Từ những phân tích trên đây trong phạm vi của luận văn tác giả đi sâu nghiên cứu về “Thiết kế phát triển sản phẩm trang phục thời trang tại một số doanh nghiệp may thời trang ở Việt Nam
Trang 2MỤC LỤC
MỤC LỤC I LỜI CAM ĐOAN III LỜI CẢM ƠN IV DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT V DANH MỤC HÌNH ẢNH VI DANH MỤC BẢNG - BIỂU VIII
LỜI NÓI ĐẦU 1
CHƯƠNG I: NGHIÊN CỨU TỔNG QUAN 6
1.1 MỘT SỐ KHÁI NIỆM LIÊN QUAN ĐẾN THIẾT KẾ PHÁT TRIỂN SẢN PHẨM TRANG PHỤC - THỜI TRANG 6
1.1.1 Khái niệm sản phẩm và thiết kế phát triển sản phẩm 6
1.1.2 Một số khái niệm liên quan trong lĩnh vực thời trang 22
1.1.3 Một số khái niệm về sản phẩm và thiết kế sản phẩm trang phục thời trang 28
1.2 TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU 39
1.2.1 Các sách đã xuất bản: 39
1.2.2 Một số luận văn thạc sỹ 40
1.2.3 Các tài liệu nước ngoài 40
1.3 TIỂU KẾT CHƯƠNG I 41
CHƯƠNG 2: NỘI DUNG, ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 42
2.1 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 42
2.2 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU 42
2.2.1 Yêu cầu đối với đối tượng nghiên cứu 42
2.2.2 Nghiên cứu chung về một số hãng thời trang trên thế giới 43
2.2.3 Nghiên cứu chung về một số hãng thời trang ở Việt Nam 77
2.3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 95
2.3.1 Phân tích thiết kế phát triển sản phẩm mới của hãng Zara 96
2.3.2 Phân tích thiết kế phát triển sản phẩm mới của hãng Uniqlo 99
Trang 32.3.4 Phân tích thiết kế phát triển sản phẩm mới của Canifa 102
2.3.5 Phân tích thiết kế phát triển sản phẩm mới của Công ty Dệt Kim Đông Xuân 103
2.4 TIỂU KẾT CHƯƠNG II 105
CHƯƠNG III: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN 107
3.1 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 107
3.1.1 Đánh giá về thiết kế phát triển sản phẩm của một số hãng thời trang thế giới và Việt Nam 108
3.1.2 Đánh giá chung về thực trạng thiết kế phát triển sản phẩm trang phục thời trang của một số công ty thời trang Việt Nam 116
3.2 ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP THIẾT KẾ PHÁT TRIỂN SẢN PHẨM TRANG PHỤC THỜI TRANG VIỆT NAM 118
3.2.1 Nguyên tắc đề xuất giải pháp 118
3.2.2 Mối quan hệ giữa các giải pháp 118
3.2.3 Đề xuất các giải pháp 119
3.2.4 Khảo sát mức độ quan trọng của những công đoạn trong thiết kế phát triển sản phẩm 123
3.2.5 Khảo sát tính khả thi của những giải pháp 126
3.3 BÀN LUẬN 129
TÀI LIỆU THAM KHẢO 132
PHỤ LỤC 134
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan kết quả nghiên cứu đƣợc trình bày trong luận văn này là do tôi nghiên cứu, không trùng lặp với bất kỳ kết quả nghiên cứu nào đã có Số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực Tôi cũng xin cam đoan rằng các kết quả trích dẫn trong luận văn đều đã đƣợc chỉ rõ nguồn gốc hoặc chỉ rõ trong tài liệu tham khảo
Hà Nội, tháng 04 năm 2017
TÁC GIẢ
Trần Thụy Liên
Trang 5LỜI CẢM ƠN
Sau hai năm học tập và nghiên cứu tại Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội,
đến nay tôi đã hoàn thành chương trình khóa học Thạc sỹ Chuyên ngành Công nghệ
Vật liệu Dệt May
Tác giả xin trân trọng cảm ơn các Thầy Cô giáo Trường Đại học Bách Khoa
Hà Nội, các Thầy Cô trong Viện Dệt May - Da giầy và Thời trang đã truyền đạt cho
tôi những kiến thức quý báu trong quá trình học tập và nghiên cứu tại trường
Tác giả xin trân trọng cảm ơn Giảng viên hướng dẫn TS Dương Thị Kim
Đức đã tận tình hướng dẫn để tôi hoàn thành luận văn này
Tác giả cũng xin cảm ơn Trường Cao đẳng Công nghiệp Nam Định, nơi tôi
công tác đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi được học tập nghiên cứu trong hai năm
qua Tác giả cũng xin cảm ơn sự giúp đỡ của các công ty và doanh nghiệp trong
suốt quá trình nghiên cứu để hoàn thành luận văn của mình
Mặc dù đã rất cố gắng trong quá trình thực hiện đề tài nhưng khả năng và điều
kiện nghiên cứu của tác giả còn hạn chế nên không tránh khỏi thiếu sót Tác giả rất
mong được những ý kiến đóng góp của các Thầy, Cô giáo cho luận văn này được
hoàn thiện hơn
Xin trân trọng cảm ơn!
Hà Nội, tháng 04 năm 2017
TÁC GIẢ
Trần Thụy Liên
Trang 6DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
CBCNV Cán bộ công nghân viên
CEO Chief Executive Officer (giám đốc điều hành)
EU European Union (liên minh châu Âu )
(hiệp định thương mại tự do)
R&D research and development (nghiên cứu và phát triển)
SWOT Strengths, Weaknesses, Opportunities, Threats
(điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội, thách thức) TCVN Tiêu chuẩn Việt Nam
TNHH Trách nhiệm hữu hạn
TPP Trans-Pacific Strategic Economic Partnership Agreement
(hiệp định đối tác kinh tế xuyên Thái Bình Dương)
Trang 7Hình 1.1 Sơ đồ chu kỳ sống của sản phẩm 10
Hình 1.2 Sơ đồ quá trình phát triển sản phẩm 14
Hình 1.3 Các sản phẩm dựa trên một ý tưởng [9] 17
Hình 1.4 Bảng tổng hợp ý tưởng [7] 32
Hình 1.5 Bảng màu [7] 34
Hình 1.6 : Bản vẽ mẫu của một số NTK nổi tiếng Thế giới 36
Hình 2.1 Top 10 thương hiệu thời trang 43
Hình 2.2 Trụ sở đầu tiên của Zara [23] 43
Hình 2.3 Khởi đầu Zara tại A Coruña [23] 44
Hình 2.4 Văn phòng GOA ở Arteixo [23] 44
Hình 2.5 Các trung tâm phân phối [23] 44
Hình 2.6 Cửa hàng Zara đầu tiên tại Oporto [23] 45
Hình 2.7 Cửa hàng đầu tiên tại New York trên Đại lộ Lexington [23] 45
Hình 2.8 Cửa hàng đầu tiên của Zara ở Paris trên rue Halévy [23] 45
Hình 2.9 Một trong những cửa hàng đầu tiên Pull & cửa hàng Bear [23] 46
Hình 2.10 Mặt tiền của cửa hàng Zara trên calle Madero [23] 46
Hình 2.11 Bên trong một trong những cửa hàng đầu tiên của Hy Lạp [23] 46
Hình 2.12 Cửa hàng Zara đầu tiên ở Bruges, Bỉ trên Steenstraat [23] 47
Hình 2.13 Cửa hàng Zara ở Malta [23] 47
Hình 2.14 Cửa hàng đầu tiên của Zara ở Nicosia, Síp [23] 47
Hình 2.15 Cửa hàng Pull & Bear đầu tiên ở Israel [23] 48
Hình 2.16 Một trong những thương hiệu Bershka [23] 48
Hình 2.17 Cửa hàng Stradivarius ở Madrid, tại Gran Via 30 [23] 48
Hình 2.18 Trụ sở chính của Tập đoàn tại Arteixo, La Coruña, Tây Ban Nha [23] 49 Hình 2.19 Ticker Inditex xuất hiện trên Madrid chứng khoán [23] 49
Hình 2.20 Cửa hàng của Oysho đầu tiên, thương hiệu đồ lót của Inditex [23] 49
Hình 2.21 Trung tâm phân phối Zaragoza [23] 50
Hình 2.22 Khởi động của Zara Home, một chuỗi chuyên homewear [23] 50
Trang 8Hình 2.24 Các cửa hàng Zara tại Montecarlo [23] 51
Hình 2.25 Cửa hàng Zara đầu tiên ở Thượng Hải [23] 51
Hình 2.26 Zarahome.com, cửa hàng trực tuyến đầu tiên của Tập đoàn [23] 51
Hình 2.27 Cửa hàng Uterqüe, chuỗi mới nhất của Inditex [23] 52
Hình 2.28 Các cửa hàng hiệu quả sinh thái tại Puerta de l'Àngel, Barcelona [23] 52
Hình 2.29 Hình ảnh cửa hàng mới tại các cửa hàng Zara trên Fifth Avenue, New York 53
Hình 2.30 Massimo Dutti cửa hàng trên Rue de la Paix 18, Paris [23] 53
Hình 2.31 Zara cửa hàng trên Lincoln Road, Miami.[23] 54
Hình 2.32 Các hình Logo thương hiệu Zara [23] 55
Hình 2.33 Mô hình sản xuất kinh doanh thời trang [23] 61
Hình 2.34 Một vài hình ảnh về hình thành ý tưởng [23] 62
Hình 2.35 Một số hình ảnh thiết kế mỹ thuật sản phẩm [23] 63
Hình 2.36 Thiết kế kỹ thuật [23] 63
Hình 2.37 Thiết kế phụ trang [23] 64
Hình 2.38 Cắt, may thử nghiệm sản phẩm [23] 64
Hình 2.39 Người mẫu trình diễn sản phẩm, các chuyên gia phân tích đánh giá [23] 65
Hình 2.40 Cửa hàng đầu tiên của Uniqlo tại Hiroshima [19] 67
Hình 2.41 Hình logo của hãng Uniqlo [19] 69
Hình 2.42 Sơ đồ mô hình kinh doanh của Uniqlo [19] 71
Hình 2.43 Nghiên cứu thiết kế sản phẩm [19] 73
Hình 2.44 Logo Tổng công ty may 10 [8] 79
Hình 2.45 Đội ngũ thiết kế mẫu của công ty [8] 81
Hình 2.46 Logo của Canifa [3] 83
Hình 2.47 Logo của Dệt Kim Đông Xuân [5] 90
Trang 9DANH MỤC BẢNG - BIỂU
Bảng 3.1 Tổng hợp đánh giá về mức độ quan trọng của các công đoạn trong thiết
kế phát kế phát triển sản phẩm trang phục thời trang 124 Bảng 3.2 Tổng hợp đánh giá về tính khả thi của các giải pháp thiết kế phát triển sản phẩm trang phục thời trang Việt Nam 127
Trang 10LỜI NÓI ĐẦU
Sau gần 30 năm mở cửa nền Kinh tế của đất nước Năm 2015, là năm đánh dấu việc Việt Nam kết thúc đàm phán hàng loạt các hiệp định tự do thương mại Đây là đòn bẩy phát triển kinh tế hiệu quả, mở đường cho ngành hàng may mặc của Việt Nam tiến vào các thị trường lớn trên thế giới
Trên phương diện nhập khẩu, các cam kết về thuế xuất nhập khẩu ưu đãi giúp các nhà sản xuất tiếp cận được với nguồn nguyên liệu đạt chất lượng cao từ các quốc gia có ngành may mặc phát triển như Hàn Quốc, Nhật Bản với giá thành hợp lý góp phần nâng cao chất lượng sản phẩm và tính cạnh tranh
Thị trường bán lẻ cũng có nhiều khởi sắc, các cam kết mở cửa thị trường đã thu hút nhiều đại gia bán lẻ Những tên tuổi lớn như Mark & Spencer (Anh quốc), Robins thuộc tập đoàn Central (Thái Lan), Parksons (Malaysia), AEON (Nhật Bản) và Lotte (Hàn Quốc) đều đã nhanh chân chiếm thị phần thị trường bán lẻ nội địa Thế mạnh của
họ bên cạnh thương hiệu, tài chính còn là những bản hợp đồng độc quyền phân phối nhiều thương hiệu riêng như Autograph của Mark & Spencer hay Hush Puppies và Scholl của Robins Điều đó làm tăng tính cạnh tranh khốc liệt của thị trường bán lẻ trong nước
Phối đến chiến lược marketing để có thể đủ sức bám trụ, tồn tại sau sự đổ bộ của của nhiều thương hiệu quốc tế Nghịch lý hiện nay ở chỗ, mặc dù sở hữu nhiều yếu tố như: Kinh nghiệm dày dặn trong lĩnh vực gia công, lực lượng nhà thiết kế trẻ, duy trì mức tăng trưởng liên tục về lượng khách quốc tế hàng năm, ngành thủ công truyền thống lâu đời và bề dày văn hóa Tuy nhiên, tầm vóc phát triển của ngành công nghiệp thời trang Việt Nam vẫn rất chậm, thiếu sự đồng bộ và mang tính chất tự phát thay vì được quy hoạch bài bản
Thời trang trên thế giới ngày nay phát triển chủ yếu theo hai hướng, một mặt
Trang 11hướng tới đời sống, phục vụ đến những nhu cầu chi tiết nhất của đông đảo mọi tầng lớp trong xã hội Một mặt đi vào chiều sâu, nơi các bộ trang phục có giá trị độc nhất vô nhị
và là tác phẩm nghệ thuật
Tại Việt Nam, mặc dù sản phẩm trang phục, thời trang đã có từ rất lâu, tuy nhiên
so với thế giới còn có nhiều hạn chế về khía cạnh phát triển sản phẩm Từ trước đến nay, có nhiều nghiên cứu đề cập đến một số vấn đề trong phát triển sản phẩm, như dưới góc độ thương hiệu thời trang, thị trường thời trang Nhưng để nghiên cứu nhìn nhận trang phục, thời trang Việt Nam dưới góc độ sản phẩm để đề xuất phương án phát triển
thì còn bỏ ngỏ Bởi vậy, tôi đã lựa chọn đề tài “Thiết kế phát triển sản phẩm trang
phục thời trang tại một số doanh nghiệp may thời trang ở Việt Nam” nhằm liên kết và
xem xét, đánh giá, tổng kết để đưa ra đề xuất, kiến nghị về phát triển sản phẩm trang phục, thời trang Việt Nam
Trang 12MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Việt Nam chính thức ký kết TPP vào ngày 04 tháng 02 năm 2016 tại Auckland, New Zealand Hiệp định này có ảnh hưởng trực tiếp đối với ngành Dệt May và thời trang Việt Nam Đưa ngành đứng trước những cơ hội cũng như thách thức to lớn Công nghiệp thời trang, một trong những ngành công nghiệp sáng tạo, đã có những bước chuyển mình thực sự, về cả chất và lượng, trong hơn một thập niên qua Trong lĩnh vực Dệt May và Da Giầy, tận dụng tốt cơ hội mở cửa thị trường từ Mỹ, EU
và các nước khác, ngành Dệt May và Da Giầy đã thu hút được nhiều lao động, năng lực sản xuất tăng nhanh hàng năm, kim ngạch xuất khẩu tăng qua các năm đưa Việt Nam trở thành cường quốc xuất khẩu Dệt May Tuy vậy, thực trạng hiện nay là các sản phẩm Dệt May xuất khẩu Việt Nam vẫn còn nhiều đơn vị nặng về gia công, xuất khẩu dưới các thương hiệu nước ngoài, nguyên phụ liệu chủ yếu là ngoại nhập Trên thế giới, các sản phẩm mang thương hiệu Việt còn hạn chế [1]
Trong thời gian sắp tới, chắc chắn nhiều nhãn hiệu thời trang nước ngoài sẽ vào Việt Nam Khả năng cạnh tranh về sản phẩm thời trang tăng lên Để tăng cường khả năng cạnh tranh với các hãng thời trang nước ngoài thì các doanh nghiệp Việt Nam phải quan tâm nhiều hơn tới việc tạo ra nhiều sản phẩm thời trang hơn, đẹp hơn nhưng giá thành thấp hơn Để chủ động trong sản xuất, các doanh nghiệp cũng đã chuyển hướng từ gia công sang tự nghiên cứu thiết kế sản phẩm phục vụ thị trường nội địa và xuất khẩu
Sản phẩm đóng vai trò rất quan trọng, là trung tâm của mọi thể loại sản xuất, kinh doanh Khi nói đến doanh nghiệp là nói đến sản phẩm của họ Mọi hoạt động của doanh nghiệp đều xoay quanh sản phẩm, bất kể doanh nghiệp thuộc thể loại gì: Doanh nghiệp sản xuất hay kinh doanh Sản phẩm là then chốt, sản phẩm quyết định đến thành bại của doanh nghiệp Sản phẩm thành công thì doanh nghiệp phát triển và ngược lại,
Trang 13sản phẩm thất bại sẽ kéo theo sự sụp đổ của doanh nghiệp Như vậy có thể nói thiết kế sản phẩm là bước đầu tiên để doanh nghiệp xâm nhập thị trường, chiếm lĩnh thị trường hoặc củng cố vị trí và thị phần của mình Thiết kế sản phẩm có vai trò quyết định tới sự thành bại của doanh nghiệp Thiết kế làm nên bản sắc cho doanh nghiệp, thiết kế sản phẩm tốt xây dựng doanh nghiệp trở thành biểu tượng Khi nhắc đến doanh nghiệp người ta sẽ liên tưởng ngay đến sản phẩm của họ
Tuy nhiên, làm thế nào để thiết kế phát triển sản phẩm trang phục, thời trang tại Việt Nam thì một vấn đề không kém quan trọng là cần phải đi sâu tìm hiểu về khái niệm sản phẩm trong trang phục, thời trang Vấn đề thiết kế phát triển sản phẩm trang phục thời trang trên thế giới và ở Việt Nam cần được tìm hiểu một cách sâu sắc qua nhiều khía cạnh
Nhằm tổng kết, hệ thống và đánh giá và đề xuất giải pháp về vấn đề này tại các doanh nghiệp may thời trang Việt Nam là hết sức cấp thiết trong giai đoạn hiện nay
Từ những phân tích trên đây trong phạm vi của luận văn tác giả đi sâu nghiên cứu
về “Thiết kế phát triển sản phẩm trang phục thời trang tại một số doanh nghiệp may
thời trang ở Việt Nam”
2 Mục đích, đối tượng và phạm vi nghiên cứu
2.1 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn, tổng kết, phân tích, đánh giá và đề xuất các giải pháp về thiết kế phát triển sản phẩm trang phục thời trang, nhằm tăng cường khả năng cạnh tranh của các công ty May, hãng thời trang của Việt Nam trong thời gian tới
2.2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Các khái niệm có liên quan đến thiết kế phát triển sản phẩm trang phục thời trang
- Quá trình phát triển sản phẩm trang phục thời trang một số công ty trên thế giới
và ở Việt Nam
Trang 14- Khảo sát tình hình và kết quả nghiên cứu tại một số công ty may và thời trang Việt Nam ( Công ty M10, Dệt Kim Đông Xuân, Canifa….)
3 Tóm tắt cô đọng các luận điểm cơ bản và đóng góp mới của tác giả
3.1 Các luận điểm cơ bản của đề tài
Với mục tiêu nghiên cứu của đề tài, luận văn tiến hành các nội dung sau:
- Nghiên cứu cơ sở lý luận về sản phẩm, sản phẩm mới, trang phục thời trang, sản phẩm trang phục thời trang và thiết kế phát triển sản phẩm trang phục thời trang
- Nghiên cứu thực trạng thiết kế phát triển sản phẩm trang phục thời trang của một số hãng thời trang nổi tiếng trên thế giới và Việt Nam
- Tổng kết, phân tích đánh giá và đề xuất các giải pháp thiết kế phát triển sản phẩm trang phục thời trang ở Việt Nam
3.2 Những đóng góp mới của đề tài
- Về lý luận: Đề tài tổng hợp những nghiên cứu về thiết kế phát triển sản phẩm trang phục thời trang ở Việt Nam, làm sáng tỏ cơ sở lý luận thiết kế phát triển sản phẩm mới trang phục thời trang Việt Nam
- Về thực tiễn: Những đề xuất giải pháp có giá trị thực tiễn làm cơ sở khoa học cho việc thiết kế phát triển sản phẩm trang phục mới ở Việt Nam
- Nếu các giải pháp đề xuất được tiếp tục nghiên cứu triển khai áp dụng sẽ góp phần phát triển sản phẩm trang phục thời trang, nâng cao khả năng cạnh tranh của các hãng May và thời trang Việt Nam
4 Phương pháp nghiên cứu
4.1 Phương pháp thu thập, hệ thống, tổng hợp và đánh giá thông tin
- Tài liệu, cơ sở lý thuyết liên quan đến nội dung và đối tượng nghiên cứu
- Các văn bản, chủ trương chính sách của nhà nước, các bộ ngành liên quan đến Dệt May
- Các kết quả nghiên cứu đi trước của đồng nghiệp có liên quan đến đề tài
4.2 Phương pháp chuyên gia
- Xin ý kiến chuyên gia, điều tra bằng phiếu hỏi
- Tổng hợp, phân tích thực trạng, so sánh, xử lý số liệu thực tế
Trang 15CHƯƠNG I: NGHIÊN CỨU TỔNG QUAN
1.1 MỘT SỐ KHÁI NIỆM LIÊN QUAN ĐẾN THIẾT KẾ PHÁT TRIỂN SẢN PHẨM TRANG PHỤC - THỜI TRANG
Nghiên cứu về thiết kế và phát triển sản phẩm nói chung và phát triển sản phẩm trang phục thời trang trên thế giới ngày nay không phải là lĩnh vực mới Tuy nhiên ở Việt Nam, các khái niệm trong lĩnh vực này chưa được tổng hợp và đưa vào hệ thống cho nên để tìm hiểu về thiết kế và phát triển sản phẩm trang phục thời trang, ta sẽ bắt đầu từ những khái niệm đầu tiên có liên quan đến đề tài
1.1.1 Khái niệm sản phẩm và thiết kế phát triển sản phẩm
1.1.1.1 Khái niệm sản phẩm và sản phẩm mới
Có nhiều quan điểm khác nhau về sản phẩm và sản phẩm mới, sau đây là một số
ý kiến chính:
Sản phẩm
Sản phẩm là mọi thứ có thể chào bán trên thị trường để chú ý, mua, sử dụng hay tiêu dùng, có thể thỏa mãn được một mong muốn hay nhu cầu.[12]
• Theo quan điểm truyền thống: Sản phẩm là tổng hợp các đặc tính vật lý học, hoá
học, sinh học có thể quan sát được, dùng thoả mãn những nhu cầu cụ thể của sản xuất hoặc đời sống
• Theo quan điểm của Marketing: Sản phẩm là thứ có khả năng thoả mãn nhu cầu
mong muốn của khách hàng, cống hiến những lợi ích cho họ và có thể đưa ra chào bán trên thị trường với khả năng thu hút sự chú ý mua sắm và tiêu dùng Theo đó, một sản phẩm được cấu tạo và hình thành từ hai yếu tố cơ bản sau đây: Một sản phẩm được cấu tạo và hình thành từ hai yếu tố cơ bản đó là yếu tố vật chất và yếu tố phi vật chất Theo quan niệm này sản phẩm phải vừa là cái “đã có”, vừa là cái “đang và tiếp tục phát sinh” trong trạng thái biến đổi không ngừng của nhu cầu
Trang 16• Theo Carl Mark: Sản phẩm là kết quả của quá trình lao động để phục vụ cho
việc làm thỏa mãn nhu cầu của con người trong nền kinh tế thị trường
• Theo TCVN 5814-1994: Sản phẩm là “kết quả của các hoạt động hoặc các quá
trình”
Sản phẩm được chia làm hai nhóm chính:
- Nhóm sản phẩm thuần vật chất: Là những vật phẩm mang các đặc tính lý hoá nhất định
- Nhóm sản phẩm phi vật phẩm: Là các dịch vụ, thông tin
• Theo chuyên gia Võ Văn Quang: Sản phẩm là tất cả những gì đáp ứng một nhu
cầu cụ thể của con người, hay một nhóm người, mà bản thân nhu cầu của con người thì
vô cùng đa dạng, từ lý tính đến cảm tính, từ vật chất đến phi vật chất Chính vì vậy lần đầu tiên tại Việt Nam, tác giả đưa ra một định nghĩa mới và toàn điện nhất về sản phẩm
"sản phẩm là một tập hợp các lợi ích" để thỏa mãn một nhu cầu cụ thể của con người.[2]
Tiểu kết: Sản phẩm được nhìn nhận ở nhiều góc độ khác nhau với các quan điểm
theo từng góc độ đó Như vậy sản phẩm được hiểu là tất cả những gì nhà sản xuất cung cấp cho khách hàng như: Hàng tiêu dùng, thực phẩm, ô tô, xe máy, thiết bị điện tử, đồ gia dụng, quần áo, mũ nón… ,thông tin và thậm chí là cả các dịch vụ
Khi thị trường thay đổi liên tục, nhu cầu của khách hàng ngày càng đa dạng, doanh nghiệp cần thay đổi sản phẩm cũ để phục vụ tốt hơn nhu cầu hiện tại hoặc tạo ra
Trang 17sản phẩm mới để đáp ứng những nhu cầu chưa được thoả mãn Đổi mới sản phẩm sẽ giúp doanh nghiệp nắm bắt cơ hội từ môi trường kinh doanh Bên cạnh đó đổi mới sản phẩm giúp doanh nghiệp tạo nên sự khác biệt với đối thủ và phát huy lợi thế cạnh tranh của mình Việc đổi mới sản phẩm nhằm gia tăng lợi nhuận và cắt giảm chi phí
Ngày nay, cùng với sự phát triển nhanh chóng của tiến bộ khoa học và công nghệ làm tăng thêm những nhu cầu mới của người tiêu dùng nên sự đòi hỏi và lựa chọn ngày càng trở nên khắt khe hơn của khách hàng với các loại sản phẩm khác nhau dẫn đến các doanh nghiệp sản xuất các sản phẩm phải tăng khả năng cạnh tranh trên thị trường
và không ngừng đổi mới sản phẩm Sự thay đổi sản phẩm có thể ở dạng sản phẩm mới tương đối hoặc sản phẩm mới tuyệt đối
• Sản phẩm mới tương đối:
Là các sản phẩm mà doanh nghiệp sản xuất và đưa ra thị trường nhưng không mới đối với doanh nghiệp khác và đối với thị trường Chi phí để phát triển loại sản phẩm này thường thấp nhưng khó khẳng định vị trí của nó trên thị trường vì người tiêu dùng vẫn có thể thích sản phẩm của đối thủ cạnh tranh hơn Mở rộng dòng sản phẩm loại này tạo cho doanh nghiệp có cơ hội kinh doanh mới
• Sản phẩm mới tuyệt đối:
Là sản phẩm mới đối với cả doanh nghiệp và cả thị trường Loại sản phẩm này ra mắt người tiêu dùng lần đầu tiên Quá trình thiết kế phát triển sản phẩm tương đối phức tạp và khó khăn chi phí nghiên cứu, thiết kế, sản xuất thử và thử nghiệm trên thị trường thường rất cao Chiến lược marketing thường phải được soạn thảo kỹ lưỡng hơn, đòi hỏi những thông tin chi tiết hơn về khách hàng và thị trường.[4]
Trang 183 Bổ sung loại sản phẩm hiện có: Những sản phẩm mới bổ sung thêm vào các loại sản phẩm hiện có của doanh nghiệp
4 Cải tiến sản phẩm hiện có: Là những sản phẩm mới có những tính năng tốt hơn hay giá trị nhận được cao hơn và thay thế những sản phẩm hiện có
5 Sản phẩm được định vị lại: Là những sản phẩm hiện có được nhằm vào thị trường hay những phân đoạn thị trường mới
6 Sản phẩm giảm chi phí: Những sản phẩm mới có những tính năng tương
tự nhưng với chi phí thấp hơn
Ngày nay ở các nước phát triển chỉ có khoảng 10% số sản phẩm mới là thực sự mới đối với thế giới Những sản phẩm này có chi phí và rủi ro rất lớn, vì chúng mới cả đối với doanh nghiệp lẫn thị trường Do đó, phần đông các doanh nghiệp thường tập trung cố gắng của mình vào việc nghiên cứu cải tiến các sản phẩm hiện có thay vì nghiên cứu phát triển sản phẩm hoàn toàn mới
Vòng đời của sản phẩm
Chu kỳ sống của sản phẩm là thuật ngữ chỉ quá trình biến đổi doanh số và lợi nhuận của một sản phẩm từ khi nó được tung ra thị trường cho đến khi nó được rút khỏi thị trường
Chu kỳ sống của một sản phẩm bất kỳ được thể hiện qua 4 giai đoạn: Triển khai,
tăng trưởng, bão hòa và suy thoái [36]
Giai đoạn 1: Triển khai
Sản phẩm mới được doanh nghiệp tung ra thị trường và bắt đầu 1 chu kỳ sống
Đây là giai đoạn triển khai của sản phẩm Ở giai đoạn này, rất ít người tiêu dùng biết đến sự có mặt của sản phẩm, do vậy công việc chính của doanh nghiệp là giới thiệu sản
phẩm mới này đến khách hàng mục tiêu Doanh số của sản phẩm trong giai đoạn này
thường rất thấp, lợi nhuận âm do chi phí quảng bá và chi phí khách hàng cao Cạnh tranh cũng rất thấp
Chiến lược marketing đối với sản phẩm trong giai đoạn triển khai:
Trang 19- Khách hàng: Chủ yếu là nhóm khách hàng mục tiêu (khách hàng chuyên săn đón sản phẩm mới)
- Sản phẩm: Sử dụng sản phẩm cơ bản
- Giá cả: Sử dụng chiến lược giá hớt ván sữa (định giá thành rất cao khi tung sản
phẩm, sau đó giảm dần theo thời gian) nếu sản phẩm là hàng hot (hàng công nghệ, thời trang, xe máy, xe hơi ) hoặc chiến lược giá xâm nhập thị trường (định giá thành rất thấp khi tung sản phẩm, sau đó tăng dần theo thời gian) nếu sản phẩm là hàng dân dụng (mì gói, nước giải khát, dầu gội đầu, bột giặt, nước xả vải )
- Phân phối: Sử dụng kênh phân phối chọn lọc
- Quảng cáo: Quảng cáo đại trà trên các phương tiện truyền thông (truyền hình, radio, báo chí, Internet ) hoặc quảng cáo qua hoạt động bán hàng cá nhân, sử dụng các công cụ xúc tiến bán hàng như phát mẫu dùng thử, phiếu giảm giá, mời báo chí đến viết bài v.v
Hình 1.1 Sơ đồ chu kỳ sống của sản phẩm
Triển khai Tăng trưởng Bão hòa Suy thoái
Thời gian Doanh thu
Lợi nhuận
Trang 20Giai đoạn 2: Tăng trưởng
Khi doanh số và lợi nhuận bắt đầu tăng với tốc độ nhanh, điều đó có nghĩa sản phẩm ấy đã bắt đầu bước sang giai đoạn tăng trưởng Ở giai đoạn này, càng ngày càng
có nhiều khách hàng mục tiêu biết đến sản phẩm, chi phí khách hàng bắt đầu giảm lại dẫn đến tăng trưởng về lợi nhuận Ngoài ra, doanh nghiệp cũng bắt đầu mở rộng hệ thống phân phối, mức độ cạnh tranh bắt đầu tăng
Chiến lược marketing đối với sản phẩm trong giai đoạn tăng trưởng:
- Khách hàng: Chủ yếu là nhóm khách hàng thích nghi nhanh
- Sản phẩm: Cải thiện chất lượng sản phẩm, tung thêm các dòng sản phẩm cải biến Tăng cường sản lượng sản xuất
- Giá cả: Định giá theo giá trị sản phẩm đối với sản phẩm mới đang được ưa chuộng hoặc chi phí sản xuất đối với sản phẩm dân dụng
- Phân phối: Mở rộng hệ thống phân phối, kênh phân phối
- Quảng cáo: Giảm bớt chi phí quảng cáo nếu cần thiết, sử dụng các kênh giao tiếp như điện thoại, tin nhắn, email, Facebook nhằm tạo dựng mối quan hệ thân thiết với khách hàng
Giai đoạn 3: Bão hòa
Một sản phẩm bước sang giai đoạn bão hòa của chu kỳ sống khi doanh số của sản phẩm này bắt đầu tăng chậm lại và chuẩn bị chạm trần Lợi nhuận ở mức cao nhưng tăng trưởng thấp Điều đáng chú ý là mức độ cạnh tranh trong giai đoạn này rất cao kéo theo chi phí khách hàng tăng
Chiến lược marketing đối với sản phẩm trong giai đoạn bão hòa:
- Chiến lược chung: Cũng cố thương hiệu
- Khách hàng chủ yếu: Nhóm khách hàng trung thành
- Sản phẩm: Cải tiến đặc tính và cải thiện chất lượng sản phẩm
- Giá cả: Tùy theo mức độ cạnh tranh Đối với doanh nghiệp mới, nhỏ, chưa có tên tuổi thì nên định mức giá sản phẩm ngang hoặc thấp hơn đối thủ cạnh tranh Đối
Trang 21với doanh nghiệp lớn đã có tiếng tăm thì có thể định mức giá cao hơn đối thủ cạnh tranh nhằm khẳng định chất lượng và giá trị sản phẩm
- Phân phối: Tiếp tục sử dụng hệ thống phân phối đã tạo dựng ở các giai đoạn trước
- Quảng cáo: Nội dung quảng cáo tập trung vào sự khác biệt của sản phẩm doanh nghiệp so với sản phẩm đối thủ cạnh tranh Tăng cường chăm sóc khách hàng Sử dụng các công cụ xúc tiến bán hàng nếu cần thiết như sản phẩm tặng kèm
Giai đoạn 4: Suy thoái
Suy thoái là giai đoạn cuối cùng trong chu kỳ sống của một sản phẩm, khi doanh thu và lợi nhuận của sản phẩm bắt đầu giảm Ở giai đoạn này, doanh nghiệp bắt đầu rút sản phẩm ra khỏi thị trường
Chiến lược marketing đối với sản phẩm trong giai đoạn suy thoái:
Chiến lược chung: Rút sản phẩm khỏi thị trường
Khách hàng chủ yếu: Nhóm khách hàng chấp nhận sử dụng sản phẩm lỗi thời
- Sản phẩm: Giữ nguyên hoặc cải tiến sản phẩm nếu cần thiết Điều quan trọng là doanh nghiệp nên tính toán sản lượng sản xuất sao cho lượng hàng tồn không bị ứ đọng khi doanh nghiệp đã hoàn toàn rút sản phẩm khỏi thị trường
- Giá cả: Giảm đến mức có thể, sử dụng các chiến lược nhằm tăng cường khả năng thanh lý
- Phân phối: Xóa dần sản phẩm khỏi các điểm phân phối nhằm giảm chi phí
- Quảng cáo: Tăng cường sử dụng các công cụ khuyến mại bán hàng
1.1.1.2 Khái niệm thiết kế và phát triển sản phẩm
a Thiết kế sản phẩm
Một số quan điểm chính về thiết kế
Thiết kế sản phẩm là tập hợp các hoạt động bắt đầu bằng việc nhận thức cơ hội thị trường dành cho sản phẩm, kết thúc bằng việc sản xuất, bán và phân phối sản phẩm [34]
Trang 22Thiết kế là một lĩnh vực rất rộng, yêu cầu hiểu biết nhiều đa dạng, người thiết kế
có thể tham gia vào một hoặc nhiều công đoạn trong quá trình thiết kế
Thiết kế mang lại sự cải tiến, sáng tạo và làm cho mọi thứ "tốt lên" Một trong những mục tiêu tối thượng của thiết kế sản phẩm là mang lại sự tiện lợi, thỏa mãn nhu cầu của người dùng Việc này có thể đạt được thông qua các hoạt động quan sát, cải tiến, sáng tạo không ngừng
Triết lý làm cho mọi thứ "tốt lên" không chỉ áp dụng cho sản phẩm, mà còn áp dụng cho dịch vụ, cuộc sống, công việc, và nhiều thứ khác Tất cả những thứ gì con người có thể tạo ra để phục vụ các nhu cầu phát sinh trong đời sống đều có thể được
"thiết kế" [8]
b Phát triển sản phẩm mới
Phát triển sản phẩm mới là hoạt động tạo ra sản phẩm hoàn toàn mới hoặc cải
biến từ sản phẩm sẵn có kèm theo nhãn hiệu mới do chính doanh nghiệp thực hiện
Là quá trình biến đổi các ý tưởng mỹ thuật, kỹ thuật hay nhu cầu và cơ hội của thị trường thành một sản phẩm mới bán ra thị trường
Phát triển sản phẩm mới không chỉ đơn thuần là thiết kế sản phẩm hoặc vẽ nên sản phẩm đó bằng các công cụ khác nhau Đây là một quá trình tổng hợp gồm nhiều khâu kinh tế, mỹ thuật, kỹ thuật phức tạp và là hoạt động mang tính liên ngành
Phát triển sản phẩm là bài toán mang tính tổng hợp, không chỉ là ở khâu marketing, khâu thiết kế hay khâu sản xuất, mà nó có liên quan đến tất cả các khâu đã nêu trên Nó huy động hầu hết các bộ phận chức năng của doanh nghiệp
Để phát triển sản phẩm mới cần mua bằng sáng chế hoặc giấy phép sản xuất sản phẩm của doanh nghiệp khác đồng thời phải nghiên cứu khoa học và công nghệ và tự
tổ chức quá trình nghiên cứu thiết kế sản phẩm mới bằng nguồn lực của mình Liên kết với các doanh nghiệp khác và viện nghiên cứu để thực hiện Phát triển sản phẩm mới bằng hai cách đó là hoàn thiện sản phẩm hiện có hoặc phát triển sản phẩm mới hoàn toàn Trong đó phương pháp hoàn thiện sản phẩm hiện có là hoàn thiện về mặt hình
Trang 23thức và nội dung nhằn đáp ứng một cách tốt hơn đòi hỏi của người tiêu dùng và tăng khả năng cạnh tranh trên thị trường Phát triển sản phẩm mới hoàn toàn có thể đem tới một nguồn lợi lớn và quan trọng đối với một số doanh nghiệp nếu họ phải tránh bị phá sản hoặc bị đối thủ cạnh tranh mua lại nhưng khó khăn là chi phí cao, rủi ro lớn cần có
kế hoạch dài hạn, công nghệ khoa học tiên tiến và kết quả nghiên cứu thị trường đúng Các chức năng giữ vai trò quan trọng trong phát triển sản phẩm đó là marketing, thiết kế, chế tạo và sản xuất [35]
c Quá trình phát triển sản phẩm
Quá trình phát triển sản phẩm mới bao gồm 8 bước cơ bản sau: Hình thành ý tưởng, sàng lọc ý tưởng, phát triển và thử nghiệm mô hình sản phẩm, phát triển chiến lược marketing, phát triển sản phẩm, thử nghiệm thị trường và thương mại hoá sản phẩm.[6]
Hình 1.2 Sơ đồ quá trình phát triển sản phẩm
Bước 1: Hình thành ý tưởng
Doanh nghiệp tìm kiếm ý tưởng phát triển sản phẩm mới thông qua các nguồn:
* Nội bộ doanh nghiệp
• Phòng R&D: Các ý tưởng phát triển sản phẩm mới thường được phòng R&D
đưa ra, tuy nhiên không phải hầu hết tất cả các doanh nghiệp đều có phòng R&D
• Phòng Marketing: Đặc trưng của phòng marketing là họ nắm rõ thị trường, do
đó, họ có thể góp ý trong việc hình thành ý tưởng phát triển sản phẩm mới
• CEO: Giám đốc điều hành giữ trách nhiệm thực hiện những chính sách của hội
Phát triển chiến lược Marketing
Phát triển sản phẩm
Thử nghiệm thị trường Thương mại hóa
sản phẩm
Trang 24• Ban quản lý
• Nhân viên
* Ngoài doanh nghiệp
• Nhà cung cấp: Những nhà cung cấp nguyên vật liệu có thể đưa ra ý tưởng về
các kỹ thuật sản xuất và nguyên liệu mới cho việc phát triển sản phẩm mới
• Nhà phân phối: Do việc tiếp cận khách hàng thường xuyên nên các nhà phân
phối có thể gợi ý về mong muốn, nhu cầu của khách hàng, các vấn đề mà khách hàng mắc phải khi sử dụng sản phẩm
• Khách hàng: Chính khách hàng có thể là nguồn ý tưởng đúng đắn cho việc phát
triển sản phẩm mới Doanh nghiệp có thể làm các cuộc điều tra để tham khảo ý kiến của họ
• Cộng đồng dân cư: Doanh nghiệp có thể tổ chức các cuộc thi, sự kiện để cộng
đồng dân cư có thể tham gia đóng góp ý tưởng cho việc phát triển sản phẩm mới
• Đối thủ cạnh tranh: Ngoài những cách trên, doanh nghiệp còn có thể quan sát,
điều tra sản phẩm của đối thủ cạnh tranh, từ đó đưa ra ý tưởng phát triển sản phẩm mới
có khả năng khắc phục nhược điểm sản phẩm của đối thủ
Doanh nghiệp có càng nhiều ý tưởng thì khả năng chọn được ý tưởng tốt càng cao Ngoài ra Doanh nghiệp còn thu thập ý tưởng từ việc nhượng quyền kinh doanh, từ việc mua lại tổ chức tạo ra sản phẩm mới hoặc từ các trường, viện nghiên cứu
Các doanh nghiệp nhỏ nên chủ động khai thác các ý tưởng từ nội bộ do nguồn này dễ tác động, ít tốn kém về tiền và thời gian để khai thác Các ý tưởng thường khả thi, sát với thực tế hơn bởi vì các ý tưởng từ nội bộ thường nảy sinh do va chạm với thực tế, tiếp xúc với khách hàng và quan sát đối thủ cạnh tranh
• Nguồn khác: Chính phủ, trường, trung tâm nghiên cứu và phát triển
Bước 2: Sàng lọc ý tưởng
Sau khi hoàn tất công việc tìm kiếm, hình thành ý tưởng, doanh nghiệp sẽ sàng lọc loại bỏ các ý tưởng không phù hợp và giữ lại các ý tưởng hay, phù hợp Để thực
Trang 25hiện việc này, doanh nghiệp cần tạo lập ra một hệ thống tiêu chí sàng lọc ý tưởng Hệ
thống tiêu chí chung cho việc sàng lọc ý tưởng như sau: R-W-W (Real-Win-Worth)
Trong đó R nghĩa là có thực - liệu ý tưởng ấy có thể thực hiện được hay không, có phù
hợp với nhu cầu khách hàng, thị trường và tình hình thực tế của công ty hay
không? Chữ W nghĩa là thành công - liệu sản phẩm này sau khi tung ra thị trường có khả năng bán chạy hay không? Chữ W cuối cùng nghĩa là đáng làm - liệu việc thực
hiện ý tưởng này phù hợp với chiến lược phát triển chung của doanh nghiệp hay không, sản phẩm sau khi tung ra thị trường có tiềm năng về lợi nhuận hay không?
Khi tất cả các câu trả lời là có đối với 1 ý tưởng phát triển sản phẩm mới, hay nói cách khác là R-W-W được thỏa mãn, điều đó có nghĩa là ý tưởng ấy phù hợp
để nghiên cứu và triển khai Ý tưởng tốt sẽ hỗ trợ cho chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp như nhắm tới nguồn khách hàng mục tiêu hoặc thoả mãn nhu cầu mới đủ lớn, khai thác hiệu quả hơn kênh phân phối, cắt giảm chi phí không cần thiết, hoặc tận dụng được các nguồn lực sẵn có mà không mất tiền
• Sau khi chọn lọc được những ý tưởng tinh túy nhất, doanh nghiệp có thể tổ chức một ban phản biện các ý tưởng này, ban này nên có nhiều thành viên để có được nhiều cách đánh giá và phản biện Đối với doanh nghiệp nhỏ, thường thì chủ doanh nghiệp sẽ đóng vai trò phản biện cho tất cả các ý tưởng Chủ doanh nghiệp nên đóng nhiều vai để
Trang 26tư duy và phân tích ý tưởng dưới nhiều góc cạnh, như khía cạnh tiếp thị, nhân lực, nguồn vốn, thời gian, phản ứng của đối tượng liên quan
• Thông qua quá trình phân tích và đánh giá, ý tưởng sẽ được mổ xẻ dưới nhiều góc cạnh, quan trọng hơn là làm cho ý tưởng đó được rõ ràng, cụ thể hơn và hạn chế được những thử nghiệm không cần thiết hoặc tránh bớt những sai phạm không đáng có Như vậy, sau bước này ý tưởng về sản phẩm mới sẽ đầy đủ về các yếu tố như tính năng chính của nó, cách thức thiết kế, các giá trị gia tăng và quan trọng hơn hết là xác định được vai trò, ý nghĩa và mục đích muốn nhắm tới khi phát triển sản phẩm này
Bước 3: Phát triển và thử nghiệm sản phẩm
Sau khi đã qua công đoạn sàng lọc ý tưởng, các ý tưởng hay, phù hợp sẽ được phát triển thành sản phẩm và đem đi thử nghiệm
Từ 1 ý tưởng có thể phát triển thành nhiều sản phẩm
Ví dụ: Một nhà thiết kế có ý tưởng lấy cảm hứng từ vẻ đẹp đồng quê Ý tưởng
này được phát triển thành 3 sản phẩm khác nhau (hình 1.3)
Hình 1.3 Các sản phẩm dựa trên một ý tưởng [9]
Sản phẩm 1
1
Sản phẩm 2 Sản phẩm 3
Trang 27Các sản phẩm sau khi đã hình thành sẽ được đem đi thử nghiệm để chọn ra mô hình phù hợp nhất Cách thử nghiệm mà các doanh nghiệp vẫn hay thường làm nhất là khảo sát khách hàng để xem phản ứng của họ Tuy nhiên, doanh nghiệp vẫn có thể nhờ đến các đại lý hoặc các chuyên gia về marketing, công nghệ, kỹ thuật để được cố vấn
Bước 4: Phát triển chiến lược marketing
Sau khi đã có được sản phẩm phù hợp, doanh nghiệp tiến hành phát triển chiến lược marketing cho sản phẩm ấy Công việc bao gồm:
• Xác định thị trường mục tiêu: Khách hàng là ai? Đặc điểm của họ như thế nào
(vị trí địa lý, tuổi tác, giới tính, nghề nghiệp, thu nhập, tính cách, lối sống )?
• Xây dựng kế hoạch trong chiến lược marketing: Giá cả, hệ thống phân phối và
quảng cáo
• Xây dựng kế hoạch bán hàng, mục tiêu lợi nhuận trong dài hạn
Để tăng khả năng thành công của sản phẩm mới trên thị trường, doanh nghiệp cần cân nhắc đến việc thương mại hoá nó sẽ như thế nào? Thông qua việc phác thảo bản kế hoạch tiếp thị ngắn ngọn Trong đó có phân tích các yếu tố tác động chính từ môi trường kinh doanh, năng lực của doanh nghiệp về các mặt như nhân sự, tài chính và trang thiết bị Đồng thời bản kế hoạch sơ thảo này cần dự báo được doanh thu, lợi nhuận, thị phần trong ngắn hạn và dài hạn
Xây dựng kế hoạch tiếp thị sơ lược nhằm hai lý do Một là tránh phát triển những sản phẩm mới ít có thị thường tiềm năng, hạn chế việc tổn thất về thời gian, sức lực Hai là định hướng được mẫu mã, kiểu dáng, tính năng, hoặc đặc tính cần thiết của sản phẩm để việc phát triển nó có định hướng rõ ràng sát với đòi hỏi của khách hàng hơn
Bước 5: Ước tính lợi nhuận
Các nhà quản trị phải xem xét lại các dự toán về doanh số, chi phí và mức lợi nhuận để xác định xem nó có thỏa mãn các mục tiêu của doanh nghiệp không Nếu thỏa mãn được mục tiêu lợi nhuận hay chí ít là có thể tiêu thụ được một số lượng sản
Trang 28phẩm đủ hòa vốn, doanh nghiệp có thể quyết định bước sang giai đoạn phát triển sản phẩm
Phân tích kinh doanh đánh giá kỹ hơn về mục tiêu lợi nhuận, các lợi ích của sản phẩm đem lại, những dự báo cho thị trường và tác động của sản phẩm mới với các sản phẩm hiện có Điều đó có nghĩa là, đánh giả sản phẩm mới có gây ảnh hưởng xấu đến các sản phẩm hiện có hay không?
Tuy nhiên, trong thực tế, không phải lúc nào cũng có thể đánh giá chính xác được khả năng thị trường sản phẩm, với các doanh nghiệp nhỏ thường thì vừa làm vừa điều chỉnh, thử nghiệm, mắc lỗi sai để rút ra kinh nghiệm Với doanh nghiệp nhỏ thì vai trò lãnh đạo, khả năng cảm nhận và quyết tâm triển khai đôi khi quan trọng hơn là những phân tích
Bước 6: Phát triển sản phẩm
Doanh nghiệp bắt tay vào việc biến sản phẩm phác thảo thành sản phẩm thật
sự Khi sản phẩm đã được thiết kế và chế tạo, chúng phải được thử nghiệm Thử nghiệm về chức năng được tiến hành trong phòng thí nghiệm lẫn ngoài thực tế đối với khách hàng để đảm bảo rằng chúng hoạt động an toàn và hiệu quả Thử nghiệm sản phẩm mới đối với khách hàng là yêu cầu khách hàng sử dụng thử rồi đánh giá từng đặc tính cũng như toàn bộ sản phẩm Nếu giai đoạn này kết thúc thành công, sản phẩm mới được chuyển sang giai đoạn thử nghiêm thị trường
Bước 7: Thử nghiệm thị trường
Ở công đoạn này, cả sản phẩm lẫn chiến lược marketing được xây dựng trước đó
sẽ được đem vào môi trường thực tế để thử nghiệm
Thử nghiệm thị trường cho phép những người làm marketing thu được kinh nghiệm trong các hoạt động marketing cho sản phẩm mới, rút ra được những vấn đề cần tiếp tục xử lý và tìm hiểu nguồn thông tin sâu rộng hơn, trước khi tiến hành tung sản phẩm ra thị trường ở quy mô lớn và tốn kém hơn nhiều Thử nghiệm thị trường
Trang 29còn giúp doanh nghiệp tìm hiểu phản ứng của người tiêu dùng cũng như của các trung gian phân phối trong vấn đề xử lý, sử dụng và mua lại sản phẩm
Bước 8: Thương mại hoá
Tung sản phẩm mới ra thị trường Doanh nghiệp cần phải định rõ khi nào nên tung sản phẩm mới ra thị trường, sản phảm mới sẽ được tung ra bán ở đâu, nhằm hạn chế các rủi ro như bị đối thủ cạnh tranh không lành mạnh, khủng hoảng kinh tế
Thương mại hoá sản phẩm là việc tung sản phẩm thực sự vào thị trường Doanh nghiệp sẽ phải xác định thị trường triển khai, cách thức triển khai, các bộ phận tác nghiệp liên quan như bán hàng, quảng cáo, kế toán, chăm sóc khách hàng, hoặc giao nhận
Tiểu kết
Phát triển sản phẩm mới không phải là một công việc độc lập, nó liên quan tới chiến lược, chính sách, cơ sở hạ tầng, nguồn lực của doanh nghiệp Phát triển sản phẩm mới cần gắn liền với toàn bộ hoạt động của doanh nghiệp Cần xem xét và đánh giá nhiều mặt của ý tưởng và sản phẩm, trong đó luôn tôn trọng và nhắm tới nhu cầu của thị trường Bởi vì việc sáng tạo và đổi mới thiếu phương pháp, không có mục đích chính xác sẽ gây ra tổn thất tài chính không đáng có
Phát triển sản phẩm mới phải qua các bước:
Bước 1: Hình thành ý tưởng là bước khởi nguồn sáng tạo, tạo ra sản phẩm dựa trên
nhiều nguồn để ý tưởng trở nên khả thi
Bước 2: Sàng lọc ý tưởng là bước chọn những ý tưởng khả thi nhất với sự tham gia của
nhiều chuyên gia trong nhiều lĩnh vực sẽ giúp những ý tưởng được chọn khách quan hơn
Bước 3: Phát triển và thử nghiệm là bước tạo ra nhiều mô hình sản phẩm làm phong
phú sản phẩn cũng là cơ sở cho đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng sau này
Trang 30Bước 4: Phát triển chiến lược marketing là bước mà doanh nghiệp xây dựng chiến
lược kinh doanh sản phẩm có như vậy sản phẩm mới mới có giá trị giúp doanh nghiệp thành công
Bước 5: Ước tính lợi nhuận là bước để doanh nghiệp dự tính chi phí cần thiết cho sản
xuất sản phẩm sau này, là cơ sở cho xây dựng kế hoạch sản xuất kinh doanh sản phẩn
Bước 6: Phát triển sản phẩm
Bước này liên quan đến phát triển mặt vật lý, kỹ thuật, hoặc thành phẩm cụ thể Doanh nghiệp cần làm mẫu và đầu tư chế tạo thử nghiệm Để giảm thời gian phát triển sản phẩm, và chi phí nghiên cứu, các cán bộ nghiên cứu nên chú trọng việc tìm kiếm thông tin, thu thập các nghiên cứu có sẵn hoặc liên quan để tránh mất thời gian làm lại những gì đã có
Bước 7: Thử nghiệm thị trường
Các kết quả của thử nghiệm thị trường có thể sử dụng để tiên lượng doanh số và khả năng sinh lời chính xác hơn Qua thử nghiệm thị trường, doanh nghiệp có thể xác định nhãn hiệu và bao bì phù hợp Để cẩn thận hơn, doanh nghiệp có thể thực hiện việc kiểm nghiệm thị trường bằng cách cho triển khai ở những vùng thị trường nhỏ Công việc này nhằm mục đích chính là đánh giá các yếu tố liên quan đến chức năng tiếp thị như giá cả, kênh phân phối, thị trường, thông điệp quảng cáo hoặc định vị sản phẩm
Bước 8: Thương mại hoá
Việc cần phải làm cuối cùng là sản xuất sản phẩm và bán hàng để mục tiêu thiết
kế phát triển sản phẩm mới thành công đem lại hiệu quả trong sản xuất kinh doanh cho doanh nghiệp
Những khái niệm trên có thể áp dụng cho sản phẩm nói chung trên thị trường và thị trường thời trang Tuy nhiên trong luận văn này tác giả đi sâu vào nghiên cứu về sản phẩn trong lĩnh vực trang phục thời trang
Trang 311.1.2 Một số khái niệm liên quan trong lĩnh vực thời trang
Quần áo được hiểu là tổng thể những gì dùng để bao bọc phần lớn thân thể gồm
cả đồ mặc lót, nhằm bảo vệ che chở cho con người tránh tác động của khí hậu, phần nào đó biểu thị hoạt động sống nhất định và là một đối tượng nghi lễ [28]
Trang phục là một trong những nhu cầu không thể thiếu của con người Nó là tập hợp tất cả các vật phẩm nhằm bảo vệ con người khỏi ảnh hưởng của môi trường, khí hậu và tô điểm làm đẹp cho con người [32]
Thời trang là trang phục đương thời, là tập hợp những thói quen và thị hiếu phổ biến trong cách mặc, thịnh hành trong một môi trường xã hội nhất định, vào một khoảng thời gian, không gian nhất định [25]
Khái niệm thời trang nói về một xu thế và thiên hướng trong xã hội liên quan đến cách suy nghĩ, giao tiếp, lối sống, được thể hiện bằng cách mặc hoặc bằng một phong
Trang 32cách nào đó và phong cách này có thể thay thế bởi một phong cách khác Thời trang là kiểu hay phong cách phổ biến nhất ở một thời điểm nhất định Thuật ngữ bao gồm ba yếu tố: phong cách, sự thay đổi và sự chấp nhận
Mốt
Mốt là khái niệm có nhiều cách hiểu, cách định nghĩa, mốt có thể là sự kỳ khôi,
kỳ dị; là sự đỏng đảnh, tức thời, dễ thay đổi của thời trang; là những gì xảy ra và tồn tại của thời trang, được lưu truyền rộng rãi và được số đông người biết đến trong một thời gian nhất định; là hiện tượng tự nhiên khi con người hướng tới sự cải tiến, cải thiện đổi mới dáng vẻ bên ngoài
“Mốt” có gốc từ “mode” trong tiếng Pháp hay “model” trong tiếng Anh đều bắt nguồn từ tiếng Latinh “modus”, có nghĩa là cách thức, phương pháp, quy tắc, mức độ chuẩn mực chung đã được công nhận
Theo nghĩa hẹp: Mốt là sự thay đổi thường xuyên các hình thức các kiểu quần áo
sự biến đổi các chi tiết điển hình Trong quá trình tiến hóa chung của xã hội, đòi hỏi các hình thức thể hiện mới, xu hướng mốt không ngừng được biến đổi và hoàn thiện dần theo sự thay đổi của lối sống và thị hiếu
Các hình thức thay đổi của mốt thường là các đặc điểm trang trí, hoa văn, chất liệu vải, trong khi kiểu dáng, kết cấu ít thay đổi
Trang 33Các giai đoạn phát triển của mốt
* Giai đoạn 1: Khởi đầu
• Các nhà thiết kế hàng đầu giới thiệu mốt mới
• Thường là các mẫu đặc sắc, có sở hữu bản quyền
• Mẫu mới chỉ lan truyền trong giới báo chí và giới chuyên môn
• Mọi người săn lùng mốt, tìm đến mốt mới
* Giai đoạn 2: Tăng trưởng
• Nhà sản xuất vào cuộc, bắt đầu thay đổi mốt sao cho phù hợp với phong cách và
thương hiệu
• Tính đặc sắc giảm xuống
• Chất lượng được quan tâm nhưng giá cao
• Các cá nhân theo đuổi thời trang bắt đầu mặc mốt
* Giai đoạn 3: Đỉnh điểm
• Mốt được nhân rộng và sản xuất hàng loạt khắp mọi nơi
• Những người thích thời trang chán mốt
• Các nhà sản xuất không sản xuất thêm, số lượng giảm dần và ngưng hẳn
• Giá giảm mạnh, việc mua bán quần áo theo mốt chấm dứt
• Mốt tụt dốc nhanh chóng
Giai đoạn này người ta ít mặc dần hoặc tất cả mọi người đều mặc như một kiểu trang phục truyền thống Các nhà tạo mẫu chính là những người đưa ra định hướng, hướng dẫn thị hiếu, thẩm mỹ cho công chúng Để đáp ứng nhu cầu đó, bắt buộc nhà thiết kế thời trang phải tạo ra những mẫu mới Công việc tìm kiếm, sáng tạo những
Trang 34mẫu mới của nhà thiết kế phải được tiến hành trước khi người tiêu dùng cảm thấy nhàm chán mốt Họ phải tìm cảm hứng, ý tưởng sáng tạo cho mùa mới, dựa trên những định hướng thời trang trong năm, nhằm kích thích sự ham muốn của người tiêu dùng Khi quá trình sáng tạo hoàn tất, người tiên phong về thời trang nhập cuộc để tìm ra khuynh hướng mới và chu trình của mốt mới lại bắt đầu
Ngày nay, những người tiên phong về thời trang là những nhà thiết kế thời trang chuyên nghiệp với sự thể hiện phong cách của các nhân vật nổi tiếng, các văn nghệ sỹ, các nhà lãnh đạo chính trị và văn hóa Họ là những người có ảnh hưởng rất lớn đến phong cách ăn mặc của công chúng Đó cũng là lần đầu tiên mốt mới xuất hiện trên thị trường Khi những người mặc nó xuất hiện trước các phương tiện thông tin đại chúng thì mẫu sẽ được mặc bởi những người tìm kiếm mốt Mẫu mới sẽ được công chúng biết đến nhiều hơn trên các tạp chí thời trang Dần dần khi quen mắt, với họ những mốt đó
đã trở thành quen thuộc, họ sẽ bắt đầu tưởng tượng rằng chính họ cũng sẽ mặc những
bộ đồ đó, nên sẽ mua chúng, từ đó mốt mới xuất hiện, cho đến khi thích nghi được Có thể phong cách đó sẽ bị thay đổi ít nhiều hoặc bổ sung thêm vài nét chấm phá mới làm
cho sản phẩm đa dạng, tinh tế hơn [26]
Ngày nay cùng với sự phát triển của khoa học kỹ thuật trên phạm vi toàn thế giới làm nảy sinh và thay đổi nhiều vấn đề mới trong xã hội Các thông tin trên thế giới được cập nhật nhanh chóng, ngành thiết kế thời trang cũng phát triển không ngừng mang lại nguồn sinh khí mới cho sự hòa hợp phong cách ăn mặc trên toàn thế giới Đây cũng chính là một trong những yếu tố thúc đẩy ngành thời trang phát triển Trước đây người ta ít có sự lựa chọn về trang phục, nhiều người mặc trang phục giống nhau vì vậy khái niệm về “Mốt” ra đời Ngày nay trang phục rất phong phú và đa dạng nên mọi người thỏa sức lựa chọn những trang phục phù hợp với mình
Thiết kế thời trang
Thiết kế thời trang là nghệ thuật của các ứng dụng thiết kế và thẩm mỹ cho vẻ đẹp
tự nhiên của quần áo và phụ kiện [20]
Trang 35Thiết kế thời trang là công việc của một tập thể bao gồm các họa sĩ thời trang, các kỹ sư thiết kế, kỹ sư công nghệ, nhà kinh tế với nhiệm vụ tạo ra những trang phục mới (gồm tất cả những gì con người khoác trên cơ thể bao gồm cả đồ đội trên đầu, đồ
đi dưới chân, đồ đắp trên mặt và những gì được sử dụng kèm theo quần áo) Chỉ khi nào sản phẩm được thị trường chấp nhận, số đông người tiêu dùng ưa thích, chấp nhận thì đó được gọi là thiết kế thời trang
Thiết kế thời trang được xem như một môn nghệ thuật ứng dụng đòi hỏi nhà thiết
kế phải có tài năng và óc sáng tạo không ngừng nghỉ Các sáng tạo không chỉ đơn thuần là về kiểu dáng, màu sắc, chất liệu, hình thức trang trí mà còn bao gồm các phụ kiện sao cho phù hợp với văn hóa, xã hội và thời đại Tuy nhiên, khái niệm về thiết kế thời trang được hiểu khá rộng Thiết kế thời trang gắn liền với nền công nghiệp làm đẹp, gồm ba lĩnh vực chính: Trang phục, phụ kiện, trang sức Người làm công việc thiết kế thời trang cần phải sáng tạo, tìm tòi, nghiên cứu để cho ra đời những tác phẩm thời trang theo xu hướng thẩm mỹ của xã hội giúp làm đẹp cho con người, cho cuộc sống với cả hai hướng là trình diễn nghệ thuật (trang phục biểu diễn) và hướng ứng dụng thực tế (trang phục thường ngày)
• Hướng trình diễn nghệ thuật là để các nhà thiết kế thể hiện ý tưởng thẩm mỹ,
thử nghiệm các kỹ thuật hay chất liệu mới trong cắt may với mục đích quảng bá và để mọi người chiêm ngưỡng Thông thường, những thử nghiệm thiên về trình diễn nghệ thuật là ý tưởng ban đầu cho việc thiết kế các mẫu thời trang ứng dụng Các bộ sưu tập nặng về trình diễn là để tạo ấn tượng và khẳng định phong cách trước đồng nghiệp và các nhà chuyên môn Đây cũng chính là là nguồn cảm hứng và kích thích tư duy thiết
kế thời trang cho các nhà thiết kế
• Hướng ứng dụng thực tế giúp tạo ra những bộ quần áo mặc hàng ngày Các bộ
sưu tập mang tính ứng dụng thường hướng tới số đông người tiêu dùng sử dụng hàng ngày
Thời trang là sự tổng hòa của cả hai hướng thiết kế, chúng liên quan mật thiết với
Trang 36nhau, hòa quyện vào nhau không thể tách rời Thiếu đi một trong hai thời trang sẽ mất
đi tính chất đặc trưng vốn có của nó Vì thời trang là tổng hợp của nghệ thuật và là hơi thở của cuộc sống
Thiết kế thời trang hiện đại được chia làm 2 loại: Thời trang cao cấp và thời trang may sẵn
Thời trang cao cấp: Là những thiết kế được dành riêng cho những khách hàng
nhất định và được điều chỉnh để phù hợp với những khách hàng đó một cách chính xác Đôi khi thời trang cao cấp cũng có thể là được cắt may theo kích thước tiêu chuẩn và
sử dụng chất liệu, thiết bị, công nghệ cao kết hợp kỹ thuật thiết kế hiện đại biến nó trở
thành sản phẩm thời trang cao cấp
Thời trang may sẵn: Là những sản phẩm được thiết kế theo kích thước tiêu
chuẩn, không làm cho đối tượng khách hàng cố định nào mà phục vụ số đông nên số lượng sản phẩm sản xuất sẽ rất lớn sản phẩm thời trang may sẵn được nhiều người đón nhận hơn, nhiều bộ giống nhau và bán phổ biến trên trị trường [20]
Thiết kế kỹ thuật
Trong các giai đoạn thiết kế phát triển sản phẩm thì giai đoạn thiết kế kỹ thuật là giai đoạn tương đối quan trọng của dự án phát triển sản phẩm Giai đoạn thiết kế này sẽ
cụ thể hoá sản phẩm thành các bản vẽ chi tiết trên cơ sở tính toán, đánh giá đầy đủ về
kỹ thuật, công nghệ, kinh tế v.v…
Thiết kế mẫu trong sản xuất thường được tiến hành theo thị hiếu người tiêu dùng
và sản xuất theo đơn đặt hàng khi khách hàng không cung cấp mẫu mềm Nếu khách hàng cung cấp mẫu mềm thì cần kiểm tra mẫu phục vụ cho công tác sản xuất [29] Theo đó thiết kế mẫu kỹ thuật là thiết kế các yếu tố như kích thước, hình dáng, kết cấu của sản phẩm, tạo ra các chi tiết nhằm tối ưu hóa các chức năng, giá trị, đem tới lợi ích cho cả người dùng và nhà sản xuất Thiết kế kỹ thuật đóng vai trò then chốt trong việc định hình sản phẩm nhằm thỏa mãn nhu cầu của khách hàng
Trang 37 Thiết kế công nghệ
Là thiết kế các yếu tố như thiết bị, thông số công nghệ, định mức, tiêu chuẩn và quy trình sản xuất [33]
1.1.3 Một số khái niệm về sản phẩm và thiết kế sản phẩm trang phục thời trang
Sản phẩm trang phục, thời trang
Từ các khái niệm về trang phục và thời trang trên đây chúng ta thấy rằng các sản phẩm trang phục thời trang cũng rất phong phú và đa dạng Sản phẩm trang phục là những sản phẩm thông thường cho tất cả mọi người đều có thể mặc trong tất cả các mùa và tồn tại cùng với thời gian Sản phẩm thời trang là loại sản phẩm liên tục thay đổi theo thời gian, là sản phẩm theo xu hướng thời trang và được nhiều khách hàng ưa chuộng mỗi mùa
Sản phẩm mới trong trang phục
Qua việc tìm hiểu khái niệm sản phẩm và trang phục, thời trang ta có thể hệ thống
và tổng kết sản phẩm mới trong lĩnh vực trang phục và thời trang như sau:
1 Những sản phẩm mới đối với thế giới: Là những bộ sưu tập thời trang, phụ trang cao cấp, mang ý tưởng tiên phong, hoặc những chủng loại sản phẩm trang phục với vật liệu được nghiên cứu mới, công nghệ mới…., sản phẩm mới tạo ra một thị trường hoàn toàn mới
2 Những dòng sản phẩm mới: Là những bộ sưu tập thời trang sản xuất hàng loạt, theo xu hướng thời trang được ra mỗi mùa trong năm
3 Bổ sung loại sản phẩm hiện có: Là những sản phẩm trang phục, phụ trang được thiết kế bổ xung cho những bộ sưu tập thời trang, phụ trang đã có trước
4 Cải tiến sản phẩm hiện có: Cải tiến các trang phục, phụ trang đã có trước làm cho sản phẩm được nâng cao về mẫu mã hoặc kỹ thuật…
5 Sản phẩm được định vị lại: Là những sản phẩm trang phục, phụ trang đã có được mở rộng sang thị trường mới hoặc mở rộng cho khách hàng mới…
6 Sản phẩm giảm chi phí: Những sản phẩm trang phục, phụ trang được nghiên cứu đổi mới về thiết kế, công nghệ sản xuất nhằm giảm chi phí sản phẩm
Trang 38 Thiết kế phát triển sản phẩm trang phục thời trang
Qua quá trình thiết kế phát triển sản phẩm đã nghiên cứu ở trên và đặc thù riêng của sản phẩm trong trang phục thời trang ta có thể tổng kết về quá trình thiết kế phát triển trong lĩnh vực trang phục thời trang như sau:
* Dự báo xu hướng thiết kế phát triển sản phẩm trang phục thời trang
Dự báo xu hướng thời trang là quá trình các nhà nghiên cứu, các nhà thiết kế thời trang tìm hiểu xu hướng thời trang của các nước trên thế giới; sự dịch chuyển xu hướng thời trang qua các mùa; nghiên cứu ảnh hưởng của xu thế văn hóa, xã hội đến hành vi lựa chọn sử dụng thời trang của người tiêu dùng trong tương lai; ảnh hưởng sự tiến bộ khoa học kỹ thuật; ảnh hưởng của các vấn đề toàn cầu Dựa vào các thông tin trên, các nhà nghiên cứu sẽ phân tích, đánh giá kết hợp với việc ứng dụng đường cong chu kỳ hay quy luật vận động của màu sắc, kiểu dáng qua các năm và căn cứ vào thực tế các mùa trước liền kề để dự báo mùa kế tiếp
Dự báo xu hướng thời trang được mô tả bằng chủ đề, hình ảnh, bảng nhóm màu
và có thể bằng mẫu nguyên liệu hay mẫu sản phẩm thực tế về màu sắc, nguyên phụ liệu, kiểu dáng, họa tiết của các sản phẩm thời trang và các phụ trang đi kèm như trang sức, mũ, giày, túi… Các dự báo này phân thành hai loại: dự báo xa (trước mùa từ 18-
36 tháng) và dự báo gần (trước mùa từ 3-12 tháng) [6]
Dự báo xu hướng thời trang dựa trên các nguồn như các chương trình quảng cáo, tuần lễ thời trang, thời trang cao cấp, thời trang ứng dụng, tạp chí thời trang, bộ hình thời trang và từ những giám đốc sáng tạo.v.v Các nguồn này được hiểu như sau:
• Tuần lễ thời trang
Đây là khoảng thời gian các nhà thời trang, nhà thiết kế tập trung lại để giới thiệu những bộ sưu tập mới nhất của mình
Trong một năm có 2 tuần lễ thời trang chính: xuân-hè và thu-đông, tuần lễ thời trang xuân hè thường diễn ra vào trung tuần tháng 2, tuần lễ thời trang thu đông tổ chức vào giữa tháng 9 Gọi là tuần lễ nhưng sự kiện này kéo dài trong 1 tháng, lần lượt
Trang 39qua 4 trung tâm thời trang chính của thế giới là New York, London, Milan và Paris
• Thời trang cao cấp
Là cụm từ chung để nói về thời trang hàng hiệu do các nhà tạo mốt danh tiếng nhất thực hiện, nhằm phân biệt với dòng thời trang bình thường khác hay sản xuất hàng loạt
• Thời trang ứng dụng
Là loại trang phục và các thiết kế được giới thiệu tại các tuần lễ thời trang, mang tính ứng dụng vào thực tiễn cao
• Giám đốc sáng tạo
Họ là người lên ý tưởng bản thiết kế thời trang, theo dõi quá trình sản xuất quần
áo và dẫn dắt dòng thời trang của mình đi theo đúng hướng
Khi hoạt động độc lập, họ được gọi là “Nhà thiết kế”, với dòng sản phẩm mang chính tên của mình (ví dụ như Jean Paul Gaultier, Marc Jacobs, John Galliano), nhưng hầu hết các “Nhà thiết kế” đều về đầu quân cho một nhà thời trang lớn, khi ấy, họ trở thành Giám đốc sáng tạo, chịu trách nhiệm tất cả mọi việc liên quan tới thời trang-kinh doanh (ví dụ: Alber Elbaz là Giám đốc sáng tạo của nhà Lanvin, Riccardo Tisci là Giám đốc sáng tạo cho nhà Givenchy, vv)
• Tạp chí thời trang
Là tạp chí chuyên ngành chỉ dành cho thời trang Hiện nay, tạp chí hàng đầu và cao cấp nhất là Vogue, có nhiều phiên bản Vogue khác nhau, nhưng danh tiếng và uy tín nhất vẫn là Vogue US - Vogue Paris - Vogue Italia - Vogue UK
Thấp hơn Vogue có W Magazine, Numéro, V Magazine, i-D, Dazed & Confused, Harper Bazaar
Trang 40Cũng giống như bất kỳ sản phẩm nào khác, các bộ sưu tập cũng cần có hình ảnh quảng cáo để tiếp cận người tiêu dùng rộng rãi hơn Sau mỗi đợt phát hành bộ sưu tập mới tại tuần lễ thời trang, các nhà thiết kế sẽ chọn nhiếp ảnh gia và manocanh để chụp quảng cáo báo chí Những hỉnh ảnh này được đăng trên các tạp chí thời trang [10]
* Quá trình phát triển sản phẩm trang phục thời trang dưới góc độ tạo mẫu
Quá trình thiết kế bắt đầu từ việc tìm kiếm các nguồn cảm hứng sáng tạo từ môi trường sống xung quanh chúng ta, tiến hành lên ý tưởng, phác thảo ý tưởng, tạo ra các
bản vẽ thể hiện mẫu từ cách phối màu sắc, chi tiết trang trí… gọi là thiết kế tạo mẫu
Sau công đoạn lên ý tưởng, nhà thiết kế tiến hành chọn nguyên liệu (vải, chỉ, phụ kiện trang trí) phù hợp cho phác thảo Dựa trên thông số cơ thể của người mặc tiến hành
thiết kế kỹ thuật, tạo ra bản vẽ kỹ thuật phù hợp phom dáng của phác thảo May mẫu
và hiệu chỉnh, tạo phong cách cho trang phục hoàn thiện một cách hoàn hảo và tỉ mỉ
Bước 1: Thiết kế tạo mẫu
Đây là một trong những bước đầu tiên và quan trọng để tạo ra một sản phẩm thời trang
• Nghiên cứu xu hướng
Các nhà thiết kế mô phỏng xu hướng thời trang sắp tới cho mùa bằng cách nghiên cứu và phân tích các sự kiện thời trang liên tục như trình diễn thời trang New York, London Fashion, Paris và Milan trình diễn thời trang, nơi một số các nhà thiết kế lừng lẫy giới thiệu bộ sưu tập của họ Với một ý tưởng hợp lý của các xu hướng sắp tới về hình dáng, màu sắc, chất liệu.Mỗi nhà thiết kế thực hiện một chủ đề Một chủ đề có thể
là một tập hợp các cảm xúc hay một thông điệp rằng một nhà thiết kế được thiết lập để thể hiện thông qua thiết kế của mình Các chủ đề này sau đó được thể hiện trên một bảng tổng hợp ý tưởng với đầy đủ các hình ảnh, từ ý tưởng các loại vải, trang trí, phụ kiện …, được sử dụng để tạo ra một chủ đề hay một bộ sưu tập
Với một ý tưởng hợp lý của các xu hướng sắp tới về hình dáng, màu sắc, chất liệu Một chủ đề có thể là một tập hợp các cảm xúc hay một thông điệp, các chủ đề này