Qua việc tìm hiểu kĩ hợpphần tiếng Việt trong chương trình Ngữ văn THPT; khảo sát tâm lí và năng lựchọc sinh THPT; nghiên cứu về lí thuyết graph; qua sự thử nghiệm của bản thân và một số
Trang 1A. PHẦN MỞ ĐẦU
Trong xu hướng hiện nay, việc đổi mới phương pháp dạy học được đặt
ra như một vấn đề cấp thiết nhằm hướng dẫn người học chủ động tư duy trongquá trình tiếp nhận tri thức, dạy cho người học phương pháp tự học, tự thu nhậnthông tin một cách có hệ thống, có tư duy phân tích, tổng hợp, phát triển đượcnăng lực của mỗi học sinh
Tuy nhiên trong thực tế, các giờ dạy tiếng Việt nói chung và dạy luyện tậpthực hành tiếng Việt nói riêng còn đơn điệu về hình thức, chưa thực sự chú trọngphát triển tư duy Phần lớn học sinh chưa thấy được vai trò môn học này, chođây là môn học “khô, khó, khổ”, đặc biệt ở phần luyện tập thực hành Thậm chínhiều giáo viên cũng chưa thực sự đầu tư vào hợp phần này, dẫn đến cách dạyqua quýt, đối phó Giờ luyện tập thực hành, vì thế, càng trở nên thiếu sức hút đốivới học sinh
Làm thế nào để thắp lên tình yêu tiếng Việt đối với các em qua những bàihọc trên lớp? Nhiều thầy cô tâm huyết với nghề đã tìm tòi, sáng tạo và thửnghiệm những phương pháp khác nhau Trên con đường ấy, có người đã chọncách mô hình hoá các đơn vị kiến thức và mối quan hệ giữa chúng thành những
sơ đồ, bảng biểu để học sinh dễ hiểu, dễ nhớ Như vậy, họ đã “vô thức” chạm tớiphương pháp graph (gọi là vô thức vì phần lớn giáo viên chưa có hiểu biết đầy
đủ về lí thuyết graph) Dù có ý thức sáng tạo,thuy nhiên do chưa nắm được bảnchất lí thuyết này nên cách làm của họ chưa phát huy được tối đa hiệu quả
Trong suốt 7 năm đứng trên bục giảng, câu hỏi về việc tạo ra sức hấp dẫncủa giờ luyện tập thực hành tiếng Việt luôn ám ảnh tôi Qua việc tìm hiểu kĩ hợpphần tiếng Việt trong chương trình Ngữ văn THPT; khảo sát tâm lí và năng lựchọc sinh THPT; nghiên cứu về lí thuyết graph; qua sự thử nghiệm của bản thân
và một số đồng nghiệp, tôi nhận thấy, sử dụng graph trong luyện tập thực hành
Trang 2tiếng Việt là phương pháp mới mẻ, tích cực, vừa giúp học sinh dễ hiểu, dễ nhớ,vừa giúp giáo viên hình thành, rèn luyện các thao tác tư duy, khả năng tự họccho học sinh Đó cũng là một cách gõ vào niềm đam mê môn học của các em Tất cả những vấn đề trình bày ở trên chính là lí do để tôi triển khai sáng
kiến kinh nghiệm của mình với đề tài: Nâng cao chất lượng giờ luyện tập thực hành tiếng Việt cho học sinh THPT bằng việc sử dụng graph.
I CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1 vài nét về lí thuyết graph
1.1 Khái niệmGraph là một lí thuyết có nguồn gốc từ toán học, tồn tại như một khoa họcđộc lập Đến nay, lí thuyết graph đã được sử dụng rộng rãi, quen thuộc trongnhiều ngành khoa học như: Tâm lí học, Xã hội học, Giáo dục , Xây dựng, Giaothông
Theo tiếng Anh, graph (danh từ) có nghĩa là: Sơ đồ, đồ thị, mạng, mạch.Graph (động từ) có nghĩa là: vẽ sơ đồ, vẽ đồ thị, mạng, mạch Graph(tính từ) cónghĩa là: thuộc về sơ đồ, đồ thị, mạng, mạch
Sở dĩ khi nghiên cứu về lí thuyết graph hoặc sử dụng graph, các nhà khoahọc ở Việt Nam vẫn giữ nguyên tên “graph”, không chuyển dịch sang tiếng Việtbởi trong thực tế không phải bất kì sơ đồ nào cũng là graph Có những sơ đồkhông phải là graph
Theo lí thuyết toán, graph là tập hợp số lượng hữu hạn các đỉnh và các cung có đầu mút tại các đỉnh đó.
Như vậy, điều kiện để lập một graph là phải có 2 yếu tố: tập hợp các đỉnh
và tập hợp các cung Mỗi cung lại là tập hợp của một cặp đỉnh có quan hệ vớinhau Mỗi cặp đỉnh không có quan hệ với nhau không lập thành một cung trong
Trang 3graph Bản chất graph được quyết định bởi số lượng các đỉnh, số lượng các cung
và mối quan hệ giữa chúng
2.2 Phân loại graph
- Thứ nhất, graph định hướng và graph vô hướng
Graph định hướng là graph có sự xác định rõ định nào là đỉnh xuất pháttrong graph Các đoạn nối các đỉnh với nhau là những đoạn thẳng có mũi tên
Ví dụ:
Graph vô hướng là graph không chỉ rõ đâu là chiều liên hệ, vận động của các yếu
tố Các đoạn để nối các đỉnh với nhau là những đoạn thẳng không có mũi tên
Ví dụ:
- Thứ hai, graph khép và graph mở
Graph khép là graph trong đó mọi cặp đỉnh đều có sự liên thông với nhau
Ví dụ:
Trang 4Graph mở là graph trong đó không phải tất cả các đỉnh đều có quan hệ liênthông với nhau mà ít nhất phải có hai đỉnh treo.
Ví dụ: Dưới đây là 1 graph có 3 đỉnh treo
- Thứ ba, graph đủ, graph câm, graph khuyết
Graph đủ là graph mà tất cả các đỉnh của nó đều được ghi chú hoặc ghi kíhiệu một cách đầy đủ, không thiếu một đỉnh nào
Graph câm là graph mà tất cả các đỉnh của nó đều rỗng, không có bất kỳmột sự lấp đầy nào bằng ngôn từ, bằng ký hiệu hoặc sự ghi chú nào ở mọi đỉnh(trừ đỉnh xuất phát)
Nội dung giao tiếp
Mục đich giao tiếp
Phuơng tiện
và cách thức giao tiếp
Nhân tố giao tiếp
Trang 5Graph khuyết là graph trong đó có một hoặc một số đỉnh rỗng, các đỉnhcòn lại không rỗng.
Ví dụ:
Nhân tố giao tiếp
Nội dung giao tiếp
2 Thực trạng dạy luyện tập thực hành tiếng Việt ở THPT
2.1 Thời lượng chương trìnhTổng số tiết dành cho học phần tiếng Việt trong chương trình THPT (theosách giáo khoa chương trình chuẩn) là 39 tiết, trong đó lớp 10 là 11 tiết, lớp 11 là
15 tiết, lớp 12 là 13 tiết Số tiết dành riêng cho bài thực hành tiếng Việt cả 3 nămhọc là 10 tiết, trong đó lớp 10 là 2 tiết, lớp 11 là 4 tiết, lớp 12 là 4 tiết
Qua việc thống kê, có thể thấy thời lượng dành cho các bài thực hànhtiếng Việt nói riêng và phần tiếng Việt nói chung không nhỏ Điều đáng nói làphần thực hành tiếng Việt không chỉ là một nội dung cơ bản của một giờ họctrong các bài thực hành mà còn là một nội dung trong các bài học về lí thuyếttiếng Việt Do vậy, có thể thấy đây là một hoạt động quan trọng của giáo viên vàhọc sinh trong mỗi giờ học tiếng Việt
2.2 Thực tế việc dạy của giáo viên
- Về kĩ năng soạn bài và chuẩn bị đồ dùng dạy học
Nhìn chung, đa số các thầy cô đều tập trung nhiều vào phần lí thuyết, coinhẹ thực hành Riêng ở các bài luyện tập thực hành, giáo viên thường không xácđịnh trúng mục tiêu cụ thể của bài học, chỉ tập trung vào kiến thức cần ôn tập,coi nhẹ việc rèn luyện các thao tác tư duy, năng lực thực hành, phương pháp học
Trang 6và khả năng tự học của học sinh Vì vậy, giáo viên ít đầu tư sử dụng đồ dùng dạyhọc khi dạy dạng bài này Một số giáo viên có sử dụng sơ đồ, bảng biểu nhưng
sử dụng một cách vô thức chứ không căn cứ trên hiểu biết về lí thuyết graph, vìthế giờ học thường không có sự sáng tạo, gây ra sự đơn điệu, không hấp dẫn thuhút học sinh
- Về phương pháp dạy học
Qua việc sử dụng phiếu điều tra lấy ý kiến của giáo viên về tình hình sửdụng các phương pháp để dạy luyện tập thực hành tiếng Việt, tôi thu được kếtquả được thống kê như sau:
Bảng 1: Tình hình sử dụng phương pháp dạy học trong luyện tập thực hành
rèn luyện Theo mẫu
Phương pháp giao tiếp
Phương pháp trực quan
Phương pháp giảng giải
Phương pháp giảng giải trực quan
Ghi chú
Số nguời Tỉ lệ % nguờiSố Tỉ lệ% nguờiSố Tỉ lệ% nguờiSố lệ %Tỉ nguờiSố Tỉ lệ% Phương
Trang 7đúng Nhiều người chưa biết cách thiết kế và sử dụng sơ đồ trong luyện tập thựchành và họ cho rằng đó là việc làm mất nhiều thời gian và khó sử dụng.
2.3 Thực tế việc học của học sinh
Qua khảo sát chúng tôi thấy phần lớn học sinh chưa thấy được tầm quantrọng của việc luyện tập thực hành tiếng Việt, không yêu thích giờ học, khôngphát huy được tính chủ động, tích cực trong học tập, chưa được phát triển tư duy,năng lực tự học Trong giờ luyện tập, nếu giáo viên làm quá nhiều thay cho họcsinh, học sinh sẽ ỉ lại, ì trệ; ngược lại nếu giáo viên yêu cầu học sinh làm quánhiều mà ít cho sự hướng dẫn, tổ chức của giáo viên, học sinh sẽ mệt mỏi, chánnản và làm mang tính đối phó Như vậy, có thể thấy việc sử phương pháp hợp lýtrong dạy luyện tập thực hành tiếng Việt là một vấn đề hết sức quan trọng
II SỬ DỤNG GRAPH ĐỂ LUYỆN TẬP THỰC HÀNH TIẾNG VIỆT CHO HỌC SINH THPT
1 Điều kiện để lập graph
Lập graph luyện tập được hiểu là việc giáo viên tổ chức, hướng dẫn học sinh dùng graph để trình bày kết quả giải một bài tập hoặc một nhóm bài tập nào đó trong SGK hoặc bài tập do chính giáo viên chuẩn bị.
Để lập được graph, một bài tập tiếng Việt phải đáp ứng 2 điều kiện: có đủcác đơn vị kiến thức (từ 2 trở lên) và các đơn vị ấy có mối quan hệ với nhau Vìvậy, không phải bất kì bài tập hay nhóm bài tập nào cũng có thể và cũng cầnphải giải bằng cách lập graph Trong chương trình luyện tập thực hành tiếng ViệtTHPT, số lượng bài tập là 153 bài, tuy nhiên trong đó chỉ có 37 bài tập có thểgiải bằng graph (Khối 10: 12/44 bài; Khối 11: 14/70 bài; Khối 12: 11/39 bài) Đó
là những bài tập có đầy đủ các yếu tố và xác định rõ mối quan hệ giữa các yếu tố
ấy Chỉ khi có đủ các điều kiện này chúng ta mới có thể tiến hành lập được graph
cho một bài luyện tập thực hành
Trang 8Ví dụ 1: Bài tập phần luyện tập của bài Phong cách ngôn ngữ sinh hoạt- SGK
a, Những từ ngữ, kiểu câu, kiểu diễn đạt nào thể hiện tính cụ thể, tính cảmxúc, tính cá thể của phong cách ngôn ngữ sinh hoạt?
b, Theo anh (chị), ghi nhật ký có lợi gì cho cho phát triển ngôn ngữcủa mình?
Ở bài tập trên, trong ý của câu hỏi (a), ta có thể xác định được ba đơn vị
kiến thức cơ bản cần xác định trong đoạn trích Đó là biểu hiện của tính cụ thể, tính cảm xúc, tính cá thể của phong cách ngôn ngữ Ba yếu tố này có mối liên hệ
với nhau, liên quan đến nhau, cũng là đặc trưng cơ bản của phong cách ngôn ngữsinh hoạt Từ ba yếu tố này, chúng ta có thể triển khai ra các đơn vị kiến thứcnhỏ hơn Chẳng hạn, tính cụ thể trong đoạn trích bộc lộ qua sự phân thân đốithoại của tác giả (Nghĩ gì đấy Th ơi? Đáng trách quá Th ơi! Th có nghe );thời gian đêm khuya; không gian rừng núi Từ việc xác định rõ các đơn vị kiến
thức trong bài tập, ta nhận thấy bài tập đáp ứng hai điều kiện để lập graph: có ba yếu tố và các yếu tố có mối liên hệ chặt chẽ với nhau Mặt khác, có thể thấy rằng
Trang 9đối với ý a của bài tập này, lập graph là một cách giải hợp lý, rõ ràng, dễ hiểu,vừa bao quát, vừa cụ thể Như vậy ta xác định được đỉnh xuất phát của graph sẽ
là “Đặc trưng phong cách ngôn ngữ sinh hoạt” (qua đoạn trích), ba đơn vị kiếnthức sẽ là 3 đỉnh chính, các yếu tố triển khai 3 đơn vị này là những đỉnh nhánh
Từ đó, ta có thể lập graph sau:
2 Phân loại bài tập tiếng Việt theo lí thuyết grap
2.1 Loại bài tập tái hiện kiến thức
Đây là dạng bài tập yêu cầu học sinh nhớ lại kiến thức đã học, tái hiện đầy
đủ vào trong graph Ở những bài tập này, giáo viên thường đưa ra 1 graph câmhoặc graph khuyết, yêu cầu học sinh hoàn chỉnh graph bằng cách lấp đầy vào cáckhung đó những kiến thức cần thiết
2.2 Loại bài tập vận dụng kiến thức
Để giải được yêu cầu của những bài tập này, học sinh buộc phải nắm được bản chất nội dung kiến thức của bài học, không thể học vẹt hay học đối phó Dạng bài tập này gắn liền với graph sai, graph thiếu Giáo viên đưa ra một graph
Bài tập 1- Đặc trưng phong cách ngôn ngữ sinh
Giọng điệu thân mật
Câu nghi vấn
Những
từ ngữ thê hiện dòng tâm tư
Ngôn ngữ của một nguời giàu cảm xúc, có đơì sống nội tâm phong phú
Câu cảm thán
Trang 10không đúng với bản chất vấn đề (thiếu đỉnh, thiếu ghi chú, thiếu cung hoặc nhầmđỉnh, nhầm cung ), yêu cầu học sinh phát hiện sai và sửa
2.3 Loại bài tập sáng tạo
Ở những bài tập này, giáo viên thường yêu cầu học sinh tự lập graph đểgiải một bài tập cụ thể, hoặc phát triển tiếp một graph đã cho hay từ một graph
đã cho, yêu cầu học sinh lập một graph khác nhưng bản chất graph không thayđổi
3 Quy trình lập graph luyện tập thực hành tiếng Việt
Việc lập graph luyện tập thực hành tiếng Việt trên lớp có thể được tiến
hành theo các bước sau:
3.1 Lựa chọn bài tập và xác định đỉnh của graph
Việc lựa chọn bài tập để luyện tập bằng graph là khâu quan trọng đầu tiên
Để phương pháp này có hiệu quả, giáo viên phải lựa chọn trước các bài tập đểsao cho các bài tập ấy có thể lập graph giải một cách thuận lợi, dễ dàng Sốlượng bài tập tiếng Việt trong SGK Ngữ Văn của cả 3 lớp 10, 11, 12 rất lớn, tuynhiên không phải bài tập nào cũng cho phép học sinh lập graph một cách thuậnlợi, và việc lập graph cũng không phải lúc nào cũng cho một lời giải sáng sủa, rõràng Bài tập cho phép chúng ta lập được graph chính là bài phải đủ điều kiện: sốlượng yếu tố và mối quan hệ giữa các yếu tố đó Bài tập nào không đủ điều kiện
Buớc 2: Lập graph giải bài tập
Buớc 3: Kiểm tra graph đã lập
Trang 11trên, nghĩa là không lập thành nhũng đỉnh khác nhau trong mối quan hệ lẫn nhau,bài tập đố sẽ không được tiến hành luyện tập bằng graph.
3.2 Lập graph giải bài tập:
Đây là bước chuyển lời giải bằng ngôn ngữ thông thường thành ngôn ngữgraph Nếu giải bằng ngôn ngữ thông thường, ta chỉ có kết quả riêng của từngphần hay từng bài tập riêng lẻ và mối quan hệ lẫn nhau giữa các kết quả đó sẽkhông được xác lập Nhưng nếu giải bằng graph, chúng ta được cùng lúc cả kếtquả từng phần, từng bài tập lẫn mối quan hệ lẫn nhau giữa các kết quả ấy
Ví dụ 1 : Với bài tập 1 phần luyện tập của bài Từ ngôn ngữ chung đến lời nói của cá nhân T35 ; SGK 11,T1, giáo viên hướng dẫn học sinh xác định đỉnh
xuất phát, các đỉnh chính và lập cung thích hợp cho các đỉnh đó Việc xác địnhtên gọi phải căn cứ vào yêu cầu của bài tập Bài tập này yêu cầu xác định sự sáng
tạo riêng của nội dung khi sử dụng từ nách Như vậy, đỉnh xuất phát sẽ là từ nách Từ nghĩa gốc của từ là “mặt dưới chỗ cánh tay nối với ngực”, Nguyễn Du
đã chuyển nghĩa bằng phương pháp ẩn dụ để chỉ đặc điểm một sự vật hiện tượng
Từ đó, ta có thể xác đỉnh 4 đỉnh chính: Nghĩa gốc; nghĩa chuyển; phương thức chuyển nghĩa của từ; tác dụng Học sinh cần lập được đỉnh xuất phát, 4 đỉnh
chính Khi đã lập xong được đỉnh, giáo viên hướng dẫn học sinh ghi lời giải vàocác đỉnh đó Mỗi đỉnh như vậy sẽ ứng với nội dung trả lời một yêu cầu của bàitập Lời giải đó chính là những lời ghi chú cần thiết cho một đỉnh trong graph.Với bài tập trên, cuối cùng các em có thể trình bày lời giải của mình bằng cáchlập một graph đầy đủ như sau:
Nghĩa
Bài tập 1 - Từ “Nách”
Trang 12Ví dụ 2 : Với bài tập 4, T36, SGK 11 T1, giáo viên cũng có thể hướng dẫn họcsinh cách giải tương tự Trước hết, giáo viên giúp các em phân tích bài tập để tìm
ra các đỉnh cần thiết cho việc lập graph Dựa vào đề bài và sự và sự gợi ý củagiáo viên, các em nhận ra số đỉnh cần thiết để lập graph sẽ như sau: từ mới tạo
(đỉnh xuât phát); từ mới; các từ có sẵn; phương thức chọn từ Các đỉnh trên đã
nhóm lại yêu cầu của 3 ý a,b, c Như vậy, ở bài tập này ta sẽ lập chung được 1graph, giáo viên lần lượt cho các em trình bày lời giải của mình tại các đỉnh củagraph, cuối cùng các em có graph sau:
Graph chính là lời giải cô đọng, ngắn gọn cho cho cả 3 ý trong bài tập.Như vậy, chúng ta thấy việc giải các bài tập bằng graph có thể giúp học sinhcùng lúc bao quát được đủ các lời giải, và đặt chúng trong mối quan hệ chung để
so sánh, đối chiếu Việc bao quát như vậy đã thực hiện theo nhiều chiều khônggian Trong khi đó, nếu giải bằng ngôn ngữ thông thường các bài tập này, việcbao quát so sánh, đối chiếu sẽ trở lên khó khăn hơn, hạn chế hơn đối với các em.Bởi lẽ, kết quả đó chỉ được bao quát theo một chiều, mang đặc điểm tuyến tínhcủa ngôn ngữ
3.3 Kiểm tra graph đã lập
Trang 13Sau khi lập xong graph, việc kiểm tra graph đã lập cũng rất quan trọng.Các em cần xem xét, đối chiếu giữa nội dung yêu cầu đề bài; mục đích bài đặt ra;các lời giải, tính thẩm mỹ của graph Nếu thấy cần điều chỉnh điểm nào thì sửalại điểm ấy Nếu graph không có sai sót gì, việc lập graph cho giải bài tập coinhư đã hoàn thành.
4 Cách thức sử dụng graph vào dạy luyện tập thực hành tiếng Việt 4.1 Sử dụng như một phương tiện
Trong dạy luyện tập thực hành tiếng Việt cho học sinh, việc tổ chức dạy họcthực chất là việc tổ chức thực hiện từng bài tập Bởi vậy, nó phải đảm bảo cácbước, cách thức và yêu cầu chung của việc tổ chức thực hiện bài tập tiếng Việt.Quy trình lập graph tôi đã trình bày ở phần trên Để có một cái nhìn tổng thể về
cách sử dụng graph, tôi xin trình bày quy trình dạy một bài luyện tập thực hành
như sau:
Bước 1: Giới thiệu nội dung bài thực hành.
- Dựa vào nội dung mục đích yêu cầu của bài dạy cụ thể, giáo viên có thểdẫn dắt giới thiệu bài bằng những cách khác nhau sao cho thích hợp
- Hệ thống lại kiến thức cần luyện tập: trước khi luyện tập, giáo viên cóthể hệ thống lại kiến thức cơ bản sẽ được vận dụng trong phần luyện tập thựchành, có thể chuẩn bị sẵn graph để hệ thống nội dung kiến thức
Bước 2: Lựa chọn bài tập để giải bằng graph.
- Giáo viên nghiên cứu kĩ trước hệ thống bài tập trong SGK hoặc tự soạn
ra những bài tập đáp ứng điều kiện để giải bằng graph về số lượng yếu tố và mốiquan hệ giữa các yếu tố
- Giáo viên hướng dẫn học sinh xác định những bài tập đủ điều kiện đểgiải bằng graph
Bước 3: Lập graph giải bài tập.
Giáo viên hướng dẫn học sinh giải bài tập bằng graph theo trình tự: