1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

GIẢNG dạy từ NGỮ TRONG văn học TRUNG đại

3 200 1

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 3
Dung lượng 50,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nếu văn học dân gian, ở không ít tác phẩm tiếng Việt còn mộc mạc, giản dị, thì ở nhiều tác phẩm văn học trung đại, tiếng Việt văn học đã đạt mức điêu luyện, tinh xảo, đặc biệt với những

Trang 1

Sáng kiến kinh nghiệm.

GIẢNG DẠY TỪ NGỮ TRONG VĂN HỌC TRUNG ĐẠI

I LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI :

Văn học trung đại là một bộ phận quan trọng của văn học dân tộc Nó chiếm một vị trí quan trọng trong chương trình ở trường phổ thông và là phần

mở đầu cho nền văn học viết của dân tộc Nếu văn học dân gian, ở không ít tác phẩm tiếng Việt còn mộc mạc, giản dị, thì ở nhiều tác phẩm văn học trung đại, tiếng Việt văn học đã đạt mức điêu luyện, tinh xảo, đặc biệt với những tác phẩm văn học ở thế kỉ XVIII và XIX, các hình thức mĩ từ như ẩn dụ, hoán dụ, tượng trưng, nhân hóa, thâm xưng, điệp ngữ, đảo ngữ, chơi chữ đều có trong văn học cổ

Vì thế, việc giảng dạy từ ngữ trong giảng văn phần văn học trung đại không chỉ làm cho học sinh hiểu và cảm được cái hay, cái đẹp của bài văn, bài thơ mà còn có khả năng rèn luyện ngôn ngữ cho các em, nhất là ngôn ngữ viết

II MỤC ĐÍCH :

Văn học trung đại có nhiều từ ngữ cổ Những từ ngữ này hiện nay học sinh

ít được gặp và do vậy các em không hiểu Đối với văn chương, muốn thấy cái hay, cái đẹp, trước hết phải hiểu Đối với từ ngữ cũng vậy, muốn thấy cái hay của từ, của việc dùng từ, trước hết phải hiểu ý nghĩa của chúng Sách giáo khoa

có phần chú thích các từ cổ, song việc chú thích đó dù có chu đáo đến đâu vẫn chưa đủ Chính đặc điểm này làm cho sự cảm thụ của học sinh đối với văn học trung đại gặp khó khăn

Khi giảng dạy từ ngữ trong giảng văn về nội dung, giáo viên cần phân tích

ý nghĩa của từ và sắc thái biểu cảm của từ

III NHỮNG ỨNG DỤNG THỰC TẾ :

Chúng ta thường gặp trong chương trình phổ thông các thể loại văn học trung đại như truyện, văn tế, phú, cáo Đó là truyện “Hoàng Lê Nhất Thống Chí” của Ngô Gia Văn Phái ; phú sông Bạch Đằng của Trương Hán Siêu ; Đại cáo Bình Ngô của Nguyễn Trãi ; văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc của Nguyễn Đình Chiểu Gọi chung là văn học trung đại, nhưng mỗi thể loại lại có đặc điểm riêng về nội dung, cấu trúc, ngôn ngữ Do vậy, khi phân tích từ ngữ trong giảng văn đối với các thể loại trong văn học trung đại phải lựa chọn nội dung và phương pháp phân tích từ ngữ thích hợp :

1/ Đối với bài “Phú sông Bạch Đằng” của Trương Hán Siêu, giáo viên phân tích ngôn ngữ miêu tả, từ ngữ miêu tả ở ba câu thơ sau :

“Bát ngát sóng kình muôn dặm

Trang 2

Thướt tha đuôi trĩ một màu

Nước trời một sắc, phong cảnh ba thu”

Giáo viên cho học sinh biết đây là cảnh sông Bạch Đằng lúc bình yên sau các chiến thắng của Ngô Quyền, của Trần Hưng Đạo dưới con mắt của khách du ngoạn - Trương Hán Siêu, cảnh sông rộng “bát ngát”, đẹp một cách hùng vĩ : “Sóng kinh muôn dặm”, và tráng lệ “Nước trời một sắc ; phong cảnh

ba thu” (Nước, trời một màu xanh tiếp giáp bao la một phong cảnh mùa thu) Cảnh sông đẹp, rộng bát ngát, bao la mà vẫn ấm áp tấp nập

“Thướt tha đuôi trĩ một màu” (thuyền có bánh lái như đuôi trĩ xếp hàng trên sông lượn thướt tha) Cảnh tỉnh mà sinh động, tươi mát, trong trẻo mà hùng vĩ

“Bát ngát sóng kình muôn dặm > < Thướt tha đuôi trĩ một màu” Giáo viên phân tích cho học sinh thấy nhờ sự đối lập nhau giữa hai vế câu mà hai nét của cảnh sắc nổi bật lên, tạo ra vẻ đẹp hài hòa : vừa hùng vĩ, tráng lệ vừa bao la bát ngát, uyển chuyển sinh động

2/ Chương trình lớp 11 có bài văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc của Nguyễn Đình Chiểu thì giáo viên sẽ phân tích ngôn ngữ miêu tả khắc họa nhân vật và ngôn ngữ trữ tình của tác giả Ngoài ra, giáo viên cần chú ý phân tích ngôn ngữ miêu

tả, khắc họa hình ảnh người đã khuất Ở câu “Nhớ linh xưa cui cút làm ăn, toan

lo nghèo khó” Sách giáo khoa chú thích : “cui cút (côi cút) : bơ vơ, không nơi nương tựa Cả câu ý nói âm thầm, lặng lẽ làm ăn mà vẫn nghèo khó suốt đời” Giáo viên phân tích cho các em thấy là côi cút làm ăn, chứ không phải làm ăn côi cút Đảo từ đã làm cho tính chất côi cút được khắc họa đậm nét Côi cút (không có người nương tựa) gợi đến ngữ cảnh : em bé mồ côi, thân bé mồ côi,

mồ cút gợi tấm lòng thương cảm sâu sắc

Sách giáo khoa không chú thích từ “toan lo”, giáo viên làm rõ ý của từ này

để học sinh hiểu “toan lo nghèo khó” chứ không phải là “nghèo khó lo toan” Đảo ngữ nhấn mạnh cái lo toan, khắc sâu, tô đậm cái lo toan suốt đời người nông dân Nhưng ở đây không phải “lo toan” mà là “toan lo”, cũng lại đảo từ, nhấn mạnh khía cạnh “toan”, tức khía cạnh toan tính, liệu việc đảm đang vượt qua cái nghèo, cái khó Toan lo - không giống hoàn toàn nghĩa với “lo toan” Nó

là lo tính toán nhưng còn là dũng cảm, thông minh, chịu đựng Từ đó, giáo viên cho học sinh thấy chỉ trong tám tiếng “côi cút làm ăn ; toan lo nghèo khó” mà Nguyễn Đình Chiểu đã khắc họa khái quát được hình ảnh người nông dân mộ nghĩa : làm ăn vất vả cô đơn không ai giúp đỡ, chịu thương chịu khó lo liệu Ở đây có cả cái đức chịu đựng, cần cù, thông minh, dũng cảm

Giáo viên phân tích ngôn ngữ trữ tình trong câu “Ôi ! một trận khói tan ; nghìn năm tiết rỡ ” Câu văn bộc lộ lòng cảm phục của tác giả đối với các linh hồn dân mộ nghĩa Từ “ôi” là từ cảm thán, khóc than nhưng cũng là từ biểu hiện tấm lòng cảm phục Hai hình ảnh đối chọi nhau : “Một trận khói tan > < ngàn

Trang 3

năm tiết rỡ “ nói lên một sự thật : dấu tích các trận đánh sẽ mất đi nhưng cái còn lại vĩnh viễn bất diệt là lòng yêu nước, tinh thần dũng cảm của người nghĩa sĩ Qua mấy từ ngữ và hình ảnh “ngàn năm tiết rỡ “ rực rỡ vĩnh viễn như vầng dương đó, để học sinh thấy tấm lòng cảm phục khôn cùng của Nguyễn Đình Chiểu đối với người nghĩa sĩ đã hy sinh

3/ Bài “Đại cáo Bình Ngô” của Nguyễn Trãi, giáo viên phân tích ngôn ngữ chính luận và ngôn ngữ đặc tả

Khi phân tích ngôn ngữ đặc tả trong bài cáo ở câu “Trúc Nam Sơn không ghi hết tội ; nước Đông Hải không rửa sạch mùi” giáo viên cho học sinh thấy ngôn ngữ và hình ảnh so sánh có tác dụng cụ thể hóa tội ác của giặc rất nhiều, rất lớn “Trúc Nam Sơn không ghi hết tội” ; tội ác của giặc xấu xa, dơ bẩn

“nước Đông Hải không rửa sạch mùi “ hình ảnh này cũng là sự tổng kết khái quát hóa những từ ngữ, hình ảnh, chi tiết ngôn ngữ đặc tả, có thực : “Người bị

ép xuống biển dòng lưng mò ngọc, ngán thay cá mập thuồng luồng - kẻ bị đem vào núi đãi cát tìm vàng, khốn nỗi rừng sâu, nước độc”

Hoặc tác giả dùng ngôn ngữ và hình ảnh đặc tả bọn xâm lược “Mã Kì, Phương Chính, cấp cho năm trăm chiếc thuyền, ra đến bể mà vần hôn bay phách lạc - Vương Thông, Mã Anh, phát cho vài nghìn cỗ ngựa, về đến nước mà vẫn tim đập chân run” Nghệ thuật đặc tả với những từ ngữ được dùng sắc sảo đã ghi lại những chi tiết có thực “tim đập chân run” diễn tả sự khiếp nhược đến cùng cực của bọn xâm lược bại trận

IV KẾT LUẬN :

Thực tế giảng dạy cho thấy không phải lúc nào giáo viên cũng có thể giúp học sinh hiểu rõ hết và tường tận những từ ngữ cổ trong văn học trung đại với thời lượng chỉ 45 phút Do đó giáo viên cần nghiên cứu kĩ bài văn, bài thơ để chọn ra một số từ để phân tích hoặc trong một bài văn, bài thơ có những từ ngữ

có giá trị đặc biệt về việc biểu hiện đặc sắc nghệ thuật ngôn ngữ và đặc điểm phong cách ngôn ngữ nghệ thuật của tác giả thì giáo viên cần ưu tiên phân tích

kĩ càng hơn

Để làm tốt công việc giảng dạy từ ngữ trong văn học trung đại, giáo viên luôn luôn bồi dưỡng cho mình về chuyên môn nghiệp vụ sư phạm để mỗi giờ văn lên lớp là một giờ dạy thành công, hấp dẫn, lôi cuốn các em học sinh ngày một yêu thích tìm hiểu văn học hơn

Ngày đăng: 23/10/2017, 16:19

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w