1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Pháp luật về giới hạn cấp tín dụng để đảm bảo an toàn hoạt động của ngân hàng thương mại cổ phần tại việt nam

111 661 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 111
Dung lượng 1,38 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

vấn đề này, tác giả đã chọn nghiên cứu đề tài luận văn là “Pháp luật về giới hạn cấp tín dụng để đảm bảo an toàn hoạt động của ngân hàng thương mại cổ phần tại Việt Nam”, trong đó, luận

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

TRỊNH THỊ BÍCH DIỆP

PHÁP LUẬT VỀ GIỚI HẠN CẤP TÍN DỤNG ĐỂ ĐẢM BẢO AN TOÀN HOẠT ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN TẠI VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Hà Nội – 2016

Trang 2

Chuyên ngành: Luật kinh tế

Mã số : 60 38 01 07

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Cán bộ hướng dẫn khoa học: PGS.TS LÊ THỊ THANH

Hà Nội – 2016

Trang 3

iii

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội

Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn!

NGƯỜI CAM ĐOAN

Trịnh Thị Bích Diệp

Trang 4

1

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ 5

MỞ ĐẦU 6

Chương I 13

MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ GIỚI HẠN CẤP TÍN DỤNG VÀ PHÁP LUẬT VỀ GIỚI HẠN CẤP TÍN DỤNG ĐỂ ĐẢM BẢO AN TOÀN HOẠT ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN 13

1.1 Khái niệm, đặc điểm, phân loại giới hạn cấp tín dụng 13

1.1.1 Khái niệm giới hạn cấp tín dụng 13

1.1.2 Đặc điểm giới hạn cấp tín dụng 14

1.1.3 Phân loại giới hạn cấp tín dụng 15

1.2 Khái quát về an toàn hoạt động của NHTMCP 16

1.3 Vai trò của giới hạn cấp tín dụng đối với an toàn hoạt động của NHTMCP 18

1.4 Sự cần thiết phải quy định bằng pháp luật về giới hạn cấp tín dụng để đảm bảo an toàn hoạt động của NHTMCP 19

1.5 Pháp luật về giới hạn cấp tín dụng trong hoạt động của NHTMCP 21

1.5.1 Khái niệm pháp luật về giới hạn cấp tín dụng để bảo đảm an toàn hoạt động của NHTMCP 21

1.5.2 Nội dung chủ yếu của pháp luật về giới hạn cấp tín dụng trong hoạt động của NHTMCP 21

KẾT LUẬN CHƯƠNG I 30

THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VÀ ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VỀ

GIỚI HẠN CẤP TÍN DỤNG ĐỂ ĐẢM BẢO AN TOÀN HOẠT ĐỘNG

CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN TẠI VIỆT NAM HIỆN NAY 32

Trang 5

2

2.1 Giới hạn về chủ thể được cấp tín dụng 33

2.1.1 Giới hạn về tổ chức, cá nhân không được trở thành chủ thể được NHTMCP cấp tín dụng 34

2.1.2 Giới hạn chủ thể bị hạn chế cấp tín dụng 40

2.1.3 Giới hạn chủ thể được cấp tín dụng 44

2.2 Giới hạn về quyền lợi được ưu đãi 54

2.3 Thủ tục cấp tín dụng trong giới hạn cấp tín dụng 55

2.4 Giới hạn về tổng mức dư nợ cấp tín dụng 59

2.5 Giới hạn về lĩnh vực cấp tín dụng 66

2.6 Giới hạn về biện pháp bảo đảm 70

2.7 Những ưu điểm, nhược điểm của pháp luật hiện hành về giới hạn cấp tín dụng tác động đến an toàn hoạt động của NHTMCP tại Việt Nam 72

2.7.1 Ưu điểm của pháp luật hiện hành về giới hạn cấp tín dụng tác động của chúng đến an toàn hoạt động của NHTMCP tại Việt Nam 72

2.7.2 Nhược điểm của pháp luật hiện hành về giới hạn cấp tín dụng tác động của chúng đến an toàn hoạt động của NHTMCP tại Việt Nam 75

KẾT LUẬN CHƯƠNG II 81

Chương III 83

ĐỊNH HƯỚNG VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ NHẰM HOÀN THIỆN

PHÁP LUẬT VỀ GIỚI HẠN CẤP TÍN DỤNG ĐỂ ĐẢM BẢO

AN TOÀN HOẠT ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

CỔ PHẦN TẠI VIỆT NAM 83

3.1 Cơ sở để hoàn thiện pháp luật về giới hạn cấp tín dụng để đảm bảo an toàn hoạt động của các NHTMCP tại Việt Nam 83

3.2 Phương hướng hoàn thiện pháp luật về giới hạn cấp tín dụng để đảm bảo an toàn hoạt động của các NHTMCP tại Việt Nam 88

Trang 6

3

3.3 Một số kiến nghị giải pháp hoàn thiện pháp luật về giới hạn cấp tín dụng

để đảm bảo an toàn hoạt động của các NHTMCP tại Việt Nam 89

3.3.1 Giải pháp hoàn thiện pháp luật về giới hạn cấp tín dụng để đảm bảo an toàn hoạt động của NHTMCP tại Việt Nam 90

3.3.2 Xây dựng cơ chế đồng bộ nhằm hỗ trợ, hướng dẫn, quản lý giám sát và bảo đảm tuân thủ trên thực tế quy định về giới hạn cấp tín dụng để đảm bảo an toàn hoạt động của NHTMCP tại Việt Nam 96

KẾT LUẬN CHƯƠNG III 100

KẾT LUẬN 101

TÀI LIỆU THAM KHẢO 104

Trang 7

Thông tư

06/2016/TT-NHNN

: Thông tư 06/2016/TT-NHNN ngày 27/5/2016 sửa đổi Thông tư 36/2014/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước quy định

về giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài

Thông tư

07/2015/TT-NHNN

: Thông tư 07/2015/TT-NHNN ngày 25/6/2016 của Ngân hàng Nhà nước quy định về bảo lãnh ngân hàng

Thông tư

13/2010/TT-NHNN

: Thông tư số 13/2010/TT-NHNN ngày 20/5/2010 của Ngân hàng Nhà nước quy định về các tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của tổ chức tín dụng

Trang 8

5

DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ

Sơ đồ 2.1 Người có liên quan của tổ chức

Sơ đồ 2.2 Người có liên quan của cá nhân

Trang 9

6

MỞ ĐẦU

1 Đặt vấn đề

1.1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu

Ngân hàng thương mại cổ phần là một trong các tổ chức tài chính quan trọng nhất của nền kinh tế thực hiện chức năng luân chuyên vốn, góp phần điều tiết nguồn vốn cho nền kinh tế Hoạt động kinh doanh của NHTMCP được phân vào nhóm hoạt động kinh doanh có mức độ rủi ro cao nhất bởi đối tượng của hoạt động kinh doanh ngân hàng là tiền - là hàng hóa đặc biệt do chính Nhà nước phát hành, là công cụ thanh toán trong nền kinh

tế, nó có sự ảnh hưởng và liên quan đến nhiều chủ thể trong xã hội Chỉ một biến động nhỏ trong hoạt động kinh doanh cũng có thể gây tác động đến hoạt động của không chỉ NHTMCP đó mà có thể ảnh hưởng đến toàn ngành ngân hàng (một thay đổi nhỏ về lãi suất có thể dẫn đến sự dịch chuyển khách hàng

từ ngân hàng này sang ngân hàng khác) Do vậy, mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận kinh doanh luôn được pháp luật cũng như mỗi NHTMCP gắn liền với yêu cầu đảm bảo an toàn kinh doanh Tuy nhiên, trong xu thế thị trường hiện tại, khi các NHTMCP đang phải cạnh tranh khốc liệt thì các NHTMCP vẫn thường đặt mục tiêu lợi nhuận lên trên hết mà chưa coi trọng vấn đề an toàn hoạt động Trong khi đó, bản chất của hoạt động ngân hàng mang tính “dây chuyền”, mang tính hệ thống nên chỉ cần một NHTMCP “có vấn đề” nó sẽ không chỉ ảnh hưởng đến an toàn hoạt động của một mình NHTMCP đó mà còn ảnh hưởng đến NHTMCP khác, ảnh hưởng chung đến toàn ngành ngân hàng và dẫn đến ảnh hưởng đến nền kinh tế

Đồng thời, hoạt động kinh doanh của NHTMCP bao gồm rất nhiều hoạt động như: huy động vốn, cấp tín dụng, thanh toán, phái sinh, ngoại hối,

… trong đó, tín dụng là hoạt động truyền thống, hoạt động cốt lõi và cơ bản

Trang 10

7

đem lại nguồn lợi nhuận cho các NHTMCP nhưng cũng chính vì thế nên nó luôn tiềm ẩn nhiều rủi ro nhất cho NHTMCP Do hoạt động của NHTMCP là kinh doanh tiền, “mang” tiền đi cho vay để thu lợi nhuận là lãi suất vay mà tiền nội tại của NHTMCP có để cho vay chỉ nằm trong vốn điều lệ còn lại là vốn đi vay từ hoạt động huy động nên khi hoạt động cấp tín dụng gặp rủi ro thì NHTMCP không chỉ rơi vào tình trạng mất vốn tự có của bản thân mình

mà còn có nguy cơ không thể trả được số tiền đã huy động của khách hàng Điều đó có nghĩa, rủi ro từ hoạt động cấp tín dụng của NHTMCP có thể ảnh hưởng đến hoạt động huy động vốn kéo theo ảnh hưởng đến toàn bộ hoạt động của NHTMCP

Để đảm bảo hạn chế rủi ro kinh doanh, hoạt động cấp tín dụng của NHTMCP cần đánh giá được toàn diện khách hàng mà cốt lõi là năng lực tài chính và khả năng trả nợ của khách hàng Nếu không đánh giá được năng lực tài chính của khách hàng, không đánh giá được khả năng hoàn trả cả gốc và lãi đúng thời hạn của khách hàng mà chỉ cấp tín dụng dựa vào tài sản bảo đảm thì rủi ro từ hoạt động cấp tín dụng càng cao Đến khi NHTMCP buộc phải xử

lý tài sản bảo đảm để thu hồi nợ là lúc nợ xấu đã xảy ra, NHTMCP có khả năng bị mất vốn và có thể dẫn đến tình trạng mất thanh khoản

Bản chất hoạt động cấp tín dụng của NHTMCP luôn tiềm ẩn nhiều rủi

ro như vậy nên cần phải đặt ra các điều kiện, những giới hạn về mặt tỷ lệ an toàn trong hoạt động cấp tín dụng để đảm bảo an toàn cho hoạt động chung của NHTMCP, tránh những rủi ro tiềm ẩn có thể gặp phải Tuy vậy, pháp luật

là một trong các công cụ điều chỉnh hoạt động cấp tín dụng của NHTMCP lại chưa xây dựng được các quy định đầy đủ và hoàn thiện, trong tổng thể

“khung” pháp luật còn nhiều chỗ chồng chéo và mâu thuẫn hay “đâu đấy” có những quy định chưa chặt chẽ nên các NHTMCP vẫn cố tính “lách luật”

Trang 11

vấn đề này, tác giả đã chọn nghiên cứu đề tài luận văn là “Pháp luật về giới

hạn cấp tín dụng để đảm bảo an toàn hoạt động của ngân hàng thương mại

cổ phần tại Việt Nam”, trong đó, luận văn này sẽ hướng tới hai nội dung: (1)

Phân tích các quy định của pháp luật Việt Nam về giới hạn cấp tín dụng để đảm bảo an toàn hoạt động của NHTMCP và những bất cập trong việc thực thi pháp luật đó; (2) Giải pháp hoàn thiện pháp luật về giới hạn cấp tín dụng

để đảm bảo an toàn hoạt động của NHTMCP tại Việt Nam

1.2 Mục tiêu nghiên cứu

1.2.1 Mục tiêu tổng quát

Nghiên cứu một cách hệ thống cơ sở lý luận của pháp luật về các giới hạn cấp tín dụng để bảo đảm an toàn hoạt động tại NHTMCP và đánh giá thực trạng hệ thống pháp luật cũng như thực tiễn thực thi pháp luật về giới hạn cấp tín dụng để bảo đảm an toàn hoạt động của NHTMCP tại Việt Nam Trên cơ sở những nghiên cứu đó, tác giả đưa ra những kiến nghị nhằm bổ sung, hoàn thiện pháp luật về giới hạn cấp tín dụng để bảo đảm an toàn hoạt động của NHTMCP tại Việt Nam

Trang 12

1.3 Tính mới và những đóng góp của đề tài

Cho đến thời điểm hiện tại, pháp luật về đảm bảo an toàn trong hoạt động của NHTMCP nói chung và pháp luật về giới hạn cấp tín dụng để đảm bảo an toàn hoạt động của NHTMCP nói riêng còn chưa hoàn chỉnh và cụ thể Một số quy định pháp luật về các giới hạn và tỷ lệ cấp tín dụng trong hoạt động của NHTMCP còn nhiều bất cập, mâu thuẫn trong chính các quy định của pháp luật và chưa khả thi trong thực tế Do đó, là công trình nghiên cứu pháp luật về giới hạn cấp tín dụng để đảm bảo an toàn hoạt động của NHTMCP tại Việt Nam và thực tiễn áp dụng pháp luật một cách cụ thể, luận văn có những đóng góp mới là:

- Tổng hợp, trình bày và phân tích một cách khoa học và có hệ thống các vấn

đề lý luận cơ bản về giới hạn cấp tín dụng và pháp luật về giới hạn cấp tín dụng để đảm bảo an toàn hoạt động của NHTMCP tại Việt Nam

- Nêu và phân tích nguyên nhân, đánh giá thực trạng pháp luật giữa các quy định của pháp luật với nhau và thực tiễn áp dụng pháp luật, những khó khăn và vướng mắc của các NHTMCP trong cách hiểu và cách áp dụng pháp luật về giới hạn cấp tín dụng để đảm bảo an toàn hoạt động của NHTMCP tại Việt Nam

- Luận văn kiến nghị, đề xuất các phương hướng, giải pháp hoàn thiện pháp luật về giới hạn cấp tín dụng để đảm bảo an toàn hoạt động của NHTMCP tại Việt Nam nhằm góp phần xây dựng hệ thống pháp luật hoàn chỉnh, mang tính khả thi và thuận tiện khi áp dụng vào thực tiễn

1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: Pháp luật về giới hạn cấp tín dụng để đảm bảo an toàn hoạt động của NHTMCP

Trang 13

10

Phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu pháp luật về giới hạn cấp tín dụng để đảm bảo an toàn hoạt động của NHTMCP tại Việt Nam theo các quy định của pháp luật hiện hành

Đồng thời, luận văn cũng chỉ tiếp cận và làm rõ các nội dung về giới hạn cấp tín dụng tác động đến sự an toàn hoạt động của NHTMCP mà không nghiên cứu các vấn đề liên quan đến quản lý nhà nước về hoạt động cấp tín dụng của NHTMCP (bao gồm các nội dung như hoạt động quản lý của NHNN với các NHTMCP, các chế tài áp dụng trong trường hợp NHTMCP vi phạm quy định về giới hạn cấp tín dụng,…)

1.5 Tổng quan tài liệu

Dưới góc độ luật học, pháp luật về giới hạn cấp tín dụng để đảm bảo an toàn hoạt động của NHTMCP tại Việt Nam đã được đề cập đến tại một số công trình nghiên cứu khoa học như:

- Luận án tiến sĩ của tác giả Lê Tấn Phước, bảo vệ thành công năm 2007 tại Đại học Kinh tế thành phố Hồ Chí Minh về: “Bảo đảm an toàn trong hoạt động tín dụng của các ngân hàng thương mại cổ phần trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh” Nội dung luận án tập trung phân tích đánh giá tình hình hoạt động của các NHTMCP trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh bao gồm nghiên cứu tình hình huy động vốn, tình hình cho vay và đánh giá hiệu quả hoạt động tín dụng nhằm đảm bảo

an toàn trong hoạt động tín dụng của NHTMCP trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh

- Luận án tiến sĩ của tác giả Nguyễn Đức Trung, bảo vệ thành công năm

2012 tại Học viện Ngân hàng về: “Đảm bảo an toàn hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam trên cơ sở áp dụng hiệp ước tiêu chuẩn vốn quốc tế Basel” Tại luận án này, tác giả hệ thống hóa, phân tích và đánh giá toàn diện thực trạng an toàn của hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam trên cơ sơ đối chiếu với các chuẩn mực khuyến nghị của Basel II&III

Trang 14

11

- Bài viết: “Quy định về các tỷ lệ đảm bảo an toàn trong hoạt động ngân hàng

ở Việt Nam – Con đường gập ghềnh” của tác giả Huỳnh Thế Du và Đỗ Thiên Anh Tuấn năm 2013 đăng tải trên trang web của Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright Nội dung chính của bài viết này là phân tích những điểm mới của Thông

tư 13/2010/TT-NHNN về đảm bảo an toàn hoạt động của các ngân hàng tại Việt Nam nhưng tác giả chỉ đề cấp đến vấn đề an toàn vốn tối thiểu và sự phù hợp của quy định về an toàn vốn tối thiểu tại Thông tư này với các chuẩn mực quốc tế về đảm bảo an toàn trong hoạt động ngân hàng (Basel)

- Bài viết: “Hoàn thiện pháp luật về phòng ngừa rủi ro tín dụng của các tổ chức tín dụng” của tác giả TS Phạm Thị Giang Thu – Đại học Luật Hà Nội và ThS Nguyễn Ngọc Lương - Đảng ủy Khối các cơ quan trung ương Tại bài viết này, tác giả nghiên cứu về các quy định về phòng ngừa rủi ro tín dụng, nguyên tắc xây dựng các quy định phòng ngừa và xử lý rủi ro và các biện pháp xử lý rủi ro theo quy định của pháp luật thời điểm nghiên cứu

Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu, các bài trao đổi, bài viết trên đây chỉ mới dừng lại ở việc liệt kê lại những quy định chung về bảo đảm an toàn trong hoạt động tín dụng của NHTMCP, bảo đảm an toàn hệ thống ngân hàng theo tiêu chuẩn Basel, phòng ngừa rủi ro tín dụng,… Qua quá trình tra cứu tài liệu cho thấy, hiện chưa có một công trình khoa học nào nghiên cứu một cách toàn diện, đầy đủ về giới hạn cấp tín dụng để đảm bảo an toàn hoạt động của NHTMCP tại Việt Nam Xuất phát từ những nguyên nhân trên, tác giả đã lựa chọn đề tài nghiên cứu để tìm hiểu một cách đầy đủ, toàn diện về lý luận và thực tiễn áp dụng giới hạn cấp tín dụng để đảm bảo an toàn hoạt động của NHTMCP tại Việt Nam hiện nay

2 Nội dung, địa điểm và phương pháp nghiên cứu

2.1 Nội dung nghiên cứu

Chương I Một số vấn đề lý luận của pháp luật quy định về giới hạn cấp tín dụng để đảm bảo an toàn hoạt động của ngân hàng thương mại cổ phần

Trang 15

12

Chương II: Thực trạng pháp luật và áp dụng pháp luật về giới hạn cấp tín dụng để đảm bảo an toàn hoạt động của ngân hàng thương mại cổ phần ở Việt Nam hiện nay

Chương III: Định hướng và một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về giới hạn cấp tín dụng để đảm bảo an toàn hoạt động của ngân hàng thương mại cổ phần ở Việt Nam

2.2 Địa điểm nghiên cứu

Luận văn được giới hạn phạm vi nghiên cứu đối với các NHTMCP được thành lập, hoạt động theo quy định của pháp luật Việt Nam và đang tồn tại, hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam

2.3 Phương pháp nghiên cứu

Trong quá trình tiếp cận và giải quyết những vấn đề đặt ra, tác giả luận văn

đã sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác- Lênin

Trong những trường hợp cụ thể, tôi kết hợp sử dụng các phương pháp nghiên cứu phù hợp như thống kê, so sánh, tổng hợp, phân tích… nhằm kết hợp nhuần nhuyễn giữa kiến thức lý luận và thực tiễn để góp phần làm sáng tỏ những vấn đề cần nghiên cứu

Trang 16

13

Chương I MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ GIỚI HẠN CẤP TÍN DỤNG

VÀ PHÁP LUẬT VỀ GIỚI HẠN CẤP TÍN DỤNG ĐỂ ĐẢM BẢO AN TOÀN HOẠT ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN

1.1 Khái niệm, đặc điểm, phân loại giới hạn cấp tín dụng

1.1.1 Khái niệm giới hạn cấp tín dụng

Hoạt động kinh doanh của ngân hàng luôn được xếp vào nhóm hoạt động kinh doanh có mức độ rủi ro cao nhất, trong đó, cấp tín dụng là hoạt động kinh doanh truyền thống, cốt lõi của ngân hàng lại luôn chứa đựng những rủi ro tiềm ẩn Do vậy, một phương án đặt ra có thể giúp các NHTMCP đạt được các mục đích: (1) Bảo vệ người gửi tiền; (2) Ngăn chặn các hành vi

“phi đạo đức”; và (3) Đảm bảo an toàn hoạt động của mỗi NHTMCP, hạn chế

sự đổ vỡ hệ thống, đó là giới hạn cấp tín dụng trong hoạt động cấp tín dụng của NHTMCP

Từ điển Tiếng Việt của Trung tâm từ điển học do Nhà xuất bản Đà

Nẵng phát hành 2013 xác định “giới hạn” là danh từ có nghĩa là “phạm vi,

mức độ nhất định, không thể hoặc không được phép vượt qua” [41, tr 640]

Theo đó, giới hạn cấp tín dụng được hiểu một cách chung nhất là phạm vi, mức độ không được phép vượt qua khi NHTMCP thực hiện giao dịch cấp tín dụng với khách hàng nhằm đảm bảo cho hoạt động của NHTMCP được ổn định, an toàn

Trong lĩnh vực pháp lý, thuật ngữ “giới hạn cấp tín dụng” đã được nhắc đến và sử dụng tại nhiều văn bản quy phạm pháp luật khác nhau, tuy nhiên, pháp luật lại chưa có một thuật ngữ chính thức “giới thiệu” tổng quát

về vấn đề này

Trang 17

14

Theo quan điểm của tác giả, giới hạn cấp tín dụng có thể hiểu là một

bộ khung bảo vệ hoạt động cấp tín dụng của NHTMCP, giúp dự liệu, ngăn ngừa hoặc hạn chế ở mức thấp nhất những rủi ro tiềm ẩn có thể xảy ra cho những khoản cấp tín dụng nằm trong phạm vi bảo vệ này và hướng đến sự an toàn, ổn định trong hoạt động của cả NHTMCP Từ đó, có thể đưa ra định

nghĩa: giới hạn cấp tín dụng là phạm vi an toàn mà NHTMCP được phép

thực hiện các giao dịch cấp tín dụng với khách hàng

1.1.2 Đặc điểm giới hạn cấp tín dụng

So với các quy định khác của pháp luật, các quy định giới hạn cấp tín dụng để đảm bảo an toàn hoạt động của các NHTMCP có các đặc điểm sau:

Thứ nhất, về nội dung điều chỉnh, các quy phạm pháp luật quy định

giới hạn cấp tín dụng để bảo đảm an toàn hoạt động của các NHTMCP là những quy định mang tính biệt lệ so với quy định chung

Ví dụ: Pháp luật quy định cá nhân được vay vốn tại các NHTMCP nhưng các quy định về giới hạn cấp tín dụng của NHTMCP thì quy định NHTMCP không được cá nhân là thành viên Hội đồng quản trị vay vốn

Thứ hai, các quy định của pháp luật về giới hạn cấp tín dụng để bảo

đảm an toàn hoạt động của các NHTMCP chỉ ra một cách xử sự cụ thể mà tổ chức tín dụng phải thực hiện

Trên đây là hai đặc điểm cơ bản của giới hạn cấp tín dụng trong hoạt động cấp tín dụng của NHTMCP Các đặc điểm này là cơ sở để phân biệt giới hạn cấp tín dụng với các quy định về giới hạn, tỷ lệ khác trong hoạt động của NHTMCP cùng nhằm hướng tới mục đích đảm bảo cho sự an toàn hoạt động của NHTMCP

Trang 18

15

1.1.3 Phân loại giới hạn cấp tín dụng

Thuật ngữ “giới hạn cấp tín dụng” là tên gọi chung của một tập hợp những quy định xác định phạm vi NHTMCP được thực hiện hoạt động cấp tín dụng Do vậy, việc phân loại giới hạn cấp tín dụng là điều cần thiết giúp các NHTMCP xác định được đầy đủ các tiêu chí phải tuân thủ Có nhiều cách phân loại khác nhau, nhưng trong bài này, tác giả nghiên cứu giới hạn cấp tín dụng qua ba tiêu chí cơ bản sau:

Thứ nhất, căn cứ theo chủ thể, giới hạn cấp tín dụng gồm giới hạn các

cá nhân, tổ chức và chủ thể khác (theo quy định của Luật các TCTD và các văn bản hướng dẫn thi hành) không được trở thành chủ thể được NHTMCP cấp tín dụng (sau đây gọi tắt là các cá nhân, tổ chức không được trở thành chủ thể được NHTMCP cấp tín dụng), giới hạn chủ thể bị hạn chế cấp tín dụng và giới hạn chủ thể được cấp tín dụng

Bằng cách phân loại này giúp các NHTMCP thấy rõ được bất kỳ khách hàng nào thuộc nhóm các cá nhân, tổ chức không được trở thành chủ thể được NHTMCP cấp tín dụng mà không phụ thuộc vào hình thức cấp tín dụng, số tiền cấp tín dụng, đồng tiền cấp tín dụng (Việt Nam đồng hay ngoại tệ), mục đích cấp tín dụng,… thì NHTMCP đều không được ký kết, thực hiện bất kỳ khoản cấp tín dụng nào Đối với khách hàng thuộc nhóm chủ thể bị hạn chế cấp tín dụng, NHTMCP chỉ được cấp tín dụng cho khách hàng trong phạm vi nhất định (như không được cấp tín dụng với điều kiện ưu đãi lãi suất,…) với những thủ tục kiểm soát chặt chẽ Còn đối với khách hàng thuộc nhóm chủ thể được cấp tín dụng, trong một số trường hợp, NHTMCP chỉ được cấp tín dụng cho khách hàng trong một giới hạn hạn chế như tổng dư nợ cấp tín dụng cho một khách hàng không vượt quá 15% vốn tự có của NHTMCP

Trang 19

16

Thứ hai, căn cứ theo tỷ lệ cấp tín dụng, giới hạn cấp tín dụng được

chia nhỏ thành giới hạn về tổng mức dư nợ cấp tín dụng đối với một khách hàng và giới hạn về tổng mức dư nợ cấp tín dụng đối với một khách hàng và NCLQ

Thứ ba, căn cứ theo mục đích cấp tín dụng, giới hạn về mục đích cấp

tín dụng bao gồm các mục đích bị giới hạn cấp tín dụng (như cấp tín dụng để đầu tư, kinh doanh cổ phiếu,…) và các mục đích khác

1.2 Khái quát về an toàn hoạt động của NHTMCP

“An toàn” theo Từ điển Tiếng Việt của Trung tâm từ điển học do Nhà

xuất bản Đà Nẵng phát hành 2013, là một tính từ có nghĩa là “yên ổn, loại trừ nguy hiểm, hoặc tránh được sự cố” Do vậy, an toàn hoạt động của NHTMCP

là việc NHTMCP loại trừ, “tránh” những nguy hiểm có thể xảy ra gây ảnh hưởng đến sự yên ổn trong hoạt động kinh doanh và hoạt động chung của NHTMCP

Có thể xem xét tổng quan vấn đề về an toàn hoạt động của NHTMCP thông qua việc trả lời hai câu hỏi sau: (1) Khi nào thì hoạt động của NHTMCP rơi vào tình trạng không an toàn?; và (2) Hoạt động của NHTMCP không an toàn thể hiện ở những góc độ nào?

Thứ nhất, khi nào thì hoạt động của NHTMCP rơi vào tình trạng

không an toàn?

Hoạt động của NHTMCP rơi vào tình trạng không an toàn là khi NHTMCP đã thực hiện những hoạt động vượt quá “khuôn khổ” an toàn dẫn đến những rủi ro ngoài tầm kiểm soát của NHTMCP Ví dụ như tỷ lệ nợ xấu ngày càng tăng dẫn đến tình trạng NHTMCP mất khả năng thanh khoản,…

Thứ hai, hoạt động của NHTMCP không an toàn thể hiện ở những

góc độ nào?

Trang 20

17

Trong nội tại NHTMCP, một NHTMCP hoạt động an toàn là NHTMCP có khả năng đáp ứng tốt các nhu cầu về tín dụng và các dịch vụ ngân hàng cho nền kinh tế; người gửi tiền có thể rút ra đầy đủ cả gốc và lãi đúng hạn; hệ thống ngân hàng có thể phục vụ tốt cho mục tiêu phát triển kinh

tế - xã hội bền vững; góp phần mở rộng sản xuất, nâng cao đời sống nhân dân

và hội nhập kinh tế quốc tế Do vậy, khi hoạt động của NHTMCP rơi vào tình trạng không an toàn sẽ biểu hiện rõ rệt nhất qua sự sụt giảm nguồn vốn huy động và tỷ lệ nợ xấu tăng cao NHTMCP không thu hồi được vốn tín dụng đã cấp và lãi cho vay nhưng NHTMCP phải trả vốn và lãi cho khoản tiền huy động khi đến hạn Nếu không đáp ứng được các nhu cầu thanh toán đó NHTMCP có thể bị mất khả năng thanh khoản và có nguy cơ bị phá sản

Đối với NHTMCP khác, biểu hiện rõ rệt nhất khi một NHTMCP rơi vào tình trạng không an toàn sẽ ảnh hưởng đến NHTMCP khác là sự biến động mạnh nguồn vốn huy động từ NHTMCP này sang NHTMCP khác hoặc biến động nguồn vốn huy động của toàn ngành NHTMCP Trong trường hợp nguồn vốn huy động tại một NHTMCP quá cao trong khi nguồn vốn cấp tín dụng thấp sẽ dẫn đến tình trạng NHTMCP không đủ lợi nhuận từ lãi cho vay

để trả lãi tiền gửi cho người gửi tiền Hay khi biến động nguồn vốn huy động của toàn ngành NHTMCP, khi những người rút tiền tăng thêm, luồng tiền chảy ra khỏi NHTMCP cũng tăng lên dẫn đến tình trạng toàn bộ hệ thống NHTMCP sẽ không đủ nguồn vốn để hoạt động Tình trạng này có thể đe dọa đến sự ổn định của cả hệ thống NHTMCP Sự hỗn loạn của hệ thống NHTMCP có thể chuyển thành khủng hoảng kinh tế - xã hội - chính trị của

quốc gia

Trang 21

Trước hết, giới hạn cấp tín dụng góp phần dự liệu những loại rủi ro,

mức độ rủi ro và hạn chế được những rủi ro tiềm ẩn giúp các NHTMCP

“vững tin” hơn trong hoạt động kinh doanh

Giới hạn cấp tín dụng được xem như “khung an toàn” đảm bảo cho các NHTMCP khi hoạt động kinh doanh trong phạm vi này có thể liệu trước được rủi ro để ứng phó và hạn chế được những rủi ro xảy ra ở mức thấp nhất khi thực hiện hoạt động kinh doanh

Đặc biệt, giới hạn về chủ thể mà NHTMCP cấp tín dụng giúp các NHTMCP tránh được xung đột lợi ích giữa NHTMCP với khách hàng là chính những “người” có thẩm quyền đối với khoản cấp tín dụng trong NHTMCP đó

Thứ đến, giới hạn cấp tín dụng góp phần giúp đỡ các NHTMCP kiểm

soát được rủi ro khi nó xảy ra vì nhờ có giới hạn này, NHTMCP đã dự liệu được và xây dựng được phương án dự phòng để giải quyết những rủi ro có thể xảy ra Nếu không có những giới hạn, những phạm vi cấp tín dụng “an toàn” thì NHTMCP sẽ không có cơ sở pháp lý để dự liệu rủi ro, loại rủi ro, mức độ

và tính chất của rủi ro có thể xảy ra

Ngoài ra, giới hạn cấp tín dụng góp phần nâng cao trách nhiệm của

NHTMCP trong hoạt động kinh doanh, bảo vệ vốn góp của các cổ đông, tiền gửi của người gửi tiền và góp phần thúc đẩy đời sống kinh tế xã hội phát triển

Trang 22

Thứ nhất, xuất phát từ vị trí và vai trò của NHTMCP trong nền kinh

tế quốc dân là nơi cung cấp vốn cho nền kinh tế, là cầu nối các doanh nghiệp với thị trường, là một công cụ để Nhà nước điều tiết vĩ mô nền kinh tế và là cầu nối nền tài chính quốc gia với nền tài chính quốc tế Với vai trò quan trọng như vậy nên nếu hoạt động của một NHTMCP rơi vào tình trạng mất an toàn có thể kéo theo sự đổ vỡ “dây chuyền” đến các NHTMCP khác và cả hệ thống ngân hàng và có thể ảnh hưởng đến sự an toàn của nền kinh tế quốc dân Do đó, hoạt động của ngân hàng nói chung và hoạt động cấp tín dụng nói riêng cần được pháp luật điều chỉnh phù hợp nhằm đảm bảo cho hoạt động của NHTMCP được hiệu quả và an toàn

Thứ hai, xuất phát từ bản chất nội tại của hoạt động NHTMCP là hoạt

động luôn chứa đựng rủi ro, trong đó, hoạt động tín dụng tiềm ẩn những rủi ro lớn nhất mà khi xảy ra rủi ro này có thể dẫn đến sự mất an toàn trong hoạt động của NHTMCP

Vì vậy, bên cạnh các biện pháp khác như biện pháp kinh tế, pháp luật

cần tạo lập “khung an toàn” cần thiết và mang tính chất bắt buộc tuân thủ để đưa ra những giới hạn đặt hoạt động cấp tín dụng của NHTMCP vào khuôn khổ này nhằm đạt được mục đích kiểm soát những rủi ro tín dụng có thể xảy

ra gây nên sự mất an toàn cho hoạt động của NHTMCP

Trang 23

20

Nhìn chung, những hoạt động có tính chất rủi ro rất cao, gây thiệt hại lớn cho các NHTMCP hoặc có xung đột lợi ích trong NHTMCP thì pháp luật thường có quy định theo chiều hướng cấm thực hiện Chẳng hạn, NHTMCP không được cấp tín dụng cho thành viên Ban kiểm soát của chính NHTMCP

đó hoặc không được cấp tín dụng với điều kiện ưu đãi cho kế toán trưởng, kiểm toán viên, thanh tra viên đang làm nhiệm vụ kiểm toán và thanh tra tại NHTMCP đó

Thứ ba, xuất phát từ bản chất của pháp luật là pháp luật mang tính

quyền lực Nhà nước, là công cụ rất hữu hiệu nâng cao vai trò, trách nhiệm của các NHTMCP trong phòng ngừa rủi ro

Ví dụ như, việc quy định trách nhiệm của Hội đồng quản trị khi thông qua quyết định cấp tín dụng cho các chủ thể bị hạn chế cấp tín dụng nhằm duy trì và thực hiện những quy định của pháp luật và chính sách của NHTMCP về bảo đảm an toàn

Thứ tư, xuất phát từ vai trò của pháp luật trong nền kinh tế nói chung

và hoạt động ngân hàng nói riêng đã ghi nhận, phản ánh và thể chế hóa

những kinh nghiệm, phương pháp phòng ngừa rủi ro phù hợp và có hiệu quả

để áp dụng cho hệ thống NHTMCP ở Việt Nam

Trong thời gian vừa qua, pháp luật ngân hàng ở nước ta đã có một số quy định phù hợp với thông lệ chung của quốc tế về bảo đảm an toàn hoạt động NHTMCP như quy định của Ủy ban Basel về tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu của NHTMCP; phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi ro, kiểm soát và kiểm toán nội bộ; tiếp thu những kinh nghiệm hay của Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD) về quản trị ngân hàng hiệu quả Việc tiếp thu những kinh nghiệm như vậy là việc làm thiết thực và có ý nghĩa rất lớn trong việc tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam

Trang 24

21

Đồng thời, pháp luật quy định về giới hạn cấp tín dụng là phương tiện

để Nhà nước thực hiện kiểm tra, giám sát an toàn đối với các NHTMCP, và phát huy trách nhiệm của NHNN trong phòng ngừa rủi ro hoạt động cấp tín dụng của NHTMCP; và là cơ sở để các NHTMCP tuân thủ trong quá trình

thực hiện các hoạt động của mình

1.5 Pháp luật về giới hạn cấp tín dụng trong hoạt động của NHTMCP

1.5.1 Khái niệm pháp luật về giới hạn cấp tín dụng để bảo đảm an toàn hoạt động của NHTMCP

Để xem xét một cách toàn diện và đầy đủ pháp luật về giới hạn cấp tín dụng để đảm bảo an toàn hoạt động của NHTMCP trước hết phải làm sáng tỏ được pháp luật là gì? Theo quan điểm Marx-Lenin được xây dựng trên cơ sở

triết học duy vật lịch sử thì: “pháp luật là hệ thống quy tắc xử sự mang tính

bắt buộc chung do Nhà nước ban hành hoặc thừa nhận nhằm điều chỉnh các mối quan hệ xã hội theo mục tiêu, định hướng cụ thể” [32, tr 96]

Với cách tiếp cận này, pháp luật về giới hạn cấp tín dụng để đảm bảo

an toàn hoạt động của NHTMCP chính là hệ thống các quy tắc xử sự mang tính bắt buộc chung do Nhà nước ban hành hoặc thừa nhận buộc các NHTMCP phải tuân thủ để đưa hoạt động kinh doanh của NHTMCP vào phạm vi an toàn nhất định nhằm giảm thiểu rủi ro ở mức thấp nhất cho hoạt động của NHTMCP

1.5.2 Nội dung chủ yếu của pháp luật về giới hạn cấp tín dụng trong hoạt động của NHTMCP

Pháp luật về hoạt động cấp tín dụng của NHTMCP là tổng hợp các quy định pháp luật điều chỉnh trực tiếp và liên quan đến từng thành phần cấu

Trang 25

nợ cấp tín dụng mà các NHTMCP phải tuân thủ

Những nội dung cụ thể của pháp luật về giới hạn cấp tín dụng trong hoạt động NHTMCP như sau:

Thứ nhất, quy định giới hạn về chủ thể được cấp tín dụng

Chủ thể được NHTMCP cấp tín dụng là một yếu tố cấu thành nên quan hệ pháp luật cấp tín dụng Theo cách hiểu thông thường, chủ thể là khái niệm dùng để chỉ đối tượng gây ra hành động trong quan hệ đối lập với đối tượng bị chi phối của hành động Khi nói tới chủ thể của quan hệ pháp luật thì

đó là các bên tham gia vào quan hệ pháp luật thực hiện các quyền và nghĩa vụ pháp lý được Nhà nước đảm bảo thực hiện, là những cá nhân hoặc tổ chức cụ thể tiến hành những hoạt động nhất định theo quy định của pháp luật [32, tr 148] Trong quan hệ pháp luật, không phải bất kỳ cá nhân, tổ chức nào cũng được tham gia tất cả các mối quan hệ pháp luật mà chỉ những cá nhân, tổ chức được pháp luật xác định mới có thể là chủ thể của quan hệ pháp luật Do vậy,

Trang 26

sự và kinh tế (phụ thuộc vào mục đích của giao dịch cấp tín dụng), bao gồm

cá nhân, tổ chức và các chủ thể khác

Giao dịch cấp tín dụng của NHTMCP cũng được xác lập như các giao dịch dân sự, kinh tế khác Vì vậy, một trong những điều kiện để giao dịch cấp

tín dụng có hiệu lực là "người tham gia giao dịch phải có năng lực hành vi

dân sự và hoàn toàn tự nguyện" [11, Điểm a, c Khoản 1 Điều 122] Khi xác

lập giao dịch cấp tín dụng, NHTMCP luôn quan tâm đến việc người xác lập giao dịch với mình là khách hàng (Bên vay vốn, Bên được bảo lãnh, …) có thỏa mãn điều kiện để tham gia giao dịch hay không, cụ thể là có đầy đủ năng lực pháp luật, năng lực hành vi dân sự hay không Nếu khách hàng không thỏa mãn điều kiện này thì giao dịch cấp tín dụng sẽ bị vô hiệu toàn bộ, điều này đồng nghĩa với việc giao dịch cấp tín dụng xem như không được xác lập

và vì thế NHTMCP sẽ gặp khó khăn khi phải yêu cầu khách hàng trả nợ gốc ngay lập tức, đồng thời, khách hàng cũng không phải trả thêm bất kỳ khoản lãi, phí liên quan nào phát sinh trong suốt thời gian khách hàng sử dụng vốn của NHTMCP trước đó

Ngoài ra, do đặc thù trong hoạt động cấp tín dụng của NHTMCP, để đảm bảo tính minh bạch và an toàn cho NHTMCP trong hoạt động cấp tín dụng thì pháp luật đã xác định loại chủ thể tham quan hệ pháp luật này Tức

là, một số khách hàng sẽ không thể trở thành chủ thể được cấp tín dụng (bên

Trang 27

24

vay vốn, bên đƣợc bảo lãnh,…) trong mối quan hệ tín dụng với NHTMCP Vì vậy, khi giao kết hợp đồng cấp tín dụng với NHTMCP, khách hàng không chỉ phải đáp ứng các điều kiện chung về chủ thể trong giao dịch dân sự, kinh tế còn phải đáp ứng đƣợc các điều kiện cụ thể về chủ thể trong hoạt động cấp tín dụng của NHTMCP, bao gồm điều kiện đối với chủ thể thuộc nhóm hạn chế cấp tín dụng, chủ thể thuộc nhóm đƣợc cấp tín dụng Đồng thời, pháp luật về giới hạn cấp tín dụng cũng có quy định xác định rõ các cá nhân, tổ chức không đƣợc trở thành chủ thể đƣợc NHTMCP cấp tín dụng

Các cá nhân, tổ chức không đƣợc trở thành chủ thể đƣợc NHTMCP cấp tín dụng đƣợc hiểu là NHTMCP không đƣợc ký kết, thực hiện bất kỳ khoản cấp tín dụng nào với bất kỳ khách hàng nào là cá nhân, tổ chức không đƣợc trở thành chủ thể đƣợc NHTMCP cấp tín dụng mà không phụ thuộc vào hình thức cấp tín dụng, số tiền cấp tín dụng, đồng tiền cấp tín dụng (Việt Nam đồng hay ngoại tệ), mục đích cấp tín dụng,…

Pháp luật cũng có quy định về nhóm chủ thể NHTMCP đƣợc giao kết các hợp đồng cấp tín dụng cùng nhƣng phải đáp ứng một số điều kiện nhất định nhƣ giới hạn dƣ nợ cấp tín dụng, thủ tục thông qua khoản cấp tín dụng này,… mà không phụ thuộc vào hình thức cấp tín dụng, đồng tiền cấp tín dụng,…

Pháp luật chỉ có quy định về các cá nhân, tổ chức không đƣợc trở thành chủ thể đƣợc NHTMCP cấp tín dụng, chủ thể NHTMCP hạn chế cấp tín dụng mà không có quy định chỉ rõ NHTMCP đƣợc cấp tín dụng cho những chủ thể, khách hàng nào Do vậy, có thể hiểu những chủ thể không thuộc hai nhóm khách hàng nêu trên và đáp ứng đƣợc các điều kiện về chủ thể giao kết hợp đồng nói chung thì sẽ là các chủ thể mà NHTMCP đƣợc tự do giao kết các hợp đồng cấp tín dụng Tuy nhiên, do hoạt động cấp tín dụng của

Trang 28

25

NHTMCP là hoạt động luôn chứa đựng nhiều rủi ro nên để đảm bảo an toàn cho hoạt động này và cho NHTMCP, pháp luật cũng đặt ra một số giới hạn về nội dung của các hợp đồng cấp tín dụng mà các chủ thể này giao kết với NHTMCP, bao gồm quy định về nhận diện khách hàng, giới hạn tổng mức dư

nợ cấp tín dụng và giới hạn đối với một số mục đích, lĩnh vực cấp tín dụng

Lý giải cho những quy định này của pháp luật giới hạn về chủ thể NHTMCP được cấp tín dụng, theo Đề cương giới thiệu Luật các TCTD năm

2010, là nhằm ngăn ngừa khả năng lũng đoạn trong hoạt động của NHTMCP của một số cá nhân, tổ chức và hạn chế được những xung đột lợi ích tiềm tàng tại mỗi NHTMCP; hạn chế rủi ro tín dụng do tập trung vào một khách hàng, một nhóm khách hàng có liên quan; kiểm soát dòng tiền và việc sử dụng tín dụng đúng mục đích; minh bạch hóa việc cấp tín dụng đối với cổ đông sáng lập, cổ đông lớn, thành viên Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát, Ban điều hành và NCLQ của những người này, cấp tín dụng cho công ty con, công ty liên kết, doanh nghiệp nắm quyền kiểm soát; Hơn thế, nó giúp minh bạch hóa dòng tín dụng của TCTD; hạn chế và ngăn chặn việc cấp tín dụng sai đối tượng, vượt quá giới hạn theo quy định của Luật các TCTD; hạn chế việc đảo

nợ và bảo đảm việc phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi ro được chính xác hơn, đầy đủ hơn; kiểm soát chặt chẽ và hạn chế tác động tiêu cực của sở hữu chéo, nắm giữ, thâu tóm lẫn nhau giữa việc TCTD thông qua việc cấp tín dụng để khách hàng đầu tư, kinh doanh cổ phiếu, sau đó nhận ủy quyền đại diện cổ đông cho khách hàng nắm giữ cổ phiếu tại TCTD khác; hạn chế sử dụng đòn bẩy tài chính quá mức trong đầu tư, kinh doanh chứng khoán

Thứ hai, quy định giới hạn về quyền lợi được ưu đãi

Việc cấp tín dụng giữa NHTMCP với khách hàng là hợp đồng, là sự thỏa thuận một cách tự nguyện của các bên tham gia quan hệ cấp tín dụng

Trang 29

26

Trong đó, đối với mỗi giao dịch cấp tín dụng, NHTMCP trên cơ sở cân đối giữa những lợi ích kinh doanh với những rủi ro tín dụng có thể gặp phải để quyết định dành cho khách hàng những ưu đãi về quyền và lợi ích khác nhau

Ví dụ như, theo quy định của NHNN thì NHTMCP và khách hàng được tự do thỏa thuận về lãi suất vay trong hạn trong các hợp đồng vay vốn nên lãi suất khách hàng được hưởng tại mỗi hợp đồng cho vay sẽ tỷ lệ thuận với những rủi ro tín dụng mà NHTMCP dự liệu có thể xảy ra, hay nói cách khác, nếu NHTMCP dự liệu khoản vay của khách hàng có thể xảy ra nhiều rủi ro thì lãi suất cho vay sẽ cao còn nếu NHTMCP dự liệu khoản vay của khách hàng có thể ít gặp phải rủi ro thì lãi suất cho vay sẽ thấp Đây cũng chính là quyền tự

do kinh doanh của NHTMCP

Tuy nhiên, quyền tự do kinh doanh này phải nằm trong “khuôn khổ”

mà pháp luật cho phép Do vậy, để đảm bảo việc cấp tín dụng của NHTMCP được công bằng giữa các bên tham gia quan hệ cấp tín dụng và tránh những rủi ro tiềm ẩn có thể ảnh hưởng đến an toàn hoạt động của NHTMCP thì pháp luật về giới hạn cấp tín dụng chỉ cho phép các NHTMCP được chấp nhận dành cho khách hàng những quyền lợi ưu đãi trong một giới hạn nhất định

Thứ ba, quy định về thủ tục phải thực hiện trong giới hạn cấp tín

Trang 30

27

Tổng hợp trình tự, thủ tục của từng nghiệp vụ cấp tín dụng thì các bước chung và cơ bản NHTMCP sẽ thực hiện để cấp tín dụng cho khách hàng sau khi khách hàng đáp ứng đủ điều kiện cấp tín dụng gồm các bước cơ bản là: xác định nghiệp vụ cấp tín dụng thực hiện, điều kiện được áp dụng đối với khoản cấp tín dụng (lãi suất, thời hạn,…), và cuối cùng là cấp có thẩm quyền phê duyệt khoản cấp tín dụng Với quy trình tự, thủ tục này có thể thấy, đối với hoạt động cấp tín dụng của NHTMCP thì xác định thẩm quyền phê duyệt khoản cấp tín dụng là thủ tục quan trọng nhất và có ý nghĩa quyết định đến hiệu lực của khoản cấp tín dụng

Thứ tư, quy định giới hạn về tổng mức dư nợ cấp tín dụng

Dư nợ cấp tín dụng là một trong những nội dung quan trọng mà NHTMCP cần kiểm soát trong hoạt động cấp tín dụng của mình nhằm mục đích phân tán rủi ro, hạn chế tập trung vốn của NHTMCP vào một khách hàng hoặc một nhóm khách hàng có liên quan đến nhau Do vậy, khi xem xét cấp tín dụng, NHTMCP phải xác định được tổng các khoản tiền NHTMCP đã cho phép khách hàng sử dụng hoặc cam kết sử dụng dưới các hình thức cấp tín dụng khác nhau Đây chính là tổng nghĩa vụ nợ phải trả của khách hàng với NHTMCP Về phía NHTMCP, tổng nghĩa vụ nợ này chính là tổng của dư nợ các khoản cấp tín dụng NHTMCP đã giao kết với khách hàng

Trong hoạt động NHTMCP, nguồn vốn cấp tín dụng của NHTMCP cho khách hàng không chỉ phụ thuộc vào kênh huy động từ dân cư, tổ chức kinh tế mà có nhiều kênh khác như vốn tự có; hoặc trong nhiều trường hợp, NHTMCP còn sử dụng cả vốn huy động trên thị trường liên ngân hàng và vốn giao dịch nghiệp vụ thị trường mở để cấp tín dụng Để tránh tình trạng NHTMCP có thể bị mất thanh khoản khi xảy ra rủi ro với khách hàng mà NHTMCP tập trung vốn, pháp luật cần có quy định giúp các NHTMCP dự

Trang 31

28

liệu và kiểm soát được những rủi ro này thông qua các quy định về giới hạn tổng mức dư nợ cấp tín dụng NHTMCP được phép cấp cho một khách hàng

và giới hạn tổng mức dư nợ cấp tín dụng NHTMCP được phép cấp cho một khách hàng và NCLQ của khách hàng đó

Thứ năm, quy định về lĩnh vực cấp tín dụng cần giới hạn

Theo định hướng phát triển nền kinh tế của Đảng và Nhà nước và theo từng giai đoạn phát triển của nền kinh tế, một số lĩnh vực kinh doanh sẽ thuộc nhóm các lĩnh vực được khuyến khích đầu tư hoặc các lĩnh vực không được khuyến khích đầu tư Theo đó, pháp luật cũng có những quy định giới hạn cấp tín dụng đối với những lĩnh vực không được khuyến khích đầu tư

Trong giai đoạn phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam vừa qua thì một trong những lĩnh vực không được khuyến khích đầu tư là đầu tư, kinh doanh chứng khoán bao gồm đầu tư, kinh doanh cổ phiếu và đầu tư, kinh doanh trái phiếu chưa niêm yết của doanh nghiệp Do đây là lĩnh vực kinh doanh tiềm ẩn nhiều rủi ro và là cơ sở để hình thành lên “sở hữu chéo” không lành mạnh mà một hoặc một số NHTMCP sẽ thâu tóm, chi phối đối với NHTMCP khác thông qua các hoạt động cấp tín dụng, góp vốn, mua cổ phần

và các hình thức khác nên cấp tín dụng đầu tư, kinh doanh chứng khoán có mức độ rủi ro rất lớn, có thể gây mất an toàn đối với từng NHTMCP và toàn

bộ hệ thống ngân hàng, và là nhân tố gây mất ổn định cho thị trường chứng khoán khi các NHTMCP cho vay phải “bán tháo” cổ phiếu cầm cố để thu hồi vốn cấp tín dụng Vì vậy, để đảm bảo an toàn hoạt động của hệ thống các NHTMCP cần thiết phải quy định các điều kiện, giới hạn mà các NHTMCP được phép cấp tín dụng cho hoạt động này

Thứ sáu, quy định về biện pháp bảo đảm

Trang 32

29

Một trong những biện pháp hạn chế rủi ro cho khoản cấp tín dụng là việc NHTMCP đã giao kết với khách hàng biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trả nợ tiền vay hay còn gọi là bảo đảm tiền vay Bảo đảm tiền vay sẽ làm giảm bớt tổn thất cho NHTMCP khi khách hàng vì lý do nào đó không thanh toán đƣợc nợ cho NHTMCP, nó cũng là động lực thúc đẩy khách hàng thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho NHTMCP Tuy nhiên, nhƣ đã phân tích ở trên, nhằm đảm bảo cho khoản cấp tín dụng của NHTMCP đƣợc minh bạch và hạn chế rủi ro ở mực thấp nhất, đối với các cá nhân, tổ chức không đƣợc trở thành chủ thể đƣợc NHTMCP cấp tín dụng, ngoài quy định về không đƣợc cấp tín dụng cho họ, pháp luật cần có những quy định cấm nhận bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự và nhận bảo đảm tiền vay của những cá nhân, tổ chức này

Từ những phân tích các vấn đề lý luận của pháp luật về giới hạn cấp tín dụng để bảo đảm an toàn hoạt động của NHTMCP trên đây, có thể thấy, việc xác định rõ giới hạn chủ thể mà NHTMCP cấp tín dụng, về tổng mức dƣ

nợ cấp tín dụng, giới hạn cấp tín dụng trong một số lĩnh vực cụ thể có ý nghĩa quan trọng trong việc xây dựng pháp luật và áp dụng pháp luật vào thực tiễn

để đảm bảo cho hoạt động của các NHTMCP đƣợc hiệu quả, an toàn và phát triển bền vững Việc “giải quyết” thấu đáo các vấn đề lý luận của pháp luật về giới hạn cấp tín dụng để bảo đảm an toàn hoạt động của NHTMCP là tiền đề,

là cơ sở vững chắc cho “công cuộc” thiết lập, hoàn chỉnh hệ thống pháp luật

về vấn đề này

Trang 33

30

KẾT LUẬN CHƯƠNG I

Chương I của Luận án đã tập trung nghiên cứu những vấn đề lý luận của pháp luật về giới hạn cấp tín dụng để đảm bảo an toàn hoạt động của NHTMCP tại Việt Nam, qua đó, tác giả rút ra một số kết luận như sau:

Thứ nhất, hoạt động cấp tín dụng của NHTMCP là hoạt động mà bản

thân nó đã luôn chứa đựng những rủi ro tiềm ẩn nên cần phải dự liệu được những rủi ro có thể xảy ra và kiểm soát được rủi ro ở mức thấp nhất bằng

cách đưa hoạt động cấp tín dụng vào phạm vi an toàn mà NHTMCP được

phép thực hiện các giao dịch cấp tín dụng với khách hàng để hoạt động của NHTMCP được hiệu quả và an toàn Đó chính là giới hạn cấp tín dụng

Thứ hai, xuất phát từ bản chất nội tại của hoạt động cấp tín dụng là

một trong những hoạt động chứa đựng nhiều rủi ro nhất của NHTMCP và những rủi ro này có thể gây nên sự mất an toàn của NHTMCP nên pháp luật với bản chất mang tính quyền lực Nhà nước đã đặt ra những quy định buộc các NHTMCP phải tuân thủ và còn là công cụ rất hữu hiệu nâng cao vai trò, trách nhiệm của các NHTMCP trong phòng ngừa rủi ro Đồng thời, pháp luật ghi nhận, phản ánh và thể chế hóa những kinh nghiệm, phương pháp phòng ngừa rủi ro phù hợp và có hiệu quả để áp dụng cho hệ thống NHTMCP ở Việt Nam Ngoài ra, pháp luật cũng là phương tiện để Nhà nước thực hiện kiểm tra, giám sát an toàn đối với các ngân hang, và phát huy trách nhiệm của NHNN trong phòng ngừa rủi ro hoạt động cấp tín dụng của NHTMCP

Thứ ba, pháp luật về giới hạn cấp tín dụng để đảm bảo an toàn hoạt

động của NHTMCP chính là hệ thống các quy tắc xử sự mang tính bắt buộc chung do Nhà nước ban hành hoặc thừa nhận buộc các NHTMCP phải tuân thủ để “đặt” hoạt động kinh doanh của NHTMCP vào “khung an toàn” nhất

Trang 34

31

định nhằm giảm thiểu rủi ro ở mức thấp nhất cho hoạt động của NHTMCP

Trang 35

32

Chương II THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VÀ ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VỀ GIỚI HẠN CẤP TÍN DỤNG ĐỂ ĐẢM BẢO AN TOÀN HOẠT ĐỘNG

CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN

TẠI VIỆT NAM HIỆN NAY

NHTMCP là một loại hình ngân hàng thương mại, còn ngân hàng

thương mại là một loại hình TCTD nên pháp luật về giới hạn cấp tín dụng để

đảm bảo an toàn hoạt động của TCTD nói chung cũng là pháp luật về giới hạn

cấp tín dụng để đảm bảo an toàn hoạt động của NHTMCP nói riêng

Giới hạn cấp tín dụng để đảm bảo an toàn hoạt động của NHTMCP đã

được pháp luật đặt ra từ nhiều năm trước đây (từ đầu những năm 1990) và dần

hoàn thiện hơn Đồng thời, trong những năm gần đây do những rủi ro từ hoạt

động cấp tín dụng ngày càng gia tăng theo sự phát triển của kinh tế xã hội nên

việc tuân thủ những quy định này được các NHTMCP thực hiện nghiêm túc

hơn Vì vậy, thực trạng áp dụng pháp luật về giới hạn cấp tín dụng để đảm

bảo an toàn hoạt động của NHTMCP bên cạnh việc đạt được các kết quả sẽ

không tránh khỏi những khó khăn, vướng mắc

Do vậy, trên cơ sở những nội dung của pháp luật về giới hạn cấp tín

dụng để đảm bảo an toàn hoạt động của NHTMCP đã nêu tại Chương I, sau

đây luận văn chỉ tập trung nêu, phân tích và đánh giá một số vấn đề cơ bản

liên quan giới hạn cấp tín dụng để đảm bảo an toàn hoạt động của NHTMCP

để nhận thức rõ hơn thực tiễn pháp luật (những điểm tiến bộ của pháp luật

hiện hành, những mâu thuẫn, chồng chéo của pháp luật,…) và thực tiễn áp

dụng pháp luật về vấn đề này

Trang 36

33

2.1 Giới hạn về chủ thể được cấp tín dụng

Theo các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành, chủ thể trong quan

hệ cấp tín dụng với NHTMCP đang được pháp luật gọi với tên là “đối tượng cấp tín dụng” Ví dụ như:

Khoản 3 Điều 126 Luật các TCTD năm 2010 đã quy định: “Tổ chức

tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài không được cấp tín dụng cho khách hàng trên cơ sở bảo đảm của đối tượng quy định tại khoản 1 Điều này”

[14] “Đối tượng” được nhắc đến tại khoản 1 Điều 126 Luật các TCTD năm

2010 chính là các cá nhân, tổ chức không được trở thành chủ thể được NHTMCP cấp tín dụng

Khoản 1 Điều 127 Luật các TCTD năm 2010 quy định: “Tổ chức tín

dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài không được cấp tín dụng không có bảo đảm, cấp tín dụng với điều kiện ưu đãi cho những đối tượng sau đây”

[14] Những “đối tượng” được liệt kê sau đó chính là các chủ thể NHTMCP phải hạn chế cấp tín dụng

Trong khi đó, theo Bộ luật Dân sự 2005 thì "Đối tượng của nghĩa vụ

dân sự có thể là tài sản, công việc phải thực hiện hoặc không được thực hiện"

[11, Khoản 1 Điều 282] Tức là, đối tượng của quan hệ pháp luật dân sự là tài sản phải chuyển giao cho người có quyền, công việc mà bên có nghĩa vụ phải thực hiện hoặc không được thực hiện vì lợi ích của người có quyền yêu cầu hoặc vì lợi ích của người thứ ba Trong khoa học pháp lý, những đối tượng này của quan hệ pháp luật được gọi là khách thể của quan hệ pháp luật Trong quan hệ cấp tín dụng, đối tượng (khách thể) của quan hệ pháp luật này là tiền hoặc tài sản khác tùy thuộc vào từng nghiệp vụ cấp tín dụng cụ thể như đối tượng của hoạt động cho vay là tiền, đối tượng của hoạt động cho thuê tài chính là tài sản,…

Trang 37

34

Như vậy, pháp luật hiện hành đang “nhầm lẫn” giữa các thuật ngữ của khoa học pháp lý khi sử dụng thuật ngữ xác định khách thể của quan hệ cấp tín dụng (đối tượng cấp tín dụng) cho các chủ thể của quan hệ cấp tín dụng

Mặc dù vậy, xét về mặt nội dung quy định của pháp luật, hướng tới mục đích hạn chế sự lũng đoạn của một số cá nhân, tổ chức trong hoạt động của NHTMCP, trên cơ sở sự kế thừa Luật TCTD năm 1997 và Thông tư 13/2010/TT-NHNN, Luật các TCTD năm 2010, Thông tư 36/2014/TT-NHNN, Thông tư 06/2016/TT-NHNN và các văn bản hướng dẫn nghiệp vụ cấp tín dụng cụ thể đã có quy định theo hướng kiểm soát chặt chẽ hơn về chủ thể được NHTMCP cấp tín dụng trong quan hệ với NHTMCP bao gồm những

tổ chức, cá nhân không được trở thành chủ thể được NHTMCP cấp tín dụng, chủ thể bị hạn chế cấp tín dụng và chủ thể NHTMCP được cấp tín dụng

2.1.1 Giới hạn về tổ chức, cá nhân không được trở thành chủ thể được NHTMCP cấp tín dụng

Để hạn chế sự lạm quyền của những cá nhân có thẩm quyền trong mỗi NHTMCP và để đảm bảo hoạt động cấp tín dụng của NHTMCP được hiệu quả, tại khoản 1 Điều 126 Luật các TCTD năm 2010 đã xác định rõ các cá nhân, tổ chức không được trở thành chủ thể được NHTMCP cấp tín dụng

Khi so sánh Điều 77 Luật các TCTD 1997 với Điều 126 Luật các TCTD 2010 và Điều 11 Thông tư 36/2014/TT-NHNN về chủ thể cấp tín dụng, có thể thấy các cá nhân, tổ chức không được trở thành chủ thể được NHTMCP cấp tín dụng theo quy định pháp luật hiện hành có những điểm kế thừa và khác biệt Cụ thể:

Thứ nhất, cá nhân không được trở thành chủ thể được NHTMCP cấp

tín dụng là thành viên Hội đồng quản trị, thành viên Ban kiểm soát, Tổng giám đốc (Giám đốc), Phó Tổng giám đốc (Giám đốc) [14, Điểm a Khoản 1

Trang 38

35

Điều 126] của NHTMCP là nội dung Luật TCTD năm 2010 đã kế thừa quy định của Luật TCTD năm 1997 nhằm mục đích hạn chế khả năng xung đột lợi ích, tránh tình trạng các khách hàng nêu trên lạm dụng sự ảnh hưởng của mình đến việc ra quyết định cấp tín dụng của NHTMCP và có thể gây mất an toàn cho hoạt động của mỗi NHTMCP

Thứ hai, các cá nhân không được trở thành chủ thể được NHTMCP

cấp tín dụng được pháp luật hiện hành kế thừa hoàn toàn quy định của Luật TCTD năm 1997 là cha, mẹ, vợ, chồng, con của thành viên Hội đồng quản trị, thành viên Ban kiểm soát, Tổng giám đốc (Giám đốc), Phó Tổng giám đốc (Phó Giám đốc) [14, Điểm b Khoản 1 Điều 126], do đó, khi áp dụng vào thực tiễn, các NHTMCP đã gặp phải vướng mắc khi xác định cha, mẹ, vợ, chồng, con chỉ bao gồm những người cùng quan hệ huyết thống (cha đẻ, mẹ đẻ), nuôi dưỡng (như cha nuôi, mẹ nuôi, con nuôi) với thành viên Hội đồng quản trị, thành viên Ban kiểm soát, Tổng giám đốc (Giám đốc), Phó Tổng giám đốc (Phó Giám đốc) hay bao gồm cả cha chồng (cha vợ), mẹ chồng (mẹ vợ), bố dượng, mẹ kế, con dâu, con rể, con riêng của vợ/chồng,…

Ngoài ra, quy định này cũng như quy định về chủ thể bị hạn chế cấp tín dụng, chủ thể được cấp tín dụng đều được hiểu rằng, chỉ áp dụng vào thời điểm NHTMCP thẩm định khách hàng trước khi quyết định cấp tín dụng cho khách hàng mà không áp dụng vào thời điểm NHTMCP quản lý khách hàng sau khi cấp tín dụng Do vậy, khi áp dụng quy định này vào thực tiễn, NHTMCP “lúng túng” tìm cách giải quyết với các trường hợp như sau: Trường hợp một khách hàng vào thời điểm được NHTMCP thẩm định và xét duyệt cấp tín dụng không phải là cá nhân không được trở thành chủ thể được NHTMCP cấp tín dụng nhưng sau đó khách hàng này được bổ nhiệm chức danh Phó Tổng Giám đốc NHTMCP hoặc kết hôn với thành viên Hội đồng

Trang 39

36

quản trị thì khoản cấp tín dụng NHTMCP đã giải ngân toàn bộ tiền vốn vay cho khách hàng được giải quyết như thế nào? Khách hàng được tiếp tục khoản cấp tín dụng đến hết thời hạn theo thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng hay NHTMCP buộc phải thu hồi nợ trước hạn của khách hàng Nếu tiếp tục duy trì khoản cấp tín dụng với khách hàng thì NHTMCP cần thực hiện những thủ tục gì? Pháp luật hiện hành chưa có quy định giải quyết trong trường hợp này Theo quan điểm của tác giả, trong trường hợp này, do vào thời điểm xét duyệt cấp tín dụng khách hàng không phải là cá nhân không được trở thành chủ thể được NHTMCP cấp tín dụng và khoản vay của khách hàng cũng đã được NHTMCP giải ngân toàn bộ, đang trong giai đoạn thu hồi vốn vay nên việc NHTMCP tiếp tục thực hiện hợp đồng cấp tín dụng với khách hàng cho đến hết thời hạn mà không thu hồi nợ trước hạn không phải là sai phạm của NHTMCP trong hoạt động cấp tín dụng Tuy nhiên, trên thực tế, vấn đề này vẫn còn nhiều quan điểm, nhiều tranh cãi Ví dụ như, khi NHTMCP bị thanh tra, kiểm toán độc lập bắt lỗi sai phạm của NHTMCP với những trường hợp này, NHTMCP “đành phải” gửi công văn tới NHNN để giải trình với từng trường hợp cụ thể để chứng minh mình không vi phạm

Thứ ba, khách hàng là người thẩm định, xét duyệt cấp tín dụng đã

không còn thuộc các cá nhân không được trở thành chủ thể được NHTMCP cấp tín dụng theo luật hiện hành mà chỉ bị hạn chế cấp tín dụng theo quy định tại Điều 127 Luật các TCTD năm 2010 Quy định này đã cụ thể, chặt chẽ và phù hợp hơn với tình hình thực tế hoạt động của các NHTMCP

Thứ tư, do định hướng ban hành Luật các TCTD năm 2010 là hướng

đến khắc phục những bất cập về tổ chức, quản trị, điều hành nảy sinh trong quá trình thực hiện Luật các TCTD năm 1997 nên luật hiện hành đã bổ sung

thêm nhóm khách hàng là những người có “chức danh tương đương” với các

Trang 40

37

chức danh thành viên Hội đồng quản trị, thành viên Ban Kiểm soát, Tổng Giám đốc (Giám đốc), Phó Tổng Giám đốc (Phó Giám đốc) của NHTMCP vào nhóm các cá nhân không được trở thành chủ thể được NHTMCP cấp tín dụng Tuy nhiên, khái niệm và phạm vi những người có chức danh tương đương này rất khó xác định Bởi lẽ, Luật TCTD năm 2010 và Thông tư 36/2014/TT-NHNN hiện hành không có một điều khoản nào giải thích khái

niệm "chức danh tương đương” là những chức danh nào? Câu hỏi đặt ra là

sự tương đương ở đây được xem xét ở khía cạnh nào: tương đương về quyền hạn, tương đương về nhiệm vụ hay chỉ là chức danh tương đương nhau?

Ví dụ như tại một số NHTMCP, trong quy định quản lý nhân sự có phân nhóm cho từng chức danh, trong đó Phó Tổng Giám đốc NHTMCP và Giám đốc các khối chuyên doanh của NHTMCP được xếp vào một nhóm Những chức danh trong nhóm này đều có các quyền hạn như nhau trong quản

lý hoạt động NHTMCP mà chỉ khác nhau về tên gọi chức danh Vậy, trong trường hợp này, Giám đốc các khối chuyên doanh của NHTMCP thuộc các

“chức danh tương đương” nêu trên không?

Hay trên thực tế, các NHTMCP có các chức danh không có trong luật nhưng lại điều hành, kiểm soát hoạt động của NHTMCP như “bầu Kiên” làm chủ tịch Hội đồng sáng lập đã điều hành hoạt động của Ngân hàng Thương mại cổ phần Á Châu (ACB); Chức danh Trưởng ban tái cấu trúc hình thành trong giao đoạn NHTMCP cần tái cơ cấu với nhiệm vụ sắp xếp lại cơ cấu và

tổ chức của NHTMCP nhưng kể cả sau khi NHTMCP đi vào hoạt động ổn định thì chức danh này vẫn tồn tại và có quyền lực trong các hoạt động kinh doanh của NHTMCP, Những chức danh này cũng có được xác định là

“chức danh tương đương” theo luật không?

Việc xác định các “chức danh tương đương” đã khó như vậy nên việc

Ngày đăng: 19/10/2017, 21:00

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ Tư pháp và Ngân hàng Nhà nước (2010), Đề cương giới thiệu Luật các TCTD năm 2010, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đề cương giới thiệu Luật các TCTD năm 2010
Tác giả: Bộ Tư pháp và Ngân hàng Nhà nước
Năm: 2010
2. Chính phủ (2001), Nghị định 48/2001/NĐ-CP ngày 13/8/2001 về tổ chức và hoạt động của quỹ tín dụng nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định 48/2001/NĐ-CP ngày 13/8/2001 về tổ chức và hoạt động của quỹ tín dụng nhân dân
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2001
3. Chính phủ (2014), Nghị định số 39/2014/NĐ-CP ngày 7/5/2014 quy định về hoạt động của công ty tài chính và công ty cho thuê tài chính, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 39/2014/NĐ-CP ngày 7/5/2014 quy định về hoạt động của công ty tài chính và công ty cho thuê tài chính
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2014
4. Chính phủ (2014), Nghị định số 96/2014/NĐ-CP ngày 17/10/2014 quy định Xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tiền tệ và ngân hàng, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 96/2014/NĐ-CP ngày 17/10/2014 quy định Xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tiền tệ và ngân hàng
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2014
5. PGS.TS.Ngô Huy Cương (2013), Giáo trình Luật Thương mại Phần chung và Thương nhân, Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Luật Thương mại Phần chung và Thương nhân
Tác giả: PGS.TS.Ngô Huy Cương
Nhà XB: Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2013
6. TS.Trương Quốc Cường, Đảm bảo an toàn hoạt động ngân hàng Việt Nam – nhìn từ tiêu chuẩn Basel, Bài nghiên cứu Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đảm bảo an toàn hoạt động ngân hàng Việt Nam – nhìn từ tiêu chuẩn Basel
7. Hải Duyên (2016), “Cựu chủ tịch Ngân hàng Xây dựng gây thiệt hại 9.000 tỷ đồng nhƣ thế nào”, website vnexpress.net, ngày 5/7/2016, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cựu chủ tịch Ngân hàng Xây dựng gây thiệt hại 9.000 tỷ đồng nhƣ thế nào”, "website vnexpress.net
Tác giả: Hải Duyên
Năm: 2016
8. Huỳnh Thế Du và Đỗ Thiên Anh Tuấn (2013), Quy định về các tỷ lệ đảm bảo an toàn trong hoạt động ngân hàng ở Việt Nam – Con đường gập ghềnh, Bài nghiên cứu Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy định về các tỷ lệ đảm bảo an toàn trong hoạt động ngân hàng ở Việt Nam – Con đường gập ghềnh
Tác giả: Huỳnh Thế Du và Đỗ Thiên Anh Tuấn
Năm: 2013
9. Luật sư Trương Thanh Đức (2015), “Hoang mang với giới hạn tín dụng”, website báo Đầu tư chứng khoán, ngày 12/01/2015 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoang mang với giới hạn tín dụng”, "website báo Đầu tư chứng khoán
Tác giả: Luật sư Trương Thanh Đức
Năm: 2015
10. TS.Nguyễn Quốc Khánh và TS.Nguyễn Thị Mỹ Dung (2012), Giáo tình Nhập môn tài chính tiền tệ, Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo tình Nhập môn tài chính tiền tệ
Tác giả: TS.Nguyễn Quốc Khánh và TS.Nguyễn Thị Mỹ Dung
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam
Năm: 2012
13. Quốc hội (2004), Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật các Tổ chức tín dụng, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật các Tổ chức tín dụng
Tác giả: Quốc hội
Năm: 2004
17. Ngân hàng Nhà nước (2015), Bản giải đáp một số câu hỏi về nội dung của Thông tư 36/2014/TT-NHNN ngày 20/11/2014 của Ngân hàng Nhà nước quy định các giới hạn, tỷ lệ đảm bảo an toàn trong hoạt động của TCTD, Chi nhánh ngân hàng nước ngoài, website Ngân hàng Nhà nước www.sbv.gov.vn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bản giải đáp một số câu hỏi về nội dung của Thông tư 36/2014/TT-NHNN ngày 20/11/2014 của Ngân hàng Nhà nước quy định các giới hạn, tỷ lệ đảm bảo an toàn trong hoạt động của TCTD, Chi nhánh ngân hàng nước ngoài
Tác giả: Ngân hàng Nhà nước
Năm: 2015
18. Ngân hàng Nhà nước (2014), Thông tư 36/2014/TT-NHNN ngày 20/11/2014 quy định các giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn hoạt động của các tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư 36/2014/TT-NHNN ngày 20/11/2014 quy định các giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn hoạt động của các tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài
Tác giả: Ngân hàng Nhà nước
Năm: 2014
19. Ngân hàng Nhà nước (2001), Quy chế cho vay của tổ chức tín dụng đối với khách hàng (Ban hành kèm theo Quyết định số 1627/2001/QĐ- NHNN ngày 31 tháng 12 năm 2001 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam), Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy chế cho vay của tổ chức tín dụng đối với khách hàng (Ban hành kèm theo Quyết định số 1627/2001/QĐ-NHNN ngày 31 tháng 12 năm 2001 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam)
Tác giả: Ngân hàng Nhà nước
Năm: 2001
20. Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (2015), Thông tư 07/2015/TT-NHNN ngày 25/6/2016 quy định về bảo lãnh ngân hàng, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư 07/2015/TT-NHNN ngày 25/6/2016 quy định về bảo lãnh ngân hàng
Tác giả: Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
Năm: 2015
21. Ngân hàng Nhà nước (2004), Quy chế hoạt động bao thanh toán của các tổ chức tín dụng ban hành kèm theo Quyết định 1096/2004/QĐ-NHNN ngày 06/9/2004, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy chế hoạt động bao thanh toán của các tổ chức tín dụng ban hành kèm theo Quyết định 1096/2004/QĐ-NHNN ngày 06/9/2004
Tác giả: Ngân hàng Nhà nước
Năm: 2004
22. Ngân hàng Nhà nước (2008), Quyết định 03/2008/QĐ-NHNN ngày 01/2/2008 về cho vay, chiết khấu giấy tờ có giá để đầu tư kinh doanh chứng khoán, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định 03/2008/QĐ-NHNN ngày 01/2/2008 về cho vay, chiết khấu giấy tờ có giá để đầu tư kinh doanh chứng khoán
Tác giả: Ngân hàng Nhà nước
Năm: 2008
23. Ngân hàng Nhà nước (2013), Thông tư 02/2013/TT-NHNN ngày 21/01/2013 quy định về phân loại tài sản có, mức trích, phương pháp trích lập dự phòng rủi ro và việc sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro trong hoạt động của tổ chức tín dụng, chi nhánh Ngân hàng nước ngoài, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư 02/2013/TT-NHNN ngày 21/01/2013 quy định về phân loại tài sản có, mức trích, phương pháp trích lập dự phòng rủi ro và việc sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro trong hoạt động của tổ chức tín dụng, chi nhánh Ngân hàng nước ngoài
Tác giả: Ngân hàng Nhà nước
Năm: 2013
24. Ngân hàng Nhà nước (2010), Thông tư số 13/2010/TT-NHNN ngày 20/5/2010 quy định về các tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của tổ chức tín dụng, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư số 13/2010/TT-NHNN ngày 20/5/2010 quy định về các tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của tổ chức tín dụng
Tác giả: Ngân hàng Nhà nước
Năm: 2010
25. Ngân hàng Nhà nước (2010), Thông tư số 19/2010/TT-NHNN ngày 27/9/2010 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 13/2010/TT- NHNN ngày 20/5/2010 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước ban hành Quy định về các tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của tổ chức tín dụng, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư số 19/2010/TT-NHNN ngày 27/9/2010 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 13/2010/TT-NHNN ngày 20/5/2010 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước ban hành Quy định về các tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của tổ chức tín dụng
Tác giả: Ngân hàng Nhà nước
Năm: 2010

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w