Để thực hiện một bài giảng ngời thầy phải soạn bài cẩn thận, kỹ càng và hệ thống câu hỏi phải rõ ràng, mạch lạc nhằm giúp học sinh phát huy đợc tính tích cức chủ động, sáng tạo và phấn k
Trang 1I Phần mở đầu
I.1 Lý do chọn đề tài
Đất nớc chúng ta hiện nay đã hội nhập, hoà hung với sự tiến bộ của nhân loại vào thế kỷ 21 Do đó đòi hỏi toàn xã hội phải vào cuộc, trong đó ngành giáo dục có vai trò quan trọng Cần xây dựng và đào tạo nên mô hình nhân cách con ngời Việt Nam có đức có tài
Đứng trớc nhiều sự kiện của đất nớc, ngành giáo dục trong năm 2007 - 2008 đã có nhiều chuyển biến cả về chất và số l-ợng Đó là: Tiếp tục thực hiện đổi mới chơng trình nội dung phơng pháp giáo dục, đạo đức, lối sống, giáo dục hớng nghiệp
và giáo dục pháp luật - với phơng châm: “Quyết tâm nói không với tiêu cực trong thi cử và bệnh thành tích trong giáo dục”;
“Kiên quyết không để học sinh ngồi nhầm lớp”
Trên cơ sở nhận thức đầy đủ tính tất yếu của quá trình
đổi mới phơng pháp dạy học chuyển hoá thành ý thức trách nhiệm, tri thức và kĩ năng trong cả một quá trình Để thực hiện một bài giảng ngời thầy phải soạn bài cẩn thận, kỹ càng
và hệ thống câu hỏi phải rõ ràng, mạch lạc nhằm giúp học sinh phát huy đợc tính tích cức chủ động, sáng tạo và phấn khởi hứng thú học tập
Vì vậy đối với tôi là một giáo viên dạy Toán ở trờng phổ thông cần phải làm gì để dạy một giờ luyện tập hình học lớp
6 có hiệu quả nhất
Năm học 2007 - 2008 tôi đợc nhà trờng phân công dạy Toán lớp 6 Các em lớp 6 mới từ tiểu học chuyển cấp lên THCS nên
Trang 2có nhiều bỡ ngỡ với chơng trình, phơng pháp học các môn văn hoá nói chung, môn Toán nói riêng Đặc biệt là phân môn hình,
đại đa số các em rất ngại học môn này, thậm chí có em rất sợ học môn hình Đợc sự khích lệ của mọi ngời năm nay tôi xin mạnh dạn trao đổi lại những việc mình đã làm đợc, những ý tởng của mình với các đồng nghiệp trong phạm vi rộng hơn,
để qua đấy góp phần nhỏ bé của mình vào việc nâng cao chất lợng môn Toán của trờng, của huyện nhà
I.2 Mục đích nghiên cứu
Nh chúng ta đã biết môn Toán là một môn năm nào cũng thi Cho nên giáo viên dạy môn Toán lớp 6 - cần giúp các em có đợc
động cơ thái độ học tập đúng đắn ngay từ đầu cấp
Nếu ngời học bị một lỗ hổng nào trong hệ thống kiến thức thì rất khó hoặc thậm chí không thể tiếp thu đợc những phần còn lại Vì vậy ngoài tiết dạy lí thuyết có vị trí hết sức quan trọng, thì tiết luyện tập có tác dụng hoàn thiện các kiến thức của tiết lý thuyết - nhằm rèn luyện kỹ năng cần thiết phát triển t duy logic của học sinh
I.3 Thời gian, địa điểm
Năm học 2007 - 2008 tôi đợc phân công dạy Toán lớp 6A1 Dới sự chỉ đạo của nhà trờng tôi đã tiến hành điều tra cơ bản
và thu đợc một số kết quả cơ bản nh sau:
Lớp 6A1 tổng số học sinh là 38, trong đó học sinh nữ 14; học sinh nam 24 Đại đa số học sinh là con em gia đình làm nghề buôn bán tự do
Qua khảo sát chất lợng môn Toán đầu năm tôi thu đợc kết quả nh sau:
Trang 3Loại giỏi: 2 học sinh
Loại khá: 6 học sinh
Loại trung bình: 19 học sinh
Loại yếu: 6 học sinh
Loại kém: 5 học sinh
I.4 Đóng góp mới về mặt lý luận và thực tiễn
Trong thực tế một số học sinh hay coi nhẹ giờ luyện tập cho đó không phải là tiếp nhận kiến thức, coi đó là công việc hoàn toàn của thầy, có thói quen ỷ lại, lời suy nghĩ, không tự giác làm bài, khả năng diễn đạt trình bày và vẽ hình rất hạn chế
Giáo viên dạy theo chơng trình đổi mới hoàn toàn, giờ luyện tập cho học sinh càng trở nên quan trọng và ngày càng phải nâng cao hiệu quả giờ lên lớp
II Phần nội dung
II.1 Ch ơng 1 : Tổng quan
Mục tiêu của giáo dục hiện đại là phát triển hoàn thiện nhân cách con ngời Đã đến lúc chúng ta cần phải thay đổi cách nhìn về con ngời, vì giáo dục con ngời, trong đó có vấn
đề dạy và học toán - một môn học hớng con ngời vơn tới chân, thiện, sáng tạo của tri thức
Tìm hiểu và kích thích hứng thú học toán của học sinh là hớng đi tích cực để phát huy trí tuệ, năng lực sáng tạo của ngời học sinh trong phơng pháp dạy học toán hiện nay
Trang 4Giáo dục và đào tạo không có nghĩa là áp đặt một cách giả tạo từ ngoài vào cho học sinh những tri thức hoàn toàn xa lạ cách biệt với đời sống tinh thần, đời sống thực của các em
Giáo dục và đào tạo chính là đem đến cho học sinh những tri thức, phẩm chất, tình cảm, thức tỉnh trong các em những gì vốn có, giúp các em phát triển và hớng dẫn sự phát triển đó theo một hớng nhất định
Với đặc điểm của học sinh lớp 6 theo tôi nghĩ mình cần
động viên, phát triển sự hứng thú trong học tập nói chung và môn Toán nói riêng - giúp các em có đợc động cơ học tập đúng
đắn, các em say mê học tập
Từ nhận thức trên, trong thực tế giảng dạy, ngời thầy khi lên lớp phải lấy học sinh làm trung tâm, giáo viên phải thành thạo, phối hợp nhịp nhàng khi sử dụng các trang thiết bị và phân bố thời gian hợp lý của một tiết luyện tập
Tiết luyện tập không phải chỉ là tiết giải bài tập toán đã cho học sinh làm ở nhà hay học sinh làm trên lớp Tuy nhiên trong tiết luyện tập sẽ có phần giải bài tập Tiết luyện tập có nghĩa là ngời thầy phải luyện tập những cái gì cho học sinh, ngời trò phải tập những gì? Đó là nội dung chủ yếu của tiết luyện tập “Tiết luyện tập” có mục đích nội dung rõ ràng hơn tiết “Bài tập”
II.2 Ch ơng 2 : Nội dung vấn đề nghiên cứu
Trong bộ môn Toán thì hình học có tính trừu tợng cao, tính logic chặt chẽ Vì vậy trong dạy học ngoài suy diễn phải chú trọng đến nguyên tắc xây dựng trực quan toán học Để tiết học có hiệu quả cao, trong các buổi sinh hoạt chuyên môn
Trang 5theo nhóm, theo tổ chúng tôi thờng xuyên trao đổi nội dung bài dạy từ đó thống nhất phơng pháp và nội dung dạy của từng bài sao cho phù hợp với mọi đối tợng học sinh mà mình dạy
Để đạt đợc yêu cầu đề ra cho tiết học, ngời thầy phải chuẩn bị công phu từ đồ dùng dạy học đến trình tự lên lớp Trong suốt quá trình dạy phải toát lên nội dung cần luyện tập là gì?
Là giáo viên trực tiếp giảng dạy toán lớp 6, tôi xin nêu một
số ý kiến về dạy giờ luyện tập hình:
Tiết 10: Luyện tập khi nào AM + MB = AB?
I Mục tiêu
- Học sinh củng cố “Nếu M nằm giữa hai điểm A và B thì
MA +MB = AB” và ngợc lại
- Nhận biết đợc một điểm nằm giữa hay khong nằm giữa hai điểm khác
- Bớc đầu tập suy luận “Nếu có a + b = c, và biết hai số trong ba số a, b, c thì tìm đợc số còn lại”
- Cẩn thận khi đo các đoạn thẳng và cộng các độ dài
II Chuẩn bị
- Thớc thẳng, sách giáo khoa, giấy trong, máy chiếu, sách bài tập
- Bảng phụ, phấn màu
III Ph ơng pháp
- Trực quan, vấn đáp, thuyết trình, phối hợp các phơng pháp
Trang 6IV Hoạt động trên lớp.
1 ổn định lớp (1’)
2 Kiểm tra bài cũ (7’)
- Học sinh lên bảng làm bài tập sau (cả lớp làm vào vở)
Học sinh 1: Khi nào thì AM + MB = AB ?
Làm bài tập 46 - Sách bài tập (GB chiếu đề bài cho học sinh làm)
Học sinh 2: Cho ba điểm thẳng hàng A, B, C Làm thế nào để chỉ đo hai lần mà biết đợc độ dài của cả ba đoạn thẳng AB, BC, CA ?
Làm bài tập 47 (Sách bài tập)
3 Luyện tập tại lớp
TG Hoạt động của
thầy
Hoạt động của trò
Nội dung ghi bảng
5’ - Giáo viên treo đề
bài trên bảng phụ
- Yêu cầu học sinh
đọc kỹ đề và làm
bài
- HS làm vào giấy trong
- 1 HS lên bảng trình bày điền vào bảng phụ
I Bài tập trắc nghiệm
Nếu điểm M nằm giữa hai điểm A, B thì:
A MA + AB = MB
B MB + BA = MA
C AM + MB = AB
D AM + MB ≠ AB
25 - Giáo viên treo đề II Bài tập tự luận
Trang 7’ bài trên bảng phụ
(hoặc GV chiếu
đề bài lên màn
hình)
- Yêu cầu học sinh
nghiên cứu kỹ đề
và làm bài và các
em đợc làm việc
theo nhóm (Mỗi bàn
1 nhóm)
- Các nhóm khác
làm vào giấy trong
- Nhận xét nhóm
làm trên bảng phụ
- Chiếu bài làm của
các nhóm để đối
chiếu, so sánh,
nhận xét
- Giáo viên treo đề
bài trên bảng phụ
- Học sinh đọc kỹ
đề và làm bài
- Nhận xét bài làm
- Học sinh làm vào giấy trong theo nhóm
- Cử đại diện nhóm lên trình bày điền vào bảng phụ
- Nhận xét thiếu sót, sai lầm của các nhóm
- Hoàn thiện bài vào vở
- Học sinh làm vào giấy trong
- Một học sinh lên bảng làm bài phần a, b
Bài tập 49 - SGK
A M N B
A N M B a) AN = AM + MN
BM = BN + NM Theo đề bài ta có
AN + BM, ta có:
AM + MN = BN +
NM hay AM = BN b) AM = AN + NM
BN = BM + MN Theo giả thiết
AN = BM, mà NM
=MN suy ra AM = BN
Bài tập 48- Sách bài tập
a) Ta có:
AM + MB
= 3,7 + 2,3 = 6 (cm)
Mà AB = 5 cm Suy ra: AM + MB ≠
AB
Trang 8trên bảng
- Chiếu bài làm của
một số học sinh để
đối chiếu, so sánh,
nhận xét
- Cuối cùng: GV
chiếu bài làm mẫu
lên bảng
- Nhận xét thiếu sót, sai lầm của các nhóm, của các bạn
- Hoàn thiện bài vào vở
Vậy điểm M không nằm giữa A và B
Lý luận tơng tự ta có:
AB + BM ≠AM Vậy
điểm B không nằm giữa A và M
MA + AB ≠MB Vậy
A không nằm giữa
M và B b) Vì ba điểm A,
B, M không có
điểm nào nằm giữa hai điểm còn lại, nên ba điểm A,
B, M không thẳng hàng
- Chiếu đề bài lên
màn hình
- Yêu cầu học sinh
làm việc cá nhân
- Một học sinh lên
bảng điền
- Yêu cầu học sinh
nhận xét và hoàn
- Làm vào giấy trong
- Đối chiếu nội dung bài làm
- Nhận xét bài làm
Bài tập 48 (SGK)
A M N P Q B
Gọi A, B là điểm
đầu và cuối bề rộng lớp học
M, N, P, Q là các
điểm cuối của mỗi lần căng dây
Trang 9thiện bài tập vào
vở
- GV: Hớng dẫn học
sinh dùng thớc cuộn
đo chiều rộng của
lớp để kiểm tra kết
quả bài toán
của bạn và hoàn thiện vào vở
Theo đề ra ta có:
AM + MN + NP +
PQ + QB = AB Vì AM = MN = NP
= QP = 1, 25 m
QP =
5
1
1,25 = 0,
25 (m)
Do đó: AB = 4.1,24 + 0,25 = 5,25 (m)
4 Củng cố (4’)
- Giáo viên hệ thống toàn bài và chốt lại kiến thức cơ bản
“Khi nào thì AM + MB = AB” thông qua bài tập Đồng thời sửa chữa sai lầm của học sinh khi sử dụng đồ dùng học tập: thớc
để đo đoạn thẳng, cộng độ dài đoạn thẳng
5 Hớng dẫn về nhà (3’)
- GV: Dùng phiếu học tập: ghi nội dung hớng dẫn về nhà
(Chiếu lên màn hình để học sinh theo dõi nội dung của phiếu)
+ Xem lại các bài tập đã làm
+ Làm các bài tập 50, 51 (SGK ) + 50, 51 (SBT)
Gợi ý: Bài 51 (SGK)
Vì TA + AV = 1 + 2 = 3 = TV nên điểm A nằm giữa hai
điểm và
Trang 10+ Xem trớc + chuẩn bị nội dung bài: “Vẽ đoạn thẳng cho biết độ dài”
Trong một tiết dạy “Luyện tập”, giáo viên cần phối kết hợp hài hoà các hình thức hoạt động của học sinh sao cho phù hợp với mỗi bài tập Làm đợc nh thế thì không khí lớp học sôi nổi, từng cá nhân, hoặc mỗi nhóm hoạt động có hiệu quả, tránh
đ-ợc hiện tợng học sinh đến lớp chỉ chép bài, giải bài
Bên cạnh đó giáo viên cần chú ý sử dụng đèn chiếu, máy chiếu hoặc bảng phụ một cách thành thạo nhanh nhẹn thì bài giảng mới thu đợc nhiều kết quả tốt
II.3 Ch ơng 3 : Ph ơng pháp nghiên cứu - kết quả nghiên cứu
Qua một năm giảng dạy tôi nhận thấy các em học sinh lớp 6A1 rất nhiệt tình hứng thú học môn Toán nói chung và chăm chỉ học môn Hình
Tuy nhiên còn một số ít học sinh do hoàn cảnh sống không thuận lợi, nhận thức kém, nên sự áp dụng kiến thức còn hạn chế
Từ những tìm hiểu sâu sắc về hình thức cách học tập của học sinh khi học sách giáo khoa toán 6 ở lớp cũng nh ở nhà, tôi đã tạo cho học sinh
1 Hứng thú học tập và yêu thích bộ môn
2 Hình thành thói quen cách học tập tích cực, tự giác và làm theo bài tập mẫu
Kết quả bộ môn Toán năm 2007 - 2008 của lớp 6A1 do tôi dạy Toán đã đạt đợc nh sau:
- Loại giỏi: 32%
- Loại khá: 25 %
- Loại TB: 35 %
Trang 11- Loại yếu : 5 %
- Loại kém: 3 %
III Phần kết luận - đề nghị
Qua một năm chủ nhiệm, dạy Toán ở lớp 6A1 tôi nhận thấy
“Luyện tập” trong quá trình học lý thuyết là phơng pháp tốt, giúp cho học sinh tích cực học tập, hứng thú say mê học tập
-có hứng thú học tập thì các em mới cảm thụ sâu sắc giá trị của đời sống văn hoá nhân loại Để đạt đợc điều trên ngời thầy cần có đức tính kiên trì, có lòng yêu nghề, tâm huýêt với
sự nghiệp giáo dục và đào tạo, phải có niềm tin vào học sinh Bên cạnh đó ngời thầy phải luôn luôn trau dồi kiến thức để bài soạn, bài giảng có sức thuyết phục đối với học sinh và ngời thầy cũng phải biết một số thủ thuật:
Hình thức 1: Giới thiệu định nghĩa toán học dới dạng
bài tập có nội dung thực tế
Hình thức 2: Lựa chọn bài tập có tính chất tổng hợp
trong phần củng cố, thông qua đó khắc sâu kiến thức cơ bản của tiết học
Hình thức 3: Chuyển từ cụ thể hoá đến khái quát hoá
Tóm lại bằng thực tế công việc đã làm, đã trao đổi trong phạm vi của nhóm toán lớp 6 Nên tôi mạnh dạn viết lại những việc mình đã làm, nhằm góp phần nhỏ bé của mình vào việc nâng cao chất lợng giáo dục của trờng của địa phơng Do trình độ năng lực có hạn nội dung bài viết chắc sẽ không tráng khỏi sai sót với ngời đọc Rất mong đồng nghiệp lợng thứ và chỉ ra giúp
Xin trân thành cảm ơn!
Trang 12M¹o Khª, ngµy 28 th¸ng 4 n¨m 2008
Ngêi viÕt
Ph¹m ThÞ Nguyªn
IV tµi liÖu tham kh¶o - phô lôc
Tµi liÖu tham kh¶o
- S¸ch gi¸o khoa
- S¸ch gi¸o viªn
- S¸ch bµi tËp
- S¸ch «n tËp vµ kiÓm tra
- Tµi liÖu båi dìng thêng xuyªn
phô lôc
®Çu 1
tµi 1
cøu 2
Trang 13I.3 Thời gian địa
điểm 2
I.4 Đóng góp mới về mặt lí luận, về mặt thực tiễn 2
dung 3
quan 3
II.2 Chơng 2: Nội dung vấn đề nghiên cứu 4
II.3 Chơng 3: Phơng pháp nghiên cứu, kết quả nghiên cứu 8
nghị 9
khảo 10