1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Đề cương thiết kế phát triển sản phẩm

231 371 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 231
Dung lượng 12,38 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Để các kỹ sư trước khi ra trường có thể nhanh chóng tham gia vào lực lượng sản xuất trong xã hội, họ cần có những hiểu biết, kỹ năng về tổ chức, thực thi các dự án phát triển sản phẩm củ

Trang 1

LỜI NÓI ĐẦU

Sự thành công kinh tế của hầu hết các doanh nghiệp phụ thuộc vào khả năng xác định nhu cầu khách hàng của họ và khả năng nhanh chóng tạo ra sản phẩm đáp ứng những nhu cầu này với chi phí sản xuất thấp Để đạt được những mục tiêu này không chỉ là một vấn đề marketing, cũng không phải chỉ là vấn đề thiết kế hay vấn đề sản xuất, mà nó là một vấn đề phát triển sản phẩm liên quan đến tất cả các bộ phận chức năng này trong doanh nghiệp

Nâng cao chất lượng và hạ giá thành sản phẩm là những nhiệm vụ quan trọng của các nhà sản xuất kinh doanh trong thời kỳ cạnh tranh và hội nhập quốc tế Trong quá trình phát triển sản xuất kinh doanh, các doanh nghiệp muốn tồn tại phải thường xuyên duy trì sức sống của sản phẩm đang có và không ngừng làm mới, đưa ra thi trường các sản phẩm mới, độc đáo để đáp ứng những nhu cầu ngày một đa dạng, phức tạp của khách hàng Sự thành công và tồn tại của doanh nghiệp phụ thuộc vào sản phẩm của họ có được khách hàng chấp nhận hay không

Với phương châm giáo dục và đào tạo theo định hướng ứng dụng nghề nghiệp của nhà trường Để các kỹ sư trước khi ra trường có thể nhanh chóng tham gia vào lực lượng sản xuất trong xã hội, họ cần có những hiểu biết, kỹ năng về tổ chức, thực thi các dự án phát triển sản phẩm của doanh nghiệp…

Ngoài ra cuốn tài liệu này có thể được dùng cho các kỹ sư, cán bộ nghiên cứu, cán bộ thiết kế phát triển sản phẩm trong doanh nghiệp tham khảo

Do biên soạn lần đầu nên không thể tránh khỏi những thiếu sót Tác giả hoan nghênh bạn đọc góp ý kiến để lần tái bản sau cuốn tài liệu được hoàn thiện hơn Tác giả xin chân thành cảm ơn

Các ý kiến đóng góp xin gửi về Bộ môn Tự động hóa Thiết kế công nghệ Cơ khí, Khoa Cơ khí, Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Hưng Yên

Tác giả

Trang 2

Sự thành công kinh tế của hầu hết các công ty phụ thuộc vào khả năng xác định nhu cầu khách hàng của họ và nhanh chóng tạo ra sản phẩm đáp ứng những nhu cầu này với chi phí sản xuất thấp Để đạt được những mục tiêu này không chỉ là một vấn

đề tiếp thị, cũng không phải chỉ là vấn đề thiết kế hay vấn đề sản xuất, mà nó là một

vấn đề phát triển sản phẩm liên quan đến tất cả các chức năng này

Hình 1-1: Ví dụ về một số sản phẩm vật lý rời rạc

1.1.2 Sản phẩm mới (New Product)

Các sản phẩm mới có nhiều chủng loại khác nhau tùy thuộc vào mức độ mới của sản phẩm so với thế giới hay với thị trường tiêu thụ Sản phẩm mới có một số dạng khác nhau như sau:

 Sản phẩm mới thực sự trên thế giới (New-to-the-world) khoảng 10%

Các sáng chế tạo ra một thị trường hoàn toàn mới; hay một sản phẩm lần đầu tiên xuất hiện trên thế giới mà chưa có sản phẩm cùng loại hoặc tương đương

 Sản phẩm mới của công ty (New-to-the-firm products) khoảng 20%

Loại sản phẩm này là mới của công ty hay hãng sản xuất Đây là một nỗ lực mới về thị trường hay công nghệ sản xuất để đưa ra đáp ứng nhu cầu của thị trường

Trang 3

Cải tiến, sửa đổi và nâng cấp sản phẩm để có sản phẩm tốt hơn

 Sản phẩm tái định vị (Repositionings) khoảng 7%

Sản phẩm được sử dụng để xác định lại mục tiêu hoặc ứng dụng mới của dòng sản phẩm hiện hành hoặc đã lỗi thời

 Sản phẩm giảm giá (Cost reductions) khoảng 11%

Giảm chi phí: Các sản phẩm mới cung cấp cho khách hàng hiệu quả tương tự với sản phẩm trên thị trường nhưng với chi phí thấp hơn Có thể là một thay đổi mới

về thiết kế hoặc sản xuất "sản phẩm mới"

 Dịch vụ mới / Kinh doanh toàn cầu

Các sản phẩm được thay đổi hay thay dịch vụ đổi để tiến tới sản phẩm toàn cầu trên cơ sở các dịch vụ mới, chiếm lĩnh và mở rộng thị trường kinh doanh trên toàn cầu hóa; hay sản phẩm của toàn cầu trên cơ sở quốc tế hóa sản phẩm mang tính đa quốc gia, đa sắc tộc vùng miền không bị giới hạn về vị trí địa lý

Các dự án sản phẩm mới (New product) thường có tỷ lệ thất bại cao hơn nhiều so với những báo cáo trên thị trường Có nhiều dự án thất bại mà không được công bố vì lý do kinh tế hay vì lý do cạnh trạnh khác

Các số liệu về tỷ lệ % các loại sản phẩm mới trên đây chỉ mang tính chất tham khảo (Nguồn: http://www.mslab.boun.edu.tr/docs/ETM551Lecture01.pdf)

1.1.3 Thiết kế (sản phẩm)

Theo Từ điển bách khoa toàn thư Việt Nam; Thiết kế được định nghĩa như sau: Thiết kế là việc tạo ra một kế hoạch hoặc quy ước cho việc xây dựng một đối tượng hoặc một hệ thống (như trong bản thiết kế kiến trúc, bản vẽ kỹ thuật, quy trình kinh doanh, sơ đồ mạch và các mẫu may…)

Một định nghĩa khác về thiết kế là một lộ trình hoặc một cách tiếp cận chiến lược cho một người/nhóm người nào đó để đạt được một kết quả duy nhất Thiết kế bao gồm việc định nghĩa các thông số kỹ thuật, thông số chi phí, hoạch định kế hoạch, quy trình hoạt động và cách thức phải làm gì trong những ràng buộc pháp lý, chính trị,

xã hội, môi trường, an toàn và kinh tế trong việc đạt được mục tiêu đó

1.1.3.1 Ví dụ về các sản phẩm được thiết kế trong một số lĩnh vực khác nhau

Ví dụ 1: Dưới đây là một đoạn chương trình máy tính, được thiết kế để giải quyết một

bài toán tìm số chia nhỏ nhất của một số nguyên theo ngôn ngữ AutoLISP

Trang 4

CHƯƠNG 1: DẪN NHẬP 2015

Hình 1-2 Một chương trình máy tính để tìm số chia nhỏ nhất của một số nguyên N, viết trong Đề án, một phương ngữ của các ngôn ngữ lập trình AutoLISP (Nguồn:

Abelson và Sussman, năm 1996)

Ví dụ 2: Logo của Trường đại học Sư phạm Kỹ thuật Hưng Yên Đây là logo để nhận

diện thương hiệu của trường

Hình 1.3 Logo của trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Hưng Yên

Ví dụ 3: Một thiết kế máy phay CNC 5 trục của hãng DMG (đã được tháo bỏ vỏ máy)

Hình 1.4 Máy phay CNC-DMU 50 eVolution - Một trung tâm gia công phay 5 trục

Sản phẩm của hãng DMG Cộng hòa liên bang Đức

Trang 5

Ví dụ 5: Nhà hát lớn Hà Nội là một kiệt tác kiến trúc, nghệ thuật; Biểu tượng kiến

trúc, văn hóa, lịch sử của Hà Nội đã tồn tại hàng trăm năm

Nhà hát lớn tại Hà Nội Việt Nam nhân dịp kỷ niệm 100 năm tồn tại và phát triển

Trang 6

CHƯƠNG 1: DẪN NHẬP 2015

Hình 1.6 Nhà hát lớn Hà Nội - Mặt chính do kiến trúc sư F.Lagisquet thiết kế năm

1909 (nguồn http://www.ashui.com/) 1.1.3.2 Phát triển sản phẩm

Phát triển sản phẩm là tập hợp các hoạt động bắt đầu từ nhận thức của một cơ hội thị trường và kết thúc trong sản xuất, bán và giao hàng của một sản phẩm (Karl T Ulrich)

Các sản phẩm trên thị trường rất đa dạng về chủng loại cũng như là cách thức cấu trúc, vật liệu Trong tài liệu này chúng tôi tập trung vào các sản phẩm vật lý, rời rạc Sau đây là một ví dụ về sự phát triển của một dòng sản phẩm điện thoại di động của Nokia – “N seri” các sản phẩm của Nokia không ngừng được phát triển để đáp ứng nhu cầu và thị hiếu khách hàng

Hình 1.7 N-series của Nokia (Nguồn http://supergeekforum.org)

Nhưng không phải tất cả đều thành công; có những sản phẩm thất bại ngay từ những ngày đầu ra mắt…; N97 là một ví dụ

Trang 7

CHƯƠNG 1: DẪN NHẬP 2015

Nokia N97 được ra mắt vào năm 2009 tại thời điểm mà Nokia còn đang giữ được

vị thế độc tôn trong làng di động thế giới N97 còn được kỳ vọng sẽ là kẻ cạnh tranh trực tiếp cùng thế hệ iPhone đầu tiên cũng ra mắt vào khoảng thời gian này

Hình 1.8 N97 –Điện thoại di động của Nokia ra mắt vào năm 2009

Tuy nhiên ngay từ những ngày đầu ra mắt, N97 của Nokia đã liên tục bị bao vây bởi những sự cố, trục trặc như firmware bị đóng băng, khó duyệt hệ thống hay liên tục gặp tình trạng không thể kết nối web… Người phát ngôn của Nokia cũng đã thừa nhận việc hãng sản xuất mẫu di động N97 là một sự sai lầm và mang đến nhiều sự thất vọng

1.2 Đặc điểm của thết kế phát triển sản phẩm thành công

Ba yếu tố đầu vào quan trọng cho quá trình phát triển sản phẩm mới thành công là:

- Các sản phẩm đúng chất lượng

- Đúng thời điểm

- Với chi phí hợp lý

Từ quan điểm của các nhà đầu tư trong một doanh nghiệp sản xuất kinh doanh

vì lợi nhuận Kết quả phát triển sản phẩm thành công trong sản xuất là doanh nghiệp

có thể sản xuất được sản phẩm và bán ra thị trường thu lợi nhuận Nhưng lợi nhuận của doanh nghiệp thường khó để đánh giá một cách nhanh chóng và trực tiếp

Để đánh giá sự thành công của quá trình phát triển sản phẩm ta căn cứ vào những những khía cạnh cụ thể sau:

1.2.1 Chất lượng sản phẩm

Sản phẩm tốt của doanh nghiệp thu được từ các nỗ lực phát triển phải đáp ứng các câu hỏi sau đây:

- Sản phẩm có đáp ứng nhu cầu của khách hàng hay không?

- Liệu sản phẩm có đủ bền và đáng tin cậy?

Chất lượng sản phẩm cuối cùng được phản ánh trên thị phần của thị trường sản phẩm và mức giá mà khách hàng sẵn sàng trả khi mua

1.2.2 Giá thành sản phẩm

Chi phí sản xuất của sản phẩm là yếu tố cơ bản cấu thành nên giá thành của sản phẩm Chi phí sản xuất bao gồm chi phí cho thiết bị máy móc và dụng cụ cũng như chi phí gia tăng đơn vị sản xuất của mỗi sản phẩm

Trang 8

CHƯƠNG 1: DẪN NHẬP 2015

Giá thành sản phẩm xác định công ty có bao nhiêu lợi nhuận được phân bổ cho một khối lượng bán hàng đặc biệt và giá bán cụ thể theo chiến lược kinh doanh của công ty

1.2.3 Thời gian phát triển

Sự nỗ lực của đội ngũ phát triển sản phẩm là yếu tố then chốt thúc đẩy thời gian phát triển sản phẩm của công ty

Thời gian phát triển quyết định cách thức đáp ứng của các công ty có thể có được lợi thế cạnh tranh và phát triển công nghệ, cũng như bằng cách nào mà công ty nhận được lợi ích kinh tế từ những nỗ lực của nhóm phát triển sản phẩm

1.2.4 Chi phí phát triển

Chi phí phát triển thường là một phần quan trọng của đầu tư cần thiết để đạt được lợi nhuận Đây là những khoản chi phí đáng kể của công ty phải bỏ ra để phát triển các sản phẩm

1.2.5 Khả năng phát triển

Nhóm phát triển sản phẩm và các công ty có thể phát triển các sản phẩm trong tương lai, dựa trên kết quả, kinh nghiệm của họ đối với một dự án phát triển sản phẩm khác tốt hơn

Khả năng phát triển là một tài sản của công ty có thể sử dụng để phát triển các sản phẩm có hiệu quả và kinh tế trong tương lai

Hiệu suất cao trong năm lĩnh vực trên cuối cùng sẽ dẫn đến thành công kinh tế, tuy nhiên, tiêu chí hoạt động khác cũng rất quan trọng Các tiêu chí này xuất phát từ lợi ích của các bên liên quan khác nhau trong các doanh nghiệp và cộng đồng xã hội, bao gồm các thành viên của nhóm phát triển, các nhân viên khác trong công ty và cộng đồng trong đó các sản phẩm được sản xuất, lưu hành và tiêu hủy

1.3 Lực lượng tham gia thiết kế phát triển sản phẩm

Phát triển sản phẩm là một hoạt động liên ngành đòi hỏi phải có sự đóng góp của gần như tất cả các lực lượng chức năng của một công ty Tuy nhiên, ba bộ phận (nhóm) chức năng luôn luôn được huy động tập trung cho một dự án phát triển sản phẩm

1.3.1 Nhóm lòng cốt

1.3.1.1 Marketing

Marketing làm trung gian

tương tác giữa các công ty và

Marketing thường tạo điều

kiện cho việc xác định các cơ

hội sản phẩm, định nghĩa của

phân khúc thị trường và việc

xác định các nhu cầu của

khách hàng Marketing cũng

thường sắp xếp để liên lạc giữa

Trang 9

kế kiểu dáng công nghiệp (thẩm mỹ, giao diện người dùng…)

1.3.1.3 Sản xuất

Chức năng sản xuất là chủ yếu chịu trách nhiệm về thiết kế, điều hành và / hoặc phối hợp các hệ thống sản xuất để sản xuất sản phẩm Theo nghĩa rộng, chức năng sản xuất cũng thường bao gồm mua, phân phối và lắp đặt các thiết bị máy móc trong sản xuất Tập hợp các hoạt động này đôi khi được gọi là chuỗi cung ứng trong sản xuất

Các cá nhân khác nhau trong các nhóm chức năng này thường được đào tạo kỷ luật cụ thể trong các lĩnh vực như nghiên cứu thị trường, kỹ thuật cơ khí, kỹ thuật điện, khoa học vật liệu, hoặc các hoạt động sản xuất Một số nhóm chức năng khác, bao gồm cả tài chính và bán hàng, cũng thường xuyên tham gia trên cơ sở một phần thời gian trong quá trình phát triển sản phẩm mới

Trong hầu hết các trường hợp, một nhóm nghiên cứu trong doanh nghiệp sẽ được hỗ trợ bởi các cá nhân hoặc các nhóm khác tại các công ty đối tác, nhà cung cấp,

và công ty tư vấn

Đôi khi, như là trường hợp cho sự phát triển của một chiếc máy bay mới, số lượng thành viên trong nhóm bên ngoài (nhóm mở rộng) có thể còn lớn hơn so với các nhóm trong công ty có tên sẽ xuất hiện trên các sản phẩm cuối cùng Nhóm phát triển sản phẩm đôi khi làm việc trong công ty tư vấn, các trường đại học, cơ quan chính phủ, và các tổ chức phi lợi nhuận

Các thành phần của một nhóm cho sự phát triển của một sản phẩm cơ điện tử có

độ phức tạp vừa phải được thể hiện trong hình 1-9

Nhóm phát triển sản phẩm nòng cốt (vòng elipse phía trong) bao gồm:

- Nhóm trưởng lãnh đạo nhóm

- Đội ngũ marketing chuyên nghiệp

- Thiết kế công nghiệp

Trang 10

CHƯƠNG 1: DẪN NHẬP 2015

- Nhóm thiết kế cơ khí, điện – điện tử

- Các kỹ sư sản xuất và các chuyên gia…

Nhóm phát triển sản phẩm mở rộng (vòng elipse phía ngoài) bao gồm:

- Bộ phận tài chính

- Bộ phận bán hàng

- Bộ phận pháp lý…

Hình 1-9: Ví dụ về các nhóm thành phần tham gia phát triển sẩn phẩm cơ điện tử có

độ phức tạp vừa phải (Nguồn: Karl T Ulrich)

1.4 Thời gian và chi phí phát triển sản phẩm

Hầu hết những người không có kinh nghiệm trong phát triển sản phẩm sẽ thấy kinh ngạc bởi thời gian và tiền bạc được yêu cầu để phát triển một sản phẩm mới Thực tế là rất ít sản phẩm có thể được phát triển trong vòng chưa đầy 1 năm, rất nhiều sản phẩm cầu thời gian từ 3 đến 5 năm, thậm chí nhiều dự án sản phẩm có thể mất đến

Tài chính Bán hàng Pháp lý

Nhóm trưởng

Kỹ sư sản xuất

Thiết kế công nghiệp

Thiết kế

Cơ khí

Thiết kế Điện

Chuyên gia Marketing

chuyên nghiệp

Nhóm

mở rộng Nhóm lòng cốt

Trang 11

CHƯƠNG 1: DẪN NHẬP 2015

Tua vít Stanley JobMaster

Giầy trượt Rollerblade Skate

Máy in HP Hewlett- Packard DeskJet

Ô tô Volkswagen New Beetle

Máy bay Boeing 777

Sản lượng

sản xuất

hàng năm

100.000 đơn vị / năm đơn vị / năm 100.000 đơn vị / năm 4.000.000 đơn vị / năm 100.000 đơn vị / năm 50

Hình 1-10: Ví dụ về chi phí và thời gian phát triển sản Tất cả số liệu ước tính, dựa trên thông tin và công ty các nguồn công bố công khai.(Nguồn: Karl T Ulrich)

1.5 Những thách thức của phát triển sản phẩm

- Phát triển sản phẩm tốt là rất khó khăn

- Rất ít công ty thành công sau nửa thời gian

- Các tỷ lệ cược (tỷ lệ thành công – thất bại) là một thách thức đáng kể đối với đội ngũ phát triển sản phẩm

- Một số đặc tính của sản phẩm là đầy thách thức cho phát triển sản phẩm

1.5.1 Thỏa hiệp

Một máy bay có thể được làm nhẹ hơn, nhưng hành động này có thể sẽ làm tăng chi phí sản xuất Một trong những khía cạnh khó khăn nhất của phát triển sản phẩm là được công nhận, sự hiểu biết và quản lý phải thỏa hiệp một cách tối đa để có sự thành công của sản phẩm

1.5.2 Sự năng động, biến đổi trong thực tiễn

Cải tiến công nghệ, sở thích khách hàng tiến hóa, đối thủ cạnh tranh giới thiệu sản phẩm mới, và việc thay đổi môi trường kinh tế vĩ mô Việc ra quyết định trong một môi trường luôn thay đổi là một nhiệm vụ khó khăn

1.5.3 Chi tiết, cụ thể hóa

Sự lựa chọn giữa việc sử dụng ốc vít hoặc lẫy cài phù hợp trên các vỏ của một máy tính có thể có những tác động kinh tế tới hàng triệu đô la Phát triển một sản phẩm phức tạp vừa phải cũng có thể đòi hỏi đưa ra hàng ngàn quyết định

1.5.4 Áp lực thời gian

Trang 12

CHƯƠNG 1: DẪN NHẬP 2015

Bất cứ một trong số những khó khăn này sẽ dễ dàng quản lý bởi chính nó cho rất nhiều thời gian, nhưng các quyết định phát triển sản phẩm thường phải được thực hiện một cách nhanh chóng và tôi không có thông tin đầy đủ

1.5.5 Áp lực kinh tế, lợi nhuận

Phát triển, sản xuất và tiếp thị một sản phẩm mới đòi hỏi đầu tư lớn Để kiếm được lợi nhuận hợp lý về đầu tư sản phẩm này kết quả phải hấp dẫn cho khách hàng và tương đối rẻ tiền để sản xuất

Đối với nhiều người, phát triển sản phẩm nói một cách chính xác là đam mê bởi vì

nó là một thách thức lớn Đối với những người khác, một số thuộc tính nội tại cũng góp phần hấp dẫn của nó

1.5.6 Sáng tạo

Quá trình phát triển sản phẩm bắt đầu với một ý tưởng và kết thúc với việc sản xuất một tạo tác vật lý Khi xem cả hai trong toàn bộ và ở cấp độ, hoạt động cá nhân, quá trình phát triển sản phẩm sáng tạo mạnh mẽ

1.5.7 Sự hài lòng của xã hội và nhu cầu cá nhân:

Tất cả các sản phẩm nhằm mục đích đáp ứng nhu cầu của một số đối tượng Các cá nhân quan tâm đến việc phát triển sản phẩm mới gần như lúc nào cũng có thể tìm thấy các thiết lập thể chế, trong đó họ có thể phát triển các sản phẩm đáp ứng những gì họ cho là nhu cầu quan trọng

1.5.8 Nhóm đa dạng, nhiều chuyên môn khác nhau

Phát triển thành công đòi hỏi nhiều kỹ năng khác nhau và tài năng Kết quả là, nhóm phát triển liên quan đến những người có một loạt các đào tạo khác nhau, kinh nghiệm, quan điểm và tính cách

1.5.9 Tinh thần đồng đội

Nhóm phát triển sản phẩm thường có động lực cao, tổ hợp tác Các thành viên trong nhóm có thể cùng ở vị trí để họ có thể tập trung năng lượng tập thể của họ vào việc tạo ra các sản phẩm Tình trạng này có thể dẫn đến tình bạn thân thiết lâu dài giữa các thành viên trong nhóm

1.6 Vấn đề sáng tạo

Vấn đề của các loại sản phẩm mới là vấn đề không có hoặc chưa có giải pháp

đã được biết Nó được gọi là một vấn đề sáng tạo và có thể chứa yêu cầu trái ngược nhau Vào thế kỷ thứ tư, một nhà khoa học Ai Cập tên là Papp đề nghị không nên gọi

là một khoa học công nghệ tự động để giải quyết vấn đề sáng tạo Trong thời hiện đại, giải quyết vấn đề sáng tạo đã rơi vào lĩnh vực tâm lý, nơi các liên kết giữa não và cái nhìn sâu sắc và sự đổi mới đang được nghiên cứu Các phương pháp như “động não”

và “dùng thử - đúng - sai” thường được đề nghị Tùy thuộc vào sự phức tạp của vấn

đề, số lượng các thử nghiệm sẽ khác nhau

Trang 13

CHƯƠNG 1: DẪN NHẬP 2015

Nếu các giải pháp nằm trong phạm vi lĩnh vực cơ khí của một người có kinh nghiệm, số lượng các thử nghiệm sẽ ít hơn Nếu các giải pháp không phải là hiện hữu, sau đó các nhà phát minh phải nhìn nhận xa hơn, vượt ra khỏi kinh nghiệm và kiến thức của mình sang các lĩnh vực mới như hóa học hoặc điện tử Sau đó, số lượng các thử nghiệm sẽ phát triển lớn nhỏ như thế nào phụ thuộc vào phát minh có thể nắm vững các công cụ tâm lý như động não, cảm nhận trực giác và sáng tạo Một vấn đề nữa là các công cụ tâm lý như kinh nghiệm và trực giác rất khó để chuyển giao cho người khác trong tổ chức phát triển sản phẩm vì nó nằm trong tư duy của mỗi cá thể

Điều này dẫn đến những gì được gọi là quán tính tâm lý, nơi mà các giải pháp đang được coi là kinh nghiệm riêng của một người và quy chiếu vào công nghệ thay thế để phát triển các mẫu sản phẩm mới Điều này được thể hiện bởi các vector quán tính tâm lý trong hình 1.12 Quán tính chủ quan trọng tâm của mỗi cá nhân sẽ đưa ra những hướng giải pháp khác nhau; từ đó sẽ có những mẫu sản phẩm tương ứng Vấn

đề đặt ra là giải quyết những vấn đề này như thế nào? Các cơ sở khoa học, thực tiễn và quy trình thực hiện để lựa chọn giải pháp tối ưu cho sản phẩm

Hình 1.12 Hạn chế ảnh hưởng của quán tính tâm lý

Khi chúng ta bao phủ các hiệu ứng hạn chế của quán tính tâm lý trên bản đồ giải pháp bao gồm các ngành khoa học và công nghệ rộng lớn, chúng ta thấy rằng các giải pháp lý tưởng có thể nằm ngoài lĩnh vực của nhà phát minh của các chuyên gia Điều này được thấy trong hình 1.13, trong đó giải pháp lý tưởng là điện nhưng là bên ngoài các kinh nghiệm của các kỹ sư cơ khí và như vậy vẫn chưa được thử nghiệm và thậm chí có thể là vô định hình, mơ hồ Nếu giải quyết vấn đề là một quá trình ngẫu nhiên, sau đó chúng ta sẽ mong đợi các giải pháp để xảy ra một cách ngẫu nhiên trên không gian giải pháp thì kết quả là mong manh không thể trông đợi được Để đánh bại quán tính tâm lý ngẫu nhiên và kinh nghiệm cá nhân cần có giải pháp cụ thể mang tính định hướng

P Mẫu 2

Mẫu 3

Mẫu n-1 Mẫu 4

Problem

Trang 14

CHƯƠNG 1: DẪN NHẬP 2015

Hình 1.13 Quán tính tâm lý trong giải quyết vấn đề

1.6.1 Lý thuyết giải các bài toán sáng tạo (TRIZ)

1.6.1.1 Khái niệm về TRIZ (TRIZ = Teoriya Resheniya Izobreatatelskikh Zadatch)

TRIZ là phương pháp luận tìm kiếm những giải pháp kỹ thuật mới, cho những

kết quả khả quan, ổn định khi giải những bài toán khác nhau, thích hợp cho việc dạy

và học với đông đảo quần chúng Tác giả của TRIZ, G.S Altshuller, bắt đầu nghiên cứu, xây dựng lý thuyết từ 1946 Tiền đề cơ bản của TRIZ là: Các hệ kỹ thuật phát triển tuân theo các quy luật khách quan, nhận thức được Chúng được phát hiện và sử dụng để giải một cách có ý thức những bài toán sáng chế TRIZ được xây dựng như là một khoa học chính xác, có lĩnh vực nghiên cứu riêng, các phương pháp riêng, ngôn ngữ riêng, các công cụ riêng Hạt nhân của TRIZ là thuật toán giải các bài toán sáng chế (viết tắt theo tiếng Nga là ARIZ)

ARIZ là một chương trình các hành động tư duy có định hướng, được kế hoạch hóa Nó có mục đích tổ chức hợp lý và làm tích cực hóa tư duy sáng tạo, bước đầu tạo

cơ sở cho lý thuyết chung về tư duy định hướng ARIZ có tính logic và linh động Về mặt logic, ARIZ có tác dụng phân nhỏ bài toán sáng chế thành từng phần, vừa sức với người giải bình thường Về mặt linh động, nó khai thác tới mức lớn nhất mặt mạnh của từng người giải như kiến thức, kinh nghiệm, trí tưởng tượng, linh tính và hạn chế mặt yếu như tính ỳ tâm lý, sự phân tán trong suy nghĩ Lợi ích của ARIZ nói chung là nâng cao hiệu suất tư duy sáng tạo giải quyết vấn đề và ra quyết định

1.6.1.2 Genrich S Altshuller, cha đẻ của TRIZ

Một cách tiếp cận tốt hơn, được phát triển bởi Genrich S Altshuller, sinh ra ở Liên

Xô cũ vào năm 1926 Phát minh đầu tiên của ông là cho lặn biển, khi anh chỉ mới 14 tuổi Sở thích của ông đã dẫn ông theo đuổi một sự nghiệp như là một kỹ sư cơ khí Phục vụ trong hải quân Liên Xô như một chuyên gia về bằng sáng chế trong năm

1940, công việc của ông là giúp các nhà phát minh áp dụng các bằng sáng chế Ông được yêu cầu hỗ trợ trong việc giải quyết vấn đề tìm thấy, phát minh là tốt Sự tò mò của mình về giải quyết các vấn đề đã ông tìm kiếm các phương pháp tiêu chuẩn Những gì ông tìm thấy là các công cụ tâm lý, những cái đó đã không đáp ứng được các

Trang 15

3 Được lặp lại và đáng tin cậy và không phụ thuộc vào các công cụ tâm lý

4 Có thể truy cập các khối kiến thức, sáng tạo

5 Có thể bổ sung vào kho tàng của kiến thức sáng tạo

6 Đủ để làm quen phát minh bằng cách làm theo các cách tiếp cận chung để giải quyết vấn đề

Hình 1.11: Một quy trình làm việc với TRIZ (Nguồn: http://www.iwint.com/en/)

Altshuller quy định rõ hơn một vấn đề sáng tạo là trong đó một giải pháp gây ra một vấn đề khác xuất hiện, chẳng hạn như tăng sức bền của một tấm kim loại gây ra trọng lượng của nó nặng hơn Thông thường, các nhà phát minh phải viện đến một sự đánh đổi và thỏa hiệp giữa các tính năng và do đó không đạt được một giải pháp lý tưởng Trong nghiên cứu của ông về bằng sáng chế, Altshuller thấy rằng nhiều mô tả một giải pháp hoặc giải quyết các mâu thuẫn được loại bỏ và không cần thỏa hiệp Altshuller phân loại các bằng sáng chế trong một cách mới lạ Thay vì phân loại chúng bởi ngành công nghiệp, chẳng hạn như ô tô, hàng không vũ trụ, vv, ông loại bỏ các vấn đề để phát hiện ra các quy trình giải quyết vấn đề Ông thấy rằng thường các vấn đề tương tự đã được giải quyết hơn một lần bằng cách sử dụng một trong bốn mươi nguyên tắc sáng tạo cơ bản Nếu nhà phát minh sau đã có kiến thức về công việc của những người trước đó, các giải pháp có thể đã được phát hiện nhiều hơn nhanh chóng và hiệu quả

1.6.2 Phân loại cấp độ sáng tạo theo giáo sư Genrich S Altshuller

Trong những năm 1960 và 1970, ông đã nghiên cứu các giải pháp sáng chế của

Mỹ (khoảng 400.000 sáng chế) và ông đã phân loại các giải pháp thành năm cấp độ

1 Cấp một

Trang 16

CHƯƠNG 1: DẪN NHẬP 2015

Vấn đề thiết kế quen thuộc, giải quyết bằng phương pháp nổi tiếng trong các chuyên khoa Không cần thiết phát minh Khoảng 32% trong những giải pháp rơi vào mức độ này

4 Cấp bốn

Một thế hệ mới sử dụng một nguyên tắc mới để thực hiện các chức năng chính của hệ thống Giải pháp tìm thấy trong nhiều lĩnh vực khoa học và công nghệ Khoảng 4% của các giải pháp đã rơi vào thể loại này

(Phiên âm tiếng Anh)

Phiên âm Tiếng Việt

2 Taking out Tách khỏi

(Tách phần gây “phiền phức” hay phần “cần thiết” ra khỏi đối tượng)

Trang 17

Gây ứng suất (đối kháng) sơ bộ

(Nếu theo điều kiện bài toán cần thực hiện tác động nào đó, yêu cầu thực hiện phản tác động trước.)

16 Partial or

excessive actions

Giải “thiếu” hoặc “thừa”

Nếu như khó nhận được 100% hiệu quả cần thiết, nên nhận ít hơn hoặc nhiều hơn “một chút” Lúc đó bài toán có thể trở nên đơn giản và dễ giải hơn

17 Another

dimension

Chuyển sang chiều khác

Thay vì nhìn (sử dụng) đối tượng theo cách thông thường, hãy nhìn (sử dụng) đối tượng từ những góc độ, "chiều" khác nhau có trong đối tượng và môi trường

19 Periodic action Tác động theo chu kỳ

Trang 18

CHƯƠNG 1: DẪN NHẬP 2015

a) Chuyển tác động liên tục thành tác động theo chu kỳ (xung) b) Nếu đã có tác động theo chu kỳ, hãy thay đổi chu kỳ c) Sử dụng các khoảng thời gian giữa các xung để thực hiện tác động khác

Khi tác động liên tục gặp vấn đề khó khăn, người ta sẽ giải quyết chúng

bằng cách chuyển sang tác động theo chu kỳ (ngắt quãng, rời rạc)

20 Continuity of

useful action

Liên tục tác động có ích

 Thực hiện công việc một cách liên tục

 Chuyển chuyển động tịnh tiến qua lại thành chuyển động quay

Nguyên tắc này đòi hỏi các tác động có ích phải xảy ra liên tục (không có thời gian chết) và tính có ích của các tác động phải càng ngày, càng tăng

21 Skipping

Vượt nhanh

 Vượt qua các giai đoạn có hại hoặc nguy hiểm với vận tốc lớn

 Vượt nhanh để có được hiệu ứng cần thiết

Biến hại thành lợi

a) Sử dụng những tác nhân có hại (thí dụ tác động có hại của môi trường) để thu được hiệu ứng có lợi

b) Khắc phục tác nhân có hại bằng cách kết hợp nó với tác nhân có hại khác c) Tăng cường tác nhân có hại đến mức nó không còn có hại nữa.

24 “Intermediary” Sử dụng trung gian

Sử dụng đối tượng trung gian, chuyển tiếp

28 Mechanics Thay thế sơ đồ cơ học

a) Thay thế sơ đồ cơ học bằng điện, quang, nhiệt, âm hoặc mùi vị

Trang 19

29 Pneumatics and

hydraulics

Sử dụng kết cấu khí, lỏng

Thay cho các phần của đối tượng ở thể rắn, sử dụng các chất khí và lỏng:

nạp khí, nạp chất lỏng, đệm không khí, thủy tĩnh, thủy phản lực

Thay đổi màu sắc

a) Thay đổi màu sắc của đối tượng hay môi trường bên ngoài b) Thay đổi độ trong suốt của của đối tượng hay môi trường bên ngoài c) Để có thể quan sát được những đối tượng hoặc những quá trình, sử dụng các chất phụ gia màu, hùynh quang

d) Nếu các chất phụ gia đó đã được sử dụng, dùng các nguyên tử đánh dấu

Phân hủy hoặc tái sinh

a) Phần đối tượng đã hoàn thành nhiệm vụ hoặc trở nên không càn thiết phải

tự phân hủy (hoà tan, bay hơi ) hoặc phải biến dạng

b) Các phần mất mát của đối tượng phải được phục hồi trực tiếp trong quá trình làm việc.

35 Parameter

changes

Thay đổi thông số lý hóa

a) Thay đổi trạng thái đối tượng

b) Thay đổi nồng độ hay độ đậm đặc

c) Thay đổi độ dẻo

d) Thay đổi nhiệt độ, thể tích

36 Phase transitions

Sử dụng chuyển pha

Sử dụng các hiện tượng nảy sinh trong quá trình chuyển pha như : thay đổi

thể tích, toả hay hấp thu nhiệt lượng pha Sử dụng các hiện tượng nảy sinh

trong quá trình chuyển pha như : thay đổi thể tích, toả hay hấp thu nhiệt lượng

Trang 20

CHƯƠNG 1: DẪN NHẬP 2015

37 Thermal

expansion

Sử dụng sự nở nhiệt

a) Sử dụng sự nở (hay co) nhiệt của các vật liệu

b) Nếu đã dùng sự nở nhiệt, sử dụng vài vật liệu có các hệ số nở nhiệt khác

nhau

38 Strong oxidants

Sử dụng chất oxy hóa mạnh

a) Thay không khí thường bằng không khí giàu oxy

b) Thay không khí giàu oxy bằng chính oxy

c) Dùng các bức xạ ion hoá tác động lên không khí hoặc oxy

d) Thay oxy giàu ozon (hoặc oxy bị ion hoá) bằng chính ozon

atmosphere

Thay đổi độ trơ

a) Thay môi trường thông thường bằng môi trường trung hoà

b) Đưa thêm vào đối tượng các phần , các chất , phụ gia trung hoà

c) Thực hiện quá trình trong chân không

40 Composite

materials

Sử dụng vật liệu tổng hợp

Chuyển từ các vật liệu đồng nhất sang sử dụng những vật liệu hợp thành

(composite) Hay nói chung, sử dụng các loại vật liệu mới

1.7 Câu hỏi và bài tập:

1 Những lực lượng nào tham gia phát tiển sản phẩm?

2 Những thách thức của quá trình phát triển sản phẩm là gì?

3 Hãy lấy ví dụ về chi phí và thời gian phát triển sản phẩm mà bạn đã biết

4 Hãy lấy ví dụ về một loại sản phẩm mới mà bạn đã biết và cho biết sản phẩm đó thuộc loại sản phẩm mới nào?

5 Hãy mô tả và phân tích một ví dụ về một giải pháp sáng tạo mà bạn đã biết

Trang 21

CHƯƠNG 2 - TỔ CHỨC QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN SẢN PHẨM 2015 Chương 2: TỔ CHỨC QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN SẢN PHẨM

2.1 Tổ chức quá trình phát triển sản phẩm trong doanh nghiệp

Ví dụ sau đây của hãng AMF về phát triển một sản phẩm bóng Bowling (hình

2-1) Công ty AMF đã rất thành công khi tái chiếm lĩnh thị trường giải trí quan trọng

này bằng chiến lược phát triển sản phẩm mới thông qua quá trình tổ chức và phát triển

sản phẩm mới

Hình 2-1 Một sự trở lại thị trường của bóng bowling, một trong những sản phẩm của

công ty AMF Bowling

Tại thời điểm đó các tổng giám đốc của bộ phận khách hàng yêu cầu người

quản lý kỹ thuật thiết lập một quá trình phát triển sản phẩm và đề xuất tổ chức để phát

triển sản phẩm mà sẽ cho phép AMF cạnh tranh hiệu quả trong thập kỷ tới Một số câu

hỏi AMF phải đối mặt lúc bấy giờ là:

 Liệu có một qui trình phát triển sản phẩm tiêu chuẩn cho tất cả các công ty?

 Vai trò của các chuyên gia làm những gì từ các khu vực chức năng khác nhau

trong quá trình phát triển?

 Những sự kiện quan trọng nào có thể được sử dụng để phân chia quá trình phát

triển tổng thể thành các giai đoạn?

 Tổ chức phát triển nên được chia thành các nhóm tương ứng với các dự án

hoặc chức năng phát triển?

2.2 Quá trình phát triển sản phẩm chung

Một quá trình phát triển sản phẩm là một chuỗi các bước chuyển đổi một tập

hợp các yếu tố đầu vào thành một tập hợp các kết quả đầu ra Hầu hết mọi người đã

quen thuộc với các mẫu của các quá trình vật lý, chẳng hạn như những người sử dụng

để nướng bánh hoặc để lắp ráp ô tô đều có những quy trình thực hiện Một quá trình

phát triển sản phẩm là trình tự các bước hoặc các hoạt động mà doanh nghiệp sử dụng

để hình thành, thiết kế, và thương mại hóa sản phẩm Rất nhiều bước là các hoạt động

trí tuệ và tổ chức chứ không phải là vật chất Một số người xác định và tổ chức theo

một quy trình phát triển chính xác và chi tiết, trong khi những người khác có thể không

có khả năng để mô tả quá trình của họ Hơn nữa, mỗi tổ chức sử dụng một quá trình có

chút khác biệt so với các tổ chức khác Trong thực tế, các doanh nghiệp tương tự có

thể thực hiện theo các quy trình hoàn toàn khác nhau cho từng loại dự án phát triển

Trang 22

CHƯƠNG 2 - TỔ CHỨC QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN SẢN PHẨM 2015

Hình 2-2 Quá trình phát triển sản phẩm chung

2.3 Sáu giai đoạn của quá trình phát triển

Quá trình phát triển sản phẩm chung bao gồm sáu giai đoạn, như minh họa trong

hình 2-2 Quá trình bắt đầu với giai đoạn lập kế hoạch, đó là liên kết các hoạt động

nghiên cứu và công nghệ tiên tiến để phát triển sản phẩm Đầu ra của giai đoạn lập kế

hoạch là tuyên bố nhiệm vụ của dự án, nó là một hướng dẫn cho nhóm phát triển và là

đầu vào cần thiết để bắt đầu giai đoạn phát triển mẫu Kết thúc của quá trình phát triển

sản phẩm là sự ra mắt sản phẩm, lúc đó các sản phẩm trở nên có sẵn trên thị trường sản

xuất và tiêu thụ

2.3.1 Lập kế hoạch

Các hoạt động lập kế hoạch thường được gọi là "giai đoạn zero" vì nó đi trước sự

phê duyệt dự án và ra mắt của quá trình phát triển sản phẩm thực tế Giai đoạn này bắt

đầu với chiến lược công ty và bao gồm đánh giá về sự phát triển công nghệ và mục

tiêu thị trường Kết quả đầu ra của giai đoạn lập kế hoạch là tuyên bố nhiệm vụ dự án,

trong đó xác định thị trường mục tiêu cho các sản phẩm, mục tiêu kinh doanh, các giả

thuyết quan trọng cũng như những hạn chế, trở ngại khác

2.3.2 Phát triển mẫu (concept)

Trong giai đoạn phát triển mẫu, các nhu cầu của các thị trường mục tiêu được xác

định, mẫu sản phẩm thay thế được tạo ra và đánh giá, và một hoặc nhiều mẫu này

được chọn để tiếp tục phát triển và thử nghiệm Mỗi mẫu là một mô tả về hình thức,

chức năng, các tính năng của một sản phẩm và thường đi kèm với một tập hợp các

thông số kỹ thuật, phân tích các sản phẩm cạnh tranh, và dự toán kinh tế kỹ thuật của

dự án

2.3.3 Thiết kế hệ thống

Giai đoạn thiết kế cấp hệ thống bao gồm: Xác định kiến trúc sản phẩm và phân rã

sản phẩm thành các thành phần và gán chúng vào những hệ thống con Đề án lắp ráp

cuối cùng cho hệ thống sản xuất thường được xác định trong giai đoạn này là tốt Các

đầu ra của giai đoạn này thường bao gồm một bố trí hình học của sản phẩm, một đặc tả

chức năng của từng hệ thống con của sản phẩm, và một sơ đồ dòng chảy sơ bộ cho quá

trình lắp ráp cuối cùng Trong phần “Kiến trúc sản phẩm” sẽ thảo luận về một số hoạt

động quan trọng của thiết kế cấp hệ thống

2.3.4 Thiết kế chi tiết

Trang 23

CHƯƠNG 2 - TỔ CHỨC QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN SẢN PHẨM 2015

Giai đoạn thiết kế chi tiết bao gồm xác định đầy đủ các đặc điểm kỹ thuật, hình

học, vật liệu, và dung sai của tất cả các bộ phận trong các sản phẩm và xác định tất cả

các bộ phận tiêu chuẩn được mua từ các nhà cung cấp ngoài Một quá trình lập kế

hoạch thiết kế chế tạo là công cụ được thiết kế cho từng phần trong hệ thống sản xuất

hoặc các tập tin máy tính mô tả hình học của từng phần và dụng cụ sản xuất, thông số

kỹ thuật của các bộ phận mua về, cũng như các kế hoạch cho quá trình chế tạo và lắp

ráp sản phẩm Hai vấn đề quan trọng được đề cập trong các giai đoạn thiết kế chi tiết

là chi phí sản xuất và hiệu suất bền vững

2.3.5 Thử nghiệm và sàng lọc

Giai đoạn thử nghiệm và sàng lọc liên quan đến việc xây dựng và đánh giá của

nhiều phiên bản sản xuất trước của sản phẩm Mẫu sớm (alpha) thường được xây dựng

với mục đích sản xuất các bộ phận phụ tùng với các hình học và vật liệu có thuộc tính

tương tự như dự định cho phiên bản sản xuất của sản phẩm nhưng không nhất thiết

phải chế tạo với các quá trình thực tế được sử dụng trong sản xuất Mẫu Alpha được

kiểm tra để xác định xem liệu các sản phẩm sẽ làm việc như thiết kế và các sản phẩm

có đáp ứng các nhu cầu của khách hàng chủ chốt hay không

Sau đó mẫu (beta) thường được xây dựng với các bộ phận được cung cấp bởi các

quá trình sản xuất dự định nhưng có thể không được lắp ráp bằng cách sử dụng quá

trình lắp ráp cuối cùng dự định Mẫu thử được đánh giá rộng rãi trong nội bộ và cũng

thường được thử nghiệm bởi khách hàng trong môi trường sử dụng riêng của họ Mục

tiêu cho các mẫu beta thường là để trả lời câu hỏi về hiệu suất và độ tin cậy để xác

định những thay đổi kỹ thuật cần thiết cho các sản phẩm cuối cùng

2.3.6 Sản xuất thử - Tiền sản xuất (produckt ramp-up)

Trong giai đoạn sản xuất thử, các sản phẩm được thực hiện bằng cách sử dụng hệ

thống sản xuất dự định Mục đích của sản xuất thử là đào tạo lực lượng lao động và

giải quyết bất kỳ vấn đề gì còn tồn tại lại trong quá trình sản xuất Sản phẩm sản xuất

trong sản xuất thử đôi khi được cung cấp cho các khách hàng ưu đãi và được đánh giá

một cách cẩn thận để xác định bất kỳ sai sót còn lại Việc chuyển đổi từ sản xuất thử

đến sản xuất đại trà thường là dần dần Tại một số điểm trong quá trình chuyển đổi

này, sản phẩm được tung ra và sẵn sàng để phân phối rộng rãi

2.4 Những cách hiểu khác nhau về quá trình phát triển sản phẩm

Cách hiểu thứ nhất: Quá trình phát triển như việc tạo ra một mảng rộng các

mẫu sản phẩm ban đầu và sau đó là thu hẹp, lựa chọn thay thế và tăng đặc điểm kỹ

thuật của sản phẩm cho đến khi sản phẩm có thể là đáng tin cậy và được tạo ra bởi hệ

thống sản xuất liên tục Lưu ý rằng hầu hết các giai đoạn phát triển của sản phẩm được

xác định trong khuôn khổ luật pháp của nhà nước, mặc dù quá trình sản xuất và kế

hoạch tiếp thị sản phẩm với thị trường, giữa các kết quả đầu ra hữu hình khác cũng

như tiến bộ xã hội đang phát triển

Cách hiểu thứ hai: Quá trình phát triển như một hệ thống xử lý thông tin Quá

trình bắt đầu với đầu vào là các mục tiêu của công ty và khả năng công nghệ sẵn có,

nền tảng sản phẩm và hệ thống sản xuất Các hoạt động xử lý thông tin phát triển, xây

dựng kỹ thuật, mẫu và các thiết kế chi tiết Quá trình này kết thúc khi tất cả các thông

tin cần thiết để hỗ trợ sản xuất và bán hàng đã được tạo ra và truyền đạt

Cách hiểu thứ ba: Quá trình phát triển như một hệ thống quản lý rủi ro Trong

giai đoạn đầu hoặc trong quá trình phát triển sản phẩm, ưu tiên các nguy cơ rủi ro khác

nhau được xác định Như quá trình tiến triển, rủi ro được giảm đi khi những sự không

chắc chắn chính (nguy cơ cao) được loại bỏ và các chức năng của sản phẩm được xác

Trang 24

CHƯƠNG 2 - TỔ CHỨC QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN SẢN PHẨM 2015

nhận Khi quá trình hoàn tất, nhóm nghiên cứu cần phải có sự tự tin đáng kể rằng sản

phẩm sẽ hoạt động tốt và cũng được thị trường chấp nhận

Một “Quá trình phát triển” được xác định là hữu ích vì những lý do sau đây:

 Đảm bảo chất lượng: Một quá trình phát triển xác định các giai đoạn một dự án

phát triển sẽ đi qua và các trạm kiểm soát trên đường đi Khi các giai đoạn và các

điểm kiểm tra được lựa chọn một cách khôn ngoan, là một cách để đảm bảo chất

lượng sản phẩm tạo ra sau quá trình phát triển

 Phối hợp: Một kế hoạch tổng thể trong quá trình phát triển sản phẩm, xác định rõ

ràng vai trò của từng thành viên trong nhóm phát triển Kế hoạch này thông báo

cho các thành viên của nhóm; những đóng góp của họ sẽ là cần thiết với người mà

họ sẽ cần phải trao đổi thông tin và các tài liệu khác trong quá trình thực hiện

 Kế hoạch: Một quá trình phát triển tự nhiên chứa các mốc tương ứng để hoàn

thành từng giai đoạn Thời gian của các sự kiện quan trọng neo giữ tiến độ thực hiện

của dự án phát triển tổng thể

 Quản lý: Một quá trình phát triển là một chuẩn mực để đánh giá hiệu suất của một

nỗ lực phát triển không ngừng Bằng cách so sánh các mốc sự kiện thực tế với các

quá trình xác lập trong kế hoạch, một người quản lý có thể xác định các khu vực

có vấn đề có thể xảy ra

 Cải tiến: Các tài liệu hướng dẫn cẩn thận, chi tiết các quá trình phát triển của một

tổ chức phát triển sẽ giúp xác định các cơ hội để cải tiến

2.5 Những nhiệm vụ của các nhóm chức năng quá trình phát triển sản phẩm

Dưới đây là bảng xác định các hoạt động và trách nhiệm của các nhóm chức

năng chủ chốt trong mỗi giai đoạn phát triển Vai trò của các nhóm marketing, thiết

kế, và sản xuất được đề cao bởi sự tham gia liên tục của họ trong quá trình này, ngoài

ra đại diện của các nhóm chức năng khác; chẳng hạn như nghiên cứu chiến lược, tài

chính, lĩnh vực dịch vụ và bán hàng, cũng đóng vai trò rất quan trọng quá trình phát

• Xác định người sử dụng chính

• Xác định các sản phẩm cạnh tranh

• Xây dựng kế hoạch để lựa chọn sản phẩm và mở rộng dòng sản phẩm

• Thiết lập mục tiêu mức giá bán hàng (s)

• Xây dựng kế hoạch tiếp thị

• Xây dựng tài liệu và khởi động các khuyến mãi

• Tạo điều kiện thử nghiệm thực địa

• Đặt sản xuất sớm với khách hàng quan trọng

Trang 25

CHƯƠNG 2 - TỔ CHỨC QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN SẢN PHẨM 2015

• Khởi tạo các mẫu thiết kế công nghiệp

• Xây dựng và thử nghiệm nguyên mẫu

• Tạo ra kiến trúc sản phẩm thay thế

• Xác định các hệ thống con và các giao diện

• Tinh chỉnh thiết kế công nghiệp

• Xác định thành phần hình học

• Chọn vật liệu

• Chỉ định dung sai

• Kiểm soát thiết kế công nghiệp , hoàn tất tài liệu hướng dẫn

• Thử nghiệm

độ tin cậy

• Thử nghiệm vòng đời sản phẩm

• Kiểm tra năng suất

• Thu thập sự phê chuẩn

• Thực hiện các thay đổi thiết kế

• Thẩm định sản lượng sản xuất ban đầu

• Đánh giá tính khả thi sản xuất

• Xác định các nhà cung cấp cho các thành phần quan trọng

• Thực hiện phân tích thương mại

• Xác định chương trình lắp ráp cuối cùng

• Thiết lập chi phí mục tiêu

• Xác định quy trình sản xuất thành phần

• Thiết kế dụng cụ

• Xác định các quy trình đảm bảo chất lượng

• Bắt đầu mua sắm dụng cụ tiếp theo

• Tạo điều kiện cho nhà cung cấp sản xuất thử

• Tinh chỉnh các quy trình lắp ráp và chế tạo

• Đào tạo lực lượng lao động

• Tinh chỉnh các quy trình đảm bảo chất lượng

• Bắt đầu hoạt động của toàn

bộ hệ thống sản xuất

2.5.4 Nhóm chức năng khác (Other Functions)

• Pháp lý:

Điều tra các vấn đề bằng sáng chế

• Tài chính:

Tạo thuận lợi cho phân tích mua - bán

• Dịch vụ:

Xác định các vấn đề dịch vụ

• Kinh doanh:

Xây dựng kế hoạch bán hàng

Trang 26

CHƯƠNG 2 - TỔ CHỨC QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN SẢN PHẨM 2015

2.6 Quá trình phát triển mẫu sản phẩm

Giai đoạn phát triển mẫu đòi hỏi quá trình phát triển phối hợp chặt chẽ giữa các

nhóm chức năng, chúng thường lặp đi lặp lại do vậy ta gọi là quá trình này là quá trình

lặp hay còn gọi là quá trình đầu cuối Quá trình lặp thường chứa nhiều hoạt động liên

quan đến nhau, sau mỗi hoạt động có thể phải lặp lại từ đầu tiến trình đó thể hiện trong

hình 2-3 nếu kết quả đầu ra của hoạt động không đáp ứng nhu cầu của hoạt động sau

Hình 2- 3 Quá trình phát triển mẫu (concept) sản phẩm

Hiếm khi nào toàn bộ quá trình tiến hành trong thời trang hoàn toàn tuần tự,

hoàn thành mỗi hoạt động trước khi bắt đầu tiếp theo Trong thực tế, các hoạt động

đầu cuối có thể được chồng lên nhau trong thời gian và lặp đi lặp lại thường xuyên là

cần thiết Các mũi tên đứt trong hình 2-3 phản ánh tính chất không chắc chắn về sự

tiến bộ trong phát triển sản phẩm Tại hầu hết các giai đoạn, thông tin mới có thể trở

thành sẵn có hoặc kết quả đã thu được có thể làm các nhóm phải quay trở lại bước hoạt

động trước đó, trước khi tiến hành các hoạt động tiếp theo Lặp lại các hoạt động này

được gọi là sự lặp lại phát triển

2.6.1 Các bước của quá trình phát triển mẫu (concept)

2.6.1.1 Xác định nhu cầu khách hàng

Mục tiêu của hoạt động này là để tìm hiểu nhu cầu của khách hàng và để chỉ rõ

chúng cho nhóm phát triển Các đầu ra của bước này là một tập hợp các báo cáo khách

hàng cần được xây dựng cẩn thận, tổ chức trong một danh sách có thứ bậc, với trọng

số mức độ quan trọng cho nhiều hoặc tất cả các nhu cầu

2.6.1.2 Thiết lập thông số kỹ thuật mục tiêu

Thông số kỹ thuật mục tiêu cung cấp một mô tả chính xác về những gì một sản

phẩm phải làm được Chúng là bản dịch của các nhu cầu khách hàng thành thuật ngữ

kỹ thuật Mục tiêu cho các chi tiết kỹ thuật được thiết lập sớm trong tiến trình và đại

diện cho hy vọng của đội ngũ phát triển Sau đó các thông số kỹ thuật được cải tiến để

phù hợp các ràng buộc đối với sự lựa chọn của nhóm nghiên cứu của mẫu sản phẩm

Các đầu ra của giai đoạn này là một danh sách các thông số kỹ thuật mục tiêu Mỗi đặc

điểm kỹ thuật bao gồm một giá trị số liệu, và cận biên lý tưởng cho số liệu đó

2.6.1.3 Phát triển mẫu (concept)

Mục tiêu của phát triển mẫu là để khám phá triệt để không gian của các mẫu sản

phẩm có thể đáp ứng nhu cầu của khách hàng Phát triển mẫu bao gồm một hỗn hợp

của tìm kiếm bên ngoài, giải quyết các vấn đề bên trong nhóm, sáng tạo và khám phá

có hệ thống các giải pháp, các khía cạnh khác nhau mà nhóm phát triển đề ra Kết quả

Xác định

nhu cầu

khách hàng

Thiết lập thông số kỹ thuật mục tiêu

Khởi tạo mẫu sản phẩm

Lựa chọn

Thiết lập thông số kỹ thuật cuối cùng

Kế hoạch phát triển hạ lưu

Kế hoạch phát triển

Trang 27

CHƯƠNG 2 - TỔ CHỨC QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN SẢN PHẨM 2015

của hoạt động này thường là một tập hợp các mẫu (10-20 mẫu), mỗi mẫu điển hình đại

diện bởi một phác thảo và mô tả ngắn gọn bằng văn bản

2.6.1.4 Lựa chọn mẫu (concept)

Lựa chọn mẫu là hoạt động trong đó các mẫu sản phẩm khác nhau được phân tích

và liên tục loại trừ để xác định các mẫu hứa hẹn nhất Quá trình này thường đòi hỏi

một số lần lặp lại và có thể bắt đầu bổ sung tạo ý tưởng và mẫu tham khảo mới

2.6.1.5 Thử nghiệm mẫu

Một hoặc nhiều các mẫu sau đó được kiểm tra để xác minh rằng các nhu cầu của

khách hàng đã được đáp ứng, đánh giá tiềm năng thị trường của sản phẩm, và xác định

những thiếu sót cần khắc phục trong quá trình phát triển cao hơn nữa Nếu đáp ứng

nhu cầu khách hàng là kém, các dự án phát triển có thể phải chấm dứt hoặc một số

hoạt động trước đó có thể phải được lặp đi lặp lại khi cần thiết

2.6.1.6 Thiết lập thông số kỹ thuật cuối cùng

Các thông số kỹ thuật mục tiêu đặt ra trước đó trong quá trình được xem xét lại

sau khi một mẫu đã được chọn và thử nghiệm Tại thời điểm này, các nhóm phải cam

kết các giá trị cụ thể của các số liệu phản ánh những hạn chế vốn có trong các mẫu sản

phẩm, hạn chế được xác định thông qua các mô hình kỹ thuật, thỏa hiệp thương mại

giữa chi phí và hiệu suất

2.6.1.7 Lập dự án

Trong hoạt động cuối cùng của phát triển mẫu, nhóm phát triển tạo ra một lịch

trình chi tiết phát triển, sáng tạo ra một chiến lược để giảm thiểu thời gian phát triển,

và xác định các nguồn lực cần thiết để hoàn thành dự án Những kết quả chính của các

hoạt động đầu cuối có thể hữu ích trong một cuốn hợp đồng trong đó có các tuyên bố

nhiệm vụ, nhu cầu của khách hàng, các chi tiết của các mẫu được lựa chọn, các thông

số kỹ thuật sản phẩm, phân tích kinh tế của sản phẩm, kế hoạch phát triển, các cán bộ

dự án và ngân sách Tài liệu hợp đồng phục vụ cho các thỏa thuận giữa các nhóm và

giữa các bộ phận quản lý cấp cao của các doanh nghiệp

2.6.1.8 Phân tích kinh tế

Nhóm nghiên cứu, thường là với sự hỗ trợ của một chuyên gia phân tích tài chính,

xây dựng một mô hình kinh tế cho các sản phẩm mới Mô hình này được sử dụng để

biện minh cho sự tiếp nối của chương trình phát triển tổng thể và để giải quyết vấn đề

thỏa hiệp (trade-offs) cụ thể giữa: chi phí phát triển và chi phí sản xuất Phân tích kinh

tế được thể hiện là một trong những hoạt động đang diễn ra trong giai đoạn phát triển

mẫu Một phân tích kinh tế sớm sẽ hầu như luôn luôn được thực hiện trước khi dự án

bắt đầu, và thậm chí phân tích này được cập nhật khi có thêm thông tin

2.6.1.9 Sản phẩm cạnh tranh tiêu chuẩn

Một sự hiểu biết về các sản phẩm cạnh tranh là rất quan trọng, để định vị thành

công một sản phẩm mới và nó có thể cung cấp một nguồn giàu các ý tưởng cho việc

thiết kế sản phẩm cũng như quá trình sản xuất Chuẩn cạnh tranh của các sản phẩm hỗ

trợ rất nhiều các hoạt động trong quá trình thực hiện “đầu – cuối”

2.6.1.10 Mô hình hóa các mẫu thử

Mỗi giai đoạn của quá trình phát triển mẫu liên quan đến các hình thức khác nhau

của các mô hình và nguyên mẫu Đây có thể bao gồm các hoạt động “đầu - cuối” của

Trang 28

CHƯƠNG 2 - TỔ CHỨC QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN SẢN PHẨM 2015

nhiều người khác nhau Mô hình giúp các nhóm phát triển chứng minh tính khả thi mô

hình "Mẫu duy nhất", trong đó có thể hiển thị được cho khách hàng để đánh giá sự phù

hợp với nhân trắc học và phong cách xã hội; mô hình bảng tính (maxtric) các thỏa hiệp

kỹ thuật (trade – off); và các mô hình thử nghiệm thực nghiệm, có thể được sử dụng để

thiết lập các thông số thiết kế cho hiệu suất cao

2.7 Sự thích ứng (biến đổi) với quá trình phát triển sản phẩm chung

Quá trình phát triển sản phẩm được mô tả trong hình 2-2 và 2-3 là mô hình chung,

quy trình cụ thể sẽ khác nhau, phù hợp với bối cảnh riêng biệt của mỗi công ty Quá

trình chung nhất là quá trình Phát triển sản phẩm theo sức hút của nhu cầu thị

trường (Market-Pull)

Một công ty bắt đầu phát triển sản phẩm với một cơ hội thị trường và sau đó sử

dụng công nghệ có sẵn để đáp ứng được nhu cầu thị trường Ngoài quá trình phổ biến

này một số biến thể và tương đương như sau:

- Công nghệ thúc đẩy sản phẩm (Technology-Push Products)

- Sản phẩm nền tảng (Platform Products)

- Sản phẩm chuyên sâu (Process-Intensive Products)

- Sản phẩm tùy chỉnh (Customized Products)

- Các sản phẩm có nguy cơ rủi ro cao (High-Risk Products)

- Các sản phẩm xây dựng nhanh chóng (Quick-Build Products)

- Sản phẩm có hệ thống phức tạp (Complex Systems)

Mỗi tình huống phát triển sản phẩm này được mô tả dưới đây

Thị trường thúc

đẩy sản phẩm

(Market-Pull)

Nhóm nghiên cứu bắt đầu với một cơ hội thị trường và lựa chọn công nghệ phù hợp để đáp ứng nhu cầu khách hàng

Quá trình nói chung bao gồm lập kế hoạch riêng biệt, phát triển mẫu, thiết kế hệ thống cấp, thiết kế chi tiết, kiểm tra

và sàng lọc, và giai đoạn sản xuất thử sản xuất

Đồ thể thao,

đồ nội thất, các công cụ

Giai đoạn lập kế hoạch liên quan đến công nghệ phù hợp

và thị trường Phát triển mẫu giả định một công nghệ nhất định

áo mưa Tex, phong bì Tyvek

Phát triển mẫu giả định một nền tảng công nghệ đã được chứng minh

Điện tử tiêu dùng, máy tính, máy in

Hoặc là một quá trình sản xuất hiện có phải được xác định ngay từ đầu, hoặc cả hai sản phẩm và quy trình phải được phát triển cùng nhau từ đầu

Các loại thực phẩm ăn nhẹ, ngũ cốc ăn sáng, hóa chất, chất bán dẫn

Giống nhau của các dự án cho phép một quá trình phát triển sắp xếp hợp lý và cấu trúc chặt chẽ

Động cơ, thiết

bị chuyển mạch, pin, hộp đựng

Trang 29

CHƯƠNG 2 - TỔ CHỨC QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN SẢN PHẨM 2015

ra những rủi ro thất bại cao

Rủi ro được xác định sớm và theo dõi trong suốt quá trình

Hoạt động phân tích và thử nghiệm diễn ra càng sớm càng tốt

Dược phẩm,

hệ thống không gian

Thiết kế chi tiết và thử nghiệm giai đoạn được lặp đi lặp lại nhiều lần cho đến khi sản phẩm được hoàn thành hoặc thời gian / ngân sách chạy ra ngoài

Phần mềm, điện thoại di động

Hệ thống con và các thành phần được phát triển bởi nhiều nhóm làm việc song song, tiếp theo là tích hợp hệ thống và xác nhận

Máy bay, động

cơ máy bay phản lực, xe ô

2.7.1 Công nghệ thúc đẩy phát triển sản phẩm

Trong việc phát triển sản phẩm theo quá trình “Technology-push”, các công ty bắt

đầu với một công nghệ độc quyền mới và tìm kiếm một thị trường thích hợp để áp

dụng công nghệ này; có nghĩa là công nghệ "đẩy" phát triển sản phẩm Nhiều sản

phẩm được phát triển theo “Technology-push” đã thành công liên quan đến vật liệu cơ

bản hoặc các quy trình công nghệ cơ bản Đây có thể là vì những vật liệu cơ bản và

quy trình được triển khai trong hàng ngàn ứng dụng, và do đó có một khả năng cao là

đặc điểm mới và khác thường của vật liệu và quy trình có thể được kết hợp với một

ứng dụng thích hợp

Quá trình phát triển sản phẩm chung có thể được sử dụng với những thay đổi nhỏ

cho sản phẩm phát triển theo“Technology-push” Các quá trình “Technology-push”

bắt đầu với giai đoạn lập kế hoạch, trong đó công nghệ đã cho là phù hợp với một cơ

hội thị trường Khi kết hợp này đã xảy ra, phần còn lại của quá trình phát triển chung

có thể được theo sau Nhóm nghiên cứu bao gồm một giả thiết trong tuyên bố nhiệm

vụ mà các công nghệ cụ thể sẽ được thể hiện trong các mẫu sản phẩm được coi là do

nhóm tạo ra Mặc dù nhiều sản phẩm cực kỳ thành công đã phát sinh từ sự phát triển

công nghệ-thúc đẩy “Technology-push”, cách tiếp cận này có thể là nguy hiểm Sản

phẩm này là khó có thể thành công trừ khi các công nghệ giả định cung cấp một lợi thế

cạnh tranh rõ ràng trong việc đáp ứng nhu cầu của khách hàng, và các công nghệ thay

thế phù hợp chưa có hoặc rất khó khăn cho đối thủ cạnh tranh để sử dụng Rủi ro dự án

có thể được giảm thiểu bằng cách đồng thời xem xét các đóng góp của một tập hợp

rộng lớn hơn của các mẫu trong đó không nhất thiết phải kết hợp các công nghệ mới

Bằng cách này, nhóm xác nhận rằng các mẫu sản phẩm sử dụng công nghệ mới vượt

trội hơn được thay thế

2.7.2 Sản phẩm nền tảng:

Một sản phẩm nền tảng được xây dựng xung quanh một hệ thống con công

nghệ hiện có sẵn (một nền tảng công nghệ) Ví dụ về các nền tảng như vậy bao gồm

các cơ chế vận chuyển băng trong máy nghe nhạc Sony Walkman, hệ thống điều hành

Apple Macintosh, và phim lấy ảnh ngay lập tức sử dụng trong máy ảnh Polaroid Đầu

tư lớn đã được thực hiện trong việc phát triển những nền tảng này, và do đó mọi nỗ lực

được thực hiện để kết hợp chúng thành các sản phẩm khác nhau Trong một nghĩa nào

đó, các sản phẩm nền tảng là rất tương tự như sản phẩm công nghệ thúc đẩy; trong đó

Trang 30

CHƯƠNG 2 - TỔ CHỨC QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN SẢN PHẨM 2015

nhóm bắt đầu các nỗ lực phát triển với một giả định rằng các mẫu sản phẩm sẽ thể hiện

một công nghệ cụ thể Sự khác biệt chính là một nền tảng công nghệ đã chứng minh

tính hữu dụng của nó trên thị trường trong việc đáp ứng nhu cầu của khách hàng

Các công ty có thể giả định rằng trong nhiều trường hợp công nghệ này cũng sẽ có

ích trong các thị trường liên quan Sản phẩm được xây dựng trên nền tảng công nghệ

là đơn giản hơn nhiều khi phát triển công nghệ này từ đầu Vì lý do này, và vì những

chia sẻ chi phí trên những số sản phẩm có thể có, một công ty có thể cung cấp một sản

phẩm nền tảng tại các thị trường mà không thể biện minh cho sự phát triển của một

công nghệ độc đáo

2.7.3 Sản phẩm của quá trình chuyên sâu

Ví dụ về các sản phẩm của quá trình chuyên sâu bao gồm các chất bán dẫn, các

loại thực phẩm, hóa chất và giấy Đối với các sản phẩm, quá trình sản xuất đặt các

ràng buộc chặt chẽ về các thuộc tính của sản phẩm, do đó việc thiết kế sản phẩm

không thể tách rời, thậm chí ở giai đoạn ý tưởng, của quá trình thiết kế sản xuất Trong

nhiều trường hợp, các sản phẩm quá trình chuyên sâu được sản xuất với số lượng rất

lớn, lưu lượng cao, trái ngược với sản phẩm hàng hóa rời rạc

Trong một số tình huống, một sản phẩm mới và quá trình mới được triển khai

đồng thời Ví dụ, tạo ra một hình dạng mới của bữa ăn sáng hoặc bữa ăn nhẹ sẽ yêu

cầu cả hai hoạt động phát triển sản phẩm mới và quy trình mới Trong các trường hợp

khác, một quá trình cụ thể cho việc thực hiện các sản phẩm được lựa chọn trước, và

thiết kế sản phẩm bị hạn chế bởi khả năng của quá trình này Điều này có thể đúng với

sản phẩm bài báo mới sẽ được thực hiện trong một xưởng in giấy nói riêng hoặc là một

thiết bị bán dẫn mới được thực hiện tại một cơ sở chế tạo xốp hiện có

2.7.4 Sản phẩm tùy chỉnh (đặc chế)

Ví dụ về các sản phẩm tùy chỉnh bao gồm công tắc, động cơ, ắc quy, và container

Sản phẩm tùy chỉnh là các biến thể nhẹ cấu hình tiêu chuẩn và thường được phát triển

để đáp ứng với một yêu cầu cụ thể của khách hàng Phát triển các sản phẩm tùy chỉnh

bao gồm chủ yếu là thiết lập giá trị của các biến thiết kế như kích thước vật lý và vật

liệu Khi một khách hàng yêu cầu một sản phẩm mới, các công ty thực hiện một thiết

kế và phát triển quá trình cấu trúc để tạo ra các sản phẩm để đáp ứng nhu cầu của

khách hàng Các doanh nghiệp này thường đã tạo ra một quá trình phát triển có nhiều

chi tiết liên quan đến một chuỗi được xác định rõ các bước với một cấu trúc dòng chảy

của thông tin (tương tự như một quá trình sản xuất) Đối với các sản phẩm tùy chỉnh,

các quy trình chung được tăng lên với một mô tả chi tiết về các hoạt động xử lý thông

tin cụ thể cần thiết trong mỗi giai đoạn Quá trình phát triển này có thể bao gồm hàng

trăm các hoạt động được xác định một cách cẩn thận

2.7.5 Sản phẩm có rủi ro cao

Quá trình phát triển sản phẩm giải quyết được nhiều loại rủi ro Chúng bao gồm

các rủi ro kỹ thuật (Liệu chức năng sản phẩm đúng?), Rủi ro thị trường (Liệu các

khách hàng thích những gì mà nhóm phát triển?), rủi ro ngân sách và tiến độ (nhóm

có thể hoàn thành dự án đúng thời hạn và trong ngân sách?) Sản phẩm có nguy cơ cao

là những đòi hỏi bất thường không chắc chắn lớn có liên quan đến công nghệ hoặc thị

trường do đó có rủi ro kỹ thuật hay thị trường đáng kể Quá trình phát triển sản phẩm

chung được sửa đổi để đối mặt với các tình huống có nguy cơ cao bởi những bước đi

để giải quyết những rủi ro lớn nhất trong giai đoạn đầu của sự phát triển sản phẩm

Điều này thường đòi hỏi phải hoàn thành một số hoạt động thiết kế và thử nghiệm

trước đó trong quá trình này Ví dụ, khi có sự chắc chắn tuyệt vời về sự chấp nhận của

Trang 31

CHƯƠNG 2 - TỔ CHỨC QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN SẢN PHẨM 2015

khách hàng về một sản phẩm mới, ý tưởng thử nghiệm sử dụng ảo ảnh (render) hay

nguyên mẫu giao diện người dùng có thể được thực hiện rất sớm trong tiến trình để

giảm sự không chắc chắn thị trường và rủi ro Nếu có sự không chắc chắn cao liên

quan đến hiệu suất kỹ thuật của sản phẩm, xây dựng mô hình hoạt động của các tính

năng chính có ý nghĩa để kiểm tra những quá trình làm trước đó Nhiều con đường

giải pháp có thể được khám phá song song để đảm bảo rằng một trong những giải pháp

thành công Đánh giá thiết kế phải đánh giá mức độ rủi ro một cách thường xuyên, với

mong muốn là các rủi ro được giảm theo thời gian và không bị trì hoãn

2.7.6 Sản phẩm xây dựng nhanh chóng

Đối với sự phát triển của một số sản phẩm, chẳng hạn như phần mềm và nhiều sản

phẩm thiết bị điện tử, xây dựng mô hình và thử nghiệm nguyên mẫu đã trở thành một

quá trình nhanh chóng như vậy mà các chu trình thiết kế-xây dựng-kiểm tra có thể

được lặp đi lặp lại nhiều lần Trong thực tế, các đội có thể tận dụng lợi thế của sự lặp

lại để nhanh chóng đạt được một quá trình phát triển sản phẩm linh hoạt hơn và đáp

ứng, đôi khi được gọi là một quá trình phát triển sản phẩm xoắn ốc trong quá trình này

sau phát triển mẫu, các giai đoạn thiết kế cấp hệ thống đòi hỏi sự phân rã sản phẩm

theo các mức ưu tiên cao, trung bình và thấp Tiếp theo là một số chu kỳ của thiết kế,

xây dựng, tích hợp và các hoạt động thử nghiệm, bắt đầu với các hạng mục ưu tiên cao

nhất Quá trình này mất lợi thế của chu trình tạo mẫu nhanh chóng bằng cách sử dụng

các kết quả của mỗi chu kỳ để tìm hiểu làm thế nào để thay đổi các ưu tiên cho các chu

kỳ tiếp theo Khách hàng còn có thể tham gia vào quá trình kiểm tra sau khi một hoặc

nhiều chu kỳ Khi thời gian hoặc ngân sách chạy ra ngoài, thường là tất cả các tính

năng cao và trung ưu tiên đã được đưa vào các sản phẩm phát triển, và các tính năng

ưu tiên thấp có thể được bỏ qua cho đến khi thế hệ sản phẩm tiếp theo

2.7.7 Sản phẩm có cấu trúc hệ thống phức tạp

Sản phẩm quy mô lớn hơn như ô tô, máy bay là hệ thống phức tạp gồm nhiều hệ

thống con và các thành phần tương tác Khi phát triển các hệ thống phức tạp, chỉnh sửa

đối với quá trình phát triển sản phẩm chung giải quyết một số vấn đề cấp hệ thống

Các giai đoạn phát triển mẫu xem xét kiến trúc của toàn bộ hệ thống, và nhiều kiến

trúc có thể được coi là cạnh tranh các mẫu cho hệ thống tổng thể Giai đoạn thiết kế

cấp độ hệ thống trở nên quan trọng Trong giai đoạn này, hệ thống được phân rã thành

các hệ thống con và thêm vào nhiều thành phần Các đội được giao để phát triển mỗi

thành phần Các đội khác được phân công những thách thức đặc biệt của các thành

phần tích hợp vào các hệ thống con thành các hệ thống tổng thể Thiết kế chi tiết thông

thường là các thành phần riêng biệt, là một quá trình có tính song song, trong đó các

nhóm phát triển nhiều việc cùng một lúc Quản lý mạng lưới các tương tác trên các

thành phần và hệ thống con là nhiệm vụ của các chuyên gia kỹ thuật hệ thống Giai

đoạn thử nghiệm và sàng lọc bao gồm không chỉ tích hợp hệ thống, mà còn thử

nghiệm và xác nhận rộng rãi tại tất cả các cấp

2.8 Dòng chảy quá trình phát triển sản phẩm

Quá trình phát triển sản phẩm thông thường có một cấu trúc hoạt động có dòng

chảy và thông tin dòng chảy Điều này cho phép vẽ sơ đồ dòng chảy minh họa quá

trình này, như thể hiện trong hình 2-5 Sơ đồ dòng chảy quá trình chung mô tả quá

trình sử dụng để phát triển sản phẩm dạng kéo thị trường, công nghệ thúc đẩy sản

phẩm, sản phẩm nền tảng, sản phẩm quá trình chuyên sâu và sản phẩm tùy chỉnh, các

sản phẩm có rủi ro cao Mỗi giai đoạn phát triển sản phẩm (hay màn) Tiếp theo là một

tổng (hoặc cổng) để xác nhận rằng giai đoạn hoàn thành và để xác định xem số tiền thu

Trang 32

CHƯƠNG 2 - TỔ CHỨC QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN SẢN PHẨM 2015

được của dự án

Sản phẩm xây dựng nhanh chóng cho phép một quá trình phát triển sản phẩm xoắn

ốc theo đó thiết kế chi tiết, tạo mẫu, và các hoạt động thử nghiệm được lặp đi lặp lại

một số lần Sơ đồ dòng chảy quá trình phát triển của các hệ thống phức tạp cho thấy sự

phân hủy thành các giai đoạn của công việc song song trên nhiều hệ thống con và các

thành phần Một khi quá trình phát triển sản phẩm đã được thiết lập trong một tổ chức,

một sơ đồ dòng chảy quá trình được sử dụng để giải thích quá trình để mọi người trong

nhóm

(a) Quá trình phát triển sản phẩm chung

(b) Quá trình phát triển sản phẩm xoắn ốc

(c) Quá trình phát triển hệ thống phức tạp Hình 2-5 Sơ đồ quy trình dòng chảy cho ba quá trình phát triển sản phẩm

2.9 Ví dụ quá trình phát triển của AMF

AMF Bowling là một doanh nghiệp phát triển sản phẩm theo kiểu “market-pul”

AMF thường lái quá trình phát triển của nó với nhu cầu thị trường và tìm ra bất kỳ

công nghệ cần thiết để đáp ứng nhu cầu đó Lợi thế cạnh tranh của nó phát sinh từ các

kênh tiếp thị mạnh, thương hiệu mạnh, và một lắp đặt nhiều thiết bị cơ bản, không phải

công nghệ độc quyền duy nhất

Vì lý do này, các phương pháp tiếp cận công nghệ thúc đẩy phát triển sản phẩm

“technology-push”sẽ không thích hợp Sản phẩm của AMF được lắp ráp từ các linh

kiện chế tạo với quy trình tương đối thông thường như đúc và gia công cơ khí Vì vậy

các sản phẩm AMF rõ ràng là không phải là sản phẩm của quá trình chuyên sâu Thiết

bị chơi bowling hiếm khi tùy chỉnh cho một khách hàng cụ thể, sự phát triển sản phẩm

mới nhất của AMF là nhằm mục đích tạo mô hình mới cho sản phẩm, chứ không phải

ở các tuỳ biến của mô hình hiện có Vì lý do này, các phương pháp tùy biến cũng là

Kế hoạch Phát triển mẫu hệ thống Thiết kế Thiết kế chi tiết sàng lọc Test và Sản xuất thử

Phê duyệt

nhiệm vụ

Đánh giá mẫu

Đánh giá hệ thống kỹ thuật

Đánh giá tầm quan trọng thiết kế

Phê chuẩn sản xuất

Kế hoạch Phát triển mẫu hệ thống Thiết kế xây dựng Test

Nhiều chu kỳ lặp lại

Phê duyệt

nhiệm vụ

Đánh giá mẫu

Kế hoạch đánh giá chu kỳ Đánh giá chu kỳ

Xác nhận &

sản xuất thử

Kế hoạch Phát triển mẫu hệ thống Thiết kế

Tích hợp và thử nghiệm

Phê duyệt

nhiệm vụ

Đánh giá mẫu Đánh giá hệ thống Phê chuẩn

sản xuất

Thiết kế Test

Thiết kế Test

Thiết kế Test Thiết kế Test

Trang 33

CHƯƠNG 2 - TỔ CHỨC QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN SẢN PHẨM 2015

không phù hợp

AMF đã chọn để thiết lập một quá trình phát triển tương tự như quy trình chung

Quá trình quản lý kỹ thuật do AMF đề xuất được minh họa trong hình 2-6 Các đại

diện của quá trình phát triển được sử dụng bởi AMF là một lai của những người sử

dụng trong triển lãm 2-2 và 2-5, trong đó nó cho thấy các hoạt động cá nhân trong quá

trình phát triển cũng như vai trò của các chức năng phát triển khác nhau trong các hoạt

động Lưu ý rằng AMF xác định các chức năng quan trọng trong việc phát triển sản

phẩm như tiếp thị, thiết kế kỹ thuật, sản xuất, đảm bảo chất lượng, mua hàng và dịch

vụ khách hàng Cũng lưu ý rằng có ba cột mốc quan trọng trong quá trình này: phê

duyệt dự án, đầu của các dụng cụ chế tạo, sản xuất và phát hành Mỗi một sự kiện

quan trọng sau rà soát tổng thể

Mặc dù AMF thiết lập quy trình tiêu chuẩn, các nhà quản lý của nó nhận ra rằng

quá trình này sẽ không nhất thiết phải phù hợp trong toàn bộ cho tất cả các sản phẩm

AMF Chẳng hạn một vài trong số sản phẩm mới AMF là dựa trên nền tảng công nghệ

Khi sản phẩm nền tảng được phát triển, nhóm sử dụng một nền tảng công nghệ hiện có

trong phát triển mẫu Tuy nhiên, quá trình phát triển tiêu chuẩn là đường cơ sở mà từ

đó một kế hoạch dự án cụ thể bắt đầu

2.10 Tổ chức phát triển sản phẩm

Ngoài việc tạo một quá trình phát triển có hiệu quả, các doanh nghiệp thành

công phải tổ chức đội ngũ nhân viên phát triển sản phẩm của mình một cách hiệu quả

Trong phần này, chúng tôi mô tả một số dạng của các tổ chức sử dụng để hướng dẫn

phát triển sản phẩm và cung cấp cho các lựa chọn trong số các tùy chọn này

2.10.1 Tổ chức được hình thành bằng cách thiết lập các liên kết giữa các cá nhân

Một tổ chức phát triển sản phẩm là sơ đồ thể hiện thiết kế cá nhân và các nhà

phát triển được liên kết với nhau thành nhóm Các liên kết giữa các cá nhân có thể

được chính thức hoặc không chính thức, bao gồm những người khác có ba loại:

 Mối quan hệ báo cáo

Mối quan hệ báo cáo cung cấp dẫn đến khái niệm cổ điển của người giám sát và

cấp dưới Đây là những liên kết chính thức thường xuyên nhất hiển thị trên một sơ đồ

tổ chức

 Thu xếp tài chính:

Các cá nhân được liên kết bởi một phần của các tổ chức tài chính tương tự,

chẳng hạn như xác định bởi một loại ngân sách cụ thể hoặc "lợi nhuận và tổn thất"

tuyên bố

 Bố trí mặt bằng làm việc (không gian làm việc):

Liên kết được tạo ra giữa các cá nhân khi họ chia sẻ cùng một văn phòng, tầng,

tòa nhà, hoặc trang web Những liên kết này thường không chính thức, phát sinh từ

cuộc gặp gỡ tự phát tại nơi làm việc Bất kỳ cá nhân nào đó có thể được liên kết trong

nhiều cách khác nhau với các cá nhân khác Ví dụ, một kỹ sư có thể được kết nối bởi

một mối quan hệ báo cáo kỹ sư khác trong một tòa nhà khác nhau, trong khi được liên

kết bằng sắp xếp mặt bằng cho một người marketing ngồi trong văn phòng bên cạnh

Các liên kết tổ chức mạnh thường những người liên quan đánh giá hiệu suất, ngân sách

và phân bổ các nguồn lực khác

2.10.2 Liên kết tổ chức phát triển sản phẩm theo chức năng, dự án, hoặc cả hai

Liên kết tổ chức có thể được phân loại theo hai cách khác nhau: Theo chức

năng và theo các dự án làm việc

Trang 34

CHƯƠNG 2 - TỔ CHỨC QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN SẢN PHẨM 2015

Theo chức năng (về tổ chức): là một khu vực trách nhiệm thường liên quan

đến chuyên ngành đào tạo, tập huấn, hay kinh nghiệm về các chức năng truyền thống

trong các tổ chức phát triển sản phẩm về mặt marketing, thiết kế, và sản xuất Chia

mịn hơn có thể bao gồm: nghiên cứu thị trường, chiến lược thị trường, phân tích hiệu

quả, thiết kế công nghiệp, yếu tố con người, quá trình phát triển và quản lý hoạt động

Theo dự án: Không phân biệt chức năng của mình, các cá nhân áp dụng chức

năng của họ cho các dự án cụ thể Trong phát triển sản phẩm, một dự án là tập hợp các

hoạt động trong quá trình phát triển cho một sản phẩm cụ thể và bao gồm, ví dụ, xác

định nhu cầu của khách hàng và tạo ra các mẫu sản phẩm

Lưu ý rằng hai phân loại này phải chồng lên nhau: cá nhân từ các chức năng

khác nhau sẽ làm việc trên cùng một dự án Ngoài ra, trong khi hầu hết các cá nhân có

liên quan chỉ có một chức năng, họ có thể đóng góp cho nhiều dự án Hai cơ cấu tổ

chức kinh điển xuất hiện từ việc sắp xếp các liên kết tổ chức theo chức năng hoặc theo

dự án Trong các tổ chức chức năng, các tổ chức liên kết chủ yếu trong số những người

thực hiện các chức năng tương tự Trong các tổ chức dự án, các tổ chức liên kết chủ

yếu trong số những người làm việc trên cùng một dự án

Ví dụ, một tổ chức chức năng chặt chẽ có thể bao gồm một nhóm các chuyên

gia tiếp thị, tất cả đào tạo chung chuyên môn Những người này sẽ báo cáo tất cả với

cùng một người quản lý, những người sẽ đánh giá chúng và thiết lập mức lương của

họ Tập đoàn sẽ có ngân sách riêng của mình và mọi người sẽ ngồi trong cùng một

phần của một tòa nhà Nhóm tiếp thị này sẽ được tham gia vào nhiều dự án khác nhau,

nhưng có thể sẽ có liên kết tổ chức không mạnh với các thành viên khác của từng

nhóm dự án Sẽ có nhóm sắp xếp tương tự tương ứng để thiết kế và sản xuất

Một dự án tổ chức chặt chẽ sẽ được tạo thành từ các nhóm người từ các chuyên

môn khác nhau, với mỗi nhóm tập trung vào sự phát triển của một sản phẩm cụ thể

(hoặc dòng sản phẩm) Các nhóm này mỗi người sẽ báo cáo với một người quản lý dự

án có kinh nghiệm, những người có thể được rút ra từ bất kỳ các khu chức năng Đánh

giá hiệu suất sẽ được xử lý bởi các nhà quản lý dự án, và các thành viên của nhóm

thường sẽ được “cột vào” càng nhiều vị trí càng tốt, để họ có tất cả các công việc trong

cùng một văn phòng hay một phần của một tòa nhà Các doanh nghiệp mới, hoặc "bắt

đầu - khởi động" là một trong những ví dụ điển hình nhất của các tổ chức dự án, mỗi

cá nhân bất kể chức năng nào được liên kết với nhau bởi một dự án duy nhất của các

công ty mới và tạo ra sự tăng trưởng các sản phẩm của nó

Các ma trận tổ chức đã được hình thành như là lai giữa chức năng và các dự án

Trong các ma trận tổ chức, các cá nhân có liên quan đến những người khác theo cả hai

dự án mà họ làm việc và chức năng của chúng Thông thường mỗi cá nhân đều có hai

giám sát viên, một người quản lý dự án và một người quản lý chức năng

Thực tế là một trong hai cách tổ chức “dự án” hoặc “chức năng” có xu hướng

liên kết thiết thực mạnh mẽ hơn Điều này là bởi vì các nhà quản lý ở cả hai chức năng

và dự án không thể có thẩm quyền ngân sách độc lập, họ có thể không độc lập đánh

giá và xác định tiền lương của cấp dưới, và cả chức năng và các dự án có thể không dễ

dàng được nhóm lại với nhau về thực chất Kết quả là, một trong hai “chức năng’ hoặc

‘dự án” có xu hướng chiếm ưu thế

Hai phiên bản của ma trận tổ chức được gọi là các tổ chức dự án trọng điểm và

tổ chức dự án gọn nhẹ (1988 Hayes et AI.)

Trang 35

CHƯƠNG 2 - TỔ CHỨC QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN SẢN PHẨM 2015

Tổng

Giám đốc Marketing Thiết kế Kỹ sư / sản xuất

Đảm Bảo Chất Lượng

Mua / bán

Dịch vụ khách hàng

Bắt đầu chế tạo dụng cụ

Hướng dẫn dịch vụ Test Alpha Hướng dẫn sản xuất lĩnh vực sp Tập huấn

Bắt đầu bán hàng

Kế hoạch chất lượng Sản xuất thử nghiệm Lắp đặt thử nghiệm phiên bản Beta

Xem lại sự sẵn sàng sản xuất

Phát hành sản phẩm

Hình 2-6: Quá trình phát triển sản phẩm của AMF Bowling (standart)

Trang 36

CHƯƠNG 2 - TỔ CHỨC QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN SẢN PHẨM 2015

Một tổ chức dự án trọng điểm chứa các liên kết dự án vững chắc Người quản

lý dự án trọng điểm có thẩm quyền ngân sách hoàn chỉnh, là tham gia sâu vào đánh giá

hiệu suất của các thành viên trong nhóm, và làm cho hầu hết các quyết định phân bổ

nguồn lực lớn Mặc dù mỗi người tham gia vào một dự án cũng thuộc về một cơ quan

chức năng, các nhà quản lý chức năng có tương đối ít quyền lực và kiểm soát Một

nhóm nghiên cứu dự án trọng điểm trong các ngành công nghiệp khác nhau có thể

được gọi là một nhóm sản phẩm tích hợp (IPT - integrated product team), một đội ngũ

thiết kế xây dựng (DBT- design build team), hoặc chỉ đơn giản là một nhóm phát triển

sản phẩm (PDT- product development team) Từng điều khoản nhấn mạnh tính chất

chức năng chéo của các đội

Một tổ chức dự án gọn nhẹ chứa các liên kết dự án yếu và các liên kết tương

đối mạnh hơn chức năng Trong kế hoạch này, người quản lý dự án là chi tiết của một

điều phối viên và quản trị viên Người quản lý dự án cập nhật lịch trình gọn nhẹ, sắp

xếp các cuộc họp, và tạo điều kiện phối hợp, nhưng người quản lý không có thẩm

quyền thực sự và kiểm soát trong các tổ chức dự án Các nhà quản lý chức năng có

trách nhiệm đối với ngân sách, thuê và sa thải, và đánh giá hiệu suất Hình 2-7 minh

họa các chức năng và các dự án thuần túy, cùng với các biến thể trọng điểm và gọn

nhẹ của ma trận tổ chức

2.10.3 Lựa chọn một cơ cấu tổ chức

Sự lựa chọn thích hợp nhất trong cơ cấu tổ chức phụ thuộc vào các yếu tố hoạt

động tổ chức là quan trọng nhất để thành công Cơ quan chức năng có xu hướng nuôi

chuyên môn và chuyên môn sâu trong các khu chức năng Tổ chức dự án có xu hướng

để cho phép phối hợp nhanh chóng và hiệu quả giữa các chức năng đa dạng Tổ chức

ma trận là hỗn hợp, có khả năng để trưng bày một số của từng đặc điểm Các câu hỏi

sau đây giúp hướng dẫn lựa chọn cơ cấu tổ chức:

 Cách quan trọng là tích hợp đa chức năng?

Cơ quan chức năng có thể biểu hiện khó khăn trong việc điều phối các quyết

định dự án trong đó bắc qua khu chức năng Tổ chức dự án có xu hướng cho phép tích

hợp chéo chức năng mạnh mẽ vì các liên kết tổ chức của các thành viên trong nhóm

qua các chức năng

 Tinh giảm chức năng chuyên môn như thế nào để kinh doanh thành

công?

Các chuyên gia của ngành phải được xây dựng và duy trì qua nhiều thế hệ sản

phẩm, sau đó một số chức năng liên kết là rất cần thiết Ví dụ, trong một số các công

ty hàng không vũ trụ, động lực học là rất quan trọng do vậy động lực học được tổ chức

theo chức năng để đảm bảo công ty sẽ có khả năng tốt nhất có thể trong lĩnh vực này

 Mỗi chức năng cá nhân có thể được sử dụng hoàn toàn cho một dự

án?

Chẳng hạn, một dự án có thể chỉ cần một phần thời gian của một nhà thiết kế

công nghiệp của một phần nhỏ của thời gian của một dự án Để sử dụng các nguồn lực

thiết kế công nghiệp có hiệu quả, các doanh nghiệp có thể lựa chọn để tổ chức các nhà

thiết kế công nghiệp theo chức năng, do đó, một số dự án có thể thu hút các nguồn lực

thiết kế công nghiệp chính xác số tiền cần thiết cho một dự án cụ thể

 Tốc độ phát triển sản phẩm như thế nào?

Trang 37

CHƯƠNG 2 - TỔ CHỨC QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN SẢN PHẨM 2015

Tổ chức dự án có xu hướng để cho phép cho các cuộc xung đột được giải quyết

một cách nhanh chóng và cho các cá nhân từ các chức năng khác nhau để phối hợp các

hoạt động của họ một cách hiệu quả Tương đối ít thời gian cho việc chuyển giao

thông tin, phân công chức trách, nhiệm vụ và điều phối Vì lý do này, các tổ chức dự

án thường nhanh hơn so với cơ quan chức năng trong việc phát triển các sản phẩm

sáng tạo Chẳng hạn, các nhà sản xuất máy tính xách tay gần như luôn luôn tổ chức

các đội phát triển sản phẩm của họ bởi dự án Điều này cho phép các đội để phát triển

sản phẩm mới trong thời gian cực ngắn theo yêu cầu của thị trường máy tính có tốc độ

nhanh

Hình 2.7 Ba kiểu tổ chức phát triển sản phẩm

Hàng chục vấn đề khác làm bối rối các sự lựa chọn giữa các tổ chức và chức

năng của dự án Triển lãm 2-8 tóm tắt một số điểm mạnh và điểm yếu của từng loại tổ

chức, ví dụ về các loại của các công ty theo đuổi mỗi chiến lược, và các vấn đề chính

liên quan với từng phương pháp

Tổng Giá

m đốc

Quản lý chức năng

Quản lý dự

án nặng

Tổng Giám đốc

Quản lý

chức năng

Tổng Giám đốc

Trang 38

CHƯƠNG 2 - TỔ CHỨC QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN SẢN PHẨM 2015

Ma trận tổ chức

Tổ chức theo chức năng Tổ chức sản phẩm gọn nhẹ Tổ chức dự án hạng nặng Tổ chức dự án hạng nhẹ

lý dự án duy nhất

Duy trì phát triển chức năng và chuyên môn

Cung cấp tích hợp

và tốc độ lợi ích của tổ chức dự án

Một số chuyên môn của một cơ quan chức năng được giữ lại

Tài nguyên có thể được tối ưu được phân bổ trong nhóm dự án Thị trường kỹ thuật và Trade-off có thể được đánh giá một cách nhanh chóng

Điểm yếu Phối hợp giữa các nhóm chức năng khác nhau có

thể được làm chậm và

quan liêu

Đòi hỏi nhiều nhà quản lý và quản trị hơn là một tổ chức

ma trận không

Đòi hỏi nhiều nhà quản lý và quản trị hơn là một tổ chức ma trận không

Cá nhân có thể gặp khó khăn trong việc duy trì khả năng hoạt động tiên tiến

Ví dụ điển

hình

Công ty phát triển tùy

biến, trong đó phát triển

liên quan đến biến thể

Nhiều dự án gần đây thành công trong ô tô, điện tử,

và các công ty hàng không vũ trụ

Khởi động các công ty

" nhóm Tiger " và

"Skunk works" nhằm đạt được đột phá Công

ty cạnh tranh trong thị trường cực kỳ năng động

Làm thế nào để duy trì chức năng chuyên môn theo thời gian Làm thế nào để chia sẻ kiến thức

kỹ thuật từ một dự án khác

Hình 2-8 Đặc điểm của cơ cấu tổ chức khác nhau

2.10.4 Tổ chức phát triển sản phẩm của công ty AMF (AMF)

Công ty AMF chọn tổ chức để nhân viên phát triển sản phẩm của mình trong

một cấu trúc ma trận Các chức năng liên quan đến việc phát triển sản phẩm tại AMF

bao gồm kỹ thuật, sản xuất, tiếp thị, bán hàng, mua hàng và đảm bảo chất lượng Mỗi

một chuyên môn có một người quản lý sẽ báo cáo cho người quản lý chung của các bộ

phận Tuy nhiên, các dự án phát triển sản phẩm được dẫn dắt bởi các nhà quản lý dự

án, và các đội dự án được rút ra từ các khu chức năng Các tổ chức ma trận AMF có lẽ

là gần nhất với tổ chức dự án nhẹ Bởi vì các nhà quản lý dự án này thường là các nhà

quản lý cấp cao nhất trong việc phân chia và không có kiểm soát trực tiếp của các

nguồn tài nguyên và nhân sự cho các đội dự án Trong khi ở chung một tổ chức dự án

nhẹ có xu hướng tăng cường các chức năng tại các chi phí của dự án hiệu quả, một số

đặc điểm của tổ chức AMF làm cho các tổ chức gọn nhẹ một lựa chọn khôn ngoan và

dẫn đến hiệu quả phát triển sản phẩm tốt Các yếu tố quan trọng nhất dẫn đến sự lựa

chọn của một tổ chức dự án nhẹ là AMF thực hiện nhiều dự án phát triển sản phẩm

nhỏ cùng với một hoặc hai dự án lớn Kết quả của sự kết hợp này của dự án là rất

nhiều các thành viên trong nhóm về các dự án nhỏ hơn đóng góp trên cơ sở bán thời

gian Bởi có chức năng liên kết tương đối mạnh mẽ giữa các cá nhân, phân công cán

bộ cho các dự án nhỏ hơn và cân bằng khối lượng công việc trong vòng một chức năng

được thực hiện dễ dàng hơn Một yếu tố khác cho phép AMF sử dụng một tổ chức dự

án trọng lượng nhẹ và vẫn đạt được hiệu suất cao trong phát triển sản phẩm là AMF là

một công ty đột xuất nạc Bộ phận Thiết bị Capital có ít hơn 100 nhân viên làm công

ăn lương tạo và hỗ trợ bán hàng của hơn 100 triệu USD mỗi năm Mọi người trong bộ

phận làm việc trong cùng một tòa nhà, và hầu hết các nhân viên chủ chốt kiếm được

phần thưởng tài chính đáng kể khi các bộ phận có lợi nhuận cao Kết quả là, các thành

Trang 39

CHƯƠNG 2 - TỔ CHỨC QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN SẢN PHẨM 2015

viên của nhóm dự án được thúc đẩy để nhìn xa hơn chuyên môn của mình và làm việc

cùng nhau để phát triển sản phẩm thành công Một độ lệch nhỏ từ các tổ chức dự án

nhẹ tiêu chuẩn cũng tạo điều kiện hoàn thành dự án Người quản lý kỹ thuật được tổ

chức chịu trách nhiệm cá nhân cho tất cả các khía cạnh của thành công của dự án và

không cho kỹ thuật xuất sắc một mình Mặc dù ông chịu trách nhiệm cho các chuyên

môn kỹ thuật, ông là chủ yếu chịu trách nhiệm cho việc phát triển sản phẩm thành

công Vì thế, ông làm việc hàng ngày để đảm bảo rằng các phối hợp phù hợp xảy ra, ví

dụ, giữa marketing và kỹ thuật Cuối cùng, nhấn mạnh rằng những nơi quản lý cấp cao

về phát triển sản phẩm khuyến khích làm việc theo nhóm hiệu quả Các tổng giám đốc

có quyền lợi cá nhân trong mọi dự án phát triển sản phẩm và dành vài ngày mỗi tháng

để theo dõi tiến độ của các dự án này Thông điệp truyền đạt cho các đội dự án là sản

phẩm thành công quan trọng hơn là so với các chuyên môn mạnh

2.11 Câu hỏi & Bài tập

1 Bạn hãy đưa ra một kế hoạch và một quy trình nấu một bữa cơm gia đình của bạn

Theo bạn, liệu quá trình của bạn thực hiện có giống với quá trình phát triển sản

phẩm chung không? Giải thích quá trình này

2 Bạn đang nấu bữa tối có tương tự như một trong những cách thức phát triển sản

phẩm sau đây không? Bạn hãy giải thích vì sao?

 Công nghệ thúc đẩy sản phẩm (Technology-Push Products)

 Sản phẩm nền tảng (Platform Products)

 Sản phẩm chuyên sâu (Process-Intensive Products)

 Sản phẩm tùy biến (Customized Products)

 Các sản phẩm có nguy rủi ro cơ cao (High-Risk Products)

 Các sản phẩm xây dựng nhanh chóng (Quick-Build Products)

 Sản phẩm hệ thống phức tạp (Complex Systems)

3 Hãy xác định một quy trình cho việc tìm kiếm một công việc làm trong một công

ty Những nỗ lực, giải pháp nâng cao hiệu suất đối với quá trình tìm kiếm việc làm

mà bạn sẽ áp dụng

4 Bạn sẽ mong đợi gì về những quy trình phát triển sản phẩm trong một công ty, ví

dụ điều hòa không khí dân dụng? Làm thế nào để một công ty nhỏ có thể đột nhập

vào thị trường kinh doanh?

5 Phác thảo sơ đồ tổ chức (đồ họa) của một công ty tư vấn phát triển sản phẩm mới

cho khách hàng trên cơ sở project-by-project Giả sử rằng các cá nhân trong công

ty đại diện cho tất cả các chuyên môn khác nhau cần thiết để phát triển một sản

phẩm mới Tổ chức này rất có thể sẽ được tổ chức liên kết chức năng, liên kết dự

án, hoặc là một hỗn hợp?

6 Có một sự tương tự giữa một trường đại học và các tổ chức phát triển sản phẩm?

Tổ chức của một trường đại học là một tổ chức theo chuyên môn hay theo dự án?

7 Tổ chức phát triển sản phẩm cho sinh viên tham gia vào các dự án như là một phần

của một lớp học phát triển sản phẩm là những gì?

8 Liệu có thể cho một số thành viên của một nhóm phát triển sản phẩm được tổ

chức theo chức năng, trong khi những người khác được tổ chức theo dự án? Nếu

như vậy thì các thành viên của đội phát triển sản phẩm sẽ là ứng cử viên sáng giá

nhất cho các tổ chức chuyên môn?

Trang 40

CHƯƠNG 3 - KẾ HOẠCH SẢN PHẨM 2015

CHƯƠNG 3 – KẾ HOẠCH SẢN PHẨM

(PRODUCT PLANNING)

3.1 Tại sao phải lập kế hoạch sản phẩm?

Tổng công ty Xerox là một doanh nghiệp toàn cầu, cung cấp nhiều loại sản phẩm liên quan đến văn phòng, dịch vụ và giải pháp kinh doanh Nhiệm vụ của các nhà lãnh đạo thị trường là cung cấp các giải pháp văn phòng nhằm nâng cao năng lực kinh doanh trong thị trường thiết bị văn phòng toàn cầu Một yếu tố quan trọng của chiến lược cạnh tranh của Xerox là khai thác đổi mới công nghệ trong một thị trường năng động

Theo đuổi chiến lược này đòi hỏi khả năng lựa chọn các quyền thiết lập các dự án phát triển và để xác định phạm vi của các dự án này được bổ sung trong các dự án Hình 3-1 là một hình ảnh của Xerox 265, sản phẩm kết quả từ một dự án có mã là Xerox Lakes

Hình 3-1 Dự án Lakes phát triển một máy photocopy Xerox 265 mới trên cơ sở nền tảng

máy văn phòng trung tâm

Quá trình lập kế hoạch sản phẩm diễn ra trước khi một dự án phát triển sản phẩm được chính thức phê duyệt, trước khi tài nguyên đáng kể được áp dụng, và trước khi nhóm phát triển lớn hơn được hình thành Quy hoạch sản phẩm là một hoạt động xem xét danh mục đầu tư của dự án, một tổ chức có thể theo đuổi và quyết định những tập hợp con của các dự án này sẽ được theo đuổi hơn là thời gian dự án Các hoạt động lập

kế hoạch sản phẩm đảm bảo rằng các dự án phát triển sản phẩm hỗ trợ các chiến lược kinh doanh rộng lớn hơn của công ty và những câu hỏi được đặt ra:

 Dự án sản phẩm nào sẽ được thực hiện phát triển?

 Kết hợp những gì (về cơ bản) của các sản phẩm mới, nền tảng và các sản phẩm

dẫn xuất cần được theo đuổi?

 Làm thế nào để các dự án khác nhau liên quan đến nhau như một danh mục đầu

tư?

 Trình tự và thời gian của các dự án là gì?

Ngày đăng: 24/10/2017, 14:42

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w