ giữa những con người trong xã hội Tri thức kinh nghiệm được con người không ngừng sử dụng và phát triển trong hoạt động thực tế Tuy nhiên, tri thức kinh nghiệm chưa thật sự đi sâu vào bản chất, chưa thấy được hết các thuộc tính của sự vật và mối quan hệ bên trong giữa sự vật và con người Vì vậy, tri thức kinh nghiệm chỉ phát triển đến một hiểu biết giới hạn nhất định, nhưng tri thức kinh nghiệm là cơ sở cho

sự hình thành tri thức khoa học

1.1.4 Tri thức khoa học

Tri thức khoa học là những hiểu biết được tích lũy một cách có hệ thống nhờ hoạt

động NCKH, các hoạt động này có mục tiêu xác định và sử dụng phương pháp khoa học

Không giống như tri thức kinh nghiệm, tri thức khoa học dựa trên kết quả quan sát, thu thập được qua những thí nghiệm và qua các sự kiện xảy ra ngẫu nhiên trong hoạt động

xã hội, trong tự nhiên Tri thức khoa học được tổ chức trong khuôn khổ các ngành và bộ môn khoa học (discipline) như: triết học, sử học, kinh tế học, toán học, sinh học,…

Tri thức khoa học khác tri thức kinh nghiệm?

• Tổng kết số liệu và sự kiện ngẫu nhiên, rời rạc để khái quát hoá thành cơ sở lý thuyết

• Kết luận về quy luật tất yếu đã được khảo nghiệm

• Lưu giữ/lưu truyền

Sự kiện (hiện tượng) và tư duy khoa học

- Sự kiện: đó là những gì xảy ra trong tự nhiên, xã hội do quá trình vận động và

phát triển của tư duy mà con người nhận thức được hoặc trực tiếp (bằng các giác quan) hoặc gián tiếp (bằng phương tiện hỗ trợ)

Trang 7

- Sự kiện là cơ sở tất yếu của khoa học, là nguồn sống và phát triển của khoa học

Tuy nhiên, bản thân sự kiện chỉ là một mớ nguyên liệu chứ chưa phải là khoa học Nhờ có

tư duy lý luận, có sự trừu tượng hóa KH, con người gạt bỏ được những liên hệ ngẫu nhiên của hiện tượng, đi sâu vào những liên hệ sâu xa, phát hiện những quy luật khách quan

Bản thân sự biểu hiện các quan hệ ngẫu nhiên của hiện tượng chưa phải là tri thức

KH mà là vì sự phát triển của hiện tượng được quyết định không phải do ngẫu nhiên mà

do những quy luật khách quan Tuy nhiên KH không chỉ nghiên cứu cái tất nhiên, KH còn nghiên cứu cả sự ngẫu nhiên là một trong những hình thức hoặc yếu tố của biểu hiện cái

có quy luật

Tư duy KH là tư duy biện chứng, là một dạng của lôgíc biện chứng, nó đóng vai

trò liên kết giữa tư duy và thực tiễn Đặc trưng và các nguyên tắc của tư duy KH là:

- Tính khách quan: xuất phát từ bản thân các sự vật, hiện tượng

- Toàn diện: xem xét đầy đủ các khía cạnh

- Lịch sử: nhận thức sự vật, hiện tượng trong sự phát triển

- Thống nhất giữa các mặt đối lập

Tóm lại, sự kiện không có tư duy lý luận thì không có KH, hoặc xem nhẹ tư duy lý luận thì sẽ làm cho con người mất đi khả năng đi sâu vào bản chất của tự nhiên và xã hội Ngược lại, coi thường hoặc không cần các sự kiện thì tư duy lý luận sẽ trở thành duy ý chí

1.2 Nghiên cứu khoa học

1.2.1 Định nghĩa

Theo Phạm Viết Vượng: “Bản chất của nghiên cứu khoa học là hoạt động sáng tạo của các nhà khoa học nhằm nhận thức thế giới, tạo ra hệ thống tri thức có giá trị để sử dụng vào cải tạo thế giới”

Theo Vũ Cao Đàm: “Nghiên cứu khoa học là một hoạt động xã hội, hướng vào việc tìm kiếm những điều mà khoa học chưa biết, hoặc là phát hiện bản chất sự vật, phát triển nhận thức khoa học về thế giới; hoặc là sáng tạo phương pháp mới và phương tiện

kỹ thuật mới để cải tạo thế giới”

Nghiên cứu khoa học là một họat động tìm kiếm, xem xét, điều tra, hoặc thử nghiệm dựa trên những số liệu, tài liệu, kiến thức,… đạt được từ các thí nghiệm NCKH

để phát hiện ra những cái mới về bản chất sự vật, về thế giới tự nhiên và xã hội, và để sáng tạo phương pháp và phương tiện kỹ thuật mới cao hơn, giá trị hơn

Con người muốn làm NCKH phải có kiến thức nhất định về lĩnh vực nghiên cứu

và có phương pháp, tính độc lập, tư duy NCKH có phạm vi vô cùng rộng lớn trong nhận thức và cải tạo thế giới

1.2.2 Mục đích của nghiên cứu khoa học

- Thứ nhất, đáp ứng nhu cầu nhận thức của chủ thể Nó có tác dụng củng cố, hoàn

thiện và nâng cao sự hiểu biết của chủ thể đối với các đối tượng được khảo sát

- Thứ hai, nhằm phát hiện ra những kiến thức mới về bản chất của đối tượng được

thể hiện dưới dạng các thông tin về quy luật của sự tồn tại, vận động và phát triển của đối tượng

- Thứ ba, trên cơ sở những kiến thức mới phát hiện, chủ thể nghiên cứu, sáng tạo ra

những tri thức mới về con đường, cách thức, phương pháp, biện pháp tác động vào đối tượng phục vụ các nhu cầu vật chất và tinh thần của con người, đồng thời sáng tạo ra các phương tiện, thiết bị mới … để hiện thực hóa các sáng tạo đó

Trang 8

Các mục đích trên không tách rời nhau, nhưng có vị trí khác nhau trong từng cấp

độ của từng đề tài, công trình nghiên cứu, nhất là các nhà nghiên cứu trẻ

1.2.3 Chức năng của nghiên cứu khoa học

a Chức năng mô tả

Người ta sử dụng bản chất của đối tượng thông qua các thao tác nhằm mô tả đúng, chính xác và khách quan những diễn biến, những biểu hiện bề ngoài của đối tượng cần tìm hiểu Bởi không thể hiện nội dung, bản chất của đối tượng nếu không tìm hiểu cái hình thức, cái hiện tượng của nó Một sự mô tả đúng, đầy đủ những gì quan sát được (trực tiếp hay gián tiếp) đều có thể được coi như những dữ kiện, những tiền đề thiết yếu cho việc nghiên cứu tiếp theo

b.Chức năng giải thích

NCKH không thể dừng lại ở mức nắm bắt hình thức, cái hiện tượng bề ngoài mà trên cơ sở những dữ liệu ban đầu ấy, nhà nghiên cứu bắt đầu phát hiện những vấn đề,

những điểm cần tiếp tục làm sáng tỏ cho các câu hỏi vì sao? Như thế nào? Nhà NCKH

bắt đầu thực hiện chức năng quan trọng tiếp theo của mình là giải thích

Thực hiện chức năng này chính là tìm ra nguyên nhân của những vấn đề được phát hiện, nhờ đó mà các phán đoán về các mối quan hệ bên trong hợp thành nội dung, bản chất sự vật dần dần sáng tỏ

c Chức năng sáng tạo

NCKH không chỉ dừng lại ở giải thích, ở nhận thức sự vật, hiện tượng, điều quan trọng hơn là phải nắm bắt được quy luật phát triển của chúng, tìm kiếm các giải pháp và các phương pháp tác động có hiệu quả lên đối tượng khảo sát… NCKH do đó có chức năng sáng tạo Nó thể hiện ở việc thông qua các phát minh, phát hiện về quy luật Đó cũng có thể là những dự báo về những xu thế vận động, biến đổi của chúng và những giải pháp mới và cách thức tác động được đưa ra để tác động có hiệu quả hơn vào đối tượng

1.2.4 Đặc trưng cơ bản của nghiên cứu khoa học

a Tính mới và kế thừa của nghiên cứu khoa học

Tìm hiểu, phát hiện, khám phá những thuộc tính mới của sự vật, hiện tượng, từng bước hình thành những kiến giải khoa học dưới dạng các địa lý, định luật, các học thuyết, các phương pháp mới …là đặc trưng đầu tiên và quan trọng của NCKH Chính vì vậy, NCKH được xem như là một công việc không được lập lại những kiến thức như cũ Chính đặc trưng này, đòi hỏi người làm khoa học một sự say mê lao động, sáng tạo ham hiểu biết và không tự thỏa mãn với những gì đã đạt được, luôn tìm cách làm đầy đủ hơn, phong phú và chính xác hơn tri thức của mình về đối tượng được khảo sát

Tuy nhiên, cái mới trong NCKH luôn đi đôi với tính kế thừa những tri thức đã được tích lũy trước đó, đồng thời luôn bắt nguồn từ những đòi hỏi cơ bản, cấp thiết của thực tiễn Kết quả là cùng với thời gian, tri thức nhóm thứ nhất luôn luôn được củng cố, ngày càng hoàn thiện hơn, tri thức nhóm thứ hai và thứ ba sẽ được đổi mới, hoàn thiện và có thể được thay đổi bằng tri thức hoàn toàn mới

b Tính khách quan, tin cậy, trung thực của thông tin (tính thông tin)

Thông tin trong NCKH là nguyên liệu đầu vào cho một quy trình xử lý, chế biến để rồi sáng tạo ra một lượng thông tin mới về các thuộc tính bản chất của đối tượng, đáp ứng mục đích nghiên cứu của mỗi đề tài cụ thể Thông tin trong NCKH có thể được chuyển tải, được chứa dụng với các vật mang thông tin hết sức đa dạng và phong phú Nhưng dù bất kỳ một vật mang thông tin nào, thông tin khoa học cũng phải bảo đảm tính khách

Trang 9

quan, tính tin cậy về nguồn gốc xuất xứ, cũng như phải được thu thập, xử lý bằng các biện pháp phù hợp Tôn trọng tính khách quan của thông tin, bảo đảm tính cập nhật, tin cậy của thông tin, trung thực trong thu thập, phổ biến thông tin được coi là nguyên tắc hàng đầu của NCKH

c Tính mạnh dạn, mạo hiểm trong nghiên cứu khoa học (tính mạo hiểm)

NCKH luôn phải hướng đến sáng tạo ra các giá trị tri thức mới, nên không phải mọi

đề tài đều thành công dễ dàng Những thất bại, không thành công trong NCKH là điều có thể xảy ra Chính đặc trưng này đòi hỏi phải có sự chuẩn bị kỹ lưỡng trong quá trình nghiên cứu Không những là trong quá trình phát hiện, thẩm định vấn đề mà còn cả trong lựa chọn, sử dụng các phương pháp khai thác, xử lý thông tin, trong công bố và áp dụng các sản phẩm nghiên cứu

d Tính kinh tế và phi kinh tế trong nghiên cứu khoa học

NCKH suy cho cùng là nhằm nhận thức và cải tạo thế giới Đó là lợi ích, là sứ mệnh cao cả của NCKH Lợi ích kinh tế chỉ là một bộ phận cấu thành, dù trong rất nhiều trường hợp, nó là cơ bản của lợi ích chung đó Tuy nhiên cũng không nên xem lợi ích kinh tế hay hiệu quả kinh tế theo nghĩa hẹp Ngay cả những đề tài nghiên cứu thuần túy

có tính chất kinh tế- kỹ thuật thì việc áp dụng các kết quả nghiên cứu cũng không chỉ có tác động thuần túy kinh tế - kỹ thuật Chính đặc trưng này mà hoạt động KH nói chung và NCKH nói riêng phải được điều chỉnh bằng hệ thống pháp lý đặc thù, trong đó có lợi ích kinh tế, văn hóa, xã hội nói chung của toàn xã hội, nâng cao trách nhiệm của xã hội, trách nhiệm công dân của nhà nghiên cứu đối với việc sáng tạo ra và áp dụng các kết quả nghiên cứu

e Đặc trưng về tính độc đáo của cá nhân và sự trung thực của người nghiên cứu (tính

cá nhân)

Thành công hay thất bại của một công trình nghiên cứu khoa học phụ thuộc rất lớn vào tài năng, sự kiên trì, say mê, khám phá sáng tạo của một hay một số cá nhân người nghiên cứu Sự khám phá, vượt trội của mỗi cá nhân trong mỗi giai đoạn lịch sử, trong mỗi công trình nghiên cứu là điểm cuốn hút những cá nhân khác trong nghiên cứu khoa học Mặc dù đồng nghiệp và tập thể khoa học có vai trò quan trọng trong phản biện, thẩm định, góp ý đối với các ý tưởng, các hướng nghiên cứu mà cá nhân đi tiên phong đã vạch

ra Một nhà khoa học giỏi là một nhà khoa học luôn luôn chú ý lắng nghe Sẵn sàng tranh luận, biết bảo vệ ý kiến cá nhân, nhạy bén trong nhận dạng bất đồng trong tranh luận với đồng nghiệp và tập thể để từ đó mà khám phá, sáng tạo vươn lên khẳng định từng bước uy tín khoa học của mình

Khoa học luận ngày nay coi uy tín nhà khoa học là một tập hợp các tiêu chí định tính

và định lượng nói lên phẩm chất, năng lực, cống hiến của một nhà khoa học cho nhân loại Các tiêu chí đó bao gồm: số lượng và chất lượng các công trình, các đề tài nghiên cứu đã hoàn thành, được công bố hay áp dụng, số lượng, chất lượng và trình độ học vấn các học viên do nhà khoa học đào tạo, trình độ chuyên môn được đào tạo, được thừa nhận, phong tặng thể hiện qua học vị và chức danh khoa học, sức khỏe và lòng say mê nghiên cứu, ý thức và trách nhiệm của công dân v.v…

1.2.5 Phân loại khoa học và nghiên cứu khoa học

a.Phân loại khoa học

Trang 10

Tuỳ thuộc vào đối tượng nghiên cứu, có thể phân khoa học thành nhiều loại khác nhau Đối với nước ta, cách phân loại phổ biến được sử dụng đó là cách phân loại của Các Mác và cách phân loại của UNESCO chia khoa học ra thành 5 nhóm:

- Khoa học tự nhiên và khoa học chính xác

- Khoa học kỹ thuật

- Khoa học nông nghiệp

- Khoa học y học

- Khoa học xã hội và nhân văn

Một số khoa học tự nhiên như: sinh học, hóa học, vật lý v.v… liên quan đến thế giới vật thể và thế giới vật chất như: đất đai, cây cối, hóa chất, máu, điện v.v…Khoa học tự nhiên là nền tảng của khoa học công nghệ mới và được quảng bá rộng rãi, công khai Khoa học kỹ thuật là những tri thức, biện pháp tác động để cải tạo đối tượng Đó là các công nghệ mới, những giải pháp kỹ thuật hữu ích mới trong lao động sản xuất, và đời sống Khoa học xã hội như nhân chủng học, chính trị học, tâm lý học, kinh tế học v.v… liên quan đến nghiên cứu con người, tín ngưỡng, hành vi tương tác của họ và các định chế

….đôi khi có một số người gọi đây là “khoa học mềm”.v.v…

b Phân loại nghiên cứu khoa học

b1 Nghiên cứu cơ bản: (Foundation Reseach): là những hoạt động nghiên cứu tìm

ra những quy luật chung, hướng đi lớn Kết quả của nghiên cứu cơ bản thường là các phát minh, phát hiện (toàn bộ hoặc bổ sung mới) Sản phẩm của nghiên cứu cơ bản thường được thể hiện dưới dạng các phạm trù, các định luật, công thức sơ đồ v.v… phản ánh bản chất, các quy luật vận động, biến đổi của các đối tượng được khảo sát

Ví dụ: Nghiên cứu về nguồn gốc sự sống, tế bào mầm, nghiên cứu hệ thống giáo dục quốc dân, nghiên cứu mô hình kinh tế, nghiên cứu vật lý hóa học v.v…

Nghiên cứu cơ bản do đặc tính nói trên đóng vai trò là tiền đề, điểm xuất phát cho các nghiên cứu tiếp theo Các kết quả nghiên cứu cơ bản thường tồn tại lâu dài với thời gian Chúng được hoàn chỉnh bổ sung suốt một thời gian dài trong khuôn mẫu trình độ phát hiện mới ra đời, một cuộc cách mạng trong nhận thức diễn ra trong một ngành hay một hướng nghiên cứu nào đó, những tri thức trước đó cũng chỉ có thể bị, được coi là vượt qua, nó không thể bị coi là bị lọai bỏ, khi ấy nó trở thành tri thức cơ bản, phổ thông, nằm trong mặt bằng trình độ dân trí v.v…

Nghiên cứu cơ bản được chia thành hai loại: nghiên cứu cơ bản định hướng và nghiên cứu cơ bản tự do Nghiên cứu cơ bản định hướng là nhắm vào một số mục đích ứng dụng nào đó Nghiên cứu cơ bản tự do (hay thuần túy) là những nghiên cứu cơ bản chưa nhằm vào mục đích ứng dụng nào Cùng với tiến trình lịch sử, số lượng và tỉ trọng các đề tài thuộc nhóm nghiên cứu cơ bản tự do ngày càng giảm đi đáng kể

b2 Nghiên cứu ứng dụng: (Applied Reseach): Đây là những nghiên cứu dựa trên

các kết quả nghiên cứu cơ bản nhằm tạo ra các giá trị tri thức mới về các giải pháp tác động, các nguyên lý vận dụng quy luật, các nguyên lý công nghệ, nguyên lý chế tạo sản phẩm mới v.v…

Công việc này thu hút đông đảo nhất các nhà khoa học với xu hướng là đưa các kết quả nghiên cứu cơ bản vào phục vụ xã hội lòai người, không có họ mọi nghiên cứu khoa học đều vô nghĩa Tuy nhiên, ở đây các kết quả nghiên cứu vẫn còn trong phòng thí nghiệm, nó còn một khoảng cách khá xa để đến với xã hội bởi vì tính kinh tế, tính thuận tiện, tính địa phương cũng như khả năng sản xuất hàng lọat chưa cho phép

Trang 11

b3 Nghiên cứu khai triển, phát triển: (Development Reseach): Nghiên cứu khai

triển, phát triển là những nghiên cứu dựa trên kết quả của nghiên cứu ứng dụng nhằm sáng tạo những tri thức mới về công nghệ, giải pháp kĩ thuật mới, các quy định cụ thể về phương pháp, cách thức tác động với đối tượng Nghiên cứu triển khai được chia thành 2 giai đoạn: triển khai thí điểm (sản xuất thử) và triển khai đại trà Cả hai loại này đều có chung mục đích là nhằm chỉnh lý, sửa đổi những thông số kỹ thuật, điều chỉnh các tiêu chuẩn công nghệ đã được tính toán

b4 Nghiên cứu dự báo: (Forecast Reseach): Ngày càng xuất hiện những nhà khoa

học nghiên cứu, phán đoán những vấn đề trong tương lai thuộc nhiều lĩnh vực: xã hội, môi trường, dân số, kiến trúc v.v…Những nghiên cứu của họ xuất phát từ những sự kiện hiện tại, sự tiến triển có lô gích, có hệ thống trong lịch sử, những tính tóan và suy luận khoa học Những công trình của họ ý nghĩa quan trọng cho xã hội loài người, giúp cho con người có cái nhìn rộng hơn, xa hơn định hướng cho sự phát triển xã hội của ngành mình…cũng như tránh những hiểm họa có thể có do chính con người gây ra

Những công trình nghiên cứu dự báo cũng có ý nghĩa đối với sự nghiệp giáo dục, không chỉ riêng ở quốc gia nào Bởi trong sự phát triển chung của xã hội, cũng hư trong

sự đòi hỏi của chính sự nghiệp giáo dục Hiện nay có rất nhiều các công trình nghiên cứu

dự báo về nội dung, hình thức tổ chức giáo dục, phương tiện và phương pháp giáo dục trong tương lai v.v…

1.2.6 Ngụy khoa học

Sự phát triển của khoa học thường phải đi đôi với một phong trào khoa học giả tạo, hay ngụy khoa học với những tư tưởng, quan điểm là những lí lẽ mà bề ngoài xem ra có

vẻ đúng, hợp lí, nhưng sự thật là sai, rút ra những kết luận xuyên tạc sự thật

a Đặc điểm ngụy khoa học

1 Giới ngụy khoa học thường có khuynh hướng xem nhẹ sự thật và cơ sở lập luận Những nhà viết tiểu thuyết hay sáng chế ra những "sự thật ma" (Norman Mailer gọi là

"factoid" (tức giống-sự-thật) ), không cần tìm hiểu thực tế Cách làm việc đó lại được giới làm ngụy khoa học trân trọng

Nhà ngụy khoa học chẳng cần tốn công đi vào thực tế để thu thập dữ kiện (data) thật

mà chỉ đưa ra những dữ kiện ma, và từ đó đúc kết thành kết luận Đưa ra kết luận, không cần phải duyệt lại kết luận đó đúng hay sai Sách của giới ngụy khoa học thì chẳng bao giờ thay đổi, cứ hết tháng này sang năm nọ, những dữ kiện ma, và kết luận cứng như đá

2 Phương pháp làm việc: mang tính rời rạc, chấp nối Cắt xén một mớ bản tin trong các tờ báo dành cho công chúng, Thu thập những tin đồn, Đọc những tài liệu ngụy khoa học, hay trích dẫn từ truyền thuyết hay những chuyện thần thoại

Không kiểm tra nguồn gốc và tính chính xác của tài liệu sử dụng

Không làm những cuộc điều tra khoa học có hệ thống và độc lập

Kết luận trước khi thu thập dữ kiện

3 Giới ngụy khoa học đi liền giả thuyết cảm tính: giả thuyết có thể làm hấp dẫn và kích động công chúng

Tìm bất cứ dữ kiện, tin tức nào – làm nền tảng cho niềm tin đó Bỏ qua những bằng chứng nào mâu thuẫn với niềm tin của họ Nói rõ hơn, giới ngụy khoa học cố gắng hợp lí hóa những niềm tin, thiếu kiên nhẫn, sẵn sàng đi tới kết luận đã có sẵn, và sẵn sàng nghiền nát những trục ý thức hệ khác mình

4 Ngụy khoa học hoàn toàn không quan tâm đến những tiêu chuẩn về bằng chứng

Trang 12

Không làm những thử nghiệm có ý thức và có phương pháp để thu thập dữ kiện; Dựa vào những nguồn tin không kiểm chứng được, những đồn đại, v.v…Không đề cập đến những tài liệu khoa học xác thực trong các tập san khoa học chuyên môn Nói chung, giới làm ngụy khoa học không thể hiện những bằng chứng khoa học với những tiêu chuẩn khắt khe để làm nền tảng cho những kết luận

5 Ngụy khoa học dựa vào những giá trị chủ quan

Trong mỗi giai đoạn có một số phương pháp thu thập kiến thức tương ứng Trước khi khoa học ra đời; người ta thường hay dựa vào ý kiến của những người có thẩm quyền, như Jesus chẳng hạn, để giải thích sự kiện Ngày nay, phương pháp thông dụng nhất, ít ra

là trong thế giới văn minh, là phương pháp khoa học: có thể phán xét dựa vào dữ kiện được thu thập một cách khách quan

6 Ngụy khoa học đơn giản hóa vấn đề quá mức

Đơn giản hóa vấn đề thành những trắng/đen, có/không, đúng/sai, bạn/thù, và từ đó khái quát hóa cho xã hội Đưa ra những thông tin không đầy đủ về thiên nhiên, hơn là dựa vào những gì mà người ta biết được hiện tại

7 Ngụy khoa học không đưa ra những nhận định dựa vào thử nghiệm

Ngụy khoa học không làm những thí nghiệm, điều tra cẩn thận, có phương pháp

8 Ngụy khoa học không cần phân tích thống kê

•Những sự kiện xảy ra hàng ngày luôn thay đổi

Ngụy khoa học, chỉ một bằng chứng là đủ, không cần phải thu thập thêm bằng chứng; hay có thu thập thêm, nhưng không phân tích dữ kiện bằng các phương pháp toán học và thống kê học, vì những phương pháp này quá … phức tạp

b So sánh ngụy khoa học và khoa học

Tất cả những phát hiện, khám phá của khoa học

được lưu truyền chủ yếu trong các tập san

chuyên khoa, những tập san này được giới

chuyên môn quản lí và điều hành Các báo cáo

được chấp nhận công bố đều được kiểm tra về

sự chính xác và phương pháp, bằng những tiêu

chuẩn khoa học, do đó phẩm chất của chúng

khá cao và đáng tin cậy

Tài liệu của ngụy khoa học chủ yếu nhắm vào công chúng Vì nhắm vào công chúng nên giới ngụy khoa học thường đăng bài ở những tạp chí dành cho người không chuyên môn, và do

đó, bài báo không có kiểm tra về phương pháp hay tính chính xác

Mọi kết quả nghiên cứu đều phải có khả năng

tái xác nhận Nói một cách khác, giả sử có một

nghiên cứu đã được công bố bởi một nhà khoa

học nào đó; nếu một nhà nghiên cứu khác lặp

lại nghiên cứu đó bằng những phương pháp và

với điều kiện đã được mô tả, phải đạt được

những kết quả tương tự

Kết quả không có khả năng lặp lại hay kiểm tra Mọi "nghiên cứu," nếu có, thường được mô tả một cách mù mờ,

ỡm ờ, để cố tình không cho người khác biết rõ là họ đã làm gì và làm bằng cách nào

Đối với các nhà khoa học, tất cả những thất bại

đều được khai thác, xem xét kỹ lưỡng để học

hỏi từ đó Những lí thuyết sai lầm có thể cho ra

những kết quả đúng nhưng ngẫu nhiên; tuy

nhiên, không một lí thuyết đúng nào có thể cho

Đối với giới làm ngụy khoa học, những thất bại thường được bỏ qua, dấu đi, hay chối bỏ

Trang 13

ra những kết quả sai lầm

Thuyết phục bằng bằng chứng, bằng lí luận dựa

vào logic hay lập luận của toán học, bằng cách

dựa vào dữ kiện, không đi ra ngoài dữ kiện

Thuyết phục bằng niềm tin và sự trung thành Ngụy khoa học có một yếu tố tôn giáo; nó cố gắng cải đạo, chứ không thuyết phục Nó đòi hỏi người ta phải tin, mặc kệ cho sự thật có đi ngược lại niềm tin

Theo thời gian, các nhà khoa học tìm tòi và học

hỏi thêm và duyệt lại những kết luận hay lí

thuyết cũ Một khi bằng chứng mới mâu thuẫn

Không nhắm vào danh vọng và thị trường kinh

tế hay chính trị Giới ngụy khoa học sống nhờ vào việc buôn bán những sản phẩm đáng ngờ

(sách, báo, dầu ăn, v.v.) hay xuất hiện trên đài phát thanh, đài phát hình để tìm đến danh vọng và ủng hộ chính trị

Ý nghĩa thực tế của danh hiệu khoa học, nhà khoa học, NCKH

Đó không phải là những phù hiệu, những tên gọi tự phong Mà là những việc làm thực tiễn, những ý nghĩ hay sáng kiến mới

Muốn có những sáng kiến mới và làm nghiên cứu thực tế, nhà khoa học phải làm việc một cách gian khổ, lâu dài, không vụ lợi

Khoa học là đỉnh cao của sự chính trực, công bằng, và hợp lí

Người ta cần phải có một sự cố gắng tột bực mới đến gần hay đứng trên đó được, và càng phải cố gắng hơn để ở được cái vị trí ấy

Khi nhà khoa học buông lỏng , uể oải dễ dàng trượt sang ngụy khoa học

Khẳng định sự khác biệt giữa khoa học và ngụy khoa học, làm căn cứ nhận định cho các bài viết được công bố và xây dựng thái độ NCKH nghiêm túc có hiệu quả Đồng thời tránh rơi vào ngụy khoa học

1.3 Các khái niệm khác

1.3.1 Khái niệm

“Khái niệm” là quá trình nhận thức hay tư duy của con người bắt đầu từ những tri giác hay bằng những quan sát sự vật hiện thực tác động vào giác quan Như vậy, “khái

niệm” có thể hiểu là hình thức tư duy của con người về những thuộc tính, bản chất của

sự vật và mối liên hệ của những đặc tính đó với nhau

Người NCKH hình thành các “khái niệm” để tìm hiểu mối quan hệ giữa các "khái niệm" với nhau, để phân biệt sự vật này với sự vật khác và để đo lường thuộc tính bản chất của sự vật hay hình thành "khái niệm" nhằm mục đích xây dựng cơ sở lý luận

Phán đoán

Trong nghiên cứu, người ta thường vận dụng các khái niệm để phán đoán hay tiên đoán Phán đoán là vận dụng các khái niệm để phân biệt, so sánh những đặc tính, bản chất của sự vật và tìm mối liên hệ giữa đặc tính chung và đặc tính riêng của các sự vật đó

Suy luận

Có 2 cách suy luận: suy luận “suy diễn” và suy luận “qui nạp"

Cách suy luận suy diễn

Trang 14

Theo Aristotle, kiến thức đạt được nhờ sự suy luận Muốn suy luận phải có tiền đề

và tiền đề đó đã được chấp nhận Vì vậy, một tiền đề có mối quan hệ với kết luận rất rõ ràng

Suy luận suy diễn theo Aristotle là suy luận đi từ cái chung tới cái riêng, về mối quan hệ đặc biệt

Bảng 1: Thí dụ về suy luận suy diễn

Tiền đề chính Tất cả sinh viên đi học đều đặn

Tiền đề phụ Nam là sinh viên

Kết luận Nam đi học đều đặn

Suy luận qui nạp

Vào đầu những năm 1600s, Francis Bacon đã đưa ra một phương pháp tiếp cận khác về kiến thức, khác với Aristotle Ông cho rằng, để đạt được kiến thức mới phải đi từ thông tin riêng để đến kết luận chung, phương pháp này gọi là phương pháp qui nạp Phương pháp này cho phép chúng ta dùng những tiền đề riêng, là những kiến thức đã được chấp nhận, như là phương tiện để đạt được kiến thức mới

Bảng 2: Thí dụ về suy luận qui nạp

Tiền đề chính Nam, Bắc, Đông và Tây tham dự lớp đều đặn

Tiền đề phụ Nam, Bắc, Đông và Tây đạt được điểm cao

Kết luận Sinh viên tham dự lớp đều đặn thì đạt được điểm cao

Ngày nay, các nhà nghiên cứu đã kết hợp hai phương pháp trên hay còn gọi là

“phương pháp khoa học” (Bảng 3) Phương pháp khoa học cần phải xác định tiền đề

chính (gọi là giả thuyết) và sau đó phân tích các kiến thức có được (nghiên cứu riêng) một cách logic để kết luận giả thuyết

nghi ngờ)

Nhóm 1 Nam, Bắc, Đông và Tây đạt được điểm 9 và 10 Nhóm 2 Lan, Anh, Kiều và Vân đạt được điểm 5 và 6 Kết luận Sinh viên tham dự lớp đều đặn thì đạt được điểm cao so với

không tham dự lớp đều đặn (Vì vậy, tiền đề chính hoặc giả thiết được công nhận là đúng)

1.3.2 Khái niệm đề tài

Đề tài là một hình thức tổ chức NCKH do một người hoặc một nhóm người thực hiện Một số hình thức tổ chức nghiên cứu khác không hoàn toàn mang tính chất nghiên cứu khoa học, chẳng hạn như: chương trình, dự án, đề án

Sự khác biệt giữa các hình thức NCKH này như sau:

* Đề tài: được thực hiện để trả lời những câu hỏi mang tính học thuật, có thể chưa để ý

đến việc ứng dụng trong hoạt động thực tế

* Dự án: được thực hiện nhằm vào mục đích ứng dụng, có xác định cụ thể hiệu quả về

kinh tế và xã hội Dự án có tính ứng dụng cao, có ràng buộc thời gian và nguồn lực

Trang 15

* Đề án: là loại văn kiện, được xây dựng để trình cấp quản lý cao hơn, hoặc gởi cho một

cơ quan tài trợ để xin thực hiện một công việc nào đó như: thành lập một tổ chức; tài trợ cho một hoạt động xã hội, Sau khi đề án được phê chuẩn, sẽ hình thành những dự án, chương trình, đề tài theo yêu cầu của đề án

* Chương trình: là một nhóm đề tài hoặc dự án được tập hợp theo một mục đích xác

định Giữa chúng có tính độc lập tương đối cao Tiến độ thực hiện đề tài, dự án trong chương trình không nhất thiết phải giống nhau, nhưng nội dung của chương trình thì phải đồng bộ

1.3.3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu

* Đối tượng nghiên cứu: là bản chất của sự vật hay hiện tượng cần xem xét và làm rõ

trong nhiệm vụ nghiên cứu

* Phạm vi nghiên cứu: đối tượng nghiên cứu được khảo sát trong trong phạm vi nhất

định về mặt thời gian, không gian và lãnh vực nghiên cứu

1.3.4 Mục đích và mục tiêu nghiên cứu

Khi viết đề cương nghiên cứu, một điều rất quan trọng là làm sao thể hiện được

mục tiêu và mục đích nghiên cứu mà không có sự trùng lấp lẫn nhau Vì vậy, cần thiết

để phân biệt sự khác nhau giữa mục đích và mục tiêu

* Mục đích: là hướng đến một điều gì hay một công việc nào đó trong nghiên cứu mà

người nghiên cứu mong muốn để hoàn thành, nhưng thường thì mục đích khó có thể đo lường hay định lượng Nói cách khác, mục đích là sự sắp đặt công việc hay điều gì đó được đưa ra trong nghiên cứu Mục đích trả lời câu hỏi “nhằm vào việc gì?”, hoặc “để phục vụ cho điều gì?” và mang ý nghĩa thực tiễn của nghiên cứu, nhắm đến đối tượng phục vụ sản xuất, nghiên cứu

* Mục tiêu: là thực hiện điều gì hoặc hoạt động nào đó cụ thể, rõ ràng mà người nghiên

cứu sẽ hoàn thành theo kế hoạch đã đặt ra trong nghiên cứu Mục tiêu có thể đo lường hay định lượng được Nói cách khác, mục tiêu là nền tảng hoạt động của đề tài và làm cơ sở cho việc đánh giá kế hoạch nghiên cứu đã đưa ra, và là điều mà kết quả phải đạt được Mục tiêu trả lời câu hỏi “làm cái gì?”

Ví dụ: phân biệt giữa mục đích và mục tiêu của đề tài sau đây

Đề tài: “Ảnh hưởng của phân N đến năng suất lúa Hè thu trồng trên đất phù sa ven sông

ở Đồng Bằng Sông Cửu Long”

Mục đích của đề tài: Để tăng thu nhập cho người nông dân trồng lúa

Mục tiêu của đề tài:

1 Tìm ra được liều lượng bón phân N thích hợp cho lúa Hè thu

2 Xác định được thời điểm và cách bón phân N thích hợp cho lúa Hè thu

1.3.5 Vấn đề nghiên cứu khoa học

Trang 16

a Bản chất của quan sát

Bản chất của quan sát thường đặt ra những câu hỏi, từ đó đặt ra “vấn đề” nghiên cứu cho nhà khoa học và người nghiên cứu Câu hỏi đặt ra phải đơn giản, cụ thể, rõ ràng (xác định giới hạn, phạm vi nghiên cứu) và làm sao có thể thực hiện thí nghiệm để kiểm chứng, trả lời

Thí dụ, câu hỏi: “Có bao nhiêu cây cao su trên lô cua gia đình anh A?” Câu trả lời được thực hiện đơn giản bằng cách đếm số lượng cây hiện diện ở lô đó Nhưng một câu hỏi khác đặt ra: “Tại sao cây cao su ở lô anh A sinh trưởng không tốt?” Rõ ràng cho thấy rằng, trả lời câu hỏi này thực sự hơi khó thực hiện, thí nghiệm khá phức tạp vì phải tiến hành điều tra, nghiên cứu nhiều yếu tố khác nhau

Cách đặt câu hỏi thường bắt đầu như sau: Làm thế nào, bao nhiêu, xảy ra ở đâu,

nơi nào, khi nào, ai, tại sao, cái gì, …? Đặt câu hỏi hay đặt “vấn đề” nghiên cứu là cơ sở giúp nhà khoa học chọn chủ đề nghiên cứu (topic) thích hợp Sau khi chọn chủ đề nghiên cứu, một công việc rất quan trọng trong phương pháp nghiên cứu là thu thập tài liệu tham khảo (tùy theo loại nghiên cứu mà có phương pháp thu thập thông tin khác nhau)

b Phân loại “vấn đề” nghiên cứu khoa học

Sau khi đặt câu hỏi và “vấn đề” nghiên cứu khoa học đã được xác định, công việc tiếp theo cần biết là “vấn đề” đó thuộc loại câu hỏi nào Thông thường, “vấn đề” được thể hiện trong 3 loại câu hỏi như sau:

- Câu hỏi thuộc loại thực nghiệm

- Câu hỏi thuộc loại quan niệm hay nhận thức

- Câu hỏi thuộc loại đánh giá

* Câu hỏi thuộc loại thực nghiệm

Câu hỏi thuộc loại thực nghiệm là những câu hỏi có liên quan tới các sự kiện đã xảy ra hoặc các quá trình có mối quan hệ nhân-quả về thế giới của chúng ta Để trả lời câu hỏi loại này, chúng ta cần phải tiến hành quan sát hoặc làm thí nghiệm, hoặc hỏi các chuyên gia, hay nhờ người làm chuyên môn giúp đỡ Câu hỏi thuộc loại này có trong các lĩnh vực như sinh học, vật lý, hóa học, nông lâm ngư,…

Ví dụ: Cây lúa cần bao nhiêu phân N để phát triển tốt? Loại đất nào thích hợp nhất

cho cây keo lai? Một số câu hỏi có thể không có câu trả lời nếu như không tiến hành thực nghiệm Ví dụ, loài người có tiến hóa từ các động vật khác hay không? Câu hỏi này có thể được trả lời từ các NCKH nhưng phải hết sức cẩn thận, và chúng ta không có đủ cơ sở và hiểu biết để trả lời câu hỏi này Tất cả các kết luận phải dựa trên độ tin cậy của số liệu thu thập trong quan sát và thí nghiệm Những suy nghĩ đơn giản, nhận thức không thể trả lời câu hỏi thuộc loại thực nghiệm này mà chỉ trả lời cho các câu hỏi thuộc về loại quan niệm

* Câu hỏi thuộc loại quan niệm hay nhận thức

Loại câu hỏi này có thể được trả lời bằng những nhận thức một cách logic, hoặc

chỉ là những suy nghĩ đơn giản cũng đủ để trả lời mà không cần tiến hành thực nghiệm hay quan sát Ví dụ “Tại sao cây trồng cần ánh sáng?” Suy nghĩ đơn giản ở đây được hiểu là có sự phân tích nhận thức và lý lẽ hay lý do, nghĩa là sử dụng các nguyên tắc, qui luật, pháp lý trong xã hội và những cơ sở khoa học có trước Cần chú ý sử dụng các qui luật, luật lệ trong xã hội đã được áp dụng một cách ổn định và phù hợp với “vấn đề” nghiên cứu

* Câu hỏi thuộc loại đánh giá

Trang 17

Câu hỏi thuộc loại đánh giá là câu hỏi thể hiện giá trị và tiêu chuẩn Câu hỏi này

có liên quan tới việc đánh giá các giá trị về đạo đức hoặc giá trị thẩm mỹ Để trả lời các

câu hỏi loại này, cần hiểu biết nét đặc trưng giữa giá trị thực chất và giá trị sử dụng Giá

trị thực chất là giá trị hiện hữu riêng của sự vật mà không lệ thuộc vào cách sử dụng Giá trị sử dụng là sự vật chỉ có giá trị khi nó đáp ứng được nhu cầu sử dụng và nó bị

đánh giá không còn giá trị khi nó không còn đáp ứng được nhu cầu sử dụng nữa Ví dụ:

“Thế nào là rừng tự nhiên giàu, rừng tự nhiên nghèo?”

1.3.6 Cách phát hiện “vấn đề” nghiên cứu khoa học

Các “vấn đề” nghiên cứu khoa học thường được hình thành trong các tình huống sau:

Quá trình nghiên cứu, đọc và thu thập tài liệu nghiên cứu giúp cho nhà khoa học

phát hiện hoặc nhận ra các “vấn đề” và đặt ra nhiều câu hỏi cần nghiên cứu (phát triển

“vấn đề” rộng hơn để nghiên cứu) Đôi khi người nghiên cứu thấy một điều gì đó chưa rõ trong những nghiên cứu trước và muốn chứng minh lại Đây là tình huống quan trọng nhất để xác định “vấn đề” nghiên cứu

Trong các hội nghị chuyên đề, báo cáo khoa học, kỹ thuật, … đôi khi có những

bất đồng, tranh cãi và tranh luận khoa học đã giúp cho các nhà khoa học nhận thấy được những mặt yếu, mặt hạn chế của “vấn đề” tranh cãi và từ đó người nghiên cứu nhận định, phân tích lại và chọn lọc rút ra “vấn đề” cần nghiên cứu

Trong mối quan hệ giữa con người với con người, con người với tự nhiên, qua

hoạt động thực tế lao động sản xuất, yêu cầu kỹ thuật, mối quan hệ trong xã hội, cư xử, … làm cho con người không ngừng tìm tòi, sáng tạo ra những sản phẩm tốt hơn nhằm phục

vụ cho nhu cầu đời sống con người trong xã hội Những hoạt động thực tế này đã đặt ra cho người nghiên cứu các câu hỏi hay người nghiên cứu phát hiện ra các “vấn đề” cần nghiên cứu

“Vấn đề” nghiên cứu cũng được hình thành qua những thông tin bức xúc, lời nói

phàn nàn nghe được qua các cuộc nói chuyện từ những người xung quanh mà chưa giải thích, giải quyết được “vấn đề” nào đó

Các “vấn đề” hay các câu hỏi nghiên cứu chợt xuất hiện trong suy nghĩ của các

nhà khoa học, các nhà nghiên cứu qua tình cờ quan sát các hiện tượng của tự nhiên, các hoạt động xảy ra trong xã hội hàng ngày (I Newton nhìn thấy hiện tượng táo rụng và đã phát hiện ra định luật vạn vật hấp dẫn)

Tính tò mò của nhà khoa học về điều gì đó cũng đặt ra các câu hỏi hay “vấn đề” nghiên cứu

CHƯƠNG 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU KHOA HỌC

Phương pháp nghiên cứu khoa học là phạm trù trung tâm của phương pháp nghiên cứu; là điều kiện đầu tiên, cơ bản nhất của nghiên cứu khoa học Tât cả tính nghiêm túc của NCKH phụ thuộc vào phương pháp Phương pháp nắm trong tay vận mệnh của cả công trình nghiên cứu Phương pháp đúng, phù hợp là nhân tố đảm bảo cho sự thành công của người nghiên cứu và là điều kiện cơ bản quyết định để hoàn thành thắng lợi công trình nghiên cứu

Kết quả giải quyết các nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài phụ thuộc vào phương pháp luận, phương pháp hệ mà trực tiếp vào các phương pháp nghiên cứu cụ thể được tổ chức

và thực hiện một cách nghiêm túc và khoa học Do đó, đòi hỏi người nghiên cứu cần tiếp

Trang 18

cận đúng đắn với đối tượng, biết tìm, chọn, sử dụng các phương pháp nghiên cứu thích hợp, hiệu nghiệm

2.1 KHÁI NIỆM VỀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU KHOA HỌC

2.1.1 Phương pháp nghiên cứu khoa học là gì?

Dưới góc độ thông tin: Phương pháp nghiên cứu khoa học là cách thức, con đường, phương tiện thu thập, xử lý thông tin khoa học (số liệu, sự kiện) nhằm sáng tỏ vấn đề nghiên cứu để giải quyết nhiệm vụ nghiên cứu và cuối cùng đạt được mục đích nghiên cứu

Nói cách khác: Phương pháp nghiên cứu khoa học là những phương thức thiết lập

và xử lý thông tin khoa học nhằm mục đích thiết lập những mối liên hệ phụ thuộc có tính quy luật và xây dựng lý luận khoa học mới

Dưới góc độ hoạt động: Phương pháp nghiên cứu khoa học là hoạt động có đối tượng, chủ thể (người nghiên cứu) sử dụng đúng thủ thuật, biện pháp, thao tác tác động, khám phá đối tượng nghiên cứu nhằm biến đổi đối tượng theo mục tiêu mà chủ thể tự giác đặt ra để thỏa mãn nhu cầu nghiên cứu của bản thân

Phương pháp nghiên cứu khoa học là tích hợp các phương pháp: phương pháp luận, phương pháp hệ, phương pháp nghiên cứu cụ thể và tuân theo quy luật đặc thù của việc nghiên cứu đề tài khoa học

a Phương pháp luận (Methodology)

Phương pháp luận là lý thuyết về phương pháp nhận thức khoa học thế giới tổng thể, các thủ thuật nghiên cứu hiện thực (nghĩa rộng); là lý luận tổng quát, là những quan điểm chung, là cách tiếp cận đối tượng nghiên cứu (nghĩa hẹp)

Những quan điểm phương pháp luận đúng đắn là kim chỉ nam hướng dẫn người nghiên cứu trên con đường tìm tòi, nghiên cứu; phương pháp luận đóng vai trò chủ đạo, dẫn đường và có ý nghĩa thành bại trong nghiên cứu khoa học

Vậy, phương pháp luận là lý luận về phương pháp, là khoa học về phương pháp Phương pháp luận giải quyết những vấn đề như: phương pháp là gì? Bản chất, hình thức, nội dung phương pháp như thế nào? Phân loại phương pháp ra sao? Vai trò của phương pháp trong hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn của con người thế nào? Do đó, có thể nói cách khác, cụ thể hơn, phương pháp luận là hệ thống những quan điểm, những nguyên tắc xuất phát chỉ đạo chủ thể trong việc xác định phương pháp cũng như trong việc xác định phạm vi, khả năng áp dụng chúng một cách hợp

lý, có hiệu quả tối đa

Chẳng hạn, phương pháp luận toán học có nhiệm vụ nêu ra những quan điểm, nguyên tắc chung chỉ đạo quá trình xác định và áp dụng các phương pháp toán cụ thể như phương pháp tiên đề, phương pháp giả thiết – diễn dịch v.v Hoặc, trong kinh tế, nhiệm vụ của phương pháp luận kinh tế là nghiên cứu các phương pháp kinh tế cụ thể như: phương pháp điều tra chọn mẫu, phương pháp phân tích các hoạt động kinh tế, phương pháp thống kê v.v Trên cơ sở đó, rút ra những quan điểm, nguyên tắc chung chỉ đạo việc áp dụng các phương pháp kinh tế cụ thể như: quan điểm về hiệu quả, quan điểm về đồng bộ, quan điểm về phát triển và tiến bộ xã hội v.v Việc lựa chọn, áp dụng một phương pháp kinh tế cụ thể nào phải xuất phát từ những quan điểm, nguyên tắc chung đó

Như vậy, phương pháp luận và phương pháp là khác nhau Phương pháp luận

là lý luận về phương pháp, là những quan điểm, nguyên tắc xuất phát chỉ đạo chủ thể

Trang 19

xác định phương pháp một cách đúng đắn Còn phương pháp là cách thức, thủ đoạn hoạt động cụ thể cả trong nhận thức và thực tiễn của chủ thể, cái thứ nhất là thuần tuý lý luận, cái thứ hai là cái lý luận được ứng dụng vào thực tiễn Phương pháp luận nghiên cứu phương pháp, nhưng không nhằm mục đích xác định phương pháp cụ thể mà là rút ra những quan điểm, nguyên tắc chung cho việc xác định và áp dụng phương pháp Vì vậy không nên nhầm lẫn giữa phương pháp và phương pháp luận Nhưng phương pháp và phương pháp luận lại thống nhất với nhau ở chỗ, phương pháp luận là cơ sở nghiên cứu các phương pháp cụ thể, còn phương pháp cụ thể phải xuất phát từ quan điểm nguyên tắc của phương pháp luận

Phương pháp luận cũng có các cấp độ khác nhau: phương pháp luận bộ môn, phương pháp luận khoa học chung và phương pháp luận chung nhất - phương pháp luận triết học

Phương pháp luận bộ môn là phương pháp luận của các bộ môn khoa học cụ thể như: phương pháp luận toán học, vật lý học, hoá học, sinh vật học, kinh tế học, công nghệ học v.v Đó là những quan điểm, nguyên tắc xuất phát để xác định các phương pháp cu thể, nhằm giải quyết những vấn đề cụ thể của các bộ môn khoa học đó

Phương pháp luận khoa học chung là những quan điểm, nguyên tắc chung hơn, chỉ đạo việc xác định phương pháp bộ môn hay phương pháp luận của một nhóm các ngành của các bộ môn khoa học có những điểm chung nào đó Ví dụ, phương pháp luận chung của các ngành khoa học tự nhiên hoặc phương pháp luận chung của các ngành khoa học xã hội Phương pháp luận bộ môn nào đó cũng có thể được coi là phương pháp luận khoa học chung nếu bộ môn đó được phát triển và chia thành những bộ môn học độc lập Ví dụ, phương pháp luận toán học trở thành phương pháp luận khoa học chung cho các bộ môn toán học như: số học, hình học, đại số v.v Hay phương pháp luận sinh vật học trở thành phương pháp luận chung cho các

bộ môn sinh học cụ thể khác nhau như tế bào học, vi sinh học v.v

Phương pháp luận chung nhất là phương pháp triết học Nó khái quát những quan điểm, nguyên tắc chung nhất làm xuất phát điểm cho việc xác định các phương pháp luận khoa học chung, phương pháp luận bộ môn và các phương pháp hoạt động cụ thể của nhận thức và thực tiễn

Các phương pháp luận bộ môn, phương pháp luận khoa học chung và phương pháp luận chung nhất hợp thành một hệ thống khoa học về phương pháp chỉ đạo chủ thể nhằm xác định các phương pháp cụ thể một cách đúng đắn Các loại phương pháp luận này vừa độc lập tương đối với nhau, vừa bổ sung cho nhau, thâm nhập vào nhau mặc dù không thể thay thế cho nhau Do đó đòi hỏi chúng ta phải biết vận dụng tổng hợp các loại phương pháp luận, trong đó phép biện chứng duy vật là phương pháp luận chung nhất của nhận thức khoa học và thực tiễn cách mạng

b Phương pháp hệ (Methodica) và phương pháp nghiên cứu cụ thể (Research method)

Phương pháp hệ là nhóm các phương pháp được sử dụng phối hợp trong một lĩnh vực khoa học hay một đề tài cụ thể; là hệ thống các thủ thuật hoặc biện pháp để thực hiện

có trình tự, có hiệu quả một công trình nghiên cứu khoa học

Sử dụng phối hợp các phương pháp là cách tốt nhất để phát huy điểm mạnh và khắc phục chỗ yếu của từng phương pháp Đồng thời chúng hỗ trợ, bổ sung, kiểm tra lẫn nhau trong quá trình nghiên cứu và để khẳng định tính xác thực của luận điểm khoa học

Trang 20

Phương pháp nghiên cứu cụ thể là tổ hợp các cách thức, các thao tác mà người nghiên cứu sử dụng để tác động, khám phá đối tượng, để thu thập và xử lý thông tin nhằm xem xét và lý giải đúng đắn vấn đề nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu gắn chặt với nội dung của các vấn đề nghiên cứu Vì vậy, người nghiên cứu cần tìm tòi, chọn và sử dụng các Phương pháp nghiên cứu phù hợp với đặc điểm đối tượng, mục đích, nhiệm vụ, nội dung nghiên cứu

2.1.2 Đặc trưng cơ bản của phương pháp nghiên cứu khoa học

a Phương pháp nghiên cứu khoa học có mặt chủ quan và khách quan thể hiện sự tương tác biện chứng giữa chủ thể và khách thể trong hoạt động nghiên cứu khoa học

Mặt chủ quan gắn liền với chủ thể nghiên cứu Đó chính là đặc điểm, trình độ, năng lực nhận thức, kinh nghiệm hoạt động sáng tạo, khả năng thực hành…của chủ thể, thể hiện trong việc ý thức được các quy luật vận động của đối tượng và sử dụng chúng để khám phá chính đối tượng và kết quả đạt được sẽ phù hợp với khả năng chủ quan ấy

Mặt khách quan gắn liền với đối tượng nghiên cứu, phản ánh đặc điểm của đối tượng và quy luật khách quan chi phối đối tượng mà chủ thể nghiên cứu phải ý thức được

Nhờ các quy luật khách quan mà người nghiên cứu lựa chọn cách này, cách khác trong hoạt động nghiên cứu, tức là phát hiện ra phương pháp

Sự tương tác hợp quy luật giữa mặt chủ quan (thuộc về chủ thể) và khách quan (thuộc về đối tượng) trong hoạt động nghiên cứu khoa học tạo ra Phương pháp nghiên cứu khoa học hiệu nghiệm

Trong nghiên cứu khoa học cái chủ quan phải tuân thủ cái khách quan Vì vậy chủ thể phải hiểu biết chân thực về đối tượng để trên cơ sở đó tìm ra được những thao tác đúng đắn với đối tượng và hành động chủ quan theo đúng quy luật đó

b Phương pháp nghiên cứu khoa học có tính mục đích, gắn liền với nội dung; chịu sự chi phối của mục đích và nội dung; bản thân phương pháp có chức năng phương tiện để thực hiện mục đích và nội dung

Tính mục đích của phương pháp là nét đặc trưng cơ bản nổi bật nhất của nó Mục đích nào, phương pháp ấy; mục đích chỉ đạo việc tìm tòi và lựa chọn phương pháp nghiên cứu Muốn cho phương pháp nghiên cứu được hiệu nghiệm, hoạt động thành công cần đảm bảo được hai điều: Xác định mục đích và tìm được phương pháp thích hợp với mục đích

Nội dung nào, phương pháp ấy Sự thống nhất của nội dung và phương pháp thể hiện ở lôgic phát triển của bản thân đối tượng nghiên cứu Đúng như Heghen đã khẳng định: phương pháp là ý thức về hình thức của sự tự vận động bên trong của nội dung

Mối quan hệ của mục đích, nội dung, phương pháp nghiên cứu được diễn ra theo quy luật: mục đích (M) và nội dung (N) quy định phương pháp (P); còn phương pháp là phương tiện thực hiện nội dung để đạt mục đích

Trong nghiên cứu khoa học người nghiên cứu cần tìm, chọn được phương pháp phù hợp và thống nhất với mục đích và nội dung, tức là bảo đảm nhất quán sự thống nhất biện chứng của mục đích, nội dung và phương pháp nghiên cứu khoa học

c Phương pháp nghiên cứu khoa học là một hoạt động có kế hoạch, được tổ chức hợp lý, có cấu trúc đa cấp biểu hiện ở tính hệ thống và tính kế hoạch rõ hơn

Phương pháp nghiên cứu khoa học là một hoạt động có kế hoạch được tổ chức một cách hợp lý: hoạt động (có mục đích chung: M) gồm nhiều hành động A1…An (có mục đích riêng – chính là mục tiêu: MA1…MAn); mỗi hành động lại gồm nhiều thao tác: t1…tn (thao tác không có mục đích)

Trang 21

Để đạt mục đích chung, người nghiên cứu phải thực hiện một loạt các hành động với những hệ thống lôgic chặt chẽ được sắp xếp theo một trình tự xác định và có kế hoạch

rõ hơn (được gọi là Algorithm của phương pháp)

Trong nghiên cứu khoa học, người nghiên cứu cần đề ra kế hoạch và thi công đúng đắn, thành thạo cấu trúc công nghệ của phương pháp (Algorithm của phương pháp) Nói cách khác: người nghiên cứu biết tổ chức hợp lý cấu trúc bên trong của phương pháp và triển khai quy trình đó một cách có tính hệ thống Đây là mặt kỹ thuật của phương pháp nghiên cứu

d Phương pháp nghiên cứu khoa học luôn cần có các công cụ, các phương tiện

kỹ thuật hỗ trợ

Tùy theo yêu cầu của phương pháp nghiên cứu mà chọn các phương tiện phù hợp, đôi khi phải tạo ra các công cụ đặc biệt để nghiên cứu đối tượng Phương tiện kỹ thuật hiện đại tạo điều kiện thuận lợi cho việc thực hiện các phương pháp nghiên cứu và đảm bảo cho quá trình nghiên cứu đạt tới trình độ chính xác và độ tin cậy cao

2.1.3 Phân loại phương pháp nghiên cứu khoa học

Các phương pháp nghiên cứu khoa học rất phong phú và đa dạng Sự phân loại hợp lý các PPNCKH là cơ sở khoa học cho việc tìm, chọn, vận dụng và sáng tạo phong phú của người nghiên cứu

Trong thực tế, có nhiều cách phân loại phương pháp nghiên cứu khoa học dựa trên những dấu hiệu khác nhau:

a Phân loại dựa theo lý thuyết thông tin về quy trình nghiên cứu một đề tài khoa học chia thành ba nhóm:

- Nhóm phương pháp thu thập thông tin;

- Nhóm phương pháp xử lý thông tin;

- Nhóm phương pháp trình bày thông tin

b Phân loại dựa theo tính chất và trình độ nhận thức chia thành hai nhóm:

- Nhóm phương pháp nghiên cứu lý thuyết;

- Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn

Ngoài ra, người ta còn bổ sung vào cách phân loại này nhóm phương pháp toán học

c Phân loại theo lô gic của nghiên cứu khoa học (theo vòng khâu trọn vẹn của hoạt

động hay công việc của người nghiên cứu), có thể chia phương pháp nghiên cứu khoa học thành 8 nhóm phương pháp:

(1) Nhóm phương pháp nghiên cứu lý thuyết

(2) Nhóm phương pháp lập kế hoạch nghiên cứu

(3) Nhóm phương pháp tổ chức nghiên cứu

(4) Nhóm phương pháp thu thập thông tin

(5) Nhóm phương pháp xử lý số liệu

(6) Nhóm phương pháp lý giải các số liệu

(7) Nhóm phương pháp kiểm tra trong thực tiễn

(8) Nhóm phương pháp liên hệ giả thuyết với các phương thức nghiên cứu

(1) Giai đoạn chuẩn bị các phương pháp

- PPNC lý thuyết (nghiên cứu tài liệu, sách báo)

- Phương pháp tìm hiểu bước đầu về đối tượng (gồm các phương pháp: quan sát, trò chuyện, bảng câu hỏi v.v…)

Trang 22

Kết thúc giai đoạn đầu tiên này cần đạt được những yêu cầu: đặt trước được cơ sở lý luận của đề tài, hình thành những giả thuyết cơ bản, xác định rõ đối tượng và dự đoán về các thuộc tính của đối tượng nghiên cứu, xây dựng mô hình lý thuyết ban đầu và những luận điểm xuất phát để xây dựng những phương pháp nghiên cứu cụ thể của đề tài

(2) Giai đoạn xây dựng phương pháp nghiên cứu gồm:

a) Phương pháp tổ chức nghiên cứu (có tính quyết định) – đó là những phương pháp xác định chiến lược và phương hướng nghiên cứu ở tất cả các giai đoạn và cả quá trình nghiên cứu

Theo Tiến sĩ B.B.Ananhev thì có thể chia việc tổ chức nghiên cứu thành 3 nhóm phương pháp:

- Phương pháp bổ dọc: là phương pháp tổ chức nghiên cứu trong suốt thời gian dài, liên tục trên cùng một đối tượng, cho phép chuẩn đoán chính xác hơn về sự phát triển của đối tượng Tuy nhiên có hạn chế là không thể một lúc quan sát, theo dõi được một nhóm lớn những đối tượng được thực nghiệm

- Phương pháp cắt ngang (so sánh): là phương pháp nghiên cứu một cách song song

và đồng thời trên nhiều đối tượng khác nhau (cùng nghiên cứu một hiện tượng, quá trình nào đó trên nhiều đối tượng khác nhau để so sánh, đối chứng và kết luận)

- Phương pháp phức hợp: là phương pháp tổ chức nghiên cứu với sự tham gia của các nhà khoa học hoặc chuyên gia thuộc nhiều ngành khoa học khác nhau

- Phương pháp phức hợp chủ yếu nghiên cứu mối quan hệ cấu trúc – chức năng của một đối tượng trọn vẹn, hướng vào xây dựng một quy trình nghiên cứu có tính chất trọn vẹn của đối tượng và hiện tượng được nghiên cứu

b) Các phương pháp cơ bản để thu thập tài liệu thực tế được lựa chọn

c) Các phương pháp, phương tiện thực nghiệm cần thiết cũng được chuẩn bị

(3) Giai đoạn thu thập thông tin- tài liệu: là giai đoạn cơ bản gồm các phương pháp

tìm kiếm, thu thập các sự kiện khoa học (bao gồm các phương pháp: nghiên cứu lịch sử, quan sát khách quan, thực nghiệm, nghiên cứu các sản phẩm hoạt động lý luận và thực tiễn, phương pháp mô hình hóa, điều tra và chuẩn đoán,vv…)

(4) Giai đoạn phân tích, xử lý số liệu: là giai đoạn lý giải và trình bày kết quả

nghiên cứu (phân tích cả số lượng, chất lượng) Phải xây dựng phương pháp mới hay lặp lại thực nghiệm bao gồm các phương pháp:

a) Các phương pháp xử lý tài liệu ( phương pháp thống kê số lượng (định lượng)

và phân tích chất lượng (định tính)), đó là các phương pháp thống kê toán học, phân loại,

kỹ thuật vi xử lý,v.v…

b) Các phương pháp lý giải các số liệu: giúp cắt nghĩa những tài liệu thu thập được,

nó cung cấp phương pháp khái quát hóa, giải thích sự kiện và mối quan hệ giữa chúng (bao gồm các phương pháp: mô hình hóa, sơ đồ (graph…) Có thế chia thành 2 loại phương pháp lý giải:

- Phương pháp phát sinh: là phương pháp lý giải theo quan điểm các mối liên hệ phát sinh

- Phương pháp cấu trúc: là phương pháp lý giải bằng cách phân tích các mối liên hệ qua lại giữa cái bộ phận, cái toàn bộ

(5) Giai đoạn kiểm tra kết quả nghiên cứu trong thực tiễn: bao gồm các phương pháp

kiểm tra kết quả nghiên cứu qua việc ứng dụng có hiệu quả hay không vào thực tiễn và chỉ dẫn ứng dụng

Trang 23

2.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU KHOA HỌC

Nhóm PP luận

Nhóm phương pháp nghiên cứu lí thuyết Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn Nhóm phương pháp nghiên cứu toán học

2.2.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý thuyết

a Phương pháp phân tích và tổng hợp lý thuyết

Các nghiên cứu lý thuyết thường bắt đầu từ việc phân tích các tài liệu để tìm ra cấu trúc, xu hướng phát triển của lý thuyết Từ phân tích, lại cần tổng hợp chúng lại để xây dựng thành một hệ thống các khái niệm, phạm trù mới , để hình thành lý thuyết khoa học mới, hoặc để bổ sung, hoàn thiện lý thuyết đã có

Phương pháp phân tích lý thuyết là phương pháp phân tích lý thuyết thành những mặt, những bộ phận cấu thành, hoặc phân tích chúng thành những mối quan hệ theo lịch

sử thời gian , để nhận thức, phát hiện và khai thác các khía cạnh khác nhau của lý thuyết,

từ đó chọn lọc những thông tin cần thiết phục vụ cho đề tài nghiên cứu của mình Phân tích lý thuyết bao gồm:

- Phân tích nguồn tài liệu: Báo cáo khoa học, tác phẩm khoa học, tài liệu lưu trữ

- Phân tích tác giả: trong hay ngoài ngành, trong cuộc hay ngoài cuộc, trong nước hay ngoài nước, đương đại hay quá khứ

- Phân tích nội dung: theo cấu trúc lôgic của lý thuyết

Phương pháp tổng hợp lý thuyết là phương pháp liên kết những mặt, những bộ phận, những mối quan hệ của các thông tin đã thu thập được từ việc phân tích lý thuyết, thành một chỉnh thể, để xây dựng một hệ thống lý thuyết mới, hoặc những tri thức mới nhằm bổ sung, hoàn thiện lý thuyết hiện có theo chủ đề nghiên cứu Tổng hợp lý thuyết bao gồm:

- Bổ túc tài liệu, sau khi phân tích phát hiện thiếu hoặc sai lệch

- Lựa chọn tài liệu cần và đủ để xây dựng luận cứ cho đề tài của mình

- Sắp xếp tài liệu theo các mối quan hệ: lôgic, lịch sử, nhân – quả để nhận dạng tương tác và phát hiện các khía cạnh mới của lý thuyết

- Làm tái hiện quy luật Đây là một bước quan trọng nhất trong nghiên cứu tài liệu nhằm mục đích tiếp cận lịch sử, giúp hiểu rõ bản chất đối tượng nghiên cứu

- Giải thích quy luật: sử dụng các thao tác lôgic để đưa ra những phán đoán về bản chất và quy luật của đối tượng nghiên cứu

Phân tích và tổng hợp là hai phương pháp có quan hệ mật thiết, không thể tách rời: phân tích được tiến hành theo yêu cầu của tổng hợp, còn tổng hợp chỉ được thực hiện trên

cở sở kết quả của phân tích Cho nên trong nghiên cứu lý thuyết, người nghiên cứu vừa phải phân tích, vừa phải tổng hợp tài liệu

b Phương pháp phân loại và hệ thống hóa

- Phương pháp phân loại là phương pháp sắp xếp các tài liệu khoa học thành hệ thống lôgic chặt chẽ theo từng mặt, từng đơn vị kiến thức, từng vấn đề khoa học có cùng dấu hiệu bản chất, cùng phưng hướng phát triển , để dễ nhận biết, dễ sử dụng theo mục đích nghiên cứu; nhờ đó có thể giúp cho việc phát hiện các quy luật phát triển của đối tượng nghiên cứu, hay sự phát triển của tri thức khoa học, từ đó dự đoán được các xu hướng phát triển mới của khoa học và thực tiễn

Trang 24

- Phương pháp hệ thống hóa là phương pháp sắp xếp những thông tin đa dạng thu thập được thành một hệ thống với một kết cấu chặt chẽ (Theo quản điểm hệ thống – cấu trúc) để từ đó có thể xây dựng một lý thuyết mới, hoặc bổ sung cho lý thuyết hiện có được đầy đủ và sâu sắc hơn

Phân loại và hệ thống hóa là hai phương pháp thường đi liền với nhau Trong phân loại đã có yếu tố hệ thống hóa, ngược lại, hệ thống hóa phải dựa trên phân loại và làm cho phân loại được hợp lý hơn

c Phương pháp mô hình hóa

Mô hình hóa là phương pháp khoa học để nghiên cứu các đối tượng, khách thể phức tạp, hoặc quá lớn, quá nhỏ , mà ta không thể quan sát trực tiếp, bằng cách xây dựng các mô hình của chúng và dựa trên mô hình đó để nghiên cứu trở lại đối tượng thực, sao cho việc nghiên cứu mô hình cho ta những thông tin về thuộc tính, cấu trúc, chức năng,

cơ chế vận hành của đối tượng, từ đó mà nhận thức được bản chất, quy luật của đối tượng nghiên cứu

Cơ sở lôgic của phương pháp mô hình hóa là phép loại suy Phương pháp mô hình hóa cho phép tiến hành nghiên cứu trên những mô hình (vật chất hay ý niệm) do người nghiên cứu tạo ra (có thể nhỏ hơn, bằng hay lớn hơn ), để thay thế cho việc nghiên cứu các đối tượng thực, khi mà người nghiên cứu không thể hoặc rất khó tiến hành nghiên cứu trên đối tượng thực đó trong điều kiện thực tế, do chúng quá phức tạp hoặc quá lớn, hay quá nhỏ

Phương pháp mô hình hóa xem xét đối tượng nghiên cứu như một hệ thống (tổng thể), song đã được tách ra từ đối tượng, như một hệ thống các mối quan hệ, liên hệ có tính quy luật có trong thực tế, phản ánh được các mối quan hệ, liên hệ đó của các yếu tố cấu thành hệ thống Đó là sự trừu tượng hóa hệ thống hiện thực

Dùng phương pháp mô hình hóa giúp người nghiên cứu có thể dự báo, dự đoán, đánh giá các tác động của các biện pháp điều khiển, quản lý hệ thống

Ví dụ: Sử dụng phương pháp mô hình hóa trong việc nghiên cứu các đối tượng quá lớn, như mô hình vũ trụ, thiên hà, cấu trúc mặt trời ; hay các đối tượng quá nhỏ, như mô hình nguyên tử, mô hình tế bào ; hoặc các đối tượng quá phức tạp, như các mô hình khí động học, mô hình khí tượng, mô hình “hộp đen”, mô hình tâm lý, mô hình kinh tế - xã hội

d Phương pháp nghiên cứu lịch sử

Phương pháp nghiên cứu lịch sử là phương pháp nghiên cứu bằng cách tìm nguồn gốc phát sinh, quá trình phát triển và biến hóa (nguồn gốc xuất xứ, hoàn cảnh nảy sinh, điều kiện, hoàn cảnh không gian, thời gian có ảnh hưởng) để phát hiện quy luật vận động, bản chất của đối tượng

- Phương pháp nghiên cứu lịch sử đòi hỏi người nghiên cứu phải làm rõ quá trình phát sinh, phát triển cụ thể của đối tượng; phải nắm được toàn bộ quá trình vận động phong phú và phức tạp của nó; phải bám sát đối tượng, theo dõi những bước quanh co, những cái ngẫu nhiên và tất nhiên trong sự phức tạp, muôn màu, muôn vẻ, trong những hoàn cảnh khác nhau và theo một trật tự thời gian nhất định Từ đó có thể phát hiện được sợi dây lịch sử của toàn bộ quá trình phát triển của đối tượng, phát hiện ra cái lôgic của lịch sử, tức là tìm ra quy luật phát triển, hiểu được bản chất của đối tượng Đó cũng chính

là mục đích của mọi hoạt động nghiên cứu khoa học, là lẽ sống của nhà nghiên cứu

Trang 25

Phương pháp nghiên cứu lịch sử còn đòi hỏi nhà nghiên cứu còn phải nghiên cứu

và nắm được tình hình lịch sử của vấn đề mà mình nghiên cứu Việc phân tích lịch sử các tài liệu liên quan đến đề tài nghiên cứu nghằm phát hiện các xu hướng, các trường phái nghiên cứu để phát hiện những thành tựu lý thuyết đã có, nhằm kế thừa, bổ sung và phát triển, hoàn thiện các lý thuyết đó Và cũng từ đó mà xác định chỗ đứng của các đề tài nghiên cứu khoa học

e Phương pháp đề xuất và kiểm chứng giả thuyết

Giả thuyết nghiên cứu là kết luận mang tính giả định về những thuộc tính bản chất của sự vật, hiện tượng hoặc về xu hướng vận động và phát triển của chúng, do nhà nghiên cứu đặt ra để chứng minh trong toàn bộ quá trình nghiên cứu

Có thể nói rằng, chỉ khi nào đề xuất được giả thuyết, công việc nghiên cứu khoa học mới thực sự bắt đầu Việc triển khai một công trình khoa học, xét cho cùng là quá trình kiểm chứng giả thuyết; và cuối cùng, khi giả thuyết được kiểm chứng, công iệc nghiên cứu cơ bản được kết thúc Như vậy, ta có thể nhận rõ tầm quan trọng của giả thuyết nghiên cứu trong lao động của các nhà khoa học

Tuy nhiên, vì là những kết luận giả định, nên giả thuyết được đề xuất có thể phù hợp, cũng có thể không hoàn toàn phù hợp hoặc không phù hợp Để có thể đưa ra những giả thuyết phù hợp với quy luật vận động của sự vật, hiện tượng được nghiên cứu, cần phải xây dựng giả thuyết bắt đầu từ quan sát nghiêm túc các sự kiện trên cơ sở những nền tảng lý thuyết đúng đắn Tóm lại, phải coi việc xây dựng giả thuyết cũng là một giai đoạn nghiên cứu thực sự Trên cơ sở quan sát sự kiện, tiến hành các nghiên cứu lý thuyết đối với các tư liệu, các dữ liệu đã có, phát hiện vấn đề nghiên cứu, nhà khoa học bắt đầu hình thành nên những giả thuyết nhằm có thể làm sáng tỏ vấn đề nghiên cứu

Trong quá trình kiểm chứng giả thuyết, nhà nghiên cứu cần nắm vững và vận dụng các quy tắc của phép chứng minh Nội dung cơ bản của phép chứng minh được vận dụng vào nghiên cứu khoa học bao gồm:

Thứ nhất, giả thuyết phải được trình bày rõ ràng, nhất quán, được giữ vững trong suốt quá trình nghiên cứu

Thứ hai, các căn cứ được sử dụng để chứng minh cho giả thuyết phải bảo đảm tính chính xác, có sức thuyết phục Tính chính xác của các căn cứ đó có thể đã được người khác thực hiện trong những nghiên cứu khác, cũng có thể do nhà khoa học tự mình phải thu thập, xử lý thông tin để chứng minh Trong trường hợp thứ hai, nhà khoa học đã phải thực hiện một tiểu đề tài (đề tài nhánh) trước khi thực hiện công việc nghiên cứu chính của mình

Thứ ba, các phương pháp, thao tác được sử dụng để liên kết các căn cứ với giả thuyết, liên kết các căn cứ với nhau cùng chứng minh cho giả thuyết phải nằm trong một hệ phương pháp chỉnh thể Chúng phải được bổ sung, hỗ trợ cho nhau Tuyệt đối tránh các phương pháp chứng minh có thể dẫn đến hai suy luận có giá trị đối lập triệt tiêu lẫn nhau

X/d thành khái niệm, lý thuyết mới

Trang 26

Hệ thống và x/d hoàn chỉnh lý thuyết mới

3 Mô hình hoá

- X/d mô hình

- Từ mô hình, ng/cứu lại đ/tượng

Những thông tin làm cơ sở x/d mô hình

Từ mô hình (giả định) để kiểm nghiệm lại bản chất v/đ nghiên cứu

4 Giả thuyết

Xác định các dự đoán về bản chất đối tượng ngh/cứu

X/d giả thuyết bằng những

p hán đoán logic

Chứng minh hoặc bác bỏ dự đoán

để xác định bản chất đ/tượng

5 Lịch sử

Tìm nguồn gốc phát sinh, ph/triển

Quá trình hình thành, phát triển

Phát hiện bản chất, qui luật của đ/tượng

Các phương pháp này hỗ trợ nhau trong phát hiện, x/d lí thuyết về bản chất đối tượng 2.2.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn

a Phương pháp quan sát

Quan sát là một trong những phương thức cơ bản để nhận thức các sự vật Quan sát được sử dụng trong ba trường hợp:

* Quan sát để phát hiện vấn đề nghiên cứu

* Quan sát để đặt giả thuyết

* Quan sát để kiểm chứng giả thuyết, nghĩa là để chứng minh hoặc bác bỏ những giả thuyết đã đặt ra trong nghiên cứu

Như vậy trong quá trình nghiên cứu khoa học, người nghiên cứu có thể phải tiến hành tới ba lần quan sát đối với một sự vật Quan sát khách quan là một phương pháp tiến hành sau sự kiện, được thực hiện nhờ quan sát những sự kiện xảy ra trong điều kiện

tự nhiên để thu thập thông tin từ đối tượng quan sát Trong nghiên cứu lịch sử, kinh tế, xã hội và các hiện tượng địa lý, địa chất, khí tượng, thiên văn v.v… các nhà nghiên cứu thường xây dựng phương pháp này

Quan sát khách quan có ưu điểm căn bản là không gây bất cứ biến động nào lên đối tượng khảo sát, nhưng nhược điểm cơ bản của quan sát khách quan là sự chậm chạp

và thụ động Do vậy không thể đặt ra các tình huống của tiến trình, không xem xét được các khía cạnh riêng biệt của tiến trình, càng không thể đẩy nhanh tiến trình của sự vật hoặc hiện tượng

Mục đích của quan sát là nhằm ghi nhận được một cách đầy đủ và chuẩn xác các sự vật hoặc hiện tượng như nó vốn có, là nhằm thu thập các thông tin, thu thập các số liệu thống kê, thu thập các tư liệu lưu trữ Cũng giống như sự phân biệt giữa tri thức kinh nghiệm và tri thức khoa học, người ta cũng phân biệt quan sát thông thường và quan sát khoa học Quan sát thông thường chỉ dừng lại ở những gì giác quan cảm nhận Còn quan sát khoa học thì đòi hỏi sự vận dụng các tri thức khoa học để lý giải bản chất của sự vật

Dù là quan sát gì, thì quan sát đều có thể thực hiện bằng giác quan, song cũng có thể quan sát với sự trợ giúp của các phương tiện ghi, chụp, đo đạc

Các phương pháp quan sát thông dụng được áp dụng trong nhiều bộ môn khoa học

có thể hình dung theo phân loại như sau:

- Theo mức độ chuẩn bị, quan sát được phân chia thành quan sát có chuẩn bị trước

Trang 27

và quan sát không chuẩn bị (bất chợt bắt gặp)

- Theo quan hệ giữa người quan sát và người bị quan sát, quan sát được phân chia thành quan sát không tham dự (chỉ đóng vai người quan sát và ghi nhận) và quan sát có tham dự (bí mật hoà nhập như một thành viên)

- Theo mục đích nắm bắt bản chất đối tượng quan sát, quan sát được phân chia thành quan sát hình thái, cũng còn gọi là quan sát cấu trúc, quan sát công năng, cũng gọi là quan sát động thái và quan sát hình thái - công năng

- Theo mục đích xử lý thông tin, quan sát được phân chia thành quan sát mô tả, quan sát phân tích

- Theo tính liên tục của quan sát, quan sát được phân chia thành quan sát liên tục, quan sát định kỳ, quan sát chu kỳ, quan sát tự động theo chương trình

Cần phải lưu ý rằng, chỉ với các quan sát phi thực nghiệm thì trong nhiều trường hợp chưa đủ để cấu trúc nên hệ thống tri thức khoa học, mà người nghiên cứu còn phải sử dụng nhiều phương pháp bổ sung khác

b Phương pháp thực nghiệm

Phương pháp thực nghiệm là phương pháp thu thập thông tin được thực hiện bởi những quan sát trong điều kiện có gây biến đổi đối tượng nghiên cứu một cách chủ định Phương pháp thực nghiệm có thể được thực hiện trên đối tượng thực hoặc trên các mô hình do người nghiên cứu tạo ra với những tham số (ít nhất một tham số) do người nghiên cứu khống chế

Thực nghiệm là để quan sát, nhằm làm sáng tỏ các mối liên hệ, sự phụ thuộc hay tác động lẫn nhau giữa các hiện tượng cần nghiên cứu, để kiểm định các giả thuyết, hoặc xem xét sự thể hiện cụ thể của các lý thuyết đã có Phương pháp thực nghiệm được

áp dụng phổ biến không chỉ trong khoa học tự nhiên, khoa học kỹ thuật và công nghệ,

y học, mà cả trong khoa học xã hội và các lĩnh vực khoa học khác

Phương pháp thực nghiệm thường được phân loại thành:

- Thực nghiệm tự nhiên

- Thực nghiệm trong phòng thí nghiệm

Hoặc, theo mục đính và mức độ nghiên cứu, được phân loại thành:

Bằng việc thay đổi các tham số, người nghiên cứu có thể tạo ra nhiều cơ hội, nhờ

đó có thể thu được những kết quả mong muốn, như:

* Tách riêng từng phần thuần nhất của đối tượng nghiên cứu để quan sát

* Biến đổi các điều kiện tồn tại của đối tượng nghiên cứu

* Rút ngắn được thời gian tiếp cận trong quan sát

* Tiến hành những thực nghiệm lặp lại nhiều lần để kiểm tra lẫn nhau

* Không bị hạn chế về không gian và thời gian

Trang 28

Dù phương pháp thực nghiệm có những ưu điểm như vậy, nhưng nó không thể

áp dụng trong hàng loạt trường hợp, chẳng hạn, nghiên cứu lịch sử, địa lý, địa chất, khí tượng, thiên văn Nghiên cứu khí tượng, địa chất học, khảo cổ học, hải dương học, v.v… chỉ có thể thực hiện bằng quan sát; còn nghiên cứu lịch sử, văn học, v.v… lại chỉ có thể thực hiện bằng phương pháp nghiên cứu tài liệu

Thông thường trong lĩnh vực xã hội, người ta hay sử dụng phương pháp xây dựng

mô hình thực nghiệm, nhất là đối với các đề tài thuộc loại hình nghiên cứu - triển khai Thông qua các kết quả nghiên cứu lý thuyết, hay những nguyên lý và giải pháp ứng dụng, người nghiên cứu có thể lựa chọn một mẫu hình (một tổ chức) lý tưởng, nơi có được gần đúng những điều kiện đã được tính toán trên lý thuyết, tiến hành thực nghiệm những kiến nghị được đề xuất Trải qua một thời gian vừa đủ, có thể điều chỉnh những tính toán ban đầu để đề xuất phương pháp, cách thức thực hiện trên diện rộng, bao gồm cả những đề xuất về những điều kiện, môi trường bảo đảm cho việc thực hiện những kiến nghị, giải pháp đã đề xuất

Làm thí điểm là một phương pháp thường được các nhà nghiên cứu khoa học

xã hội, nhất là nhà quản lý xã hội, áp dụng để đề xuất chủ trương, chính sách hoặc xây dựng các nội quy, quy chế tổ chức quản lý xã hội, quản lý đô thị hoặc nông thôn Việc xây dựng mô hình thí điểm là một phương pháp vừa kết hợp lý luận với thực tiễn nhằm tạo ra hiệu quả cụ thể trong lao động sản xuất, trong quản lý

Xét về bản chất, phương pháp xây dựng mô hình làm thí điểm trong nghiên cứu khoa học xã hội cũng tương tự như quá trình làm thí nghiệm, làm thực nghiệm trong nghiên cứu khoa học tự nhiên và kỹ thuật Song, đặc điểm của nghiên cứu khoa học

xã hội là không dễ dàng mang lại kết quả ngay, không đơn giản xoá bỏ những cái cũ để làm lại cho dù có tốn kém tiền của Vì vậy, làm thí điểm trong xã hội phải rất thận trọng,

tỉ mỉ, không nên chủ quan, nóng vội để lấy kết quả, lấy thành tích Hiệu quả và phản ứng trong hoạt động xã hội rất tinh tế Sự tinh tế biểu hiện ở chỗ hợp quy luật và thuận lòng người mới có thể đem lại kết quả

c Phương pháp khảo sát thực tiễn

Phương pháp này thường áp dụng đối với các đề tài mang tính tổng kết kinh nghiệm chỉ đạo thực tiễn nhằm tìm ra các hạt nhân hợp lý của quá trình phát triển một

số lĩnh vực nào đó của xã hội Để thực hiện phương pháp này, người ta phải xác định rõ các vấn đề chung sau đây:

- Mục tiêu khảo sát là gì? Cần phải làm rõ mục tiêu cụ thể với các mức độ yêu cầu

cụ thể, thời gian và địa bàn cụ thể

- Địa bàn khảo sát ở đâu? Phải cân nhắc các cơ sở điển hình có thể cung cấp nhiều thông tin tin cậy (kể cả thông tin ngược chiều)

- Nội dung khảo sát là gì? Các vấn đề cần khảo sát nên cụ thể, phù hợp với thực tiễn, tránh tràn lan, tránh quá trừu tượng chung chung

- Đối tượng khảo sát là gì? Tuỳ thuộc vào nội dung nghiên cứu để lựa chọn thành phần (cán bộ, nhân dân, thanh niên, phụ nữ v.v.) hoặc ngành nghề để trao đổi tìm hiểu nắm bắt tình hình, số liệu hoặc tham quan các cơ sở sản xuất, phong trào, dự hội nghị, v.v

Nói tóm lại, đây là phương pháp thông qua thực tiễn để người nghiên cứu thu thập thông tin hoặc nảy sinh các ý tưởng nghiên cứu, có thể đề xuất sáng tạo phục vụ cho nhiệm vụ phát triển của thực tiễn Tất nhiên, các kết quả khảo sát trong thực tiễn thu

Trang 29

thập được chưa thể là kết quả của nghiên cứu khoa học Nó còn phải trải qua việc phân tích, xử lý, chọn lọc các thông tin có được, đối chiếu với cơ sở lý luận khoa học

mà đề tài khoa học đang nghiên cứu mới hy vọng rút ra được các giá trị khoa học bổ ích và cần thiết cho bộ môn khoa học và thực tiễn của xã hội

- Điều tra thống kê: nhà nghiên cứu tiến hành thu thập các số liệu phản ánh các mặt, các yếu tố khác nhau có liên quan trực tiếp và phản ánh sự vận động biến đổi của sự vật, hiện tượng được nghiên cứu Nói cách khác, đó là việc thu thập số liệu theo các tiêu thức và chỉ tiêu thống kê nói lên sự vận động biến đổi về lượng của các đơn vị tổng thể hợp thành của những tổng thể thống kê được nghiên cứu xác định

Việc điều tra thu thập số liệu thống kê có thể dựa vào các báo cáo thống kê định

kỳ, các điều tra và khảo sát chuyên môn Tuỳ theo tính chất, mục tiêu của từng công trình, có thể tiến hành điều tra toàn bộ hay điều tra chọn mẫu Trong quá trình điều tra thống kê, nhà nghiên cứu có thể sử dụng nhiều biện pháp cụ thể nhằm thu thập số liệu thống kê: đăng ký trực tiếp, phỏng vấn, điều tra bằng phiếu hỏi, tự khai báo, thông qua gửi thư hay ghi chép qua các tư liệu trong phòng Dù tiến hành biện pháp nào cũng cần lưu ý rằng, các số liệu đưa vào thống kê phải chính xác, khách quan và cập nhật

- Tổng hợp thống kê: nhà nghiên cứu phải kiểm tra, chỉnh lý, hệ thống hoá các số liệu đã thu thập trong giai đoạn thứ nhất Sau đó tiến hành phân loại các số liệu theo các biến số, các tiêu thức thống kê, tiến hành xây dựng các bảng thống kê, các sơ đồ, biểu đồ thống kê theo tiến trình thời gian hoặc giữa các sự vật khác nhau trong cùng một thời điểm thống kê

- Phân tích thống kê: đó là việc kết hợp sử dụng nhiều phương pháp, phân tích, kết hợp các thao tác tư duy nhằm đưa ra những kết luận định tính về mức độ, xu hướng, tính chất, mối quan hệ của các biến số nói lên bản chất của sự vật, hiện tượng được nghiên cứu

Trong giai đoạn này, nhà nghiên cứu phải vận dụng nhiều phương pháp cụ thể: tính các giá trị tuyệt đối, giá trị tương đối, giá trị bình quân phản ánh mặt lượng của một

hệ các biến số; phương pháp dãy số biến động the thời gian thông qua các bảng, các

sơ đồ, các biểu đồ thống kê; phương pháp phân tích tương tự so sánh

Các giai đoạn của phương pháp thống kê có mối quan hệ chặt chẽ mật thiết với nhau, và mỗi giai đoạn có một vị trí vai trò khác nhau Sai lầm của bất kỳ giai đoạn nào cũng đều có thể dẫn đến những nhận thức không đúng hoặc thiếu chính xác về sự vật, hiện tượng được nghiên cứu

e Phương pháp điều tra

Điều tra bằng phiếu hỏi là một phương pháp nghiên cứu phi thực nghiệm thường được áp dụng trong các nghiên cứu xã hội Thông qua việc phát và thu phiếu điều tra, nhà nghiên cứu thu được những thông tin từ khách thể về nhận thức, thái độ, hành vi, trạng thái tồn tại các sự kiện có liên quan đến tri thức và phạm vi nghiên cứu Vì khách thể của phương pháp tác động này là các cộng đồng người, do đó nhà nghiên cứu cần

Trang 30

tuân thủ nghiêm túc các bước nghiên cứu sau đây:

Bước thứ nhất: Chuẩn bị điều tra Ở đó công việc chuẩn bị điều tra bao gồm các thao

tác: chọn mẫu, chọn địa bàn khảo sát, lựa chọn thời gian khảo sát, thiết kế phiếu hỏi và khảo sát định tính

Việc lựa chọn địa bàn khảo sát phải tuân theo yêu cầu: địa bàn được lựa chọn phải mang tính đại diện, tính đặc trưng, thể hiện ở các đặc điểm địa lý, điều kiện kinh tế, văn hoá, xã hội

Mẫu khảo sát có thể được lựa chọn bằng các phương pháp lấy mẫu ngẫu nhiên, ngẫu nhiên phân tầng; lấy mẫu có hệ thống hay hệ thống phân tầng và lấy mẫu theo cụm Việc chọn mẫu phải bảo đảm tính ngẫu nhiên và tính đại diện Việc thiết kế phiếu hỏi phải bảo đảm bám sát mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu, phù hợp với đối tượng, các câu hỏi cần phải bảo đảm tạo ra sự chú ý, kích thích sự hợp tác trong trả lời Một phiếu hỏi phải bảo đảm thu được các thông tin liên quan đến các vấn đề nghiên cứu và phải có

đủ các biến số độc lập phản ánh các quan hệ nhiều chiều, đa dạng của tập hợp mẫu được khảo sát

Sau khi thiết kế xong phiếu hỏi, có thể phải tiến hành khảo sát định tính, kết hợp với phỏng vấn sâu, tham vấn chuyên gia để hoàn thiện phiếu hỏi, để đề ra các yêu cầu cần thực hiện trong quá trình điều tra và giám sát điều tra

Bước thứ hai: Tiến hành điều tra Để công tác điều tra được tốt, các điều tra viên

(nếu có) cần phải được tập huấn để quán triệt mục đích, yêu cầu điều tra, thống nhất các biện pháp phù hợp với từng nhóm mẫu và từng địa bàn điều tra

Trong quá trình điều tra, nhà nghiên cứu cần tuân thủ những yêu cầu đã được

đề ra Trong trường hợp phải sử dụng cộng tác viên, điều tra viên, nhà nghiên cứu cần tiến hành các biện pháp giám sát điều tra, với mục đích thu được thông tin một cách khách quan, tin cậy

Bước thứ ba: Xử lý kết quả điều tra Việc xử lý kết quả điều tra cần được tiến hành

bằng các phương pháp nghiên cứu lý thuyết: phân tích tư liệu, tổng hợp và phân loại

tư liệu Tuy nhiên, trước hết cần phải tiến hành các thao tác để "làm sạch" số liệu Sau khi số liệu được "làm sạch", nhà nghiên cứu tiến hành xử lý số liệu bằng các phương pháp thống kê, phân tích - so sánh theo các biến số độc lập để rút ra những thuộc tính chung của các tập hợp mẫu nhằm hình thành luận cứ cho các giả thuyết nghiên cứu

Tuỳ theo mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu cũng như trạng thái tồn tại của đối tượng khảo sát, nhà nghiên cứu có thể lựa chọn sử dụng một số biện pháp xử lý thông tin định tính hay định lượng bằng các số liệu, các loại biểu đồ, sơ đồ để mô tả, giải thích, làm rõ các thuộc tính bản chất, xu thế của đối tượng nghiên cứu

f Phương pháp tham vấn chuyên gia

Đây là cách khai thác thông tin nhằm kiểm chứng các giả thuyết được đề xuất Tuy nhiên, đối tượng khảo sát ở đây là các nhà khoa học có trình độ am hiểu ở những mức độ khác nhau, trên các khía cạnh, các mặt khác nhau của vấn đề có liên quan đến

đề tài nghiên cứu Tuy nhiên, cũng nên lưu ý một điểm có tính chất nguyên tắc là: thông tin thu được từ tham vấn chuyên gia (cũng như trong khảo sát xã hội học) không thay thế được nhà nghiên cứu; mặc dù, thông tin thu được từ tham vấn chuyên gia là chỗ dựa đáng tin cậy, bổ ích và cần thiết cho nhà nghiên cứu

Phương pháp này cần thiết cho nhà nghiên cứu không chỉ trong quá trình nghiên cứu

Trang 31

mà còn cả trong quá trình nghiệm thu, đánh giá kết quả, hoặc thậm chí cả trong quá trình đề xuất các giả thuyết nghiên cứu, lựa chọn phương pháp nghiên cứu, củng cố các luận cứ

Tiến hành tham vấn chuyên gia có thể bằng nhiều hình thức phong phú: trao đổi, trò chuyện, tổ chức hội thảo khoa học, lấy nhận xét phản biện hoặc phỏng vấn

Để có thể áp dụng có hiệu quả những phương pháp này, nhà nghiên cứu cần chủ động tìm kiếm, đề xuất và thực hiện những điều kiện đảm bảo: lựa chọn chuyên gia, lựa chọn vấn đề tham vấn, sử dụng tài chính và phải tạo lập cho được môi trường giao tiếp cởi mở, chân tình trong tham vấn v.v

- Phỏng vấn: Phỏng vấn là cách thu thập thông tin thông dụng trong nghiên cứu khoa học nhằm khai thác ý kiến chuyên gia về những vấn đề liên quan đến giả thuyết

để tiếp tục phát triển giả thuyết, bổ sung các khía cạnh khác nhau của giả thuyết

Trong mỗi loại đối tượng được chọn để phỏng vấn, người nghiên cứu cần có những cách tiếp cận phỏng vấn khác nhau Kinh nghiệm cho thấy, người có học vấn cao thường có nhiều hiểu biết việc điều tra, cho nên họ dễ dàng tiếp nhận các câu hỏi và thường cho những trả lời chính xác; người có trình độ học vấn trung bình thường đưa ra những câu trả lời không thật chính xác lắm; người nhút nhát thường không dám trả lời vì sợ sai, người có quá khức phức tạp thường dè dặt; đối với người tự tin thì người nghiên cứu rất khó tìm câu trả lời chuẩn xác; đối với người bông đùa, khôi hài thì người nghiên cứu thường thu được những câu trả lời có độ tin cậy thấp; còn người ba hoa thường hay đưa vấn đề đi lung tung

Khó nắm bắt nhất là những người có bản lĩnh tự tin thái quá, vì họ rất kín kẽ, biết cách giấu kín một cách nhất quán mọi suy nghĩ, nếu người nghiên cứu không có kinh nghiệm "cài bẫy logic", thì rất khó tìm được câu trả lời ở những người này

Trong phỏng vấn người ta chia ra các loại, như phỏng vấn có chuẩn bị trước, phỏng vấn không chuẩn bị trước, trao đổi trực tiếp, trao đổi qua điện thoại

- Phương pháp hội đồng: Phương pháp phỏng vấn trình bày trên đây có ưu điểm

là khai thác được các ý kiến độc lập giữa các chuyên gia, nhưng không tạo ra không khí kích thích tư duy giữa họ Phương pháp hội đồng tạo điều kiện khắc phục mặt hạn chế này

Nội dung phương pháp hội đồng là đưa ý kiến ra trước các nhóm chuyên gia khác nhau để họ thảo luận, tranh luận, phân tích Có thể không có kết luận trong các cuộc thảo luận, tranh luận, phân tích Tuy nhiên người nghiên cứu cần ghi nhận các ý kiến để phân tích

Trong phương pháp hội đồng, người ta thường dùng phương pháp tấn công não (brainstorming), là phương pháp do A Osborn (Mỹ) khởi xướng Phương pháp tấn công não gồm hai giai đoạn tách biệt nhau, giai đoạn phát ý tưởng và giai đoạn phân tích ý tưởng do hai nhóm chuyên gia thực hiện, một nhóm chuyên phát các ý tưởng, còn một nhóm chuyên phân tích Trong phương pháp tấn công não, người tổ chức cần giữ vững nguyên tắc khuyến khích và lắng nghe mọi ý kiến, kể cả những ý kiến lạc đề, vô lý, vì những ý kiến này đôi khi dẫn đến những kết quả bất ngờ

Phương pháp hội đồng nói chung và phương pháp tấn công não nói riêng có ưu điểm là tạo ra được bầu không khí tranh luận, dẫn đến sự kích thích tư duy cá nhân, nhưng nhược điểm là chịu ảnh hưởng mạnh của những tác động tâm lý, trong đó, thường các nhóm chuyên gia bị chi phối bởi ý kiến của những người có uy tín lớn trong khoa học,

Trang 32

có địa vị xã hội lớn hoặc những người có tài hùng biện

Tổ chức lấy ý kiến trong các hội nghị bàn tròn, hội thảo khoa học, v.v… cũng là những dạng khác nhau của phương pháp hội đồng

Nắm thực trạng hoạt động đã qua của

cơ sở nghiên cứu

- Lập kế hoạch QS

- QS trực tiếp, gián tiếp

- Ghi chép

Các hoạt động đang diễn ra Nắm thực trạng đang hoạt động của

cơ sở nghiên cứu

Thu thập các quan điểm, ý kiến về thực trạng nghiên cứu

- Kết luận định tính

về mức độ, xu hướng, tính chất, mối quan hệ của các biến số nói lên bản chất của sự vật, hiện tượng được nghiên cứu

- Xác định n/dung, các bước t/nghiệm

- Đối tượng

ĐC, TN

- Chọn mẫu

Kiểm định biện pháp đã đề xuất

Các phương pháp này hỗ trợ nhau trong phát hiện và thẩm định thực trạng nghiên cứu

Ý nghĩa sử dụng các PPNC thực tiễn

Điều tra Miệng + Tai + Mắt Thu thập TT Quá khứ + hiện tại

TT

Q/khứ + h/tại + hướng tới

Trang 33

Phương pháp thống kê Mắt Xử lí TT Q/khứ + h/tại

tới

2.2.3 Nhóm phương pháp nghiên cứu toán học

Sự phát triển mạnh mẽ của khoa học hiện đại đã dẫn đến hai xu hướng phát triển trong nghiên cứu khoa học:

+ Một là khoa học sử dụng các thiết bị kỹ thuật hiện đại để tiến hành các hoạt động nghiên cứu Các thiết bị kỹ thuật là công cụ hỗ trợ đắc lực trong quan sát, thực nghiệm và

xử lý các tài liệu thu thập được

+ Hai là khoa học đã sử dụng các lý thuyết toán học vào việc tìm ra các lý thuyết chuyên ngành Xu hướng toán học hóa mở ra con đường mới giúp khoa học đạt tới trình

độ chính xác, sâu sắc để từ đó khám phá bản chất và các quy luật vận động của đối tượng nghiên cứu

Khoa học hiện đại sử dụng toán học với hai mục đích:

- Sử dụng toán học thống kê như một công cụ xử lý các tài liệu thu thập được từ các phương pháp nghiên cứu khác nhau như quan sát, điều tra hay thực nghiệm, làm cho các kết quả trở nên chính xác, đảm bảo độ tin cậy (Nguyễn Hữu Bảo, 2005)

- Sử dụng lý thuyết toán học và phương pháp lô gic toán học để xây dựng các lý thuyết chuyên ngành Nhiều công thức toán học đặc biệt được dùng để tính toán các thông

số liên quan tới đối tượng, từ đó tìm ra được các quy luật của đối tượng (thí dụ công thức E=MC2, được gọi là hệ thức làm thay đổi thế giới)

Trong nghiên cứu khoa học tự nhiên, toán học thực sự là một công cụ đắc lực Khoa học tự nhiên và toán học đi liền với nhau như hình với bóng, thiếu vắng phương pháp toán học không thể tiến hành nghiên cứu khoa học tự nhiên

Trong nghiên cứu khoa học xã hội, từ sự xác định, chọn mẫu nghiên cứu, toán học

đã tham gia một cách tích cực và khi xử lý tài liệu, toán học làm tang tính chính xác khách quan của kết quả nghiên cứu và nhơ đó các kết luận của công trình nghiên cứu có tính thuyết phục cao

1 Thống kê toán học

Lựa chọn các biểu, bảng

Số liệu thu được Xử lý số liệu thu

được từ các PPNC thực tiễn

2 Lý thuyết toán học

Sử dụng công thức,

lý thuyết toán học

Các lý thuyết toán học đã có

Tìm ra các lý thuyết chuyên ngành

Trong nghiên cứu khoa học, chúng ta sẽ thường sử dụng nhiều PPNC khoa học khác nhau để tìm hiểu một vấn đề khoa học

Trên đây là một số phương pháp thường được sử dụng trong các nghiên cứu khoa học Tuy nhiên, khi lựa chọn và sử dụng các phương pháp nghiên cứu trên cần lưu ý mấy điểm:

Trang 34

- Phải căn cứ vào mục tiêu và loại hình nghiên cứu của đề tài mà lựa chọn phương pháp cho phù hợp

- Không thể và không bao giờ có một hay một số phương pháp thích hợp cho mọi loại đề tài Cũng không thể có một đề tài nào đó chỉ sử dụng một phương pháp nghiên cứu duy nhất

- Bản thân mỗi đề tài bao giờ cũng đòi hỏi xây dựng và lựa chọn một hệ các phương pháp nghiên cứu để bổ sung cho nhau, giúp cho nhà khoa học trong thu thập, phân tích, xử lý, kiểm tra thông tin, thể hiện kết quả nghiên cứu

- Trong khoa học, khi nghiên cứu luôn luôn phải biết lựa chọn, sử dụng đúng đắn các phương pháp nghiên cứu chung đã được nghiên cứu trong triết học (phân tích - tổng hợp; diễn dịch - quy nạp; lịch sử - lôgic; cụ thể - trừu tượng )

Trang 35

CHƯƠNG 3 CÁC PHƯƠNG PHÁP THU THẬP SỐ LIỆU NCKH

3.1 Tài liệu

3.1.1 Mục đích thu thập tài liệu

Thu thập và nghiên cứu tài liệu là một công việc quan trọng cần thiết cho bất kỳ

hoạt động nghiên cứu khoa học nào Các nhà nghiên cứu khoa học luôn đọc và tra cứu tài liệu có trước để làm nền tảng cho NCKH Đây là nguồn kiến thức quí giá được tích lũy qua quá trình nghiên cứu mang tính lịch sử lâu dài Vì vậy, mục đích của việc thu thập và nghiên cứu tài liệu nhằm:

* Giúp cho người nghiên cứu nắm được phương pháp của các nghiên cứu đã thực hiện trước đây

* Làm rõ hơn đề tài nghiên cứu của mình

* Giúp người nghiên cứu có phương pháp luận hay luận cứ chặt chẽ hơn

* Có thêm kiến thức rộng, sâu về lĩnh vực đang nghiên cứu

* Tránh trùng lặp với các nghiên cứu trước đây, vì vậy đở mất thời gian, công sức và tài chính

* Giúp người nghiên cứu xây dựng luận cứ (bằng chứng) để chứng minh giả thuyết NCKH

3.1.2 Phân loại tài liệu nghiên cứu

Phân loại tài liệu để giúp cho người nghiên cứu chọn lọc, đánh giá và sử dụng tài liệu đúng với lĩnh vực chuyên môn hay đối tượng muốn nghiên cứu Có thể chia ra 2 loại tài liệu: tài liệu sơ cấp (hay tài liệu gốc) và tài liệu thứ cấp

a Tài liệu sơ cấp

Tài liệu sơ cấp là tài liệu mà người nghiên cứu tự thu thập, phỏng vấn trực tiếp,

hoặc nguồn tài liệu cơ bản, còn ít hoặc chưa được chú giải Một số vấn đề nghiên cứu có rất

ít tài liệu, vì vậy cần phải điều tra để tìm và khám phá ra các nguồn tài liệu chưa được biết Người nghiên cứu cần phải tổ chức, thiết lập phương pháp để ghi chép, thu thập số liệu

b Tài liệu thứ cấp

Loại tài liệu này có nguồn gốc từ tài liệu sơ cấp đã được phân tích, giải thích và thảo luận, diễn giải Các nguồn tài liệu thứ cấp như: Sách giáo khoa, báo chí, bài báo, tập san chuyên đề, tạp chí, biên bản hội nghị, báo cáo khoa học, internet, sách tham khảo, luận văn, luận án, thông tin thống kê, hình ảnh, video, băng cassette, tài liệu-văn thư, bản thảo viết tay, …

c Nguồn thu thập tài liệu

Thông tin thu thập để làm nghiên cứu được tìm thấy từ các nguồn tài liệu sau:

* Luận cứ khoa học, định lý, qui luật, định luật, khái niệm,… có thể thu thập được từ sách giáo khoa, tài liệu chuyên nghành, sách chuyên khảo,

* Các số liệu, tài liệu đã công bố được tham khảo từ các bài báo trong tạp chí khoa học, tập san, báo cáo chuyên đề khoa học, …

* Số liệu thống kê được thu thập từ các Niên Giám Thống Kê: Chi cục thống kê, Tổng cục thống kê, …

* Tài liệu lưu trữ, văn kiện, hồ sơ, văn bản về luật, chính sách, … thu thập từ các cơ quan quản lý Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội

Trang 36

* Thông tin trên truyền hình, truyền thanh, báo chí, … mang tính đại chúng cũng được thu thập, và được xử lý để làm luận cứ khoa học chứng minh cho vấn đề khoa học

3.2 Giả thuyết

3.2.1 Định nghĩa giả thuyết

Giả thuyết là câu trả lời ướm thử hoặc là sự tiên đoán để trả lời cho câu hỏi hay

“vấn đề” nghiên cứu Chú ý: giả thuyết không phải là sự quan sát, mô tả hiện tượng sự vật, mà phải được kiểm chứng bằng các cơ sở lý luận hoặc thực nghiệm

3.2.2 Các đặc tính của giả thuyết

* Giả thuyết phải theo một nguyên lý chung và không thay đổi trong suốt quá trình nghiên cứu

* Giả thuyết phải phù hợp với điều kiện thực tế và cơ sở lý thuyết

* Giả thuyết càng đơn giản càng tốt

* Giả thuyết có thể được kiểm nghiệm và mang tính khả thi

Một giả thuyết tốt phải thoả mãn các yêu cầu sau:

* Phải có tham khảo tài liệu, thu thập thông tin

* Phải có mối quan hệ nhân - quả

* Có thể thực nghiệm để thu thập số liệu, kiểm nghiệm kết quả

3.2.3 Mối quan hệ giữa giả thuyết và “vấn đề” khoa học

Sau khi xác định câu hỏi hay “vấn đề” nghiên cứu khoa học, người nghiên cứu hình thành ý tưởng khoa học, tìm ra câu trả lời hoặc sự giải thích tới vấn đề chưa biết (đặt giả thuyết) Ý tưởng khoa học này còn gọi là sự tiên đoán khoa học hay giả thuyết giúp cho người nghiên cứu có động cơ, hướng đi đúng hay tiếp cận tới mục tiêu cần nghiên cứu Trên cơ sở những quan sát bước đầu, những tình huống đặt ra (câu hỏi hay vấn đề), những cơ sở lý thuyết (tham khảo tài liệu, kiến thức đã có,…), sự tiên đoán và những dự kiến tiến hành thực nghiệm sẽ giúp cho người nghiên cứu hình thành một cơ sở lý luận khoa học để xây dựng giả thuyết khoa học

Ví dụ, khi quan sát thấy hiện tượng xoài rụng trái, một câu hỏi được đặt ra là làm thế nào để giảm hiện tượng rụng trái này (vấn đề nghiên cứu) Người nghiên cứu sẽ xây dựng giả thuyết dựa trên cơ sở các hiểu biết, nghiên cứu tài liệu, … như sau: Nếu giả thuyết cho rằng NAA làm tăng sự đậu trái xoài Cát Hòa Lộc Bởi vì NAA giống như kích thích tố Auxin nội sinh, là chất có vai trò sinh lý trong cây giúp tăng sự đậu trái, làm giảm hàm lượng ABA hay giảm sự tạo tầng rời NAA đã làm tăng đậu trái trên một số loài cây

ăn trái như xoài Châu Hạng Võ, nhãn …, vậy thì việc phun NAA sẽ giúp cây xoài Cát Hòa Lộc đậu trái nhiều hơn so với cây không phun NAA

3.2.4 Cấu trúc của một giả thuyết

a Cấu trúc có mối quan hệ nhân-quả

Cần phân biệt cấu trúc của một “giả thuyết” với một số câu nói khác không phải là giả thuyết Ví dụ khi nói: “Cây trồng thay đổi màu sắc khi gặp lạnh” hoặc “Tia ánh sáng cực tím gây ra đột biến gen”, câu này như là một câu kết luận, không phải là câu giả thuyết

Đôi khi giả thuyết đặt ra không thể hiện mối quan hệ ướm thử và không thể thực hiện thí nghiệm để chứng minh Ví dụ: “tôi chơi vé số, vậy thì tôi sẽ giàu” hoặc “nếu tôi giữ ấm men bia, vậy thì nhiều hơi gas sẽ sinh ra”

Cấu trúc của một giả thuyết có chứa quá nhiều “biến quan sát” và chúng có mối quan hệ với nhau Khi làm thay đổi một biến nào đó, kết quả sẽ làm thay đổi biến còn lại

Trang 37

Ví dụ: Cây trồng quang hợp tốt sẽ cho năng suất cao Có quá nhiều yếu tố ảnh hưởng đến khả năng quang hợp của cây

Một cấu trúc “giả thuyết” tốt phải chứa đựng “mối quan hệ nhân-quả” và thường

sử dụng từ ướm thử “có thể”

Ví dụ: giả thuyết “Phân bón có thể làm gia tăng sự sinh trưởng hay năng suất cây trồng” Mối quan hệ trong giả thuyết là ảnh hưởng quan hệ giữa phân bón và sự sinh trưởng hoặc năng suất cây trồng, còn nguyên nhân là phân bón và kết quả là sự sinh trưởng hay năng suất cây trồng

b Cấu trúc nếu-vậy thì

Một cấu trúc khác của giả thuyết “Nếu-vậy thì” cũng thường được sử dụng để đặt giả thuyết như sau:

“Nếu” (hệ quả hoặc nguyên nhân) … có liên quan tới (nguyên nhân hoặc hệ quả)

…, “Vậy thì” nguyên nhân đó có thể hay ảnh hưởng đến hệ quả

Ví dụ: “Nếu vỏ hạt đậu có liên quan tới sự nẩy mầm, vậy thì hạt đậu có vỏ nhăn có thể không nẩy mầm”

Một số nhà khoa học đặt cấu trúc này như là sự tiên đoán và dựa trên đó để xây dựng thí nghiệm kiểm chứng giả thuyết Ví dụ: Nếu dưỡng chất N có ảnh hưởng đến sự sinh trưởng của lúa, vậy thì bón phân N có thể làm gia tăng năng suất lúa

3.2.5 Cách đặt giả thuyết

Điều quan trọng trong cách đặt giả thuyết là phải đặt như thế nào để có thể thực hiện thí nghiệm kiểm chứng “đúng” hay “sai” giả thuyết đó Vì vậy, trong việc xây dựng một giả thuyết cần trả lời các câu hỏi sau:

1 Giả thuyết này có thể tiến hành thực nghiệm được không?

2 Các biến hay các yếu tố nào cần được nghiên cứu?

3 Phương pháp nào (trong phòng, khảo sát, điều tra, bảng câu hỏi, phỏng vấn, thí nghiệm…) được sử dụng trong nghiên cứu?

4 Các chỉ tiêu nào cần đo đạt trong suốt thí nghiệm?

5 Phương pháp xử lý số liệu nào mà người nghiên cứu dùng để bác bỏ hay chấp nhận giả thuyết?

Một giả thuyết hợp lý cần có các đặc điểm chính sau đây:

* Giả thuyết đặt ra phải phù hợp và dựa trên quan sát hay cơ sở lý thuyết hiện tại (kiến thức vốn có, nguyên lý, kinh nghiệm, kết quả nghiên cứu tương tự trước đây, hoặc dựa vào nguồn tài liệu tham khảo), nhưng ý tưởng trong giả thuyết là phần lý thuyết chưa được chấp nhận

* Giả thuyết đặt ra có thể làm sự tiên đoán để thể hiện khả năng đúng hay sai (thí

dụ, một tỷ lệ cao những người hút thuốc lá bị chết do ung thư phổi khi so sánh với những người không hút thuốc lá Điều này có thể tiên đoán qua kiểm nghiệm)

* Giả thuyết đặt ra có thể làm thí nghiệm để thu thập số liệu, để kiểm chứng hay chứng minh giả thuyết (đúng hay sai)

Tóm lại, giả thuyết đặt ra dựa trên sự quan sát, kiến thức vốn có, các nguyên lý, kinh nghiệm trước đây hoặc dựa vào nguồn tài liệu tham khảo, kết quả nghiên cứu tương

tự trước đây để phát triển nguyên lý chung hay bằng chứng để giải thích, chứng minh câu hỏi nghiên cứu Xét về bản chất logic, giả thuyết được đặt ra từ việc xem xét bản chất

riêng, chung của sự vật và mối quan hệ của chúng hay gọi là quá trình suy luận Quá

trình suy luận là cơ sở hình thành giả thuyết khoa học

Trang 38

Ví dụ: khi quan sát sự nẩy mầm của các hạt đậu hoặc dựa trên các tài liệu nghiên cứu khoa học người nghiên cứu nhận thấy ở hạt đậu bình thường, hạt no, vỏ hạt bóng láng thì nẩy mầm tốt và đều (đây là một kết quả được biết qua lý thuyết, tài liệu nghiên cứu trước đây,…) Như vậy, người nghiên cứu có thể suy luận để đặt ra câu hỏi đối với các hạt đậu có vỏ bị nhăn nheo thì nẩy mầm như thế nào? (Đây là câu hỏi) Giả thuyết được đặt ra là “Nếu sự nẩy mầm của hạt đậu có liên quan tới vỏ hạt, vậy thì hạt đậu có vỏ nhăn

có thể không nẩy mầm” Đây là một giả thuyết mà có thể dễ dàng làm thí nghiệm để kiểm chứng

3.2.6 Kiểm chứng giả thuyết qua so sánh giữa tiên đoán với kết quả thí nghiệm

Việc kiểm nghiệm là một yếu tố quan trọng đánh giá sự tiên đoán Nếu như sự tiên

đoán được tìm thấy là không đúng (dựa trên kết quả hay bằng chứng thí nghiệm), người nghiên cứu kết luận rằng giả thuyết (một phần giả thuyết) “sai” (nghĩa là bác bỏ hay chứng minh giả thuyết sai) Khi sự tiên đoán là đúng (dựa trên kết quả hay bằng chứng thí nghiệm), kết luận giả thuyết là “đúng”

Thường thì các nhà khoa học vận dụng kiến thức để tiên đoán mối quan hệ giữa biến độc lập và biến phụ thuộc Ví dụ: giả thuyết đặt ra trên sự tiên đoán là “Nếu gia tăng phân bón, làm gia tăng năng suất, vậy thì các cây đậu được bón phân nhiều hơn sẽ cho năng suất cao hơn” Nếu sự tiên đoán không dựa vào kiến thức khoa học, tài liệu nghiên cứu đã làm trước đây thì sự tiên đoán có thể vượt ra ngoài kết quả mong muốn như thí dụ

ở Hình 1: Đáp ứng của năng suất theo liều lượng phân N cung cấp ở cây đậu

Hình 3.1 Năng suất đậu theo lượng N bón (không dựa trên kiến thức khoa học hay

thực nghiệm)

Tuy nhiên trong thực tế cho thấy, năng suất chỉ có thể gia tăng đến một mức độ cung cấp phân N nào đó (Hình 2) Để xác định mức độ phân N cung cấp cho năng suất cao nhất (gần chính xác), thì nhà nghiên cứu cần có hiểu biết về “qui luật cung cấp dinh dưỡng” và một số tài liệu nghiên cứu trước đây về phân bón,… từ đó sẽ đưa ra một vài mức độ có thể để kiểm chứng

Ngày đăng: 06/10/2017, 11:27

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1] Phạm Viết Vƣợng (2000), Phương pháp luận nghiên cứu khoa học, Nxb Đại học quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp luận nghiên cứu khoa học
Tác giả: Phạm Viết Vƣợng
Nhà XB: Nxb Đại học quốc gia Hà Nội
Năm: 2000
[2] Nguyễn Văn Lê (2001), Phương pháp luận nghiên cứu khoa học, NXB GD Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp luận nghiên cứu khoa học
Tác giả: Nguyễn Văn Lê
Nhà XB: NXB GD
Năm: 2001
[3] Bảo Huy (2007), Thống kê và tin học trong lâm nghiệp, Bài giảng Cao học lâm nghiệp, Đại học Tây Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thống kê và tin học trong lâm nghiệp
Tác giả: Bảo Huy
Năm: 2007
[4] Bảo Huy, các cố vấn và cộng sự (2003), Sổ tay hướng dẫn phát triển công nghệ có sự tham gia, Mạng lưới đào tạo LNXH Việt Nam, Helvetas, Bộ NN & PTNT. Nxb NN& PTNT Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sổ tay hướng dẫn phát triển công nghệ có sự tham gia
Tác giả: Bảo Huy, các cố vấn và cộng sự
Nhà XB: Nxb NN & PTNT
Năm: 2003
[5] Nguyễn Ngọc Kiểng (1996), Thống kê học trong nghiên cứu khoa học, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thống kê học trong nghiên cứu khoa học
Tác giả: Nguyễn Ngọc Kiểng
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1996
[6] RANJIT KUMAR (1996), Research Methodolog, Step by step Guider for Beginner, Longman, Australia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Research Methodolog
Tác giả: RANJIT KUMAR
Năm: 1996

TỪ KHÓA LIÊN QUAN