Các quan hệ mang tính thương mại bao gồm các giao dịch sau đây: bất cứ giao dịch nào về thương mại nào về cung cấp hoặc trao đổi hàng hóa hoặc dịch vụ; thỏa thuận phân phối; đại diện hoặ
Trang 1Khoa Công nghệ Thông tin- Đại học SPKT Hưng Yên Page 1
MỤC LỤC
BÀI 1: TỔNG QUAN VỀ THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ 6
1.1 Khái niệm chung về thương mại điện tử 6
1.1.1 Sự ra đời và phát triển của Internet 6
1.1.2 Giới thiệu về World Wide Web (WWW) và trang Web 8
1.1.3 Khái niệm về thương mại điện tử 10
1.2 Các đặc trưng của thương mại điện tử 11
1.2.1 Các bên tiến hành giao dịch trong thương mại điện tử không tiếp xúc 11
1.2.2 Các giao dịch thương mại truyền thống được thực hiện với sự tồn tại 11
1.2.3 Trong hoạt động giao dịch thương mại điện tử đều có sự tham gia 11
1.2.4 Đối với thương mại truyền thống thì mạng lưới thông tin chỉ là phương tiện 12 1.3 Các cơ sở để phát triển thương mại điện tử 12
1.4 Các hình thức hoạt động chủ yếu của Thương mại điện tử 13
1.4.1 Thư điện tử 13
1.4.2 Thanh toán điện tử 13
1.4.3 Trao đổi dữ liệu điện tử 14
1.4.4 Truyền dung liệu 15
1.4.5 Mua bán hàng hóa hữu hình 15
1.5 Lợi ích của thương mại điện tử 16
1.5.1 Thu thập được nhiều thông tin 16
1.5.2 Giảm chi phí sản xuất 17
1.5.3 Giảm chi phí bán hàng, tiếp thị và giao dịch 17
1.5.4 Xây dựng quan hệ với đối tác 17
1.5.5 Tạo điều kiện sớm tiếp cận kinh tế trí thức 18
1.5.6 Consumer to Consumer (C2C) 18
BÀI 2: CƠ SỞ HẠ TẦNG CỦA THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ 22
2.1 Cơ sở cho hạ tầng pháp lý 23
2.1.1 Luật về thương mại điện tử 24
2.1.2 Luật về chữ ký điện tử 26
2.1.3 Tập quán về thương mại điện tử 28
2.1.4 Quyền sở hữu trí tuệ 30
2.2 Cơ sở hạ tầng kỹ thuật 35
2.2.1 Internet 35
2.2.2 Mạng nội bộ (Intranet) 35
2.2.3 Mạng đối ngoại ( Extranet) 36
2.2.4 WWW ( word wide web – các trang web) 38
2.3 Cơ sở hạ tầng thanh toán 38
2.4 Bảo mật trong thương mại điện tử: 42
2.4.1 Một số vấn đề an ninh liên quan tới hoạt động thương mại điện tử 42
2.4.2 Các giải pháp cho hoạt động bảo mật trong thương mại điện tử: 45
BÀI 3: CÁC MÔ HÌNH THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ 50
3.1 Mô hình Catalog trực tuyến (Web Catalog Model) 51
3.1.1 Khái niệm Catalog điện tử 51
Trang 2Khoa Công nghệ Thông tin- Đại học SPKT Hưng Yên Page 2
3.1.2 Lợi ích mà catalog điện tử đem lại 54
3.1.3 Phân loại catalog điện tử 55
3.2 Mô hình siêu thị trực tuyến (E – Store Model) 57
3.2.1 Khái niệm 57
3.2.2 Lợi ích của việc triển khai các siêu thị trực tuyến: 60
3.3 Mô hình đăng ký hay cung cấp nội dung (Digital Content Model) 61
3.4 Mô hình hỗ trợ quảng cáo (Advertising – Supported Model) 61
3.4.1 Khái niệm 61
3.4.2 Lợi ích mà mô hình đem lại 61
3.5 Mô hình phí dịch vụ (Fee-for-service Model) 63
3.5.1 Khái niệm 63
3.6 Mô hình đấu giá trực tuyến ( Online Auction Model ) 66
3.6.1 Khái niệm 66
3.6.2 Quy trình 66
3.6.3 Ưu điểm của mô hình đấu giá trực tuyến 70
3.7 Mô hình B2B và B2C 71
3.7.1 Mô hình B2B 71
3.7.1.1 Khái niệm 71
3.7.2 Mô hình B2C 76
BÀI 4: THẢO LUẬN CÁC MÔ HÌNH KINH DOANH TMĐT 83
BÀI 5: MARKETING ĐIỆN TỬ 83
5.1 Tổng quan về Maketing điện tử 83
5.1.1 Mục tiêu của Marketing điện tử và Marketing truyền thống 84
5.1.2 Ưu điểm của maketing điện tử so với marketing truyền thống 85
5.1.3 Những sản phẩm có độ tiêu chuẩn hóa cao 90
5.2 Những dịch vụ phù hợp với kinh doanh ngoại tuyến 91
5.3 Những lợi ích và hạn chế của dịch vụ trên mạng 92
5.4 Marketing B2B – khai thác hệ thống thông tin thị trường trên Internet 104
5.5 Tìm kiếm thị trường và bạn hàng trên internet 107
BÀI 6: THANH TOÁN ĐIỆN TỬ 121
6.1 Khái niệm về thanh toán điện tử 121
6.1.1 Khái niệm thanh toán điện tử 121
6.1.2 Các loại thẻ sử dụng trong thanh toán 121
6.2 Thanh toán điện tử giữa doanh nghiệp và người tiêu dùng (B2C) 132
6.2.1 Dịch vụ ATM 133
6.2.3 Dịch vụ ngân hàng trực tuyến (Internet Banking) 136
6.3 Thanh toán điện tử giữa doanh nghiệp và doanh nghiệp (B2B) 139
6.3.1 Quy trình sản xuất và thanh toán bằng hóa đơn điện tử: EIPP 140
6.3.2 Thanh toán bằng thư tín dụng (L/C) 143
6.4 Quản lý rủi ro trong thanh toán điện tử 146
BÀI 7: WEBSITE THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ 149
7.1 Kiến trúc một website 149
7.2 Các bước xây dựng một website 152
Trang 3Khoa Công nghệ Thông tin- Đại học SPKT Hưng Yên Page 3
7.3 Tên miền và đăng ký tên miền 153
7.4 Những điều chủ chốt của một website kinh doanh thành công 154
7.5 Một số cách đánh giá trang Web của doanh nghiệp thương mại điện tử 155
7.5.1 Liệu một DN có thể chia nhỏ trang web của mình thành các thành phần 155
7.5.2 Liệu các công cụ giao tiếp của DN có mang tính nhất quán 156
7.5.3 Trang web của DN dành cho khách hàng hay bộ phận quảng cáo? 156
7.5.4 Liệu trang chủ của DN có ôm đồm nhiều quá? 156
7.5.5 Nhãn hiệu của DN có mang tính trực quan hay không? 157
7.6 Mười lời khuyên hữu ích cho các trang web thương mại điện tử 157
7.7 Điều kiện cần cho thương mại điện tử 160
7.8 Bí quyết thu hút và giữ ―khách‖ dành cho các website thương mại 163
BÀI 8: RỦI RO VÀ BIỆN PHÁP PHÒNG TRÁNH RỦI RO TRONG TMĐT 165
8.1 Khái niệm rủi ro trong thương mại điện tử 165
8.2 Phân loại rủi ro trong thương mại điện tử 165
8.2.1 Rủi ro về dữ liệu 165
8.2.2 Những rủi ro liên quan đến công nghệ 166
8.2.3 Nhóm rủi ro về thủ tục, quy trình giao dịch của tổ chức 169
8.2.4 Nhóm rủi ro về pháp luật và tiêu chuẩn công nghiệp 169
8.2.5 Một số rủi ro điển hình khác 170
8.3 Các biện pháp phòng tránh rủi ro trong thương mại điện tử 176
8.3.1.Bảo mật trong giao dịch 176
8.3.2 Kiểm tra tính đúng đắn và chân thực của thông tin trong giao dịch 179
8.3.3.Lưu trữ dữ liệu nhiều nơi với nhiều hình thức 180
8.3.4.Cài đặt các phần mềm chống Virút tấn công 180
8.3.5.Tham gia bảo hiểm 180
BÀI 9: THẢO LUẬN VỀ THỊ TRƯỜNG ĐIỆN TỬ 181
9.1 Khái niệm về thị trường TMĐT 181
9.1.1 Khái niệm thị trường TMĐT 181
9.1.2 Các loại thị trường TMĐT 181
9.2 Cách thức lấy và cung cấp thông tin trên mạng 182
9.3 Nghiên cứu thị trường trong TMĐT 183
9.4 Sử dụng thư điện tử trong giao dịch điện tử 184
9.5 Quảng cáo trong TMĐT 185
9.6 Marketing trực tuyến 186
9.6.1 Cách thức thu hút khách hàng đến trang Web của doanh nghiệp 186
9.6.2 Những nhân tố giúp cho việc bán hàng các sản phẩm, dịch vụ có hiệu quả 186 9.6.3 Những dịch vụ có thể triển khai được trên mạng 188
9.6.4 Những sản phẩm mà khách hàng có thể tìm mua trên mạng 188
BÀI 10: CHỈ SỐ THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ (EBI INDEX) 190
10.1 Giới thiệu 190
10.2 Ý nghĩa của chỉ số TMĐT 192
10.3 Phương pháp 193
10.4 Chỉ số TMĐT 2012 194
Trang 4Khoa Công nghệ Thông tin- Đại học SPKT Hưng Yên Page 4
10.4.1 Chỉ số về nguồn nhân lực và hạ tầng công nghệ thông tin 195
10.4.2 Chỉ số về giao dịch B2C 196
10.4.3 Chỉ số về giao dịch B2B 197
10.4.4 Chỉ số về giao dịch G2B 198
10.4.5 Chỉ số TMĐT các địa phương 199
BÀI 11: AN NINH THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ 201
11.1 Các loại tội phạm trên mạng 201
11.2 Các vấn đề an toàn bảo mật cơ bản đặt ra trong TMĐT 202
11.3 Cơ chế mã hóa 203
11.4 Chứng thực số hóa 204
11.5 Một số giao thức bảo mật thông dụng 205
11.5.1 Cơ chế bảo mật SSL (Secure Socket Layer) 205
11.5.2 Cơ chế bảo mật SET 206
BÀI 12: THẢO LUẬN CÁC DOANH NGHIỆP VIỆT NAM VÀ TMĐT 207
12.1 Thời cơ và thách thức 207
12.2 Nhà nước ta đang hỗ trợ các doanh nghiệp tiếp cận TMĐT 208
12.3 Các bước cần làm để chấp nhận và tham gia TMĐT của các doanh nghiệp 208
12.3.1 Xây dựng kế hoạch tiếp cận và phát triển TMĐT 208
12.3.2 Mở trang web của doanh nghiệp 210
12.3.3 Tiếp thị trực tuyến trong TMĐT 211
12.3.4 Kế hoạch phát chuyển hàng trong TMĐT 212
12.3.5 Lựa chọn phương án thanh toán điện tử 212
12.3.6 Lựa chọn phương án an toàn và bảo mật trên mạng 213
12.3.7 Xây dựng, phát triển và duy trì website của doanh nghiệp 214
12.3.8 Tái cơ cấu lại công ty trên cơ sở phát triển TMĐT 215
12.4 Xây dựng kế hoạch kinh doanh TMĐT 216
12.4.1 Những việc nên làm khi soạn thảo kế hoạch kinh doanh 216
12.4.2 Soạn thảo kế hoạch kinh doanh điện tử 218
BÀI 13: SÀN GIAO DỊCH THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ 221
13.1 Khái quát về sàn giao dịch thương mại điện tử 221
13.1.1 Khái niệm và vai trò của sàn giao dịch thương mại điện tử 221
13.1.2 Các đặc trưng cơ bản của sàn giao dịch TMĐT 222
13.1.3 Phân loại sàn giao dịch TMĐT 223
13.1.4 Lợi ích kinh doanh thông qua sàn giao dịch thương mại điện tử 224
13.2 Các phương thức giao dịch tại sàn giao dịch thương mại điện tử 227
13.2.1 Giao dịch giao ngay (spot transaction) 227
13.2.2 Giao dịch tương lai( Future transaction) 228
13.2.3 Giao dịch quyền chọn (Options) 228
13.2.4 Nghiệp vụ tự bảo hiểm (Hedging) 229
13.2.5 Đấu giá điện tử 229
13.2.6 Đấu thầu điện tử (E.bidding) 229
BÀI 14: THẢO LUẬN VỀ VẤN ĐỀ THANH TOÁN QUA MẠNG 231
14.1 Yêu cầu của TMĐT đối với hệ thống thanh toán 231
Trang 5Khoa Công nghệ Thông tin- Đại học SPKT Hưng Yên Page 5
14 2 Thực trạng của hoạt động thanh toán 232
14 2.1 Lượng tiền mặt lưu thông còn cao 232
14.2.2 Số tại khoản cá nhân ngày càng tăng 233
14.2.3 Mở rộng đối tượng tham gia cung ứng dịch vụ thanh toán 235
14.3 Tiền đề của hệ thống thanh toán điện tử tại Việt Nam 235
14.3.1 Sự phát triển của thị trường thanh toán thẻ 235
14.3.2 Liên minh thẻ ngân hàng 236
14.4 Định hướng của Nhà nước về phát triển thanh toán điện tử 238
BÀI 15: HIỆU QUẢ ỨNG DỤNG THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ 240
15.1 Đầu tư cho thương mại điện tử 240
15.2 Doanh thu từ thương mại điện tử 242
15.3 Tương quan giữa doanh thu và đầu tư 244
15.4 Tác động của TMĐT tới hoạt động kinh doanh 244
15.5 Trở ngại cho ứng dụng thương mại điện tử 245
BÀI 16: ÔN TẬP, THẢO LUẬN CUỐI NĂM 247
Trang 6Khoa Công nghệ Thông tin- Đại học SPKT Hưng Yên Page 6
BÀI 1: TỔNG QUAN VỀ THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ 1.1 Khái niệm chung về thương mại điện tử
1.1.1 Sự ra đời và phát triển của Internet
Internet là mạng của các mạng máy tính trên phạm vi toàn thế giới, sử dụng giao thức có tên là TCP/IP để kết nối và truyền dữ liệu giữa các máy tính
Hình 1.1: Sơ đồ khái quát mạng internet
Internet ra đời trên cơ sở mạng ARPANET của Bộ Quốc Phòng Mỹ xây dựng trong những năm 1970 Để đối phó với chiến tranh lạnh, Chính phủ Mỹ đã thành lập một
cơ quan quản lý dự án nghiên cứu công nghệ cao (Advenced Research Projects Agency (ARPA) Vào cuối năm 1960, việc sử dụng máy tính ARPA và các cơ quan khác của chính phủ đã mở rộng ra rất nhiều, họ cần phải được chia sẻ số liệu với nhau nếu cần ARPANET, là khởi thủy của Internet, tạo ra để giải quyết vấn đề trên Máy tính thường được chế tạo bởi các công ty khác nhau, hầu hết các máy tính bởi sự khác nhau về các phần mềm và phần cứng ARPANET đã xây dựng các chuẩn cho Internet Các nhà sản
Trang 7Khoa Công nghệ Thông tin- Đại học SPKT Hưng Yên Page 7
xuất phải cung cấp sản phẩm đáp ứng với những chuẩn này và do đó bảo đảm rằng tất cả những máy tính có thể trao đổi số liệu với nhau Một dấu mốc khác của Internet đến vào giữa năm 80, khi tổ chức khoa học NSF (National Science Foundation) đưa vào Internet
5 trung tâm siêu máy tính Điều này đã đem lại cho các trung tâm giáo dục, quân sự, và các NSF khác được quyền được truy nhập vào các siêu máy tính, và quan trọng hơn là tạo
ra một mạng xương sống (backborne) cho mạng Internet ngày nay
Một trong những lý do quyết định sự phát triển và quảng bá mạnh mẽ của Internet chính là tính mở rộng tự nhiên của nó do giao thức TCP/IP đem lại Nó làm cho việc kết nối mạng máy tính internet trở nên dễ dàng vì vậy internet nhanh chóng trở thành mạng được nhiều người sử dụng nhất ngày nay
Hình 1 2: Biểu đồ tăng trưởng số người sử dụng Internet
Để kết nối Internet chúng ta phải có được những phần sau:
• Một máy vi tính cài hệ điều hành Windows cung cấp dịch vụ TCP/IP (bắt buộc)
• Modem V.34 tốc độ từ 19200 baud hoặc Router đối với kết nối ADSL
Trang 8Khoa Công nghệ Thông tin- Đại học SPKT Hưng Yên Page 8
Hình 1.3: Tình hình phát triển Internet ở một số nước
Internet đã tác động sâu sắc đến mọi mặt đời sống kinh tế xã hội, đương nhiên nó tác dụng quyết định mạng lưới quản lý − phát triển từ sản xuất hàng loạt sang cá thể hoá hàng loạt khách hàng chuyển sang hàng giờ tác động mạnh đến hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp
Bill Gates: ―Cạnh tranh ngày nay không phải giữa các sản phẩm mà giữa các mô hình kinh doanh‖ Nếu Doanh nghiệp không quan tâm đến thông tin, Internet, Web, TMDT tất sẽ chịu nhiều rủi ro Internet không tác động lên sản phẩm cụ thể nào mà lên toàn bộ mối quan hệ của doanh nghiệp thông qua thông tin mà nó đem lại Nó không làm thay đổi bản chất quá trình kinh doanh nhưng nó đem lại cơ hội mới chưa từng có Một tiến bộ có tính đột phá nữa trong lịch sử phát triển internet là sự ra đời và phát triển công nghệ Web (1992) cho kích thích các doanh nghiệp nhảy vào và thương mại điện tử ra đời
từ đó
1.1.2 Giới thiệu về World Wide Web (WWW) và trang Web
1.1.2.1 Khái niệm WWW
Trang 9Khoa Công nghệ Thông tin- Đại học SPKT Hưng Yên Page 9
Trước năm 1990, Internet đã phát triển thành mạng của những máy tính kết nối với tốc độ cao có một hệ thống cơ sở đặc biệt Người ta cần trao đổi số liệu dưới dạng text, đồ họa và hyperlinks Tim Berners – Lee, một nhà khoa học làm việc tại phòng thí nghiệm Châu Âu về vật lý tại Geneva, Thụy Sỹ, đề nghị một bộ Protocol cho phép truyền thông tin đồ họa trên Internet vào năm 1989 Những đề nghị này của Berners – Lee được một nhóm khác thực hiện, và Word Wide Web ra đời
Internet và World Wide Web, hoặc đơn giản gọi là Web được gọi là tra cứu thông tin toàn cầu Nó bao gồm hàng triệu các website, mỗi website được xây dựng từ nhiều trang web Mỗi trang web được xây dựng trên một ngôn ngữ HTML (Hyper Text Transfer Protocol) ngôn ngữ này có hai đặc trưng cơ bản:
1> Tích hợp hình ảnh âm thanh tạo ra môi trường multimedia
2> Tạo ra các siêu liên kết cho phép có thể nhảy từ trang web này sang trang web khác không cần một trình tự nào Để đọc trang web người ta sử dụng các trình duyệt (browser) Các trình duyệt nổi tiếng hiện nay là Internet Explorer (tích hợp ngay trong hệ điều hành) và Nescape
1.1.2.2 Khái niệm về trang Web
Trang Web là một tệp văn bản có chứa đựng ngôn ngữ lập trình siêu văn bản (Hyper Text Markup Language - HTML) để tích hợp hình ảnh, âm thanh và những trang Web khác Trang Web được lưu tại Web Server và có thể được truy cập vào mạng Internet qua trình duyệt Web Browser có trong máy tính
Trang Web có 2 đặc trưng cơ bản:
1> Giữa các trang Web có các siêu liên kết cho phép người sử dụng có thể từ trang này sang trang khác mà không tính đến khoảng cách địa lý
2> Ngôn ngữ HTML cho phép trang web có thể sử dụng Multimedia để thể hiện thông tin
Mỗi một trang Web sẽ có một địa chỉ được gọi là Uniform Resource Locator (URL) URL là đường dẫn trên Interndet để đến được trang Web Ví dụ URL cho trang TinTucVietNam http://www.tintucvietnam.com
Tập hợp các trang web phục vụ cho một tổ chức và được đặt trong một máy chủ
kết nối mạng được gọi là web site Trong website thường có một trang chủ và từ đó có
đường dẫn siêu liên kết đến các trang khác
Trang 10Khoa Công nghệ Thông tin- Đại học SPKT Hưng Yên Page 10
1.1.3 Khái niệm về thương mại điện tử
Khái niệm thương mại điện tử
Thương mại điện tử là hình thức mua bán hàng hóa và dịch vụ thông qua mạng máy tính toàn cầu Thương mại điện tử theo nghĩa rộng được định nghĩa trong Luật mẫu
về Thương mại điện tử của Ủy ban Liên Hợp quốc về Luật Thương mại Quốc tế (UNCITRAL)
―Thuật ngữ Thương mại cần được diễn giải theo nghĩa rộng để bao quát các vấn đề phát sinh từ mọi quan hệ mang tính chất thương mại dù có hay không có hợp đồng Các quan hệ mang tính thương mại bao gồm các giao dịch sau đây: bất cứ giao dịch nào về thương mại nào về cung cấp hoặc trao đổi hàng hóa hoặc dịch vụ; thỏa thuận phân phối; đại diện hoặc đại lý thương mại, ủy thác hoa hồng; cho thuê dài hạn; xây dựng các công trình; tư vấn; kỹ thuật công trình; đầu tư; cấp vốn; ngân hàng; bảo hiểm; thỏa thuận khai thác hoặc tô nhượng; liên doanh các hình thức khác về hợp tác công nghiệp hoặc kinh doanh; chuyên chở hàng hóa hay hành khách bằng đường biển, đường không, đường sắt hoặc đường bộ.‖
Như vậy, có thể thấy rằng phạm vi của Thương mại điện tử rất rộng, bao quát hầu hết các lĩnh vực hoạt động kinh tế, việc mua bán hàng hóa và dịch vụ chỉ là một trong hàng ngàn lĩnh vực áp dụng của Thương mại điện tử Theo nghĩa hẹp thương mại điện tử chỉ gồm các hoạt động thương mại được tiến hành trên mạng máy tính mở như Internet Trên thực tế, chính các hoạt động thương mại thông qua mạng Internet đã làm phát sinh thuật ngữ thương mại điện tử
Thương mại điện tử gồm các hoạt động mua bán hàng hóa và dịch vụ qua phương tiện điện tử, giao nhận các nội dung kỹ thuật số trên mạng, chuyển tiền điện tử, mua bán
cổ phiếu điện tử, vận đơn điện tử, đấu giá thương mại, hợp tác thiết kế, tài nguyên mạng, mua sắm công cộng, tiếp thị trực tuyến tới người tiêu dùng và các dịch vụ sau bán hàng Thương mại điện tử được thực hiện đối với cả thương mại hàng hóa (ví dụ như hàng tiêu dùng, các thiết bị y tế chuyên dụng) và thương mại dịch vụ (ví dụ như dịch vụ cung cấp thông tin, dịch vụ pháp lý, tài chính); các hoạt động truyền thống (như chăm sóc sức khỏe, giáo dục ) và các hoạt động mới (ví dụ như siêu thị ảo) Thương mại điện tử đang trở thành một cuộc cách mạng làm thay đổi cách thức mua sắm của con người
Trang 11Khoa Công nghệ Thông tin- Đại học SPKT Hưng Yên Page 11
1.2 Các đặc trưng của thương mại điện tử
So với các hoạt động Thương mại truyền thống, thương mại điện tử có một số điểm khác biệt cơ bản sau:
1.2.1 Các bên tiến hành giao dịch trong thương mại điện tử không tiếp xúc trực
tiếp với nhau và không đòi hỏi phải biết nhau từ trước
Trong Thương mại truyền thống, các bên thường gặp nhau trực tiếp để tiến hành giao dịch Các giao dịch được thực hiện chủ yếu theo nguyên tắc vât lý như chuyển tiền, séc hóa đơn, vận đơn, gửi báo cáo Các phương tiện viễn thông như: fax, telex, chỉ được sử dụng để trao đổi số liệu kinh doanh Tuy nhiên, việc sử dụng các phương tiện điện tử trong thương mại truyền thống chỉ để chuyển tải thông tin một cách trực tiếp giữa hai đối tác của cùng một giao dịch
Thương mại điện tử cho phép mọi người cùng tham gia từ các vùng xa xôi hẻo lánh đến các khu vực đô thị lớn, tạo điều kiện cho tất cả mọi người ở khắp nơi đều có cơ hội ngang nhau tham gia vào thị trường giao dịch toàn cầu và không đòi hỏi nhất thiết phải có mối quen biết với nhau
1.2.2 Các giao dịch thương mại truyền thống được thực hiện với sự tồn tại của
khái niệm biên giới quốc gia, còn thương mại điện tử được thực hiện trong một thị trường không có biên giới (thị trường thống nhất toàn cầu)
Thương mại điện tử trực tiếp tác động tới môi trường cạnh tranh toàn cầu Thương mại điện tử càng phát triển, thì máy tính cá nhân trở thành cửa sổ cho doanh nghiệp hướng ra thị trường trên khắp thế giới Với thương mại điện tử, một doanh nhân dù mới thành lập đã có thể kinh doanh ở Nhật Bản, Đức và Chile…, mà không hề phải bước ra khỏi nhà, một công việc trước kia phải mất nhiều năm
1.2.3 Trong hoạt động giao dịch thương mại điện tử đều có sự tham gia của ít
nhất ba chủ thể, trong đó có một bên không thể thiếu được là người cung
cấp dịch vụ mạng, các cơ quan chứng thực
Trong Thương mại điện tử, ngoài các chủ thể tham gia quan hệ giao dịch giống như giao dịch thương mại truyền thống đã xuất hiện một bên thứ ba đó là nhà cung cấp dịch vụ mạng, các cơ quan chứng thực… là những người tạo môi trường cho các giao dịch thương mại điện tử Nhà cung cấp dịch vụ mạng và cơ quan chứng thực có nhiệm vụ chuyển đi, lưu giữ các thông tin giữa các bên tham gia giao dịch thương mại điện tử,
Trang 12Khoa Công nghệ Thông tin- Đại học SPKT Hưng Yên Page 12
đồng thời họ cũng xác nhận độ tin cậy của các thông tin trong giao dịch thương mại điện
tử
1.2.4 Đối với thương mại truyền thống thì mạng lưới thông tin chỉ là phương tiện
để trao đổi dữ liệu, còn đối với thương mại điện tử thì mạng lưới thông tin là thị trường
Thông qua Thương mại điện tử, nhiều loại hình kinh doanh mới được hình thành
Ví dụ: các dịch vụ gia tăng giá trị trên mạng máy tính hình thành nên các nhà trung gian
ảo là các dịch vụ môi giới cho giới kinh doanh và tiêu dùng; các siêu thị ảo được hình thành để cung cấp hàng hóa và dịch vụ trên mạng máy tính Các trang Web khá nổi tiếng như Yahoo! America Online hay Google đóng vai trò quan trọng cung cấp thông tin trên mạng Các trang Web này trở thành các ―khu chợ‖ khổng lồ trên Internet Với mỗi lần nhấn chuột, khách hàng có khả năng truy cập vào hàng ngàn cửa hàng ảo khác nhau và tỷ
lệ khách hàng vào hàng ngàn các cửa hàng ảo khác nhau và tỷ lệ khách hàng vào thăm rồi mua hàng là rất cao Người tiêu dùng đã bắt đầu mua trên mạng một số các loại hàng trước đây được coi là khó bán trên mạng Nhiều người sẵn sàng trả thêm một chút tiền còn hơn là phải đi tới tận cửa hàng Một số công ty đã mời khách may đo quần áo trên mạng, tức là khách hàng chọn kiểu, gửi số đo theo hướng dẫn tới cửa hàng (qua Internet) rồi sau một thời gian nhất định nhận được bộ quần áo theo đúng yêu cầu của mình Điều tưởng như không thể thực hiện được này cũng có rất nhiều người hưởng ứng Các chủ cửa hàng thông thường ngày nay cũng đang đua nhau đưa thông tin lên Web để tiến tới khai thác mảng thị trường rộng lớn trên Web bằng cách mở cửa hàng ảo
1.3 Các cơ sở để phát triển thương mại điện tử
Để phát triển TMĐT cần phải có hội đủ một số cơ sở:
- Hạ tầng kỹ thuật internet phải đủ nhanh, mạnh đảm bảo truyền tải các nội dung thông tin bao gồm âm thanh, hình ảnh trung thực và sống động Một hạ tầng internet mạnh cho phép cung cấp các dịch vụ như xem phim, xem TV, nghe nhạc v.v trực tiếp Chi phí kết nối internet phải rẻ để đảm bảo số người dùng internet phải lớn
- Hạ tầng pháp lý: phải có luật về TMĐT công nhận tính pháp lý của các chứng từ điện tử, các hợp đồng điện tử ký qua mạng; phải có luật bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ, bảo
vệ sự riêng tư, bảo vệ người tiêu dùng v.v để điều chỉnh các giao dịch qua mạng
Trang 13Khoa Công nghệ Thông tin- Đại học SPKT Hưng Yên Page 13
- Phải có cơ sở thanh toán điện tử an toàn bảo mật Thanh toán điện tử qua thẻ, qua tiền điện tử, thanh toán qua EDI Các ngân hàng phải triển khai hệ thống thanh toán điện
tử rộng khắp
- Phải có hệ thống cơ sở chuyển phát hàng nhanh chóng, kịp thời và tin cậy
- Phải có hệ thống an toàn bảo mật cho các giao dịch, chống xâm nhập trái phép, chống virus, chống thoái thác
- Phải có nhân lực am hiểu kinh doanh, công nghệ thông tin, thương mại điện tử
để triển khai tiếp thị, quảng cáo, xúc tiến, bán hàng và thanh toán qua mạng
1.4 Các hình thức hoạt động chủ yếu của Thương mại điện tử
1.4.1 Thư điện tử
Các doanh nghiệp, các cơ quan Nhà nước… sử dụng thư điện tử để gửi thư cho nhau một cách ―trực tuyến‖ thông qua mạng, gọi là thư điện tử (electronic mail, viết tắt là
e-mail) Thông tin trong thư điện tử không phải tuân theo một cấu trúc định trước nào
1.4.2 Thanh toán điện tử
Thanh toán điện tử (electronic payment) là việc thanh toán tiền thông qua bức thư điện tử (electronic message) ví dụ, trả lương bằng cách chuyển tiền trực tiếp vào tài khoản, trả tiền mua hàng bằng thẻ mua hàng, thẻ tín dụng v.v thực chất đều là dạng thanh toán điện tử Ngày nay, với sự phát triển của TMĐT, thanh toán điện tử đã mở rộng sang các lĩnh vực mới đó là:
Trao đổi dữ liệu điện tử tài chính (Financial Electronic Data Interchange, gọi tắt là FEDI) chuyên phục vụ cho việc thanh toán điện tử giữa các công ty giao dịch với nhau bằng điện tử
Tiền lẻ điện tử (Internet Cash) là tiền mặt được mua từ một nơi phát hành (ngân hàng hoặc một tổ chức tín dụng nào đó), sau đó được chuyển đổi tự do sang các đồng tiền khác thông qua Internet, áp dụng trong cả phạm vi một nước cũng như giữa các quốc gia; tất cả đều được thực hiện bằng kỹ thuật số hóa, vì thế tiền mặt này còn có tên gọi là ―tiền mặt số hóa‖ (digital cash) Tiền lẻ điện tử đang trên đà phát triển nhanh, nó có ưu điểm nổi bật sau:
Dùng để thanh toán những món hàng giá trị nhỏ, thậm chí ngay cả tiền mua báo (vì phí giao dịch mua hàng và chuyển tiền rất thấp);
Trang 14Khoa Công nghệ Thông tin- Đại học SPKT Hưng Yên Page 14
Có thể tiến hành giữa hai con người hoặc hai công ty bất kỳ, các thanh toán là vô danh;
Tiền mặt nhận được đảm bảo là tiền thật, tránh được tiền giả
Ví điện tử (electronic purse): là nơi để tiền mặt Internet, chủ yếu là thẻ thông minh (smart card), còn gọi là thẻ giữ tiền (stored value card), tiền được trả cho bất kỳ ai đọc được thẻ đó; kỹ thuật của túi tiền điện tử tương tự như kỹ thuật áp dụng cho ―tiền lẻ điện tử‖ Thẻ thông minh, nhìn bề ngoài như thẻ tín dụng, nhưng ở mặt sau của thẻ, có một chíp máy tính điện tử có một bộ nhớ để lưu trữ tiền số hóa, tiền ấy chỉ được ―chi trả‖ khi
sử dụng hoặc thư yêu cầu (như xác nhận thanh toán hóa đơn) được xác thực là ― đúng‖
Giao dịch điện tử của ngân hàng (digital banking) Hệ thống thanh toán điện tử của ngân hàng là một hệ thống lớn gồm nhiều hệ thống nhỏ:
Thanh toán giữa ngân hàng với khách hàng qua điện thoại, tại các điểm bán lẻ, các kiốt, giao dịch cá nhân tại các gia đình, giao dịch tại trụ sở khách hàng, giao dịch qua Internet, chuyển tiền điện tử, thẻ tín dụng, thông tin hỏi đáp…
Thanh toán giữa ngân hàng với các đại lý thanh toán (nhà hàng, siêu thị ,)
Thanh toán nội bộ một hệ thống ngân hàng
Thanh toán liên ngân hàng
1.4.3 Trao đổi dữ liệu điện tử
Trao đổi dữ liệu điện tử (electronic data interchange, viết tắt là EDI) là việc trao đổi các dữ liệu dưới dạng ―có cấu trúc‖ (stuctured form), từ máy tính điện tử này sang máy tính điện tử khác, giữa các công ty hoặc đơn vị đã thỏa thuận buôn bán với nhau
Theo Ủy ban liên hợp quốc về luật thương mại quốc tế (UNCITRAL), ―Trao đổi
dữ liệu điện tử (EDI) là việc chuyển giao thông tin từ máy tính điện tử này sang máy tính điện tử khác bằng phương tiện điện tử, có sử dụng một tiêu chuẩn đã được thỏa thuận để cấu trúc thông tin‖ EDI ngày càng được sử dụng rộng rãi trên toàn cầu, chủ yếu phục vụ cho việc mua và phân phối hàng (gửi đơn hàng, các xác nhận, các tài liệu gửi hàng, hóa đơn v.v…), người ta cũng dùng cho các mục đích khác, như thanh toán tiền khám bệnh, trao đổi các kết quả xét nghiệm v.v
Trước khi có Internet đã có EDI, khi đó người ta dùng ―mạng giá trị gia tăng‖ (Value Added Network, viết tắt là VAN) để liên kết các đối tác EDI với nhau; cốt lõi của VAN là một hệ thống thư điện tử cho phép các máy tính điện tử liên lạc được với nhau,
và hoạt động như một phương tiện lưu trữ và tìm kiếm; khi nối vào VAN, một doanh
Trang 15Khoa Công nghệ Thông tin- Đại học SPKT Hưng Yên Page 15
nghiệp có thể liên lạc với nhiều máy tính điện tử nằm ở nhiều thành phố trên khắp thế giới
Ngày nay EDI chủ yếu được thực hiện thông qua mạng Internet Để phục vụ cho buôn bán giữa các doanh nghiệp thuận lợi hơn với chi phí truyền thông không quá tốn kém, người ta đã xây dựng một kiểu mạng mới gọi là ―mạng riêng ảo‖ (virtual private network), là mạng riêng dạng intranet của một doanh nghiệp nhưng được thiết lập dựa trên chuẩn trang Web và truyền thông qua mạng Internet
Công việc trao đổi EDI trong TMĐT thường gồm các nội dung sau: 1/ Giao dịch kết nối 2/ Đặt hàng 3/ Giao dịch gửi hàng 4/Thanh toán
Vấn đề này đang được tiếp tục nghiên cứu và xử lý, đặc biệt là buôn bán giữa các nước có quan điểm chính sách, và luật pháp thương mại khác nhau, đòi hỏi phải có một pháp lý chung trên nền tảng thống nhất quan điểm về tự do hóa thương mại và tự do hóa việc sử dụng mạng Internet, chỉ như vậy mới bảo đảm được tính khả thi, tính an toàn, và tính có hiệu quả của việc trao đổi dữ liệu điện tử (EDI)
1.4.4 Truyền dung liệu
Dung liệu (content) là nội dung của hàng hóa số, giá trị của nó không phải trong vật mang tin và nằm trong bản thân nội dung của nó Hàng hóa số có thể được giao qua mạng Ví dụ hàng hóa số là: Tin tức, nhạc phim, các chương trình phát thanh, truyền hình, các chương trình phần mềm, các ý kiến tư vấn, vé máy bay, vé xem phim, xem hát, hợp đồng bảo hiểmv.v…
Trước đây, dung liệu được trao đổi dưới dạng hiện vật (physical form) bằng cách đưa vào đĩa, vào bảng, in thành sách báo, thành văn bản, đóng góp bao bì chuyển đến tay người sử dụng, hoặc đến điểm phân phối (như cửa hàng, quầy báo v.v ) để người sử dụng mua và nhận trực tiếp Ngày nay, dung liệu được số hóa và truyền gửi theo mạng, gọi là ―giao gửi số hóa‖ (digital delivery)
Các tờ báo, các tư liệu công ty, các ca-ta-lô sản phẩm lần lượt đưa lên Web, người
ta gọi là ―xuất bản điện tử‖ (electronic publishing hoặc Web publishing), khoảng 2700 tờ báo đã được đưa lên Web gọi là ―sách điện tử‖; các chương trình phát thanh, truyền hình, giáo dục, ca nhạc, kể chuyện v.v cũng được số hóa, truyền qua Internet, người sử dụng tải xuống (download); và sử dụng thông qua màn hình và thiết bị âm thanh của máy tính điện tử
1.4.5 Mua bán hàng hóa hữu hình
Trang 16Khoa Công nghệ Thông tin- Đại học SPKT Hưng Yên Page 16
Đến nay, danh sách các hàng hóa bán lẻ qua mạng đã mở rộng, từ hoa tới quần áo,
ô tô và xuất hiện một loại hoạt động gọi là ―mua hàng điện tử‖ (electronic shopping), hay
―mua hàng trên mạng‖; ở một số nước, Internet bắt đầu trở thành công cụ để cạnh tranh bán lẻ hàng hữu hình (Retail of tangible goods) Tận dụng tính năng đa phương tiện (multimedia) của môi trường Web và Java, người bán xây dựng trên mạng các ―cửa hàng ảo‖ (virtual shop), gọi là ảo bởi vì, cửa hàng có thật nhưng ta chỉ xem toàn bộ quang cảnh cửa hàng và các hàng hóa chứa trong đó trên từng trang màn hình một
Để có thể mua – bán hàng, khách hàng tìm trang Web của cửa hàng, xem hàng hóa hiển thị trên màn hình, xác nhận mua và trả tiền bằng thanh toán điện tử Lúc đầu (giai đoạn một), việc mua bán như vậy còn ở dạng sơ khai: người mua chọn hàng rồi đặt hàng thông qua mẫu đơn (form) cũng đặt ngay trên Web Nhưng có trường hợp muốn lựa chọn giữa nhiều loại hàng ở các trang Web khác nhau (của cùng một cửa hàng) thì hàng hóa miêu tả nằm ở một trang, đơn đặt hàng lại nằm ở trang khác, gây ra nhiều phiền toái
Để khắc phục, giai đoạn hai, xuất hiện loại phần mềm mới, cùng với hàng hóa của cửa hàng trên màn hình đã có thêm phần ― xe mua hàng‖ (shopping cart, shopping trolley), giỏ mua hàng (shopping basket, shopping bag) giống như giỏ mua hàng hay xe mua hàng thật mà người mua thường dùng khi vào cửa hàng siêu thị Xe và giỏ mua hàng này đi theo người mua suốt quá trình chuyển từ trang Web này đến trang Web khác để chọn hàng, khi tìm được hàng vừa ý, người mua ấn phím ― Hãy bỏ vào giỏ‖ ( Put in into shopping bag); các xe hay giỏ mua hàng này có nhiệm vụ tự động tính tiền (kể cả thuế, cước vận chuyển) để thanh toán với khách mua Vì hàng hóa là hữu hình, nên tất yếu sau
đó cửa hàng phải dùng tới các phương tiện gửi hàng theo kiểu truyền thống để đưa hàng đến tay người tiêu dùng
1.5 Lợi ích của thương mại điện tử
1.5.1 Thu thập được nhiều thông tin
TMĐT giúp người ta tham gia thu được nhiều thông tin về thị trường, đối tác, giảm chi phí tiếp thị và giao dịch, rút ngắn thời gian sản xuất, tạo dựng và củng cố quan
hệ bạn hàng Các doanh nghiệp nắm được thông tin phong phú về kinh tế thị trường, nhờ
đó có thể xây dựng được chiến lược sản xuất và kinh doanh thích hợp với xu thế phát triển của thị trường trong nước, khu vực và quốc tế Điều này đặc biệt có ý nghĩa đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ, hiện nay đang được nhiều nước quan tâm, coi là một trong những động lực phát triển kinh tế
Trang 17Khoa Công nghệ Thông tin- Đại học SPKT Hưng Yên Page 17
1.5.2 Giảm chi phí sản xuất
TMĐT giúp giảm chi phí sản xuất, trước hết là chi phí văn phòng Các văn phòng không giấy tờ (paperless office) chiếm diện tích nhỏ hơn rất nhiều, chi phí tìm kiếm chuyển giao tài liệu giảm nhiều lần (trong đó khâu in ấn hầu như được bỏ hẳn); theo số liệu của hãng General Electricity của Mỹ, tiết kiệm trên hướng này đạt tới 30% Điều quan trọng hơn, với góc độ chiến lược, là các nhân viên có năng lực được giải phóng khỏi nhiều công đoạn có thể tập trung vào nghiên cứu phát triển, sẽ đưa đến những lợi ích to lớn lâu dài
1.5.3 Giảm chi phí bán hàng, tiếp thị và giao dịch
TMĐT giúp giảm thấp chi bán hàng và chi phí tiếp thị Bằng phương tiện Internet/Web, một nhân viên bán hàng có thể giao dịch được với rất nhiều khách hàng, catalogue điện tử (electronic catalogue) trên Web phong phú hơn nhiều và thường xuyên cập nhật so với catalog ue in ấn chỉ có khuôn khổ giới hạn và luôn luôn lỗi thời Theo số liệu của hãng máy bay Boeing của Mỹ, đã có tới 50% khách hàng đặt mua 9% phụ tùng qua Internet (và nhiều các đơn hàng về lao vụ kỹ thuật), và mỗi ngày giảm bán được 600 cuộc gọi điện thoại
TMĐT qua Internet/Web giúp người tiêu thụ và các doanh nghiệp giảm đáng kể thời gian và chi phí giao dịch (giao dịch được hiểu là từ quá trình quảng cáo, tiếp xúc ban đầu, giao dịch đặt hàng, giao dịch thanh toán) Thời gian giao dịch qua Internet chỉ bằng 7% thời gian giao dịch qua Fax, và bằng khoảng 0.5 phần nghìn thời gian giao dịch qua bưu điện chuyển phát nhanh, chi phí thanh toán điện tử qua Internet chỉ bằng từ 10% đến 20% chi phí thanh toán theo lối thông thường
Tổng hợp tất cả các lợi ích trên, chu trình sản xuất (cycle time) được rút ngắn, nhờ
đó sản phẩm mới xuất hiện nhanh và hoàn thiện hơn
1.5.4 Xây dựng quan hệ với đối tác
TMĐT tạo điều kiện cho việc thiết lập và củng cố mối quan hệ giữa các thành viên tham gia vào quá trình thương mại: thông qua mạng (Internet/ Web), các thành viên tham gia (người tiêu thụ, doanh nghiệp, các cơ quan Chính phủ…) có thể giao tiếp trực tuyến (liên lạc ― trực tuyến‖) và liên tục với nhau, có cảm giác như không có khoảng cách về địa lý và thời gian nữa; nhờ đó sự hợp tác và sự quản lý đều được tiến hành nhanh chóng một cách liên tục: các bạn hàng mới, các cơ hội kinh doanh mới được phát hiện nhanh
Trang 18Khoa Công nghệ Thông tin- Đại học SPKT Hưng Yên Page 18
chóng trên phạm vi toàn quốc, toàn khu vực, toàn thế giới, và có nhiều cơ hội để lựa chọn hơn
1.5.5 Tạo điều kiện sớm tiếp cận kinh tế trí thức
Trước hết, TMĐT sẽ kích thích sự phát triển của ngành công nghệ thông tin tạo cơ
sở cho phát triển kinh tế tri thức Lợi ích này có một ý nghĩa phát triển: nếu không nhanh chóng tiếp cận nền kinh tế tri thức thì sau khoảng một thập kỷ nữa, nước đang phát triển
có thể bị bỏ rơi hoàn toàn Khía cạnh lợi ích này mang tính chiến lược công nghệ và tính chính sách phát triển cần cho các nước công nghiệp hóa
1.5.6 Consumer to Consumer (C2C)
Thương mại điện tử khách hàng tới khách hàng C2C đơn giản là thương mại giữa các cá nhân và người tiêu dùng loại hình thương mại điện tử này được phân loại bởi sự tăng trưởng của thị trường điện tử và đấu giá trên mạng, đặc biệt với các ngành theo trục dọc nơi các công ty/ doanh nghiệp có thể đấu thầu cho những cái họ muốn từ các nhà cung cấp khác nhau Có lẽ đây là tiềm năng lớn nhất cho việc phát triển thị trường mới
Loại hình thương mại điện tử này tới theo ba dạng:
Hệ thống hai đầu P2P, Forum, IRC, các phần mềm nói chuyện qua mạng như
Yahoo, Skype,Window Messenger, AOL …
Quảng cáo phân loại tại một cổng (rao vặt)
Giao dịch khách hàng tới doanh nghiệp C2B bao gồm đấu giá ngược, trong đó
khách hàng là người điều khiển giao dịch
Tại các trang web của nước ngoài chúng ta có thể nhận ra ngay Ebay là website đứng đầu danh sách các website C2C trên thế giới đây là một tượng đài về kinh doanh theo hình thức đấu giá mà các doanh nghiệp Việt Nam nào cũng muốn ―trở thành‖
Trang 19Khoa Công nghệ Thông tin- Đại học SPKT Hưng Yên Page 19
Hình 1.4 : Website theo mô hình C2C
Theo thống kê của Bộ Thương mại tại trustvn.gov.vn, trong nước có tới 87 trang web hoạt động theo hình thức C2C (customer to customer) Các website 1001shoppings.com, chodientu.vn, aha.com.vn, vietco.com…là những sàn giao dịch hoạt động có hiệu quả nhất theo xếp hạng của Bộ thương mại tính đến 31/12/2006
Tuy nhiên, Phó vụ trưởng Vụ thương mại điện tử (Bộ Thương mại) Trần Hữu Linh cũng cho biết quá nửa số địa chỉ nằm trong danh sách nói trên đang trong tình trạng
"đắp chiếu" hoặc "nằm chơi" "Hoạt động C2C của VN còn rất sơ khai", ông Linh kết luận Còn ông Mai Anh, Giám đốc Trung tâm tin học Bộ Khoa học Công nghệ, cho rằng
ở VN chưa hề tồn tại một mô hình C2C theo nghĩa đầy đủ nhất "C2C là sự giao dịch giữa cá nhân với cá nhân Mà trong nước tôi chưa thấy có hệ thống nào thuần chất như vậy cả", ông Mai Anh nói "Có chăng thì chỉ tạm coi các site, mục rao vặt trên các báo điện tử, diễn đàn hoặc chuyên mục của một số sàn đấu giá là C2C Nhưng như thế cũng vẫn là nửa vời, chưa ở mức độ thương mại điện tử, nghĩa là phải có giao dịch, thanh toán…hoàn toàn qua mạng‖
- Giám đốc Chợ điện tử (chodientu.vn) Nguyễn Hòa Bình cũng đồng tình với nhận định này "Phần lớn người tiêu dùng vẫn sử dụng hình thức rao vặt qua mạng để trao đổi mua bán hàng hóa giữa các cá nhân Nhưng đó là C2C không chuyên nghiệp và chưa
Trang 20Khoa Công nghệ Thông tin- Đại học SPKT Hưng Yên Page 20
hoàn thiện Về góc độ kinh doanh thì đó không phải mô hình tốt nếu mãi duy trì như vậy,
dù kiểu giao dịch này đang khá phổ biến", người quản lý Chợ điện tử phân tích "Vì đó là kiểu làm tự phát, dễ thiết lập, dễ vận hành nhưng khó tạo niềm tin, đảm bảo uy tín và quan trọng là rất khó thu tiền"
- Trong bối cảnh như vậy, việc eBay - sàn giao dịch trực tuyến khổng lồ của thế giới - ra mắt giao diện tiếng Việt, khởi đầu cho những hoạt động kinh doanh chính thức tại VN, được đánh giá là "cú hích" đối với thương mại điện tử, đặc biệt là giao dịch C2C, trong nước Nhìn nhận "VN là thị trường tiềm năng với 10 triệu người sử dụng Internet hiện nay, trong vòng 3 năm tới sẽ phát triển khoảng 24%", song động thái của eBay không quá ầm ĩ và thể hiện mục đích khiêm tốn là "nâng cao hiểu biết cho người sử dụng Internet ở Việt Nam, giúp người bán hàng trong nước tăng số lượng hàng hóa xuất khẩu" như Giám đốc eBay khu vực Đông Á "Dù thế nào thì eBay vào VN nghĩa là sẽ có một số trang web làm thương mại điện tử không đủ tầm sẽ 'ra đi' vì không đủ sức cạnh tranh Nhưng chắc chắn môi trường thương mại điện tử sẽ sôi động hơn", ông Mai Anh dự đoán
- Nhiều chuyên gia cũng nhận định để tồn tại, các sàn giao dịch 'nội' sẽ có xu hướng hoặc cộng tác với eBay hoặc liên kết với nhau hay tìm hướng đi khác, khai thác thế mạnh riêng "eBay đang có những lợi thế ban đầu nhưng dù là 'ông lớn' thì cũng chưa chắc chiếm được vị trí độc tôn trong nay mai Người tạo được ra bản sắc riêng sẽ trụ lại
và chiến thắng", ông Mai Anh nói
- Yếu tố bản địa với văn hóa mua bán, tâm lý, thói quen người tiêu dùng, khai thác dịch vụ giá trị gia tăng, lợi thế địa lý được các nhà chuyên môn nhấn mạnh khi đề cập đến khả năng cạnh tranh của thương mại điện tử trong thời gian tới
- Lập luận của nhiều doanh nghiệp là eBay có thể làm mưa làm gió ở châu Âu, châu Mỹ với giá trị 40 tỷ USD mỗi năm nhưng ở thị trường châu Á thì dấu ấn eBay không phải là lúc nào cũng rực rỡ Minh chứng rõ ràng nhất là tại Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc tên tuổi này đã không thể chiếm giữ những thị phần áp đảo "Doanh nghiệp nước ngoài vào thị trường nội địa tất nhiên là có lộ trình nhưng nên nhớ, người Việt Nam đang sử dụng mọi thứ miễn phí Để thay đổi thói quen của họ là cả một vấn đề lớn", Giám đốc Chợ điện tử nói "Còn tôi muốn cổ động phong trào người Việt Nam dùng hàng Việt Nam‖
Ở góc độ là cơ quan quản lý nhà nước và trong nhiều năm qua đã nỗ lực thúc đẩy
sự phát triển thương mại điện tử trong nước, Vụ thương mại điện tử cho biết không chủ
Trang 21Khoa Công nghệ Thông tin- Đại học SPKT Hưng Yên Page 21
trương hỗ trợ trực tiếp đến từng website cụ thể mà hứa hẹn sẽ đưa ra chính sách kịp thời Trong năm nay, Vụ này sẽ ban hành một số văn bản pháp quy để quy chuẩn hoạt động của các sàn giao dịch thương mại trực tuyến "C2C không phải là ưu tiên số một Để phát triển nền kinh tế trực tuyến cần chú trọng đến những mô hình đem lại những giá trị, doanh thu lớn như B2B (business to business) hay B2C (business to customer)", ông Trần Hữu Linh nói Nhưng trong 3 năm tới, thươmg mại điện tử trong nước nói chung sẽ mạnh hơn hiện tại gấp nhiều lần Hạ tầng thanh toán, dịch vụ phân phối, chuyển phát phát triển
sẽ tác động rất lớn, thúc đẩy mô hình C2C thay đổi diện mạo tích cực hơn hiện trạng"
Trang 22Khoa Công nghệ Thông tin- Đại học SPKT Hưng Yên Page 22
BÀI 2: CƠ SỞ HẠ TẦNG CỦA THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ
Thương mại điện tử được hiểu một cách đơn giản chính là việc tiến hành các hoạt động thương mại bằng các phương tiện điện tử có sử dụng đến các công cụ thanh toán điện tử trên môi trường Internet Chính vì vậy để phát triển thương mại điện
tử phải xây dựng và phát triển một cơ sở hạ tầng kỹ thuật, hay chính là xây dựng
―xương sống‖ cho thương mại điện tử Xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật thương mại điện tử bao gồm xây dựng và phát triển mạng Internet, công cụ thanh toán trực tuyến, đặc biệt quan tâm tới xây dựng cơ sở
hạ tầng bảo mật trong thương mại điện tử Ngoài ra đây là lĩnh vực hoàn toàn mới nhưng lại phát triển nhanh nên bên cạnh xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật còn phải tập trung xây dựng cơ sở hạ tầng pháp lý nhằm tạo hành lang cho phát triển thương mại điện tử
Sau khi học xong bài này, bạn sẽ nắm
được:
Cơ sở hạ tầng luật pháp: Bao gồm luật
mẫu về thương mại điện tử
UNCITRAL- đây là nguồn lực đầu
tiên của tổ chức quốc tế và là nguồn
luật mẫu cho xây dựng các nguồn luật
của các quốc gia trên thế giới Luật
chữ ký điện tử và một số tập quán
Cơ sở hạ tầng pháp lý
Luật về thương mại điện tử
Luật về chữ ký điện tử
Tập quán về thương mại điện tử
Quyền sở hữu trí tuệ
Cơ sở hạ tầng
Internet
Trang 23Khoa Công nghệ Thông tin- Đại học SPKT Hưng Yên Page 23
thương mại
Cơ sở hạ tầng kỹ thuật: Internet,
intranel, extranel, world wide web
Cơ sở hạ tầng thanh toán: Cơ sở hạ
tầng thẻ thanh toán, các giải pháp
thanh toán
Bảo mật trong thương mại điện tử
Extranel
Intranel
World wide web
Cơ sở hạ tầng thanh toán
Bảo mật trong thương mại điện
tử
TÌNH HUỐNG KHỞI ĐỘNG BÀI
Tình huống: Lợi ích của mạng Extranel của General Motor
GM là công ty hàng đầu thế giới về sản xuất xe ô tô Những yêu cầu chi tiết về nguyên liệu cần thiết sẽ được gửi bằng email tới các nhà cung cấp tiềm năng, các nhà cung cấp này sẽ đưa ra giá thầu, và GM sẽ chọn người thắng nếu nhà cung cấp đưa ra giá
đủ thấp Nếu tất cả các giá thầu đều quá cao, vòng mới thầu thứ hai hoặc thứ 3 sẽ được
mở ra Trong vài trường hợp, quá trình này kéo dài hàng tuần, thậm chí hàng tháng trước khi GM tin rằng đã đạt được một hợp đồng tốt nhất về cả giá cả và chất lượng Những chi phí chuẩn bị cho việc ra giá thầu khiến nhà thầu không thể đưa ra lời mời, do đó việc số lượng nhà cung cấp tham gia ít hơn số lượng tối ưu dẫn tới việc GM sẽ phải trả giá cao
Để giải quyết vấn đề liên kết giữa các nhà phân phối và cung cấp, GM đã thiết lập một hệ thống Extranel được gọi là ANX (Automotive Network Exchange) Hệ thống ANX – được nhà sản xuất ô tô khác ủng hộ đã phát triển thành website trao đổi giữa các consortium covisint Com Trong phiên bản đấu giá ngược online đầu tiên, GM đã mua được một lượng lớn túi khí bằng cao su dùng cho ô tô Giá GM phải trả thấp hơn giá công
ty đã trả cho sản phẩm tương tự trước kia bằng hình thức đầu thầu truyền thống
Câu hỏi: Lợi ích mà General Motor đã có khi sử dụng mạng Extranel?
2.1 Cơ sở cho hạ tầng pháp lý
Thương mại điện tử ngày càng phát triển thì yêu cầu xây dựng cơ sở pháp lý lại ngày càng cấp thiết để đảm bảo cho phát triển thương mại điện tử dược bền vựng UNCITRAL, WIPO, và ủy ban Châu Âu là tổ chức năng động trong việc ban hành các luật mẫu, văn bản quy phạm và hướng dẫn quốc tế liên quan đến hoạt động thương mại điện tử
Trang 24Khoa Công nghệ Thông tin- Đại học SPKT Hưng Yên Page 24
2.1.1 Luật về thương mại điện tử
Luật mẫu về thương mại điện tử (Model Law on Electronic Commerce)
- Luật mẫu về Thương mại điện tử được Ủy ban Liên hợp quốc về Luật thương mại quốc tế (UNCITRAL) ban hành vào ngày 12/06/1996 và được sửa đổi bổ sung Điều
5 vào năm 1998 Luật mẫu thương mại điện tử UNCITRAL ban hành nhằm mục đích đơn giản hóa các hoạt động thương mại điện tử bằng cách cung cấp các quy định và luật pháp được chấp thuận rộng rãi trên quy mô quốc tế và có thể được các quốc gia sử dụng cải thiện hệ thống pháp luật trong môi trường điện tử
- Mục tiêu của luật mẫu về thương mại điện tử là giúp các quốc gia hoàn thiện cơ
sở pháp lý cho các giao dịch điện tử cũng như đóng vai trò
là nguồn tham khảo để giải thích cho các công ước quốc
tế và là công cụ để giải quyết các tranh chấp trong lĩnh vực thương mại điện tử Tất cả các quốc gia cần xem việc
sử dụng mẫu như tài liệu tham khảo trước khi ban hành các đạo luật mới hoặc sửa đổi các quy định hiện hành, phải tính đến sự cần thiết phải đảm bảo sự thống nhất của các quy định pháp luật về sử dụng các phương tiện truyền thông
và lưu giữ thông tin mới thay thế cho các tài liệu bằng giấy
- Luật mẫu được chia làm hai phần với 17 điều khoản
Phần I là những vấn đề chung của thương mại điện tử, bao gồm 15 điều, được phân bổ trong 3 chương
Chương I gồm 4 điều đưa ra các điều khoản chung như đưa ra các lĩnh vực ứng dụng, các định nghĩa về thương mại điện tử, cũng như việc áp dụng theo từng hợp đồng cụ thể
Trang 25Khoa Công nghệ Thông tin- Đại học SPKT Hưng Yên Page 25
Chương II gồm 6 điều về việc áp dụng các quy định pháp luật đối với thông điệp dữ liệu Trong đó, Điều 5 là công nhận pháp lý đối với các thông điệp dữ liệu
Chương III gồm 5 điều đề cập tới việc trao đổi các thông điệp dữ liệu
Phần II nói về thương mại điện tử trong lĩnh vực cụ thể gồm 2 điều liên quan tới việc chuyên chở hàng hóa Điều 16 quy định các hành vi liên quan đến hợp đồng vận tải hàng hóa Điều 17 liên quan tới các chứng từ vận chuyển hàng hóa
Các nguồn luật về thương mại điện tử của EU
- Xét về tốc độ phát triển và ứng dụng thương mại
điện tử trên thế giới thì liên minh Châu Âu đứng ngay sau
Mỹ, gã khổng lồ trong lĩnh vực thương mại điện tử Các
quốc gia trong liên minh Châu Âu đã có những đạo luật
thương mại điện tử riêng của quốc gia mình
- Ngày 8/6/2000 liên minh Châu Âu có ban hành
một chỉ thị về thương mại điện tử số 2000/31/EC Mục đích
của việc ban hành chỉ thị là nhăm thống nhất hệ thống pháp luật của các nước thành viên
để thúc đẩy hoạt động thương mại giữa các quốc gia thành viên
Luật thống nhất về giao dịch điện tử của Mỹ (UETA)
Luật thống nhất về giao dịch điện tử của Mỹ gồm có 21 điều khoản chỉnh các vấn
đề về bản ghi điện tử và chữ ký điện tử; hợp đồng điện tử, trọng tài, bản gốc, thời gian nhận gửi bản ghi điện tử; vai trò của cơ quan chính phủ trong việc chấp nhận hay cấm
Luật giao dịch điện tử của Việt Nam
- Theo xu thế phát triển thương mại điện tử của các quốc gia và khu vực, vào cuối năm 2005, Việt Nam cũng ban hành Luật giao dịch điện tử Luật giao dịch điện tử của Việt Nam đã đề cập tới: Giá trị pháp lý của thông điệp dữ liệu điện tử; giá trị pháp lý của chữ ký điện tử và chứng từ điện tử; hợp đồng điện tử; giao dịch điện tử của các cơ quan Nhà nước; bảo mật, an toàn, an ninh; sở hữu trí tuệ trong giao dịch điện tử thuộc các lĩnh vực dân sự, thương mại, hành chính và các lĩnh vực khác
Luật giao dịch điện tử Việt Nam gồm 8 chương, 54 điều Trong Điều 4 của luật giao dịch điện tử đã đưa ra một số định nghĩa‖
“Giao dịch điện tử là các giao dịch bằng các phương tiện điện tử” trong đó
“Phương tiện điện tử là phương tiện hoạt động dựa trên công nghệ điện, điện tử, kỹ thuật
Trang 26Khoa Công nghệ Thông tin- Đại học SPKT Hưng Yên Page 26
số, từ tính, truyền dẫn không dây, quang học, điện từ hoặc công nghệ tương tự”.Luật
giao dịch điện tử năm 2005 lần đầu tiên chấp nhận giá trị pháp lý của các thông điệp dữ
liệu điện tử và chứng từ điện tử Theo luật giao dịch: “Thông điệp dữ liệu là thông tin được tạo ra, được gửi đi, được nhận và được lưu trữ bằng phương tiện điện tử”
- Sau Luật giao dịch điện tử đi và hiệu lực được 3 tháng thì Việt Nam ban hành Nghị định số 57/2006/NĐ-CP vào ngày 9/6/2006 Nghị định 57 thừa nhận chứng tử điện
tử có giá trị pháp lý tương đương với chứng từ truyền thông trong việc giao kết, thực hiện hợp đồng Nghị định này là cơ sở giải quyết các tranh chấp, bảo vệ hợp pháp các bên tham gia vào các hoạt động thương mại điện tử
- Ngoài Luật giao dịch điện tử và Nghị định về thương mại điện tử, Việt Nam còn ban hành một số nghị định điều chỉnh chi tiết cho từng lĩnh vực trong quá trình triển khai hoạt động thương mại điện tử như: Nghị định số 27/2007/NĐ-CP về giao dịch điện
tử trong hoạt động tài chính và Nghị định số 35/2007/NĐ-CP về giao dịch điện tử trong hoạt động ngân hàng cùng một số các thông tin nhắm hướng dẫn chi tiết cho từng hoạt động lĩnh vực trong hoạt động giao dịch điện tử
2.1.2 Luật về chữ ký điện tử
- Luật mẫu về chứ ký điện tử được Ủy ban Liên hiệp
quốc về Luật thương mại quốc tế (UNCITRAL) ban hành và
ngày 5/7/2001 Mục đích của việc ban hành Luật mẫu chữ ký
điện tử là nhăm mục đích đem lại một khuôn khổ pháp lý điều
chỉnh đối với việc sử dụng chữ ký điện tử
- Luật mẫu của chữ ký điện tử là tiêu chuẩn đánh giá kỹ
thuật giữa chữ ký điện tử và chữ ký viết tay Luật mẫu có các
tiếp cận với các vấn đề công nghệ một cách trung lập, tránh sử dụng những từ ngữ kỹ thuật chuyên ngành Luật mẫu còn là các quy định cơ bản để xác định trách nhiệm và nghĩa vụ của người ký, người nhận và bên thứ 3 tham gia vào quá trình ký điện tử
- Luật mẫu chữ ký điện tử được xây dựng trên nền tảng Điều 7 của Luật mẫu về thương mại điện tử của UNCITRAL Luật mẫu về chữ ký điện tử gồm 13 điều khoản Theo đó thì ―Chữ ký điện tử là các dữ liệu dưới dạng điện tử, được ký hoặc có liên quan một các logic tới các thông điệp dữ liệu, chữ ký điện tử dùng để nhận ra người ký thông điệp dữ liệu hoặc sự nhất trí của người ký trong thông điệp dữ liệu‖ [Điều 2]
Trang 27Khoa Công nghệ Thông tin- Đại học SPKT Hưng Yên Page 27
- Theo Luật chữ ký điện tử của Mỹ, định nghĩa chữ ký điện tử một cách chi tiết là: ―Chữ ký điện tử là âm thanh, hình ảnh hay quá trình, được gắn bó và có liên quan tới hợp đồng hoặc bất cứ bản ghi và được ký hay ghi bởi một người‖
- Chữ ký điện tử hơn chữ ký viết tay ở chỗ nó có thể được sử dụng bởi các cá nhân hoặc cơ quan thẩm định để nhận ra ai là người thông điệp hoặc ai là người ký vào thông điệp Chữ ký số chỉ là một phần của chữ ký điện tử
Chú ý
- Thứ nhất, Luật mẫu về chữ ký điện tử đã cung cấp các tiêu chuẩn để nhận
ra đâu là chữ ký điện tử về mặt pháp lý mà không quan tâm tới công nghệ được sử dụng
- Thứ hai, Luật mẫu chữ ký điện tử không giải quyết các vấn đề liên quan đến trách nhiệm của các bên tham gia vào hệ thống ký điện tử Việc quy trách nhiệm cho các bên sẽ được áp dụng theo các văn bản pháp luật khác Luật mẫu chỉ đưa ra các tiêu chuẩn để đánh giá việc tham gia của các bên, bao gồm người ký, cơ quan cung cấp dịch vụ chứng thực, bên xác thực
- Thứ 3, quan trọng nhất, Luật mẫu này khẳng định rằng chữ ký điện tử có chức năng tương đương với chữ ký viết tay
- Luật mẫu về chữ ký điện tử là nguồn tham khảo chung cho các quốc gia về điều chỉnh chữ ký điện tử trong các thông điệp dữ liệu Ngoài ra, các quốc gia cũng ban hành những văn bản quy phạm pháp luật riêng điều chỉnh chữ ký số
- Mỹ đã ban hành Luật chữ ký điện tử trong các giao dịch thương mại điện tử toàn cầu và quố gia vào năm 2000; Luật chữ ký số và
thẩm định chữ ký điện tử; Luật giao dịch điện tử
thống nhất
- Ủy ban Châu Âu đã đưa ra chỉ thị về chữ ký điện
tử sổ 1999/93/EC gồm 15 điều Ủy ban Châu Âu cũng
công nhận chữ ký điện tử là tương đương với chữ viết Chữ ký điẹn tử có vai trò chứng minh bản gốc của
thông điệp, chứng minh liệu thông điệp có bị thay đổi hay không sử dụng các mã hóa để đảm bảo tính bảo mật của thông điệp Ngoàt ra các nước trong khu vực ủy ban Châu Âu cũng có những văn bản pháp quy riêng của mỗi quốc gia điều chỉnh chữ ký điện tử Như Anh có luật giao dịch điện tử từ năm 2000, các quy định về chữ ký điện tử năm 2002 Đức có Luật chữ ký điện tử được ban hành vào năm 2001 và sửa đổi năm 2005
Trang 28Khoa Công nghệ Thông tin- Đại học SPKT Hưng Yên Page 28
- Nhật Bản ban hành văn bản pháp Luật liên quan tới chữ ký điện tử và chứng thực chữ ký điện tử vào năm 2000
- Việt Nam ban hành các văn bản pháp luật điều chỉnh về chữ ký điện tử như Luật giao dịch điện tử năm 2006; Nghị định số 26/2007/NĐ-CP về việc thi hành Luật giao dịch điện tử về chữ ký số và dịch vụ chứng thực chữ ký số Trong Luật giao dịch điện tử 2006 có hẳn riêng một chương 3 đề cập đến vấn đề chữ ký điện tử và chứng thực chữ kỹ điện tử Trong chương này có đề cập tới giá trị pháp lý của chữ ký điện tử (gồm
7 điều- từ Điều 21 đến Điều 27); Dịch vụ chứng thực chữ ký điện tử (gồm 4 điều từ Điều 28 đến Điều 31); Quản lý chứng thực chữ ký điện tử ( Điều 32)
Theo luật giao dịch điện tử của Việt Nam ―Chữ ký điện tử được tạo lập dưới dạng từ, chữ, số, ký hiệu âm thanh hoặc các hình thức khác bằng phương tiện điện tử, gắn liền hoặc kết hợp một các logic với thông điệp dữ liệu, có khả năng xác nhận người ký thông điệp dữ liệu và xác nhận sự chấp thuận của người đó đối với nội dung thông điệp dữ liệu được ký ‖
- Tóm lại, việc chữ ký điện tử được chấp nhận về mặt giá trị pháp lý theo quy địn của Luật mẫu về chữ ký điện tử của Ủy ban liên hiệp quốc đã giúp cho hoạt động thương mại giữa các quốc gia ngày càng phát triển về quy mô, giá trị Chữ ký điện tử chập nhận về mặt giá trị pháp lý cũng đồng nghĩa với
việc chấp nhận giá trị pháp lý của các hợp đồng điện tử
2.1.3 Tập quán về thương mại điện tử
Incoternms 2000
Được sửa đổi từ Incoterms 1990, điểm mới của
Incoterms 2000 là thừa nhận giá trị pháp lý của các chứng
từ điện tử Trong các điều khoản liên quan tới trách nhiệm
người bán về việc cung cấp chứng từ thì có đề cập tới việc
chấp nhận, thay thế các chứng từ dưới dạng văn bản giấy bằng các chứng từ dưới dạng thông điệp dữ liệu điện tử EDI, tuy nhiên các bên tham gia hoạt động thương mại quốc tế phải có thỏa thuận với nhau từ trước
eUCP: Cùng với sự phát triển của thương mại điện tử, các giao dịch điện tử ngày càng
trở nên phổ biện với việc điện tử hóa các chứng từ nói chung và chứng từ thanh toán
Trang 29Khoa Công nghệ Thông tin- Đại học SPKT Hưng Yên Page 29
quốc tế nói riêng; điều này làm nảy sinh nhu cầu có một tiêu chuẩn quốc tế điều chỉnh việc sử dụng các chứng tử điện tử trong thanh toán quốc tế
- Ngày 1/2/2002 bản phị trường eUCP đã được ban hành bên cạnh những sửa đổi UCP500 với mục đích bổ sung thêm những khái niệm mới để phù hợp hơn với môi trường kinh doanh điện tử như: ―chứng từ ‖ được định nghĩa mở rộng bao gồm ―bản ghi điện tử‖; ―địa điểm xuất trình‖ đối với các chứng từ điện tử được mở rộng thêm gồm
―địa chỉ điện tử‖; chữ ký truyền thống được mở rộng bao gồm cả ―chữ ký điện tử‖
- Bên cạnh đó, eUCP giải quyết hầu hết các vấn đề cơ bản liên quan đến xuất trình chứng từ điện tử như: Hình thức các chứng từ điện tử; Phương thức xuất trình; Thực hiện chấp nhận hay từ chối các chứng từ điện tử; Quy định về bản gốc của chứng từ điện tử; Giải pháp khi ngân hàng không xử lý được chứng từ hay khi chứng từ bị hư hỏng…
- Trên thực tế, eUCP không thay thế UCP500 mà là một bộ phận bổ sung của UCP500 để hoàn thiện hoạt động thanh toán quốc tế Việc áp dụng eUCP chỉ có hiệu lực khi trong thư tín dụng cho phép xuất trình chứng từ điện tử
- Tuy nhiên, trong eUCP không quy định cụ thể
dạng nào của chứng từ điện tử là dạng chuẩn eUCP không
quy định cụ thể về phương tiện xuất trình chứng từ điện
tử Vấn đề này cũng để cho các bên linh hoạt thỏa thuận
- eUCP không quy định rõ đâu là phương tiện điện
tử, dạng chứng từ điện tử nhưng lại quy định rõ rằng tất cả
các chứng từ cần phải được chứng thực bằng chữ ký số
hóa để qua đó có thể xác địn người ký và nội dung trong chứng từ là nguyên vẹn, không
bị thay đổi trong quá trình gửi và nhận
Thông thường, có 2 phương pháp để đảm bảo thực hiện chứng thực các chứng từ:
Phương pháp riêng: Yêu cầu các bên tạo ra chứng từ trên trang web của ngân hàng hay tổ chức chứng thực Để làm được điều này, bên sử dụng phải được lắp đặt thiết bị, phần mềm và cung cấp password, smartcard, hay các phương tiện an toàn khác để xác nhận cá nhân hay tổ chức tạo lập chứng từ Khi các chứng từ đã được tạo lập xong, người tạo lập cần thông báo cho ngân hàng để ngân hàng
―khóa‖ nội dung của văn bản Có thể tham khảo một mô hình điển hình tại website Global Trade and Advisory: http://www.maxtrad.com
Phương pháp chung: Sử dụng chữ ký điện tử vào chứng từ Chứng từ điện tử có thể là file Word, Excel, Acrobat hay file ảnh…Nếu chỉ một ký tự trong file bị thay
Trang 30Khoa Công nghệ Thông tin- Đại học SPKT Hưng Yên Page 30
đổi sau khi đã ký, chữ ký điện tử coi như không có giá trị mặc dù vẫn có thể mở đọc chứng từ đó Chữ ký điện tử được cấp kèm theo chứng từ điện tử, chứng thực này thường được cấp dưới dạng thẻ thông minh (smart card) Có thể tham khảo về thẻ thông minh Identrus tại website http://www.identrus.com
Như vậy, các chứng từ điện tử cần được ký để đảm bảo xác định người ký và nội dung không thay đổi sau khi đã ký điện tử Người mua nên chỉ rõ phương thức chứng thực mong muốn để ngân hàng được chỉ định có thể kiểm tra được chứng
từ Trong trường hợp ngân hàng không thể xác nhận được chứng từ, Điều 5 (f) của
eUCP đề cập trực tiếp vấn đề này, “một chứng từ điện tử không thể chứng thực được thì coi như chưa được xuất trình” Như vậy, chứng từ bị coi là chưa hợp lệ
- Khi được cấp chứng từ điện tử, người sử dụng được cấp kèm theo phần mềm
―ký điện tử‖; thực chất đây là một phần mềm để mã hóa văn bẳn điện tử nhằm xác định người tạo ra văn bản và đồng thời đảm bảo nội dung chứng từ không bị thay đổi trong quá trình gửi và nhận Có nhiều tổ chức chứng thực cung cấp các chứng thực điện tử như vậy eUCP không quy định cụ thể về tổ chức chứng thực, do đó các bên liên quan
có thể tự thỏa thuận về phương thức chứng thực và tổ chức chứng thực nào đó được chấp nhận để cấp các chứng thực điện tử
Tóm lại, thương mại điện tử tuy còn non trẻ nhưng tốc độ phát triển nhanh Thị trường trong hoạt động thương mại điện tử là không biên giới, mọi thành phần đều có thể tham gia vào Chính vì vậy, cùng với sự phát triển của thương mại điện tử sẽ có nhiều vấn đề phát sinh, và những phát sinh đó tập trung liên quan đến chứng từ điện tử và chữ
ký điện tử
2.1.4 Quyền sở hữu trí tuệ
Theo tổ chức sở hữu trí tuệ của thế giới (WIPO) thì
tài sản trí tuệ chính là ―những sáng tạo của con người:
phát minh, tác phẩm văn học, tác phẩm hội họa, và hình
ảnh tên, biểu tượng và những thiết kế được sử dụng vào
mục đích thương mại‖ Bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ chính
là bảo vệ cá nhân hay tổ chức đã tạo ra những sản phẩm
nêu trên Bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ là một vấn đề vô cùng quan trọng trong nền kinh tế tri thức nhằm tại ra một môi trường lành mạnh cho phát triển thương mại điện tử Bảo về quyền sở hữu trí tuệ trong thương mại điện tử phải bao trùm 4 lĩnh vực sau đây:
Trang 31Khoa Công nghệ Thông tin- Đại học SPKT Hưng Yên Page 31
- Bản quyền: là tất cả những vấn đề mà chính phủ ngăn cấm:
Sao chép lại một tác phẩm, dù một phần hay toàn bộ,
Cung cấp hay trưng bày những tác phẩm nảy ra công chúng dưới mọi hình thức
Bảo vệ bản quyền toàn cầu là vấn đề được các tổ chức quốc tế rất quan tâm Công ước Berne về bảo vệ bản quyền các tác phẩm văn học và nghệ thuật được xem là
sự khởi đầu cho bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ Công ước Berne được ban hành vào
1886 Hiện nay có 157 quốc gia trên thế giới đã ký kết tham gia công ước Berne Theo công ước Berne, bản quyền của mỗi tác phẩm nghệ thuật sẽ kéo dài tối thiểu
là 50 năm sau khi tác giả mất Ngoài ra, mỗi quốc gia thành viên có thể tự quy định riêng cho quốc gia mình về thời gian tác quyền cho mỗi tác phẩm
Bên cạnh công ước Berne còn có công ước tác quyền thế giới do Liên hiệp quốc ban hành Công ước này cũng giống công ước Berna trong việc bảo vệ quyền tác giả quốc gia Theo công ước này thì mỗi tác phẩm sẽ được bảo hộ bản quyền suốt cuộc đời tác giả với 25 năm sau khi tác giả mất
Ban quyền chỉ có hiệu lực trong một khoảng thời gian
nhất định Thường thì bản quyền chỉ có hiệu lực trong khoảng một số năm nhất định sau khi tác giả mất Tại
Mỹ theo luật mở rộng về bản quyền của Sonny Bono, bản
quyền sẽ được kéo dài thêm 70 năm sau khi tác giả mất
Mỹ là quốc gia đầu tiên triển khai hoạt động
thương mại điện tử và là quốc gia thành công nhất trong lĩnh vực này Để có được thành công như vậy là nhờ quốc gia này sớm nhận ra vài trò của bảo hộ bản quyền trên Internet
Tại Việt Nam, chính phủ cũng sớm nhận ra được vai trò của bảo hộ bản quyền trong nền kinh tế số Ngoài ra, Chỉnh phủ Việt Nam đã ban hành Luật Sở hữu trí tuệ vào ngày 25/11/2005 và có hiệu lực và ngày 1/7/2006 Luật Sở hữu trí tuệ 2006 chủ yếu tập trung cho bảo hộ quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp, giống cây trồng Phổ biến nhất hiện nay tại nước ta là vấn đề vi phạm bản quyền phần mềm Ngoài ra còn có việc sao chép tác phẩm để in sách, làm sách lậu, bản quyền tác phẩm âm nhạc… Trong khu vự Châu Á- Thái Bình Dương, Việt Nam đang đứng thứ ba chỉ sau Trung Quốc và Indonesia
về vi phạm bản quyền phần mềm Trước thực trạng vi phạm bản quyền như vậy thì ngày
Trang 32Khoa Công nghệ Thông tin- Đại học SPKT Hưng Yên Page 32
Một thực tế hiện nay đó là các sản phẩm nhái tên thương hiệu và kiểu dáng đang được bán tràn lan Tại Mỹ đã có ban hành điều luật Dilution vào năm 1995 để bảo hộ những thương hiệu nổi tiếng Việc mua bán, nhập khẩu hàng hóa vì phạm thương hiệu cũng như việc sử dụng thương hiệu dưới bất cứ hình thức nào mà không được phép sẽ bị quy là phạm tội
Trong lĩnh vực thương mại điện tử còn xuất hiện một khái niệm mới đó tên miền Bảo vệ thương hiệu trong lĩnh vực thương mại điện tử còn bao gồm cả bảo hộ tên miền của chính doanh nghiệp, tổ chức
Hiện nay có hiện tượng cybersquatting- tức là các
tổ chức cá nhân đăng ký tên miền sau đó bán những tên miền này với giá cao hơn Hiện trên các trang web đấu giá nổi tiếng như Ebay ta dễ dàng thấy các lời giao bán tên miền Những công ty lớn như Christian Dior,
Nike, Deutsche Bank và thậm chí là Microsoft đã phải đấu tranh hay phải mua lại những tên miền có liên quan đến công ty Năm 1999, Mỹ đã ban hành một đạo luật về bảo vệ người tiêu dung chống lại cybesquatting nhằm bảo hô cho các tên miền đã có thương hiệu của các doanh nghiệp
Luật sở hữu trí tuệ của WIPO sẽ giúp giải quyết những tranh chấp liên quan tới việc đăng ký tên miền trùng với những thương hiệu và công ty đã có từ trước Năm 1999
là năm đầu tiên WIPO đã giải quyết một vụ tranh chấp về tên miền theo Chính sách giải
Trang 33Khoa Công nghệ Thông tin- Đại học SPKT Hưng Yên Page 33
quyết tranh chấp về tên miền thống nhất (Uniform Domain Nam Dispute Resolution Policy- UDRP) như sau:
Tranh chấp tên miền Sting.com
Năm 2000, Gordon Summer, người đã có trên 20 năm biểu diễn âm nhạc với nghệ danh là Sting đã kiện WIPO khi có một người đàn ông Georgia đã sở hữu tên miền string.com và rao bán tên miền này cho ông với giá 25000 đô la Đối với những vụ kiện như vậy thì có đến 80% trường hợp, tổ chức WIPO sẽ phán quyết có lợi cho chủ sở hữu thương hiệu đó Tuy nhiên trong vụ này WIPO đã cho rằng string là một
từ chung và sử dụng phổ biến, cũng như có nhiều nghữa hơn là để nhận ra tên một nhạc sĩ Chính vì vậy tổ chức đã phán quyết ông nhạc sĩ thua kiện Nhưng sau phán quyết bất lợi đó thì nhạc sĩ string đã bí mật trao đổi với người đàn ông để sở hữu trang web mang tên mình
Tại Việt Nam, việc sử dụng tên miền được quy định trong khoản 3 Điều 68 Luật Công nghệ thông tin và điều khoản 1 Điều 130 của Luật sở hữu trí tuệ
Theo khoản 3 Điều 68 Luật Công nghệ thông tin quy định: ―Tổ chức, cá nhân sử dụng tên miền quốc gia Việt Nam ―.vn‖ phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về mục đích sử dụng và tính chính xác của các thông tin đăng ký và bảo đảm việc đăng ký, sử dụng tên miền quốc gia không xâm phạm các quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân khác có trước ngày đăng ký‖
Còn theo điều khoản 1 Điều 130 Luật Sở hữu trí tuệ, hành vi đăng ký, chiếm giữ quyền sử dụng hoặc sử dụng tên miền trùng hoặc tương tự gây ra nhầm lẫn với nhãn hiệu, tên thương hiệu được bảo hộ của người khác hoặc chỉ dẫn địa lý mà mình không có quyền sử dụng nhằm mục đích chiểm giữ tên miền, lợi dụng hoặc làm thiệt hại đến uy tín, danh tiếng của nhãn hiệu, tên thương mại, chỉ dẫn địa lý tương ứng bị coi là hành vi cạnh tranh không lành mạnh
- Sáng chế
Là một giải pháp kỹ thuật mang tính mới mẻ về
nguyên lý kỹ thuật, tính sáng tạo, có thể áp dụng
được Quyền sáng chế mang tính độc quyền về một
ý tưởng hay một phát kiến
Trang 34Khoa Công nghệ Thông tin- Đại học SPKT Hưng Yên Page 34
Hiện nay các quốc gia đang áp dụng luật sở hữu trí tuệ của quốc gia để điều chỉnh các hoạt động liên tới sáng chế Ngoài ra các quốc gia còn áp dụng các nguồn luật điều chỉnh khác như luật sở trí tuệ của WIPO, hiệp định về thương mại và sở hữu trí tuệ (TRIPS)
Vòng đời của các sáng chế phụ thuộc rất nhiều vào công nghệ, nên thời gian bảo
hộ sáng chế thường không kéo dài lâu Theo luật sở hữu trí tuệ của WIPO thì các sáng chế có thời gian bảo hộ là 20 năm Còn tại mỹ thời gian bảo hộ sáng chế là 17 năm, Anh
là 20 năm Sau khi hết thời gian đăng ký bảo hộ sáng chế thì sáng chế này có thể sử dụng bởi bất cứ ai
Ví dụ
Một trong những sáng chế nổi tiếng trong lĩnh vực thương mại điện tử phải kể tới sáng chế về phương thức tiến hành mua hàng chỉ bằng một lần kích chuột của amazon.com
Năm 1999 công ty đã kiện đổi thủ cạnh tranh là Barnes & Noble vì đã nhái công nghệ của mình vào hoạt động kinh doanh Tuy nhiên thì Amazon đã thua trong vụ kiện này
Một sáng chế nổi tiếng thứ hai nữa trong lĩnh vực thương mại điện tử đó là sáng chế của Priceline về kỹ thuật ―đặt giá theo giá của bạn‖ Công nghệ này cho phép mọi người có thể mua vé máy bay giá rẻ tại trang web priceline.com Priceline có nhiệm
vụ tìm kiếm những nhà cung cấp có mức giá bằng hoặc thấp hơn Năm 2001, Priceline.com kiện Expedia.com vì đã sử dụng mô hình kinh doanh đấu giá này Kết quả Expedia.com phải trả tiền cho Priceline.com để có thể sử dụng mô hình kinh doanh này
- Các site Fan và Hate
Đây là một phần của hiện tượng tự xuất bản trên web bao gồm blog Các site Fan
có thể tác động tới các bảo hộ sở hữu trí tuệ Ví dụ một số người sao chép phim hoặc chương trình tivi và tạo ra các site cạnh tranh với các
site của nhà sản xuất phim và chương trình tivi Các nhà
sản xuất có thể kiện những cá nhân này và yêu cầu các
nhân đóng cửa website nhưng những site mới lại được
mở ra với hình thức tương tự
Tương tự như vậy, các site Hate có thể sẽ dẫn tới
Trang 35Khoa Công nghệ Thông tin- Đại học SPKT Hưng Yên Page 35
nhiều vấn đề tiêu cực cho các công ty Có nhiều site Hate đã ảnh hưởng trực tiếp tới các tập đoàn lớn như Wal-Mart, Microsoft, Nike Các site Hate này thường là các site cyberbashing- tức là site có tên miền giống như tên các tổ chức, cá nhân
Đối với các hoạt động được luật sở hữu trí tuệ và bản quyền của các quốc gia điều chỉnh Tóm lại, phạm vi thương mại là rộng lớn trên khắp toàn cầu, không bị giới hạn về không gian và thời gian Nên bất cứ một vi phạm nào về quyền sở hữu trí tuệ như bản quyền; nhái và ăn cắp thương hiệu, tên miền; bắt chước những sáng chế cũng sẽ ảnh hưởng nhanh chóng và lan tỏa tới các hoạt động khác trong thương mại điện tử
Do vậy, việc cập nhật những văn bản pháp luật về sở hữu trí tuệ cũng như ban hành mới các văn bản điều chỉnh từng lĩnh vực trong thương mại điện tử như tên miền sẽ giúp cho hoạt động thương mại điện tử phát triển lành mạnh
2.2 Cơ sở hạ tầng kỹ thuật
2.2.1 Internet
Internet là mạng máy tính lớn nhất trên thế giới,
mạng của các mạng Đây là mạng giao tiếp toàn cầu,
giúp kết nối mọi người trong mạng LAN lại với nhau
thông qua các nhà cung cấp dịch vụ Internet Cấu trúc của mạng Internet là mở chính vì vậy mọi máy tính của các
hãng khác nhau đều có thể truy cập kết nối với nó được Chi phí để kết nối máy tính với mạng Internet hiện nay vẫn còn cao đối với phần lớn dân số thế giới
Hệ thống Internet truyền thông tin theo kiểu chuyển gói dữ liệu (packet switching) dựa trên một giao thức liên mạng đã được chuẩn hóa (giao thức IP) Mạng Internet mang lại rất nhiều tiẹn ích cho người sử dụng, một trong các tiện ích phổ thông của Internet là
hệ thống thư điện tử (email), trò chuyện trực tuyến (chat), công cụ tìm kiếm (search engine), các dịch vui tài chính tiền tệ trực tuyến, và các dịch vụ về y tế giáo dục như chữa bệnh từ xa hoặc tổ chức các lớp học ảo Hiện nay trên Internet có chứa đựng một khối lượng thông tin khổng lồ Để kết nối với Internet thì có thể dùng dial-up thông qua điện thoại, đường truyền băng thông rộng ADSL, thiết bị không dây (wireless), vệ tinh hay qua điện thoại cầm tay
2.2.2 Mạng nội bộ (Intranet)
Trang 36Khoa Công nghệ Thông tin- Đại học SPKT Hưng Yên Page 36
Mạng Intranet hay gọi là WAN, mạng nội bộ công ty là một mạng kết nối trong nội bộ công ty rất hiệu quả và chi phí thấp để chia sẻ thông tin Mạng Intranet có sử dụng trình duyệt web các giao thức qua Internet như TCP/IP, FPT, Telnet, HTML và HTTP
Do mạng Intranet tích hợp với Internet nên thông tin từ Intranet có thể chia sẻ giữa các phòng ban có sử dụng công nghệ khác nhau cũng như giữa những người tiêu dùng bên ngoài công ty Intranet được xem là cách hiệu quả nhất
để cung cấp thông tin nội bộ cho doanh nghiệp do việc
cung cấp thông tin bằng văn bản giữa các phòng ban
thường rất mất thời gian và tốn kém Intranet khác với
Extranet ở chỗ là nó có giới hạn chỉ trong nhân viên của
một tổ chức, trong khi đó Extranet cho phép khách hàng
cung cấp và các thành phần khác truy cập khi được sự
đồng ý
Tóm lại, việc sử dụng Intranet giúp kết nối người lao động với cấp lãnh đạo với nhau; tự động hóa các hoạt động trong nội bộ doanh nghiệp; cho phép các thành viên trong doanh nghiệp có thể tiếp cận dễ dàng và nhanh cóng với các nguồn lực quan trọng của mình- đặc biệt những kiến thức cũng như kinh nghiệm của các đồng nghiệp trong doanh nghiệp; giúp các cấp lãnh đạo có thể quản lý tốt nhân viên; đây cũng là cơ sở cho phát triẻn hệ thống thông tin trong doanh nghiệp; giúp doanh nghiệp có thể quản trị thông tin nội bộ hiệu quả có sự hỗ trợ của máy tính; là công cụ để tích hợp gắn kết từng chu trình của doanh nghiệp lại với nhau
Tuy nhiên, mối lo ngại các doanh nghiệp tiến hành triển khai mạng Intranet lo lắng
về an ninh Để bảo vệ mạng Intranet thì các doanh nghiệp này thường sử dụng các phần mềm mã hóa, khóa công khai, các chứng thực số, tường lửa
2.2.3 Mạng đối ngoại ( Extranet)
Là mạng kết nối giữa công ty với các nhà cung cấp, đối tác kinh doanh hay với bất
cứ người dùng nào được trao quyền
Một công ty có thể xây dựng một mạng Extranet riêng cho khách hàng, nhà cung cấp, nhà cung ứng Hay là các công ty trong cùng một ngành có thể xây dụng một mạng Extranet cộng tác vì những lợi ích chung Các bên tham gia vào mạng Extranet sẽ truy cập vào cơ sở dữ liệu, file hay bất cứ thông tin nào được lưu trong máy tính có kết nối với mạng Extranet
Trang 37Khoa Công nghệ Thông tin- Đại học SPKT Hưng Yên Page 37
Mạng Extranet sử dụng các giao thức TCP/IP để kết nối các mạng Intranet của các khu vực khác nhau lại với nhau Extranet giúp kết nối mạng Intranet của một doanh nghiệp với mạng Intranet của các đối tác kinh doanh, các nhà cung cấp, các tổ chức tài chính, chính phủ và khách hàng
Vì mạng Extranet cho phép kết nối các doanh nghiệp lại với nhau thông qua mạng Internet nên đây là một mạng mở và linh hoạt, rất phù hợp cho mô hình thương mại điện
tử B2B Để tăng hiệu quả an toàn, các công ty chỉ chia sẻ một phần nào đố cơ sở dữ liệu của doanh nghiệp với các đối tác kinh doanh và hoàn toàn tách biẹt mạng Extranet của doanh nghiệp với các đối tác kinh doanh và hoàn toàn tách biệt mạng Extranet với mạng Intranet
Lợi ích của việc sử dụng mạng Extranet là có thể trao đổi dữ liệu với một khối lượng lớn bằng cách sử dụng ứng dụng trao đổi dữ liệu điện tử (EDI); nâng cao hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp, chia sẻ thông tin về sản phẩm với quy mô vlớn với các nhà buôn; cộng tác với các công ty khác nhằm phát triển doanh nghiệpl tiến hành đào tạo cho đối tác; sử dụng dịch vụ do công ty khác cung cấp như ứng dụng ngân hàng điện tử; chia
sẻ thông tin có ích trên diện rộng
Tuy nhiên bên cạnh đó thì mạng Extranet cũng có những mặt hạn chế như chi phí
để triển khai mạng Extranet còn rất cao; đe dọa đối với bảo mật thông tin mạng Ễtranet là lớn
Trang 38Khoa Công nghệ Thông tin- Đại học SPKT Hưng Yên Page 38
2.2.4 WWW ( word wide web – các trang web)
Word wide web chính là hệ thống các chứng từ kết nối siêu văn bản HTML hay đơn giản chính là các trang web
Ban đầu web chỉ được sử dụng trong cộng đồng các nhà khoa học, có rất ít người không thuộc cộng đồng này có phần mềm để có thể đọc được các chứng từ HTML Mosaic là trình duyệt web đầu tiên cho phép đọc các chứng từ HTML và giờ này vẫn đang đươc dùng với một số trang web
Đến năm 1994, trình duyệt Netscape đã được xây dựng Trình duyệt Netscape cũng phát triển trên cơ sở trình duyệt Mosaic Microsoft đã xây dựng và phát triển một trình duyệt web Internet Explorer ngay sau thành công của Netscape Cho đến hôm nay
đã có rất nhiều trình duyệt web được tạo ra như Firefox, Safari, Opera, Google chorme nhưng Internet Explorer vẫn đang thống lĩnh thị trường trình duyệt ngày nay (88,9% - theo BBC)
Word wide web cho phép chia sẻ, phát tán thông tin qua mạng Internet một cách
dễ dàng và nhanh chóng Hiện nay số lượng các website tăng lên một cách nhanh chóng Internet và Word wide web có những điểm chung và riêng: Đây đều là hệ thống trao đổi
dữ liệu toàn cầu Internet bao gồm cả phần cứng và phần mềm nhằm kết nối các máy tính với nhau Trong khi đó web chỉ là một ứng dụng phần mềm cho phép mọi người giao tiếp thông qua Internet
2.3 Cơ sở hạ tầng thanh toán
Chức năng quan trọng nhất của các trang web thương mại điện từ chính là việc tiến hành hoạt động thanh toán trực tuyến thông qua mạng Intrernet Thanh toán trong linhv vực thương mại điện tử có thể dưới nhiều hình thức Theo Evans và Schmalesee để
Trang 39Khoa Công nghệ Thông tin- Đại học SPKT Hưng Yên Page 39
đánh giá xem hình thức thanh toán điện từ nào được sử dụng nhiều nhất thì phải dựa trên những nhân tố sau:
- Tính độc lập: Một vài hình thức thanh toán điện tử phải sử dụng đến phần mềm và phần cứng riêng biệt để tiến hành thanh toán Hầu hết tất cả các hình thức thanh toán điện tử đều yêu cầu người bán phải cài đặt những phần mềm chuyên biệt để có thể cho phép khách hàng thực hiện thanh toán trực tuyến Và thường thì các hình thức thanh toán này không được các tổ chức ủng hộ
- Kết nối và Di chuyền: Tất cả các hình thức
toán điện tử thường phải được kết nối với
làm việc này
những câu hỏi như: Việc chuyển tiền có mức
độ an toàn đến đâu? Kết quả của quá trình chuyển tiền như thế nào? Hay nếu rủi ro của người bán lớn hơn rủi ro đối với người mua thì hình thức thanh toán nào là không được chấp thuận? Liệu hình thức thanh toán đó có dễ bị giả mạo hay không?
- Khả năng lần theo dấu vết: Nếu người mua thanh toán bằng tiền mặt thì người bán sẽ rất khó khăn để biết được tiền thanh toán đang ở khu vực nào, trong khi nếu thanh toán bằng thẻ tín dụng hay séc thì người bán có thể được câu trả lời tiền
- Thanh toán: Hầu hết người bán chỉ chấp thuận thẻ tín dụng đối với những đơn hàng nhỏ tới lớn Với hàng hóa có chi phí quá nhỏ (chỉ vài đôla) thì thẻ tín dụng sẽ không được sử dụng Ngoài ra, thẻ tín dụng sẽ không được dùng đối với những đơn hàng có giá trị quá lớn – như việc mua một chiếc máy bay
- Dễ dùng: Đối với hình thức thanh toán điện từ
nhất Còn đối với thanh toán điện tử B2B, câu hỏi đặt ra là liệu hình thức thanh toán nào có
Trang 40Khoa Công nghệ Thông tin- Đại học SPKT Hưng Yên Page 40
hiện có
- Phí giao dịch: Nếu sử dụng thẻ tín dụng để thanh toán thì người bán phải trả phí giao dịch lên tới 3% giá trị đơn hàng Điều này sẽ khiến cho những người mua với giá trị hàng thấp sẽ tìm một hình thức thanh toán thay thế khác với mức phí thấp hơn
- Quy định: Tất cả hình thức thanh toán đều tuân theo quy tắc của quốc tế, quốc gia Thậm chí khi có một hình thức thanh toán mới được giới thiệu thì nó cũng phải tuân thủ nghiêm ngặt theo các quy định hiện hành Paypal là giải pháp thanh toán bị cho là vi phạm các quy định trong lĩnh vực ngân hàng
Hiện nay có bốn hình thức thanh toán phổ biến cả trong lĩnh vực thương mại truyền thống và thương mại điện tử B2C, đó là tiền, séc, thẻ tín dụng, thẻ ghi nợ Thẻ tín dụng là hình thức thanh toán trực tuyến phổ biến và phát triển nhất hiện nay 85% người tiêu dùng trên thế giới đã sử dụng thẻ tín dụng để mua hàng trực tuyến Riêng tại Mỹ con số này là 96% Loại hình thanh toán trực tuyến hổ biến thứ hai trên thế giới là tiền điện từ do các công ty cung cấp Tiền điện tử dùng để mua sắm hàng hóa và dịch vụ, tuy nhiên nó không thể chuyển thành tiền mặt
Thanh toán điện tử hiện nay phát triển rất nhanh trên thế giới, đặc biệt là ở các nước phát triển Các nước đang phát triển đang rất cố gắng để xây dựng cơ sở hạ tầng thanh toán tốt theo kịp với các nước phát triển nhằm đẩy nhanh hơn nữa hoạt động thương mại quốc tế không chỉ giữa các tổ chức với nhau mà còn giữa các cá nhân độc lập Hơn nữa, thanh toán điện tử giúp cho việc triển khai dịch vụ công điện tử trở nên dễ dàng hơn Thông qua các phương tiện thanh toán điện tử người dân có thể tiến hành trả phí, lệ phí, đóng thuế…
Hoạt động thanh toán điện tử tiến hành hoàn toàn qua các phương tiện điện tử, chính vì vậy, trong hoạt động có thêm chủ thể thứ ba không thể thiếu được là các trung gian Các trung gian trong thanh toán điện tử có thể là ngân hàng, các cơ quan cung cấp giải pháp thanh toán
Trong thanh toán điện tử các bên tiến hành hoạt động thanh toán mà không cần gặp gỡ nhau trực tiếp nên rủi ro trong thanh toán là cao hơn nhiều so với hình thức thanh toán thông thường
- Rủi ro đối với người mua: Thông tin cá nhân