1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

sáng kiến kinh nghiệm

32 168 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tiếng Việt Trong Giáo Dục Tiểu Học
Tác giả Nguyễn Hoàng Kiệt
Người hướng dẫn GVHD: Đỗ Thị Ngọc Mỹ
Trường học Trường Đại Học
Chuyên ngành Giáo Dục
Thể loại Đề Tài Nghiên Cứu Khoa Học
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 32
Dung lượng 260 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong môn Tiếng Việt thì môn tập đọc có khả năng thực hiện tốt các nhiệm vụ của môn Tiếng Việt đề ra đó là: Trau dồi kiến thức ngôn ngữ, kiến thức văn học, kiến thức đời sống, rèn kĩ năn

Trang 1

- "Ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp quan trọng nhất của loài người" (Lênin),

"Ngôn ngữ là hiện thực trực tiếp của tư tưởng" (Mác) Ngôn ngữ là phương tiện biểu hiện tâm trạng, tình cảm Chức năng quan trọng của ngôn ngữ đã quy định sự cần thiết nghiên cứu sâu sắc tiếng mẹ đẻ trong nhà trường."Trẻ em đi vào trong đời sống tinh thần của mọi người xung quanh nó, duy nhất thông qua phương tiện tiếng mẹ đẻ và ngược lại, thế giới bao quanh đứa trẻ được phản ánh trong nó chỉ thông qua chính công cụ này" (K A

Usinxki)

- Tiếng mẹ đẻ đóng vai trò to lớn trong việc hình thành những phẩm chất

quan trọng nhất của con người và trong việc thực hiện những nhiệm vụ của hệ thống giáo dục quốc dân Nắm ngôn ngữ, lời nói là điều kiện thiết yếu của việc hình thành tính tích cực xã hội của nhân cách Không có một khoa học nào mà người học sẽ

nghiên cứu trong tương lai, không có một phạm vi hoạt động xã hội nào mà không đòi hỏi một sự hiểu biết sâu sắc về tiếng mẹ đẻ Trình độ trau dồi ngôn ngữ của một người nào đó

là tấm gương phản chiếu trình độ nuôi dưỡng tâm hồn của anh ta Chính vì vậy, tiếng mẹ

đẻ là môn học trung tâm ở trường tiểu học

- Đặc trưng cơ bản của tiếng mẹ đẻ với tư cách một môn học ở trường phổ thông là

ở chỗ nó vừa là đối tượng nghiên cứu vừa là công cụ để học tập tất cả các môn học khác

Kĩ năng nghe, nói, đọc, viết là điều kiện và phương tiện cần thiết của lao động học

tập của học sinh Nói cách khác, trẻ em muốn nắm kĩ năng học tập, trước hết cần

nghiên cứu tiếng mẹ đẻ của mình, chìa khóa của nhận thức, của học vấn, của sự phát

triển trí tuệ đúng đắn Thiếu ngôn ngữ, con người không thể tham gia vào cuộc sống xã hội hiện đại, vào sản xuất hiện đại, vào sự phát triển văn hóa, nghệ thuật

- Như vậy, sở dĩ môn Tiếng Việt giữ vai trò đặc biệt giữa các môn học khác trong trường học là vì, một mặt do ý nghĩa của những kiến thức phổ thông mà môn học này đưa lại cho học sinh - về ngôn ngữ như là một phương tiện thông báo, về những đặc điểm của tiếng mẹ đẻ - hệ thống âm thanh, cấu tạo từ, cấu trúc ngữ pháp, khả năng biểu cảm của

ngôn ngữ… Mặt khác, những kĩ năng, kĩ xảo mà nó hình thành trong giờ học tiếng mẹ

đẻ là những kĩ năng cần thiết trong cuộc sống của người học sinh, không phụ thuộc

vào nghề nghiệp tương lai của họ

- ở Tiểu học, hầu như các nước đều coi trọng việc dạy học tiếng mẹ đẻ và dành cho nó

vị trí ưu tiên xứng đáng Có thể nhận thấy điều này qua tỉ lệ số giờ học dành cho tiếng mẹ

Trang 2

tuần, của cả cấp học).

- Pháp: 45 / 135 tiết trong 5 lớp (33%)

- CHDC Đức: 33,5 tiết/ 72 tiết trong 3 lớp (46%)

- Nhật Bản: 44 tiết/ 163 tiết trong 6 lớp (27%)

- Liên Xô (cũ): 38 tiết/ 93 tiết trong 4 lớp (40%)

- Việt Nam: Chương trình CCGD (ban hành từ năm 1981) 49 tiết/140 tiết trong

5 lớp (39%); Chương trình 2000: 46 tiết/ 118 tiết (39%)

Như vậy, Tiếng Việt thể hiện rõ tư cách là một môn học chính ở trường tiểu học nước ta

LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI

- Hiện nay nền giáo dục của chúng ta đang trong giai đoạn tiến hành thay đổi chương trình sách giáo khoa dẫn đến những thay đổi về thực trạng dạy học Việc này góp phần xây dựng giáo dục đào tạo và thực trạng dạy học mang tính hiện đại, tiếp cận nhanh với trình độ tri thức của thế giới Bên cạnh đó còn phải đảm bảo nội dung giáo dục và phương pháp dạy học mới, phải phù hợp với từng bậc học cũng như những điều kiện mà địa phương hiện có Có như vậy thì việc đổi mới chương trình sách giáo khoa (SGK) mới đạt hiệu quả

Học sinh tiểu học là nền tảng của tri thức nên giáo dục ở trường tiểu học là rất quan trọng, vì nó là tiền đề vững chắc cho các bậc học tiếp theo của các em Do đó, giáo dục nước

ta không thể không đổi mới, đề theo kịp sự phát triển của xã hội, từ đó mà Bộ Giáo Dục - Đào Tạo quyết định đổi mới chương trình SGK để giải quyết vấn đề cấp thiết hiện nay là nâng cao chất lượng dạy và học Mỗi phân môn điều được đổi mới và có đặc chưng riêng như tất cả các môn học đều có mối liên hệ với nhau Mà trong đó môn tiếng Việt là môn khơi nguồn cho các môn học khác, bản thân em là một người giáo viên tiểu học tương lai, thấy được tầm quan trọng của môn học đó Cho nên em thấy cần phải tìm hiểu Chương trình, SGK Tiếng Việt lớp

Trang 3

2 và phương pháp dạy học phân môn Tập đọc và đó cũng chính là lí do em chọn đề tài này Qua việc nghiên cứu chương trình,SGK Tiếng Việt 2 và thấy được thực trạng dạy học phân môn Tập đọc nói riêng và từng phân môn khác nói chung Trên cơ sở đó giúp em có được những kinh nghiệm quý báu và thấy được thực trạng dạy học tạo điều kiện thuận lợi cho công việc giảng dạy sau này được tốt hơn

CƠ SỞ LÍ LUẬN

- Tập đọc là môn học có vị trí đặc biệt quan trọng trong hệ thống các môn học ở tiểu học Biết đọc có thêm công cụ để học tập, giao tiếp Đây là một công cụ mà chỉ người biết chữ mới có Trong môn Tiếng Việt thì môn tập đọc có khả năng thực hiện tốt các nhiệm vụ của môn Tiếng Việt đề ra đó là: Trau dồi kiến thức ngôn ngữ, kiến thức văn học, kiến thức đời sống, rèn kĩ năng đọc, nói, viết và đặc biệt nó còn góp phần không nhỏ vào việc giáo dục tình cảm, mĩ cảm và phát triển năng lực tư duy của học sinh Có thể nói thiếu phân môn tập đọc

mà chỉ có phân môn chính tả, luyện từ và câu, tập làm văn, tập viết, thì nhiệm vụ của môn Tiếng Việt khó có thể thưc hiện đươc

- Tóm lại tập đọc là một phân môn rất qan trọng trong chương trình Tiếng Việt ở Tiểu học Dạy tốt phân môn này không chỉ rèn luyện cho học sinh kĩ năng đọc mà còn phát triển ở các em vóm từ ngữ phong phú, tạo điều kiện để các em học tốt các môn học khác(chính tả, luyện từ và câu, tập làm văn, tập viết, ) Hơn thế nữa dạy tốt phân môn tập đoc sẽ giúp các

em được một phương tiện để học tập tốt các môn học khác như Toán, Đạo đức, Tự nhiên và

xã hội, Âm nhạc, Mĩt thuật được tốt hơn Do vậy, việc suy nghĩ, tìm chọn những biện pháp hữu hiệu nhất góp phần nâng cao chất lượng gờ dạy của phân môn tập đoc là vô cùng cần thiết

- CƠ SỞ THƯC TIỄN

- Như trên ta đã khẳng định môn tập đọc có một vị trí đăc biệt quan trọng trong chương trình môn Tiếng Việt ở tiểu học Tuy nhiên việc dạy tập đọc ở tiểu học nói chung và ở lớp 2 nói riêng cũng còn có những hạn chế, thiếu sót, do vậy mà chất lượng giảng dạy phân môn tập đọc chưa cao Qua việc khảo sát khả năng tập đọc văn ản của học sinh lớp mà em thực tập( hai/6) ở tuần đầu tiên của đợt thực tập cho phép em được nêu ra kết quả điềt tra cụ thể như sau:

1 Đọc ê, a ngắc ngứ ( tức là đọc rời vụn ra từng tiếng, sau môic tiếng lại nghỉ kéo dài, không phân biệt được từ trong câu, hoặc có khi gặp vần khó các em dừng lại ở giữa câu để đánh vần) tỉ lệ mắc lỗi này khoảng 10/ 35 em

2 Đọc liến thoáng: Có một số em lầm tưởng rằng đoc thật nhanh mới là giỏi vì vậy các em đọc liền thôi từ đầu đến cuối, tỉ lệ này khoảng 2/ 35 em

3 Đọc sai những tiếng có phụ âm đầu hay nhầm lẫn như tr – ch, s – x, r – d – gi loại này khá phổ biến chiếm 25/35 em

4 Đọc lên xuống giọng tùy tiện, hiện tượng này chiếm khoảng 13/35 em

Trang 4

5 Đọc giọng đều đều: Khác hản với những em đọc nhát gừng, đọc liến thoáng, các em này đọc với tốc độ vừa phải, biết ngắt nghỉ đúng dấu câu, nhưng toàn bài không biết nhấn vào những từ ngữ quan trọng, không phân biệt được các loại câu, giọng đều đều buồn tẻ, không thể hiện được nội dung tư tưởng, và ý định của người viết( không đọc diễn cảm được) loại này khá phổ biến khoảng 25/ 35 em.

 Vậy đâu là nguyên nhân dẫn đến khả năng đọc của học sinh còn hạn chế như vậy?

Qua nghiên cứu điều tra cho phép em được nêu ra hai nguyên nhân chính sau đây:

- Trong giờ tập đọc, giáo viên còn xem nhẹ khâu luyện đọc cho hoc sinh do vậy phần luyện đọc chỉ được giáo viên tiến hành một cách máy móc, hình thức nên dẫn đến hậu quả học sinh đọc chưa tốt còn đọc diễn cảm thì càng kém Phải nói rằng nguồn gốc của nguyên nhân này do giáo viên còn lúng túng trong phương pháp rèn đọc cho học sinh, đồng thời rèn đọc cho học snh chưa đến nơi đến chốn

- Giáo viên đọc mẫu không tốt, thiếu tác dụng làm mẫu và chưa kích thích được học sinh cố gắng đọc theo giáo viên

* Nguyên nhân dẫn đến tình trạng đọc ngắc ngứ ê, a là do trong quá trình đọc học sinh còn

lo ra không chú ý đọc, hoặc khi gặp những từ khó, hay đó là do thói quen của học sinh

* Nguyên nhân dẫn đến tình trạng đọc liến thoáng là do học sinh đọc quá nhanh dẫn đến nhảy chữ, học sinh cứ nghĩ rằng mình đọc nhanh là tốt rồi chú không biết là mình đã đọc bỏ từ, khó nghe,đôi khi dẫn đến nhảy chử

* Hầu như hiện nay lỗi do phát âm sai phụ âm đầu là phổ biến nhất không chỉ đối với học sinh tiểu học mà đối với cả học sinh cấp 2, 3 Nguyên nhân sâu sa dẫn đến học sinh thường phát âm sai lỗi này là do giáo viên hướng dẫn chưa tốt và ở một phần do ảnh hưởng của phát âm địa phương không đúng chuẩn từ đó họ sinh cũng phát âm sai theo, có trường hợp là ngại vì phát âm chuẩn lại không giống ai, tại sao mà mình phát âm khác mọi người Do vậy mà sinh ra ngại ngùng đành phát âm sai hoài Ví dụ như ta thường nói câu: "Đi về thôi" đương nhiên đó là câu phát âm đúng, mà ta lại phát âm là" đi dề thôi" rõ ràng đó là

do ảnh hưởng phát âm của địa phương dẫn đến tình trạng phát âm sai ở học sinh Nhưng không hoàn toàn đỗ lội do ảnh hương của phát âm địa phương mà ta phải xem lại việc dạy học của mình như thế nào mà học sinh phát âm sai như thế, đó mới chính là giải pháp để ta khắc phục tình trạng đó

*Do đâu mà học sinh đọc lên xuống giọng tùy tiện Câu trả lời còn ở phía trước, xét về mặt thực tiễn thì có lẽ là do học sinh chưa biết cách ngắt nhịp, cách đọc diễn cảm, thể hiện tình cảm phù hợp với nhân vật hay các từ ngữ biểu cảm, hay lên giọng ở cuối câu khi gặp dấu chấm hỏi, và xuống giọng ở cuối câu khi có dấu chấm cảm, nhưng không thể nói đó là do ở học sinh mà do giáo viên hướng dẫn học sinh chưa tốt, hay trong quá trình luyện đọc giáo viên coi nhẹ khâu này nên dẫn đến việc học sinh nhấn giọng tùy tiện không theo quy luật, có lẽ đây là một vấn đề không đơn giản cho lắm do đó đòi hỏi các nhà giáo dục phải tìm biện pháp làm sao để cho học sinh đọc đúng hơn, ngắt nghỉ phù hợp, nhấn giọng đúng có như vậy thì mới có thể đưa nền giáo dục chúng ta phát triển hơn để phù hợp với xu hướng phát triển của đất nước trong thời đại ngày nay, để phát triển và hội nhập

Trang 5

- Trong quá trình đọc một số học sinh cố đọc sao cho thật nhanh là đạt yêu cầu Không hẳn là như vậy, vì đọc quá nhanh sẽ dẫn đến việc nhảy chữ, bỏ chữ, có một số từ nghe không rõ

do từ trước liến sang từ sau làm cho việc nghe của người nghe không thấy hứng thú Vậy tại sao mà học sinh lại mắc lỗi đọc liến thoáng như vậy, phải chăng là do yêu cầu của giáo viên hay do học sinh đó cố đọc như vậy để chứng minh là mình đọc hay, nhanh để được giáo viên khen, tất cả đều không phải có lẽ đó là do bản thân học sinh đã quen đọc như vậy, nếu giáo viên không kịp thời chỉnh sửa, rèn luyện cho học sinh đọc đúng hơn thì dần dần học sinh sẽ quen với cách đọc như thế thì sau này có sửa thì cũng khó có thể mà khắc phục được vì bấy lâu nay các em đã quen với cách đọc như vậy Do đó ngay từ đầu giáo viên phải phát hiện ra sớm và có biện pháp khắc phục, chỉ có như thế thì kết quả mới khả quan được, mà muốn làm được như vậy thì không phải ai cũng làm được mà điều đó còn phụ thuộc vào giáo viên, giáo viên phải luôn quan tâm đến học sinh, có lòng yêu nghề có như vậy mới có thể có giải pháp rèn luyện cho học sinh đọc tốt hơn

* Một lỗi khá quan trọng đó nữa là tình trạng học sinh không biết thể hiện giọng đọc,

giọng đọc cứ đều đều không lên không xuống, đó là không sai nhưng đọc với giọng như vậy thì sẽ làm cho người nghe không có hứng thú để nghe mặc dù nội dung rất hấp dẫn Vậy đâu là nguyên nhân mà học sinh mắc lỗi này ? Phải chăng đó là do trong quá tình giảng dạy giáo viên đọc không tốt, không hấp dẫn nên học sinh cũng đọc không tốt theo, chúng ta không thể đỗ lỗi hết ở giáo viên mà phải tìm hiêu xem phương pháp day của ta có phù hợp với học sinh hay không, có đúng với đặc trưng môn và và điệu kiện hiện có của trường và trình độ của học sinh, có như vậy thì mới có thể đi đến kết luận và cùng nhau tìm ra cách khắc phục

 Biện pháp khắc phục

1 Tình trạng đọc ê a ngắc ngứ

- Như chúng ta đã biết chữ Tiếng Việt của ta viết rời ra từng âm tiết chứ không phải viết

liền từng chữ như chữ một số nước khác( Anh, Nga, Pháp,…) nhưng khi đọc ta không đọc rời rạc từng âm tiết một mà phải đọc theo từng cụm từ

Ví dụ: Tập đọc lớp 2 bài Sông Hương

- Sông Hương /là một đặc ân của thiên nhiên dành cho Huế,/ làm cho không khí thành phố trở nên trong lành, làm tan biến những ồn ào của chợ búa, tạo cho thành phố một vẻ êm đềm.

- Nếu tính về âm tiết thì 2 câu văn trên có 39 âm tiết, từ, cụm từ Khi học sinh tập đọc không để các em đọc rời rạc từng âm tiết như kiểu đọc nhát gừng Nếu để học sinh đọc theo từng từ thì vẫn chưa diễn đạt được ý của câu văn nên em phải hướng dẫn học sinh đọc theo cụm từ

- Sông Hương / là một đặc ân/ của thiên nhiên /dành cho Huế,/ làm cho không khí/ thành

phố trở nên trong lành,/ làm tan biến/ những ồn ào của chợ búa,/ tạo cho thành phố/ một vẻ

êm đềm./

- Cách hướng dẫn học sinh đọc theo cụm từ của em như sau:

Trang 6

- Vì giai đoạn đầu lớp còn đọc yếu do vậy em phải đọc mẫu theo cách nghỉ như trên sao cho thật chuẩn Sau đó em cho học sinh phát hiện những chỗ ngắt nghỉ của em, nếu đúng thì em dùng phấn màu gạch chéo sau những từ cần ngắt Nếu học sinh chưa phát hiện ra

em có thể đọc mẫu lần 2 những câu đó để học sinh có thể nhận ra Đồng thời em luôn củng cố kĩ năng đọc khi gặp dấu chấm phải nghỉ hơi, gặp dấu phẩy phải ngắt hơi Khi học sinh đã nhận ra cách nghĩ sau cụm từ, sau dấu phẩy, sau dấu chấm em gọi một số học sinh khá đọc lại, sau đó mới gọi những em hay đọc ê a ngắt ngứ lên đọc Có thể là một lần, cũng có thể vài lần và phải tiến hành trong một thời gian Em nghĩ hiện tượng đọc ê a ngắt ngứ sẽ không còn xảy ra nữa

- Theo kết quả điều tra khảo sát của em khi tiến hành ngay trên học sinh lớp thực tập sau một thời gian thực tập thì kết quả như sau:

Tổng số học sinh 35 Trước khi khảo sát Sau khi khảo sát Số lượng mắc lỗi Tỉ lệ (%) Số lượng mắc lỗi Tỉ lệ (%)

- Nhưng lưu ý khi còn những em đọc ê a ngắt ngứ thì phải sửa một cách triệt để, có thể phải hướng dẫn từng cụm từ, giáo viên hoặc học sinh khá đọc mẫu xụm từ thứ nhất sau đó cho học sinh yếu đọc lại cụm từ đó rồi mới chuyển sang cụm từ khác và cũng theo trình tự đúng như vậy, cuối cùng cho học sinh đọc lại cả đoạn văn đó

- Vậy khi học sinh đọc những câu văn dài, học sinh đã biết ngắt hơi sau cụm từ nhưng ngắt hơi trong thời gian bao lâu thì đó cũng là điều cần phải hướng dẫn các em ngắt hơi sau cụm từ bằng thời gian ngắt hơi sau dấu phẩy và đương nhiên thời gian đó phải ích hơn thời gian nghỉ khi gặp dấu chấm câu Tránh tình trạng học sinh ngắt nghỉ quá lâu làm cho người nghe cảm thấy rời rạc

- Số học sinh mắc lỗi đọc ê a ngắc ngứ không nhiều nên chỉ trong thời gian thực tập kiên trì rèn đọc cho các em ( gọi các em mắc lỗi đọc nhiều hơn, sửa cho các em kĩ hơn) thì lỗi này em thấy không còn trong lớp em nữa, các em đọc đã khá trôi chảy, lưu loát

2 Khắc phục tình trạng đọc sai những tiếng, từ có phụ âm đầu hay nhầm lẫn l – n; s – x ; ch –

tr ; r – d – gi…

Những tiếng, những từ này thường là những từ khó đối với học sinh cho trong bước rèn đọc đúng cho học sinh em cho các đọc thầm toàn bài để tự phát hiện ra những tiếng, từ mà học sinh cảm thấy khó có trong bài Trong thực tế nhiều khi giáo viên quá phụ thuộc vào sách hướng dẫn mà ép học sinh phải chỉ ra những từ khó giống như trong sách nêu ra là không nên bởi những từ đó đối với học sinh có thể chưa phải là khó Song từ, tiếng khó đọc mà các em tự phát hiện ra có thể là rất nhiều Do vậy giáo viên cần kết hợp với việc quan sát theo dõi của mình trong tất cả các giờ học để thấy học sinh lớp mình hay nhầm lẫn ở những cặp phụ âm nào vần nào để tập trung rèn cho các em những tiếng khó, từ khó ở các loại đó

Trang 7

- Vớ dụ ở lớp em thực tập ngay sau khi nhận lớp, qua theo dừi trong cỏc tiết học và trong giao tiếp với học sinh em thấy cỏc em hay cũn nhầm lẫn giữa cỏc cặp phụ õm sau:

- Em thấy đõy khụng chỉ là những lỗi của cỏc em học sinh khi đọc, mà cả nhõn dõn địa

phương nơi đõy cũng hay nhầm lẫn như vậy Do vẩy trong một giờ học, một tuần học, thậm chớ cả mụt thỏng học ta cũng khụng thể sửa ngay cho cac em tất cả cỏc lỗi này Những lỗi mà

tỉ lệ học sinh mắc ớt hơn và cũng dễ sữa hơn, do vậy em đặt ra cho mỡnh một kế hoạch sẽ tiến hành rốn cho cỏc em liờn tục trong cỏc tuần cũn lại của đợt thực tập, và em sẽ tiến hành khảo sỏt trờn một số hoc sinh bao gồm tất cả cỏc loại hoc lực khỏc nhau ( giỏi, khỏ, trung bỡnh, yếu), em sẽ rốn thường xuyờn trong khi đọcvà núi, khi viết cú như thế thỡ mới cú thể trở thành thúi quen núi đỳng, viết đỳng được

- Cách tiến hành rèn đọc đúng cho học sinh của tôi nh sau:

+ Mục đích phần rèn đọc của bài “Mẹ ốm” ( sách Tiếng Việt lớp 4 tập 1) tôi sẽ tập trung rèn học sinh đọc đúng những tiếng có phụ âm đầu l- n

+ Sau khi nghe giáo viên đọc mẫu lần 1, tôi yêu cầu cả lớp đọc thầm toàn bài ( kết hợp với việc dặn học sinh chuẩn bị bài ở nhà) tìm ra những từ, tiếng khó đọc có trong bài sau đó cho học sinh nêu ra, tôi lần lợt ghi lên bảng theo các dòng riêng biệt

Tổng số

35

Cỏc cặp phụ õm hay nhầm lẫn x –s ch- tr r- d - gi

Tỉ lệ mắc lỗi

Trang 8

Ví dụ: học sinh tìm đợc các từ khó: Hôm nay, lá trầu, nắng, lặn, nóng ran, xóm làng, sáng nay

Tôi sẽ ghi lên bảng nh sau

l : lá trầu, lặn, xóm làng

n : hôm nay, nắng, nóng ran, sáng nay

Hỏi : trong dòng 1 con thấy những từ đó khó đọc ở phần nào?

( khó đọc ở phần phụ âm đầu:l) ; giáo viên ghi âm l trớc dòng 1 bằng phấn màuVới dòng 2 tôi cũng hỏi nh vậy và ghi âm n trớc dòng 2.

Đối với những âm này, với học sinh của tôi, tôi phải hớng dẫn học sinh cách phát

âm thật cụ thể, chi tiết

+ Tôi hớng dẫn các em cách phát âm phụ âm l nh sau:

Phụ âm l là phụ âm tắc, khi phát âm phụ âm này, đầu lỡi cong lên tiếp giáp với

vòm lợi trên, luồng hơi bị cản lại nên phải len qua hai cạnh lỡi để thoát ra ngoài, do vậy luồng hơi bật ra mạnh

Giáo viên làm mẫu hai lần, sau đó cho học sinh khá phát âm, gọi học sinh hay nhầm lẫn về phụ âm này tập phát âm Lu ý nên cho các em phát âm cá nhân để dễ phát hiện những em phát âm sai để sửa; Tiếp theo cho học sinh đọc tiếng khó có chứa phụ âm l

Phụ âm n là phụ âm xát, khi phát âm phụ âm này mặt lỡi tiếp giáp với vòm lợi trên, luồng hơi không bị lỡi cản lại nên thoát ra nhẹ nhàng hơn cách tiến hành cũng nh h-ớng dẫn phát âm phụ âm l

Để học sinh có đợc thói quen phát âm đúng tôi yêu cầu học sinh phát âm và đọc theo kiểu đối nhau: đó là l- n ; lá trầu- nóng ran, xóm làng – nóng ran, nắng – lặn

Đa ra cách rèn nh vậy là tôi muốn cho học sinh có phản ứng nhanh nhậy để tìm ngay ra đợc cách đọc đúng những từ có chứa các cặp phụ âm hay nhầm lẫn

Nếu chỉ rèn nh vậy thì cũng cha đủ mà việc luyện đọc từ khó cần phải đợc đặt trong văn cảnh, trong môi trờng ngôn ngữ thì học sinh đọc những từ đó mới đúng hơn bởi nhiều khi đọc riêng từ học sinh có thể đọc đúng nhng khi đặt từ đó vào trong câu văn, đoạn văn thì cha chắc học sinh đã đọc đúng Chính vì thế mà sau khi rèn phát

âm luyện đọc từ khó có chứa âm khó tôi lại phải yêu cầu học sinh tìm những câu văn, câu thơ thậm chí đoạn văn, đoạn thơ có chứa từ khó đó cho học sinh đọc vì mục đích của rèn đọc đúng là rèn phát âm đúng để đọc đúng văn bản

Một số đồng chí giáo viên có hỏi: Trong một giờ tập đọc nếu chỉ tập trung hớng dẫn đọc những từ có chứa phụ âm l- n thì những tiếng khó khác rèn vào lúc nào?

Tôi khẳng định: Một cặp phụ âm hay nhầm lẫn l- n và nó đã trở thành cố tật không chỉ ở học sinh mà cả nhân dân đĩa phơng nếu trong một tiết tập đọc có chủ định rèn cho học sinh về cặp phụ âm đó mà không thực hiện kĩ càng nh vậy thì không thể đạt

đợc cái đích đã đạt ra Còn những từ khó khác ta có thể hớng dẫn các em đọc từ đó

Trang 9

theo trình tự: giáo viên hoặc học sinh khá đọc mẫu sau đó gọi học sinh yếu kém đọc lại

Rèn cho học thói quen đọc đúng những từ có các phụ âm mà học sinh hay nhầm lẫn là một việc làm không đơn giản Bản thân một mình phân môn tập đọc cũng khó

có thể giải quyết đợc do vậy theo tôi trong tất cả các giờ học và trong bất kỳ hoàn cảnh giao tiếp nào tôi và lực lợng nòng cốt của tôi gồm 20% học sinh không mắc lỗi

sẽ giúp các em sửa ngay có nh thế mới giải quyết đợc vấn đề Với những cặp phụ âm còn lại tôi cũng tiến hành rèn cho học sinh lần lợt theo từng bớc nh vậy Đến nay, năm học đã tiến hành đợc gần 3 tháng thì mức độ sai những từ có phụ âm hay nhầm lẫn nh đã nêu ra ở trên đã giảm rõ rệt

3 Khắc phục tình trạng đọc lên xuống giọng tuỳ tiện

Theo tôi muốn khắc phục tình trạng lên xuống giọng tuỳ tiện thì giáo viên phải hớng dẫn thật tốt cách đọc các kiểu câu:

Câu kể ở cuối câu có dấu chấm khi đọc thờng phải xuống giọng ở cuối câu

Câu hỏi ở cuối câu có dấu chấm hỏi, khi đọc ta phaỉ lên giọng ở cuối câu

Câu kể có dấu chấm lửng khi đọc phải kéo dài giọng

Câu cảm, cầu cầu khiến ở cuối câu có dấu chấm than khi đọc cần phải lên giọng ở cuối câu

Ví dụ: trong bài “ Chú Đất Nung” ở sách Tiếng Việt lớp 4 tôi hớng dẫn học sinh

cách đọc các loại câu này nh sau:

-Chép đoạn văn đó lên bảng phụ

-Hỏi học sinh trong đoạn văn đó có những câu văn nào là câu hỏi, câu kể, câu cảm, câu cầu khiến và cách đọc của từng loại câu này, giáo viên dùng phấn mầu ghi

ký hiệu lên giọng  xuống giọng ở cuối mỗi loại câu

Ông Hòn Rấm cời bảo : (câu kể)

- Sao chú mày nhát thế ?  ( câu hỏi) Đất có thể nung trong lửa cơ mà !  ( câu cảm)

Chú bé đất ngạc nhiên hỏi lại :  ( câu kể )

- Nung ấy ạ ?  ( câu hỏi)

- Chứ sao ?  Đã là ngời thì phải dám xông pha, làm đựoc nhiều việc có ích  ( câu kể)

Nghe thế, chú bé Đất Nung không thấy sợ nữa. ( câu kể ) Chú vui vẻ bảo:( câu

Trang 10

- Nào, nung thì nung!

Từ đấy chú thành đất nung  ( câu kể )

Sau đó tôi hoặc học sinh khá đọc mẫu theo cách đọc đó rồi cho học sinh nhất là những em yếu kém luyện đọc với số lợng từ 7 – 8 em Việc làm này phải đợc tiến hành thờng xuyên khi gặp những bài tập đọc có các kiểu câu nh vậy, có nh thế mới hình thành đợc thói quen đọc đúng Sau khoảng thời gian 1 tháng số học sinh mắc lỗi này đã giảm chỉ còn 1/31 em

4.H

ớng dẫn học sinh đọc ngắt nhịp thơ

Một số ngời lầm tởng hớng dẫn đọc ngắt nhịp trong thơ là hớng dẫn đọc diễn cảm

Không phải nh vậy, mà đó mới chỉ là cách đọc đúng trong thơ mà thôi Vậy muốn ớng dẫn học sinh đọc ngắt nhịp thơ đúng thì giáo viên phải nắm vững cách đọc các thể thơ Các bài thơ trong sách Tiếng Việt lớp 4, lớp 5 thờng đợc viết ở thể thơ lục bát, song thất lục bát, và các thể thơ khác

- Đọc thơ lục bất ngắt nhịp theo nhiều cách

Câu 6 có thể ngắt theo nhịp 2 /2/2 4 / 2 2 / 4

Câu 8 có thể ngắt theo nhịp 2 / 2 /2 /2 4 /4 3 / 5 2 / 4 / 2

Thế nhng trong bài cũng có những câu hoặc những đoạn không ngắt theo nhịp thông thờng thì giáo viên phải chọn những câu đó để hớng dẫn học sinh cách ngắt nhịp

Ví dụ :Trong bài tập đọc “Truyện cổ nớc mình” là một bài thơ lục bát Thông thờng câu 6 ngắt theo nhịp 2 / 4; câu 8 ngắt theo nhịp 2 / 4/ 2 hoặc 4 / 4.Thế nhng trong bài cũng có những câu phá lệ (có cách ngắt nhịp khác) Do vậy ta phải đa những câu đó

ra để hớng dẫn

“Đời cha ông / với đời tôi 3/3

Nh con sông / với chân trời đã xa 3/5

Ví dụ: Trong thơ 5 tiếng thông thờng ta ngắt theo nhịp 3/ 2 hoặc 2 / 3 nhng cũng có những câu lại ngắt theo nhịp 1 / 4 hoặc 4 /1 thì ta cũng phải hớng dẫn học sinh cách ngắt nhịp những câu này

“ Ôi/ triệu triệu vì sao 1/ 4 Bừng bừng/ muôn ánh mắt” 2/ 3Trong thơ bảy chữ thông thờng ta ngắt theo nhịp 3 / 4 ( lẻ trớc chẵn sau) thế nhng cũng có câu lại có cách ngắt nhịp khác

Trang 11

cơ sở ngắt nhịp theo cụm từ Do vậy ngắt nhịp thơ không đúng câu thơ sẽ trở nên tối nghĩa, mất hết ý vị còn đâu có thể cảm nhận đợc nội dung của bài.

Làm tốt khâu rèn đọc đúng tức là ta đã tạo ra cơ sở ban đầu để giúp học sinh hiểu

đúng nội dung bài tập đọc và nh vậy mới có thể hớng dẫn học sinh đọc diễm cảm ợc

đ-II/ Giải pháp rèn đọc diễn cảm

Chúng ta đều biết đọc diễn cảm khó hơn đọc bình thờng Đọc bình thờng chỉ đòi hỏi phát âm đúng, đọc lu loát, biết nghỉ đúng chỗ theo các dấu ngắt câu, biết lên, xuống giọng Đọc diễn cảm đòi hỏi ngời đọc phải nắm chắc nội dung từng đoạn từng bài, tâm tình và lời nói của từng nhân vật để diễn tả cho đúng tinh thần của câu văn, bài văn, tức là đi sâu vào bản chất của câu văn, bài văn Cho nên mục đích đọc diễn cảm

là bộc lộ ra đợc cái bản chất của nội dung và trên cơ sở đó muốn truyền đạt đúng những ý nghĩ và tình cảm của tác giả Muốn đọc diễn cảm tốt phải hiểu kỹ nội dung của bài tập đọc và phải truyền đạt tốt sự hiểu biết của mình tới ngời nghe Học sinh

đọc diễn cảm cha tốt là do nguyên nhân: giáo viên cha giúp học sinh cảm thụ tốt nội dung bài tập đọc và nguyên nhân cũng không kém phần quan trọng là khả năng đọc mẫu của giáo viên còn hạn chế

Muốn đọc diễn cảm tốt, ta cần:

1 Giúp học sinh cảm thụ tốt nội dung bài tập đọc Muốn vậy cần phải chú ý

a Bám sát yêu cầu của bài tập đọc

Yêu cầu của bài tập đọc phải đợc xác định từ khi soạn bài ở nhà

VD khi dạy bài “Chợ tết” tôi đã xác định yêu cầu của bài nh sau

- Yêu cầu về rèn đọc: Đọc đúng những tiếng, từ có phụ âm đầu l –n , đọc lu loát toàn bài

- Biết đọc diễn cảm bài thơ với giọng chậm rãi nhẹ nhàng phù hợp với việc diễn tả bức tranh giàu màu sắc vui vẻ hạnh phúc của phiên chợ ngày tết

- Yêu cầu về hiểu: Cảm nhận và hiểu đợc vẻ đẹp của bài thơ bức tranh chợ tết giầu màu sắc và vô cùng sinh động đã nói về cuộc sống vui vẻ hạnh phúc của những ng-

b, Giảng từ và khai thác nghệ thuật

- Giảng từ: trong bài tập đọc thờng có nhiều từ vậy ta cần phải giảng những từ nào ?+ Qua kinh nghiệm về giảng dạy phân môn tập đọc tôi thấy có thể chia những từ để giảng làm 3 loại: loại từ khó, loại từ gắn với chủ đề đang học và loại từ chìa khoá (từ trung tâm)

Trang 12

 Từ khó có thể là từ điạ phơng đợc tác giả đa vào bài, là loại từ Hán Việt, là danh

từ riêng Loại từ này thờng có trong phần chú giải cho nên sau khi đọc mẫu xong tôi cho học sinh đọc phần chú giải để học sinh hiểu ngay đợc những từ này khi bắt đầu tiếp xúc với bài tập đọc

 Từ chủ đề: Trong mỗi chủ đề tập đọc có một số từ ngữ mà giáo viên cần lu ý bởi

đó là những từ làm toát lên chủ đề Từ chủ đề cũng có khi là từ khó Giáo viên có thể kết hợp giảng các từ chủ đề với các từ khó hoặc với các từ trung tâm trong quá trình khai thác

 Từ trung tâm: Đây là những từ có sức nặng, giáo viên cần khai thác để làm toát lên nội dung bài học

Ta chia những từ cần giảng làm 3 loại nh vậy để dễ phân biệt còn trong thực tế nhiều khi từ khó cũng là từ chủ đề hoặc từ trung tâm

+ Vậy khi giảng từ ta có thể dùng những phơng pháp nào?

Những phơng pháp phổ biến là phơng pháp trực quan, liên hệ, so sánh, phơng pháp định nghĩa, giảng giải

 Khi dùng phơng pháp trực quan, tôi áp dụng bằng nhiều hình thức: Trực quan bằng giọng nói, giọng đọc, nét mặt, ánh mắt, dáng điệu, động tác, hình mẫu, tranh

 Phơng pháp trực quan là phơng pháp rất tốt để học sinh có thể hiểu và nhớ lâu nghĩa của từ nhng phơng pháp này chỉ dùng để giảng từ cụ thể Khi gặp những từ trừu tợng nh độ trì, đa tình, đa mang, hữu nghị, khiêm tốn thì rất khó dùng phơng pháp này Do vậy ngoài phơng pháp này tôi còn sử dụng nhiều phơng pháp khác

 Phơng pháp định nghĩa, giảng giải

ở lớp 4, 5 nhận thức lý tính tổng quát của học sinh đã phát triển nên trong khi giảng

từ cho học sinh hiểu tôi vẫn thờng dùng phơng pháp định nghĩa hay giảng giải xen lẫn các phơng pháp khác

Ví dụ: Khi giảng từ quyến rũ tôi dùng phơng pháp giảng giải

- Quyến rũ có nghĩa là có một sức lôI cuốn mạnh mẽ làm cho quyến luyến không muốn rời xa

- Mãnh liệt day dứt ý nói thôi thúc, day dứt, dai dẳng và mạnh mẽ

 Khi giảng về từ truyền thống tôi dùng phơng pháp định nghĩa

Truyền thống là những phẩm chất tốt đẹp hoặc những điều tốt đẹp đợc giữ gìn, phát triển và truyền từ đời này sang đời khác

Trang 13

Ví dụ:Dân tộc ta có lòng yêu nớc nồng nàn.

 Phơng pháp so sánh:

Khi giảng về từ lạnh tê tái tôi nêu lên một loạt các khái niệm lạnh lẽo, lạnh buốt, lạnh giá để học sinh thấy đợc lạnh tê tái ở mức độ cao hơn Mặt khác tôi cho học sinh tìm từ trái nghĩa với từ lạnh tê tái là nóng hầm hập để học sinh càng hiểu rõ hơn

về ý nghĩa của từ này

 Khai thác nghệ thuật

Theo tôi bài tập đọc là một thể thống nhất giữa hai mặt nội dung và nghệ thuật, do vậy tôi nghĩ chúng ta phải thông qua việc khai thác nghệ thuật để làm toát lên nội dung t tởng Tôi thấy phần này trong khi dạy tập đọc vốn kiến thức văn học mà học sinh tích luỹ đợc cha nhiều

Có đồng chí hỏi: “Khai thác nghệ thuật của một bài tập đọc là khai thác những gì?” Theo tôi tuỳ từng bài mà chúng ta phải xem bài tập đọc ấy có những nét gì nổi bật

về nghệ thuật cần khai thác

VD trong bài “ Chợ tết” tôi giúp học sinh hiểu đợc nghệ thuật dùng từ của tác giả khi miêu tả những ngời đến chợ tết, tác giả đã chọn tả những nét rất riêng của từng ngời đó là:

Những thằng cu áo đỏ chạy lon xonCô yếm thắm che môi c ời lặng lẽ

Ngời hai thôn gánh lợn chạy đi đầuVài cụ già chống gậy b ớc lon khom

Thằng em bé nép đầu bên yếm mẹCon bò vàng ngộ nghĩnh đuổi theo sau

Bên cạnh cách dùng từ giầu sức gợi cảm nh vậy tác giả còn chọn tả những màu sắc rất tơi rất trong sáng: trắng, đỏ, hồng, lam, xanh, biếc, thắm, vàng, tía son Ngay cả một màu đỏ cũng có nhiều cung bậc: hồng, đỏ, tía, thắm, son

Với cách dùng từ nh vậy tác giả đã phác hoạ ra trớc mắt chúng ta bức tranh chợ tết miền trung du giầu màu sắc và vô cùng sinh động Qua đó ta thấy đợc sinh hoạt nhộn nhịp của ngời dân quê vào dịp tết

Hoặc trong bài mùa thảo quả tôi tập trung khai thác điệp từ thơm và việc sử dụng một loạt câu văn ngắnĩen lẫn với câu văn dài để làm nổi bật mùi thơm đặc biệt của thảo quả

VD: Gió tây lớt thớt bay, qua rừng, quyến hơng thảo quả đi, rải theo triền núi, đa

h-ơng thảo quả ngọt lựng, thơm nồng vào các thôn xóm Chin San Gió thơm Cây cỏ thơm Đất trời thơm Ngời đi từ rừng thảo quả về, hơng thơm đậm, ủ ấp trong từng nếp áo nếp khăn

VD: Trong bài “Hoa học trò” tôi lại khai thác vẻ đẹp của hoa phợng theo trình tự thời gian: Lúc đầu màu hoa phợng là màu đỏ còn non, có ma hoa càng tơi dịu Dần

Trang 14

dần số hoa tăng, màu hoa cũng đậm dần ròi hoà với mặt trời chói lọi, màu phợng rực lên

Tuy nhiên vẫn phải kết hợp xen kẽ các hình thức nghẹ thuật khác nhau nh: Khai thác nghệ thuật dùng từ, khai thác nghệ thuật viết câu văn, khai thác nghệ thuật xây dựng bố cục bài văn… có nh thế phần khai thác nội dung bài mới đầy đủ Song nói

nh vậy cũng cha thật đầy đủ nếu ta không nhắc đến biện pháp khai thác biện pháp nghệ thuật tu từ Qua thực tế nhiều năm giảng dạy tôi thấy các biện pháp tu từ ở tiểu học cần tập trung khai thác là: Biên pháp so sánh, điệp từ, nhân hoá….nếu khai thác tốt các biện pháp tu từ này thì giúp ích rất nhiều trong việc hớng dẫn học sinh cảm thụ bài văn

Trong bài con chuồn chuồn nớc tôi lại khai thác nghệ thuật so sánh

“Bốn cái cánh mỏng nh giấy bóng Cái đầu tròn và hai con mắt long lanh nh thuỷ tinh” Đó là hình ảnh so sánh rất đẹp giúp ngời nghe hình dung đợc rõ hơn về đôi cánh của chuồn chuồn

“Thân nhỏ và vàng nh màu vàng của nắng mùa thu Bốn cánh khẽ rung rung nh còn đang phân vân”

Cách so sánh này rất mới lạ: màu vàng của thân chuồn chuồn với màu vàng của nắng mùa thu So sánh độ rung của cánh với tâm trạng phân vân của con ngời Rõ ràng với cách so sánh ấy tác giả đã làm cho bài văn trở nên sinh động hơn, hấp dẫn ngời đọc hơn rất nhiều nhng đồng thời nó lại rất thực giúp cho ngời đọc dễ hình dung

vẻ đẹp đáng yêu của chú chuồn chuồn

VD: Trong bài thơ “Tre Việt Nam” tôi tập trung khai thác việc sử dụng điệp ngữ “ Qua đi”, “ Mai sau” để nhấn mạnh và khẳng định sức sống bất diệt của những phẩm chất tốt đẹp của dân tộc Việt Nam qua hình tợng cây tre

VD: Trong bài “ Dòng sông mặc áo” tôi tập trung khai thác các biện pháp nhân hoá thông qua các từ: mặc áo, điệu, thơ thẩn, nép, cời…để giúp học sinh thấy đợc nét đẹp dịu dàng của dòng sông quê hơng Nét đẹp ấy mang đậm vẻ duyên dáng của một ngời thiếu nữ’

c, Giảng ý và liên hệ thực tế

 Giảng ý: Qua kinh nghiệm giảng dạy tôi khảng định một điều: giảng từ và giảng ý thờng phải gắn chặt với nhau Ta phải giảng từ, khai thác hình ảnh để làm toát lên ý của bài hay nói cách khác ta phải khai thác nghệ thuật để làm toát lên nội dung

VD: Trong bài “ Hạt gạo làng ta” tác giả có viết:

Hạt gạo làng ta

Có vị phù saCủa sông Kinh Thầy

Có hơng sen thơm Trong hồ nớc đầy

Có lời mẹ hát

Trang 15

Ngọt bùi hôm nay.

Hỏi: trong khổ thơ trên tác giả nêu lên hạt gạo quê hơng thơm ngon là nhờ đâu? ( câu hỏi về nội dung)

Học sinh sẽ trả lời( nhờ có vị phù sa, có hơng sen thơm, có lời mẹ hát)

Hỏi: trong khổ thơ đó từ nào đợc lặp lại nhiều lần? Lặp lại nh vậy để nhằm mục

đích gì?

( Từ có đợc lặp lại nhiều lần, để nhấn mạnh hơng vị thơm ngon của hạt gạo quê

h-ơng)

VD: cho học sinh đọc khổ thơ thứ 3 của bài “Hạt gạo làng ta”

“Hạt gạo làng ta………mẹ em xuống cấy”

Hỏi: Hạt gạo làng ta còn có gì đáng nhớ?

( Có bão tháng 7, có ma tháng 3khó khăn do thiên nhiên gây ra)

Có giọt mồ hôi của mẹ rơi trong những ngày nắng nóng công sức vất vả của mẹ đây là câu hỏi về nội dung

Tác giả dùng hình ảnh gì để diễn tả nỗi vất vả khó nhọc của ngời mẹ?đây là câu hỏi về nghệ thuật

(Đó là: Cua ngoi lên bờ – mẹ em xuống cấy) Sự đối lập giữa hoạt động của con cua với hoạt động của mẹ đợc rõ thêm qua cặp từ trái nghĩa lên – xuống để càng giúp ta thấy rõ nỗi vất vả gian truân của mẹ cùng các bác xã viên khi làm ra hạt gạo.VD: Cho học sinh đọc khổ thơ cuối và hỏi câu cuối “ Hạt vàng làng ta” ý nói gì?Câu hỏi nặng về giảng ý để toát lên nội dung bài

(Hạt gạo rất quý vì đợc làm ra bởi công sức của biết bao ngời với bao thử thách gay go quyết liệt Hạt gạo xứng đáng đợc ví nh hạt vàng.)

Tóm lại trong quá trình giảng dạy những câu hỏi giảng ý thờng gắn với những câu hỏi giảng từ và câu hỏi khai thác hình ảnh thành một hệ thống câu hỏi dẫn dắt học sinh thâm nhập vào nội dung của bài để cảm nhận đợc cái hay cái đẹp của bài văn

từ đó học trò mới có cảm xúc thực sự và mới đọc hay bài tập đọc đợc

Các bài tập đọc cung cấp cho học sinh những kiến thức phong phú về cuộc sống muôn màu muôn vẻ của nhân dân ta Những kiến thức đó muốn đợc cụ thể, sinh

động thì tuỳ từng bài mà giáo viên cần có sự liên hệ với thực tế cho phù hợp

VD: Trong bài tập đọc “Hạt gạo làng ta”có thể học sinh liên hệ nêu ra những khó khăn mà cha mẹ và các bác xã viên phải trải qua để làm ra hạt gạo

( Khó khăn do thời tiết, khó khăn do sâu bệnh gây ra, chứ không còn khó khăn do bom đạn kẻ thù nữa)

Qua đó mà ta giáo dục cho học sinh tình cảm trân trọng, nâng niu từng hạt lúa và cũng muốn đóng góp công sức nhỏ bé của mình để làm ra hạt lúa

Trang 16

Rõ ràng chỉ sau khi giáo viên đã giảng thật kĩ nội dung bài, học sinh hiểu đợc bài, thâm nhập vào nội dung cảu bài thì lúc đó các em mới có thể truyền tải tới ngời nghe những ý nghĩ, tình cảm của tác giả ( Tức là lúc đó các em mới đọc diễn cảm đợc).Phần hớng dẫn học sinh đọc diễn cảm đợc tiến hành ngay sau khi tìm hiểu nội dung của toàn bài.

+ Cách tiến hành hớng dẫn học sinh đọc diễn cảm:

Tôi chép từng đoanh thơ lên bảng phụ Sau khi hỏi học sinh về nội dung của từng

đoạn, tôi hỏi về cách đọc hay của từng đoạn sau đó cho học sinh khá hoặc cô giáo

đọc mẫu để thể hiện cách đọc hay của từng đoạn đó; cho học sinh khác phát hiện ra những điểm nhấn, giáo viên gạch chân những từ cần nhấn và gọi học sinh khác luyện đọc lại

VD: ở đoạn 1 của bài Chợ tết tôi hỏi đoạn thơ này nói lên điều gì?

( Tả cảnh đẹp của thiên nhiên vào hôm có phiên chợ )

- Vậy khi đọc ta cần đọc nh thế nào cho hay?

( Đọc chậm rãi, đồng thời nhấn giọng vào những từ có sức gợi tả)

Dải mây trắng / đỏ dần trên đỉnh núiSơng hồng lam / ôm ấp nóc nhà gianhTrên con đờng viền trắng mép đồi xanhNgời các ấp tng bừng ra chợ tết

VD: ở đoạn thơ 2 tôi hỏi : ý của đoạn thơ này nói lên điều gì?

( Cảnh mọi ngời tng bừng đi chợ tết )

- Vậy ta cần phải đọc nh thế nào cho hay?

( Đọc với giọng vui, rộn ràng, thể hiện không khí vui vẻ, tng bừng của ngời đi chợ tết đồng thời nhấn vào những từ có sức gợi tả đợc in đậm

Họ vui vẻ kéo hàng / trên cỏ biếcNhững thằng cu áo đỏ / chạy lon xonVài cụ già chống gậy / bớc lom khomCô yến thắm / che môI cời lặng lẽThằng em bé / nép đầu bên yếm mẹNgời hai thôn / gánh lợn chạy đi đầuCon bò vàng ngộ nghĩnh / đuổi theo sauCái gốc để giúp cho học sinh có thể đọc diễn cảm tốt là phải giúp học sinh cảm thụ tốt nội dung bài tập đọc Cách thức giúp học sinh cảm thụ tốt nội dung bài tập

đọc chính là các bớc tiến hành mà tôi đã nêu ra ở trên Song học sinh có thể đọc diễn cảm tốt hơn nếu nh học sinh đợc nghe cô giáo mình đọc hay, đọc tốt Cách đọc của cô chính là một thứ phơng tiện trực quan có hiệu quả nhất góp phần minh chứng cho những gì mà cô và trò cùng thống nhất ở trên Để rèn cho mình khả năng đọc diễn cảm tôi thờng soạn bài thật kỹ (bài soạn của tôi dựa trên những gợi ý của sách giáo viên song cũng phải căn cứ vào tình hình thực tế của lớp mình về trình độ nhận

Ngày đăng: 20/07/2013, 01:28

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w