Kể từ 2005 tới nay, sự tăng trưởng nhanh chóng của các NHTM cổ phần đã đi kèm với việc hình thành một cấu trúc sở hữu chéo và đa phương giữa ngân hàng với doanh nghiệp và ngân hàng với n
Trang 1B Ộ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HỒ CHÍ MINH
ĐẢM BẢO AN TOÀN HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM
TP H Ồ CHÍ MINH NĂM 2014
Trang 2B Ộ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HỒ CHÍ MINH
ĐẢM BẢO AN TOÀN HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM
CHUYÊN NGÀNH: TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG
MÃ S Ố : 60340201
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS TS TRẦN HOÀNG NGÂN
TP H Ồ CHÍ MINH NĂM 2014
Trang 3L ỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn này là công trình nghiên cứu của riêng tôi, chưa công bố tại bất cứ nơi nào.Mọi số liệu sử dụng trong luận văn này có độ chính xác cao nhất trong phạm vi hiểu biết của tôi
Tôi xin chịu mọi trách nhiệm về lời cam đoan của mình
Tp Hồ Chí Minh, ngày 03 tháng 03 năm 2014
Tác giả luận văn
Trang 4M ỤC LỤC
TRANG PHỤ BÌA
LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC BẢNG BIỂU
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ
LỜI MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu: 1
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
4 Phương pháp nghiên cứu 2
5 Bố cục luận văn: 2
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ SỞ HỮU CHÉO VÀ QUY ĐỊNH ĐẢM BẢO AN TOÀN HOẠT ĐỘNG CỦA NHTM 3
1.1 CÁC LÝ THUYẾT VỀ SỞ HỮU CHÉO VÀ QUY ĐỊNH ĐẢM BẢO AN TOÀN HOẠT ĐỘNG CỦA NHTM 3
1.1.1 SỞ HỮU CHÉO TẠI CÁC NHTM 3
1.1.1.1 Khái niệm sở hữu chéo 3
1.1.2 ĐẢM BẢO AN TOÀN HOẠT ĐỘNG CỦA NHTM NHÌN TỪ BASEL 3
1.1.2.1 Tiêu chuẩn Basel 4
1.1.2.2 Tiêu chuẩn Basel II 5
1.1.2.3 Ưu điểm của Basel II so với Basel I 7
1.2 CÁC BÀI HỌC KINH NGHIỆM VỀ SỞ HỮU CHÉO TRÊN THẾ GIỚI 7
1.2.1 Bài học kinh nghiệm sở hữu chéo ở Hàn Quốc 7
1.2.2 Bài học kinh nghiệm sở hữu chéo ở Nhật Bản 9
1.2.3 Bài học kinh nghiệm sở hữu chéo ở Đức 11
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 13
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG SỞ HỮU CHÉO VÀ VIỆC CHẤP HÀNH CÁC QUY ĐỊNH ĐẢM BẢO AN TOÀN HOẠT ĐỘNG CỦA NHTM VIỆT NAM 14
Trang 52.1 Lý thuyết sở hữu chéo và đảm bảo an toàn hoạt động của các NHTM Việt Nam 14
2.1.1 Phân loại các hình thức sở hữu chéo ở các NHTM Việt Nam 14
2.1.1.1 Sở hữu của các NHTM nhà nước và NHTM nước ngoài tại các Ngân hàng liên doanh 14
2.1.1.2 Cổ đông chiến lược nước ngoài tại các NHTM 15
2.1.1.3 Cổ đông tại các NHTM là các công ty quản lý quỹ 17
2.1.1.4 Sở hữu của NHTM nhà nước tại các NHTM cổ phần 18
2.1.1.5 Sở hữu lẫn nhau giữa các NHTM cổ phần 20
2.1.1.6 Sở hữu NHTM cổ phần bởi các tập đoàn, tổng công ty Nhà nước và tư nhân 20 2.1.2.1 Tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu 21
2.1.2.2 Giới hạn tín dụng 22
2.1.2.3 Tỷ lệ khả năng chi trả 22
2.1.2.4 Giới hạn góp vốn, mua cổ phần 22
2.1.2.5 Tỷ lệ cấp tín dụng so với nguồn vốn huy động 24
2.1.3 Tác động của sở hữu chéo đến an toàn hoạt động của các NHTM Việt Nam 25
2.1.3.1Vi phạm về vốn 25
2.1.3.2 Vi phạm về giới hạn tín dụng 26
2.1.3.3 Vi phạm về góp vốn, mua cổ phần 28
2.2 THỰC TRẠNG SỞ HỮU CHÉO VÀ VIỆC CHẤP HÀNH CÁC QUY ĐỊNH ĐẢM BẢO N TOÀN HOẠT ĐỘNG CỦA NHTM VIỆT NAM 29
2.2.1THỰC TRẠNG CƠ CẤU SỞ HỮU VỐN CỦA CÁC NHTM VIỆT NAM 29
2.2.1.1 HỆ THỐNG NGÂN HÀNG VÀ SỰ HÌNH THÀNH SỞ HỮU CHÉO 29
2.2.1.1.1 Hệ thống ngân hàng và sự phát triển về số lượng và vốn 29
2.2.1.1.2 Sự hình thành sở hữu chéo 32
2.2.1.2 THỰC TRẠNG SỞ HỮU CHÉO 33
2.2.1.2.1 Sở hữu của các NHTM nhà nước và NHTM nước ngoài tại các Ngân hàng liên doanh 33
2.2.1.2.2 Cổ đông chiến lược nước ngoài tại các NHTM 35
2.2.1.2.3 Cổ đông tại các NHTM là các Công ty quản lý quỹ 38
2.2.1.2.4 Sở hữu của NHTM nhà nước tại các NHTM cổ phần 39
2.2.1.2.4.5 Sở hữu lẫn nhau giữa các NHTMCP 37 2.2.1.2.4.6 Sở hữu NHTMCP bởi các tập đoàn, tổng Công ty Nhà nước và tư nhân 38
Trang 62.2.2 TÁC ĐỘNG CỦA SỞ HỮU CHÉO ĐẾN AN TOÀN HOẠT ĐỘNG CỦA
NHTM 44
2.2.2.1 Tình huống của ngân hàng thương mại cổ phần (ACB) 44
2.2.2.2 Tình huống của ngân hàng thương mại Sài Gòn Thương Tín (Sacombank) 46
2.2.2.3 Tình huống ba ngân hàng hợp nhất: NH Thương mại cổ phần Sài Gòn, NH Đệ Nhất, NH Sài Gòn Tín Nghĩa 48
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 52
CHƯƠNG 3: KIẾN NGHỊ VÀ GIẢI PHÁP HẠN CHẾ TÁC ĐỘNG TIÊU CỰC CỦA SỞ HỮU CHÉO ĐẾN AN TOÀN HOẠT ĐỘNG CỦA NHTM 53
3.1 Giải pháp hạn chế tác động tiêu cực của sở hữu chéo đến an tòa hoạt động của các NHTM Việt Nam 53
3.1.1 Kiến nghị về qui định nhằm hạn chế sở hữu chéo 53
3.1.1.1 Khái niệm sở hữu chéo 53
3.1.1.2 Định nghĩa lại khái niệm người liên quan 53
3.1.1.3 Qui định về minh bạch thông tin 53
3.1.1.4 Qui định tách biệt hoạt động của NHTM và NHĐT 54
3.1.1.5 Qui định về xác định nguồn lực tài chính khi tham gia góp vốn mua cổ phần tại các NHTM 55
3.1.1.6 Hoàn thiện luật thuế thu nhập cá nhân 55
3.1.1.7 Đưa ra quy định, khung pháp lý cho công ty cổ phần tài chính 55
3.1.1.8 Qui định chế tài khi vi phạm về các qui định về SHC 55
3.1.2 Giải pháp giảm SHC 56
3.1.2.1 Xây dựng một lộ trình cụ thể từng bước giảm SHC trong hệ thống NHTM hiện nay 56
3.1.2.2 Sáp nhập ngân hàng ngân hàng nâng cao tính minh bạch trong quản trị ngân hàng, minh bạch nguồn gốc của nguồn tiền 57
3.2 Định hướng quản lý sở hữu chéo tại các NHTM Việt Nam của Ngân hàng Nhà nước 57
3.2.1 Định hướng quản lý sở hữu chéo tại các NHTM Việt Nam của Ngân hàng Nhà nước 57
3.2.2 Các giải pháp hỗ trợ thực hiện định hướng quản lý sở hữu chéo tại các NHTM Việt Nam của Ngân hàng Nhà nước 57
Trang 73.2.3 Lộ trình thực hiện định hướng quản lý sở hữu chéo tại các NHTM Việt Nam
của Ngân hàng Nhà nước 60
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 62
KẾT LUẬN 63
TÀI LIỆU THAM KHẢO 65
Trang 8DANH M ỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT
AMC : Công ty quản lý tài sản
BKS : Ban kiếm soát
BCTC : Báo cáo tài chính
CAR : Tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu
NHTM : Ngân hàng Thương mại
NHTMNN : Ngân hàng Thương mại Nhà nước
NHTMCP : Ngân hàng Thương mại Cổ phần
NHNN : Ngân hàng Nhà nước
P.TGĐ : Phó Tổng Giám đốc
SHC : Sở hữu chéo
TGĐ : Tổng Giám đốc
TV.BKS : Thành viên Ban kiểm soát
TV.HĐQT : Thành Viên Hội đồng Quản trị
Trang 9DANH M ỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1: Số lượng ngân hàng giai đoạn 1991-2012 29
Hình 2.1: Số lượng ngân hàng từ 1991-2012 30
Bảng 2.2: Quy định về vốn pháp định của các NHTM 32
Bảng 2.3: Danh sách ngân hàng liên doanh 2012 34
Bảng 2.4: Tỷ lệ sở hữu của gia đình bà Trần Thị Hường tại Nam Việt Bank 42
Trang 10DANH M ỤC CÁC HÌNH VẼ , ĐỒ THỊ
Hình 1.1: Sở hữu của các NHTM nhà nước và NHTM nước ngoài tại các Ngân
hàng liên doanh 14
Hình 1.2: Sở hữu của các cổ đông chiến lược nước ngoài tại các NHTM 16
Hình 1.3: Sở hữu của các công ty quản lý quỹ tại các NHTM 17
Hình 1.4: Sở hữu của NHTM nhà nước tại các NHTM cổ phần 19
Hình 1.5: Sở hữu lẫn nhau giữa các NHTM cổ phần 20
Hình 1.6: Sở hữu của các tập đoàn, tổng công ty Nhà nước và tư nhân tại các NHTM 21
Hình 2.1: Số lượng ngân hàng từ 1991-2012 30
Hình 2.2: Tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu của các nhóm TCTD 40
Hình 2.3: Mô hình thực trạng sở hữu chéo của các NHTM nhà nước 36
Hình 2.4: Sở hữu cổ phần NamABank của nhóm cổ đông có liên quan đến bà Trần Thị Hường 41
Hình 2.5: Quan hệ sở hữu giữa ACB-DaiABank-VietABank, ACB-Eximbank-VietABank, S.J.C-Eximbank-VietABank 45
Trang 11việc phát triển kinh tế - xã hội
Kể từ 2005 tới nay, sự tăng trưởng nhanh chóng của các NHTM cổ phần đã
đi kèm với việc hình thành một cấu trúc sở hữu chéo và đa phương giữa ngân hàng với doanh nghiệp và ngân hàng với ngân hàng.Trục trặc của hệ thống ngân hàng liên tục phát sinh, bộc lộ với việc các ngân hàng thương mại dùng sở hữu chéo để lách, không tuân thủ các quy định bảo đảm an toàn hoạt động
Trong báo cáo kinh tế vĩ mô năm 2012 do Ủy ban Kinh tế của Quốc hội vấn
đề sở hữu chồng chéo trong hệ thống ngân hàng hiện nay đã được đề cập, trong đó nổi bật là việc sở hữu NHTM cổ phần (TMCP) bởi các tập đoàn, tổng công ty (TCT) nhà nước và tư nhân Ở Việt Nam, hình thức sở hữu chéo được thừa nhận là khá phổ biến, và mức độ sở hữu chéo ở Việt Nam rất khó đánh giá Nguyên do là không minh bạch thông tin và các kiểu "lách" luật sở hữu một cách hợp pháp
Vậy các ngân hàng đã làm như thế nào để hình thành mối quan hệ sở hữu chéo chằng chịt như hiện nay và mối quan hệ đó tác động như thế nào đến an toàn hoạt động của hệ thống ngân hàng thương mại cũng như làm thế nào để giảm những tác động tiêu cực đó Đề tài " Hạn chế tác động tiêu cực của sở hữu chéo đảm bảo
an toàn hoạt động của ngân hàng thương mại Việt Nam" được tôi chọn làm đề tài nghiên cứu
2 M ục tiêu nghiên cứu:
Đề tài nghiên cứu giải quyết 3 vấn đề cơ bản;
• Tổng quan lý thuyết về sở hữu chéo, tác động của sở hữu chéo đến an toàn
hoạt động của NHTM
• Phân tích hiện trạng sở hữu chéo trong hệ thống NHTM VN và tác động của
sở hữu chéo đến chấp hành các quy định đảm bảo an toàn hoạt động của
Trang 12-2-
NHTM
• Đưa ra các kiến nghị và giải pháp hạn chế sở hữu chéo và tác động tiêu cực
của SHC đến an toàn hoạt động của NHTM
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: tác động của sở hữu chéo đến việc tuân thủ quy định
về bảo đảm an toàn hoạt động của NHTM
Phạm vi nghiên cứu: Các NHTM của Việt Nam trong giai đoạn 2008-2012
4 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu: nghiên cứu định tính kết hợp nghiên cứu tính
Trang 131.1.1 S Ở HỮU CHÉO TẠI CÁC NHTM
1.1.1.1 Khái ni ệm sở hữu chéo
Sở hữu chéo được định nghĩa là doanh nghiệp A sở hữu doanh nghiệp B và ngược lại doanh nghiệp B sở hữu doanh nghiệp A Bản chất sở hữu chéo là các dòng vốn đầu tư lẫn nhau mà lại chịu sự chi phối của một người hay một nhóm người nhất định
Sở hữu chéo ngân hàng là việc một ngân hàng A có cổ phần trong ngân hàng
B, rồi ngân hàng B lại có cổ phần trong ngân hàng A Hay ngân hàng A lại có cổ
phần trong doanh nghiệp C và doanh nghiệp C lại có cổ phần trong ngân hàng A Cũng có thể là kiểu gián tiếp theo kiểu một nhóm nhà đầu tư hay một doanh nghiệp
sở hữu cả NH A và Ngân hàng B (NH A và NH B là sở hữu chéo gián tiếp của nhau) Lý thuyết có thể hiểu một cách đơn giản là vậy tuy nhiên trên thực tế, sở hữu chéo phức tạp hơn nhiều bởi nó hàm chứa những mối quan hệ chằng chịt và đôi khi
rất khó phân tách rõ ràng
1.1.2 ĐẢM BẢO AN TOÀN HOẠT ĐỘNG CỦA NHTM NHÌN TỪ BASEL
Ngân hàng thanh toán quốc tế (BIS) đã xây dựng chỉ tiêu đánh giá mức độ an toàn và hiệu quả trong hoạt động ngận hàng nhằm chuẩn mực hóa hoạt động ngân hàng trong trào lưu toàn cầu hóa Tiêu chí đầu tiên đánh giá khả năng tham gia vào
thị trường vốn quốc tế là mức độ tuân thủ chỉ tiêu an toàn vốn tối thiểu – đây là nội dung nền tảng của Basel I (1988) Ngoài những ảnh hưởng của quá trình tự do hóa tài chính và sự tiến bộ trong công nghệ ngân hàng cũng như xu hướng đa dạng hóa các sản phẩm tài chính diễn ra rầm rộ vào những thập kỷ cuối thế kỷ 20 thì yêu cầu xây dựng một nền tảng so sánh hiệu quả hoạt động ngân hàng và đảm bảo hạn
chế rủi ro trong hệ thống thanh toán liên ngân hàng toàn cầu là động lực dẫn đến
Trang 14-4-
sự ra đời của Hiệp ước Basel I và sau đó hơn 10 năm là Basel II (1999)
1.1.2.1 Tiêu chu ẩn Basel I
- M ục đích của Basel I: Củng cố sự ổn định của toàn bộ hệ thống ngân hàng
quốc tế, Thiết lập một hệ thống ngân hàng quốc tế thống nhất, bình đẳng nhằm giảm
cạnh tranh không lành mạnh giữa các ngân hàng quốc tế
- Tiêu chu ẩn của Basel I:
Tỉ lệ vốn dựa trên rủi ro - “Tỉ lệ Cook”: tỉ lệ này được phát triển bởi BCBS với mục đích củng cố hệ thống ngân hàng quốc tế, đối tượng ban đầu là
những ngân hàng hoạt động quốc tế, nhưng sau này đã được thực thi trên hơn 100
quốc gia Theo tiêu chuẩn này, ngân hàng phải giữ lại lượng vốn bằng ít nhất 8%
của rổ tài sản, được tính toán theo nhiều phương pháp khác nhau và phụ thuộc vào
độ rủi ro của chúng
Tỉ lệ thoả đáng về vốn (CAR) = Vốn bắt buộc/Tài sản tính theo độ rủi ro gia quyền (RWA)
Theo đó, ngân hàng có mức vốn tốt là ngân hàng có CAR > 10%, có mức
vốn thích hợp khi CAR > 8%, thiếu vốn khi CAR < 8%, thiếu vốn rõ rệt khi CAR
< 6% và thiếu vốn trầm trọng khi CAR < 2%
Vốn cấp 1, cấp 2 và cấp 3: Thành tựu cơ bản của Basel I là đã đưa ra được định nghĩa mang tính quốc tế chung nhất về vốn của ngân hàng và một cái gọi
là tỷ lệ vốn an toàn của ngân hàng Tiêu chuẩn này quy định: Vốn cấp 1 ≥ Vốn cấp
Vốn Cấp 3 (Dành cho rủi ro thị trường) = Vay ngắn hạn
Vốn tính theo rủi ro gia quyền:
RWA = Tổng (Tài sản x Mức rủi ro phân định cho từng tài sản trong bảng cân đối kế toán) + Tổng (Nợ tương đương x Mức rủi ro ngoại bảng)
Basel I đưa ra trọng số rủi ro gồm 4 mức: quốc gia 0%; ngân hàng 20%; doanh nghiệp 100% Trọng số rủi ro không phản ánh độ nhạy cảm rủi ro trong mỗi
Trang 15-5-
loại này
- Nh ững thiếu sót của Basel I: Sau khi rủi ro tín dụng được thiết lập vào
năm 1988, Uỷ ban Basel đã chuyển sự chú ý của họ sang rủi ro thị trường để phản ứng lại các hoạt động kinh doanh chuyên hữu ngày càng tăng của các ngân hàng thương mại và đến năm 1996, Bsael I đã được sửa đổi với mục đích tính đến cả phí
vốn đối với rủi ro thị trường
Mặc dù vậy, Basel I vẫn có khá nhiều điểm hạn chế Một trong những điểm
hạn chế cơ bản của Basel I là không đề cập đến một loại rủi ro đang ngày càng trở nên phức tạp với mức độ ngày càng tăng lên, đó là rủi ro vận hành (không có yêu
cầu vốn dự phòng rủi ro vận hành) Ngoài ra, còn một số điểm hạn chế khác, như: không phân biệt theo loại rủi ro, không có lợi ích từ việc đa dạng hóa…
1.1.2.2 Tiêu chu ẩn Basel II
- Mục tiêu của Basel II: Nâng cao chất lượng và sự ổn định của hệ thống
ngân hàng quốc tế; Tạo lập và duy trì một sân chơi bình đẳng cho các ngân hàng hoạt động trên bình diện quốc tế; Đẩy mạnh việc chấp nhận các thông lệ nghiêm ngặt hơn trong lĩnh vực quản lý rủi ro
Hai mục tiêu đầu của Basel II là những mục tiêu chủ chốt của Hiệp ước vốn Basel I Mục tiêu cuối cùng là mới, đó là dấu hiệu của việc bắt đầu chuyển dần từ
cơ chế điều tiết dựa trên tỷ lệ, mà đó chỉ là một phần của khung mới, hướng đến một sự điều tiết mà sẽ dựa nhiều hơn vào các số liệu nội bộ, thông lệ và các mô hình
- Basel II sử dụng khái niệm“Ba trụ cột”:
Trụ cột thứ I: liên quan tới việc duy trì vốn bắt buộc Theo đó, tỷ lệ vốn bắt buộc tối thiểu (CAR) vẫn là 8% của tổng tài sản có rủi ro như Basel I Tuy nhiên, rủi ro được tính toán theo ba yếu tố chính mà ngân hàng phải đối mặt: rủi ro tín dụng, rủi ro vận hành (hay rủi ro hoạt động) và rủi ro thị trường So với Basel I, cách tính chi phí vốn đối với rủi ro tín dụng có sự sửa đổi lớn, đối với rủi ro thị trường có sự thay đổi nhỏ, nhưng hoàn toàn là phiên bản mới đối với rủi ro vận hành Trọng số rủi ro của Basel II bao gồm nhiều mức (từ 0%-150% hoặc hơn) và rất nhạy cảm với xếp hạng
Trang 16-6-
Trụ cột thứ II: liên quan tới việc hoạch định chính sách ngân hàng, Basel II cung cấp cho các nhà hoạch định chính sách những “công cụ” tốt hơn so với Basel I Trụ cột này cũng cung cấp một khung giải pháp cho các rủi ro mà ngân hàng đối mặt, như rủi ro hệ thống, rủi ro chiến lược, rủi ro danh tiếng, rủi ro thanh khoản và rủi ro pháp lý, mà hiệp ước tổng hợp lại dưới cái tên rủi ro còn lại (residual risk)
Basel II nhấn mạnh 4 nguyên tắc của công tác rà soát giám sát: Thứ nhất, các ngân hàng cần phải có một quy trình đánh giá được mức độ đầy đủ vốn nội bộ theo danh mục rủi ro và phải có được một chiến lược đúng đắn nhằm duy trì mức vốn đó Thứ hai, các giám sát viên nên rà soát và đánh giá việc xác định mức độ vốn nội bộ và chiến lược của ngân hàng, cũng như khả năng giám sát và đảm bảo tuân thủ tỉ lệ vốn tối thiểu; giám sát viên nên thực hiện một số hành động giám sát phù hợp nếu họ không hài lòng với kết quả của quy trình này Thứ ba, Giám sát viên khuyến nghị các ngân hàng duy trì mức vốn cao hơn mức tối thiểu theo quy định Thứ tư, giám sát viên nên can thiệp ở giai đoạn đầu để đảm bảo mức vốn của ngân hàng không giảm dưới mức tối thiểu theo quy định và có thể yêu cầu sửa đổi ngay lập tức nếu mức vốn không được duy trì trên mức tối thiểu
Trụ cột thứ III: Các ngân hàng cần phải công khai thông tin một cách thích đáng theo nguyên tắc thị trường Basel II đưa ra một danh sách các yêu cầu buộc các ngân hàng phải công khai thông tin, từ những thông tin về cơ cấu vốn, mức
độ đầy đủ vốn đến những thông tin liên quan đến mức độ nhạy cảm của ngân hàng với rủi ro tín dụng, rủi ro thị trường, rủi ro vận hành và quy trình đánh giá của ngân hàng đối với từng loại rủi ro này
Như vậy, quá trình phát triển của Basel và những Hiệp ước mà tổ chức này đưa ra, các ngân hàng thương mại càng ngày càng được yêu cầu hoạt động một cách minh bạch hơn, đảm bảo vốn phòng ngừa cho nhiều loại rủi ro hơn và do vậy, hy vọng sẽ giảm thiểu được rủi ro
Trang 17-7-
1.1.2.3 Ưu điểm của Basel II so với Basel I
- Về cấu trúc và nội dung: Basel I tập trung vào một giải pháp quản lý rủi ro duy nhất là “yêu cầu vốn tối thiểu” Trong khi, Basel II tập trung nhiều hơn vào các phương pháp nội bộ của chính ngân hàng, đánh giá hoạt động thanh tra, giám sát và
kỷ luật trên nguyên tắc thị trường Do đó, quyền lực của các nhà quản lý quốc gia được tăng lên bởi họ cần phải đánh giá sự đủ vốn của ngân hàng có tính đến đặc điểm rủi ro cụ thể của nó
- Về tính linh động của ứng dụng: Basel I quy định chung một chọn lựa cho tất cả các ngân hàng Basel II linh hoạt hơn với một danh sách các phương pháp, các biện pháp khuyến khích để các nhà quản lý quốc gia và các ngân hàng chọn lựa
- Về tính nhạy cảm với rủi ro: Basel I đo đạc rủi ro quá sơ bộ Basel II nhạy cảm hơn với rủi ro thông qua độ nhạy cảm của yêu cầu vốn đối với mức độ rủi ro tăng lên và sự công khai bắt buộc một cách chi tiết về độ nhạy cảm rủi ro và chính sách rủi ro
- Về trọng số rủi ro: Basel I quy định từ 0 - 100 và ưu đãi hơn với các nước thuộc
Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD- Organisation for Economic operation and Development) Basel II quy định từ 0 - 150 hoặc hơn và không có đặc quyền nào, bao gồm cả phân cấp bên trong và bên ngoài
Co Về kỹ thuật giảm rủi ro tín dụng: Basel I chỉ hỗ trợ và đảm bảo Basel II thừa nhận
về kỹ thuật giảm thiểu rủi ro tốt hơn, đưa ra nhiều kỹ thuật hơn như hỗ trợ, đảm bảo, phái sinh tín dụng, lập mạng lưới vị thế (position netting)
1.2 CÁC BÀI H ỌC KINH NGHIỆM VỀ SỞ HỮU CHÉO TRÊN THẾ GIỚI 1.2.1 Bài h ọc kinh nghiệm sở hữu chéo ở Hàn Quốc
Ở Hàn Quốc, sở hữu chéo được coi là đặc trưng nổi bật của các tập đoàn kinh doanh quy mô lớn (Chaebol).Mối quan hệ sở hữu chéo không chỉ giữa các công ty thành viên trong nội bộ Chaebol mà còn giữa các Chaebol với nhau Luật Thương
Trang 18-8-
mại của Hàn Quốc quy định rõ giới hạn cho phép đối với vấn đề này, theo đó, các công ty con không được phép nắm giữ cổ phiếu của công ty mẹ và công ty mẹ cũng không được phép nắm giữ quá 40% cổ phần của công ty con Tuy việc nắm giữ cổ phần chéo không được phép nhưng một công ty vẫn có thể đầu tư vốn vào một công ty khác và sau đó chuyển vốn cổ phần sang cho bên thứ 3 Hình thức này
là hình thức đầu tư nội bộ, được gọi là “mô hình kim tự tháp”
Mô hình này cho thấy, với số vốn đầu tư không quá lớn (chỉ cần đảm bảo mức khống chế ở một số Cty chủ chốt và một lượng vốn nhỏ ở các Cty con) nhưng phạm
vi ảnh hưởng của Cty mẹ hay các gia đình sáng lập thực sự rất lớn Cty mẹ chỉ cần duy trì tỷ lệ cổ phần khống chế tại Cty A và Cty B nhưng vẫn có ảnh hưởng rất lớn tới các Cty con của A và B Tuy nhiên, chính sự tập trung này cộng thêm với các chính sách bảo hộ quá lớn của Chính phủ là những nguyên nhân căn bản gây nên rất nhiều vấn đề bất cập ở Hàn Quốc:
Thứ nhất, những bất cập liên quan tới quản trị doanh nghiệp (DN): Tình trạng quản lý không rõ ràng, kém hiệu quả trong quản lý do những mối quan hệ qua lại đan xen trong mô hình sở hữu chéo khá phổ biến.Các Cty niêm yết trực thuộc các chaebol luôn có quan niệm mang tính mặc định là những người lãnh đạo sẽ không bao giờ bị thay thế.Vị trí của những người này sẽ vẫn được duy trì đến chừng nào những người ủng hộ họ vẫn còn nắm giữ các vị trí quản lý tại các Cty con, vì thế họ đương nhiên sẽ trúng cử trong đại hội cổ đông Thêm nữa là tình trạng không phân định rõ ràng chức năng quản trị của Hội đồng quản trị (HĐQT) với chức năng quản
lý của Ban điều hành và thiếu tính minh bạch trong quản lý DN Cho đến năm 1997, HĐQT của tất cả các Cty niêm yết chỉ bao gồm những “người trong cuộc” và họ có quyền chỉ định kiểm toán viên bên ngoài.Vì thế, tính độc lập của các kiểm toán viên bên ngoài luôn là một vấn đề gây nhiều nghi vấn
Sau cuộc khủng hoảng 1997, Sở Giao dịch Chứng khoán Hàn Quốc đã buộc các Cty muốn niêm yết phải có tối thiểu là 1/4 thành viên của HĐQT là các thành viên độc lập từ bên ngoài Đồng thời, phải thành lập một uỷ ban bao gồm cả kiểm toán viên nội bộ, thành viên độc lập từ bên ngoài và các chủ nợ để lựa chọn (hoặc
Trang 19Khủng hoảng tài chính năm 1997-1998 đã cho thấy một trong những nguyên nhân dẫn đến nợ xấu là việc các Công ty gia đình này nắm quyền kiểm soát ở các NHTM và sử dụng những NHTM này tài trợ cho các dự án của mình và các Công ty
có liên quan.Vì thế, sau khủng hoảng, Hàn Quốc đã cấm ngay các tập đoàn không được đầu tư vào các lĩnh vực khác
1.2.2 Bài h ọc kinh nghiệm sở hữu chéo ở Nhật Bản
SHC ở Nhật Bản có một số đặc thù Các công ty ở Nhật Bản thường thiết lập quan hệ chặt chẽ với một NH (gọi là “main bank”).Các NH này cho vay và mua cổ phần của các doanh nghiệp Scher (2001) cho thấy hai lý do của việc tồn tại SHC giữa NH và DN là duy trì mối quan hệ kinh doanh ổn định và duy trì yêu cầu đủ vốn Mô hình “main bank” đã đóng một vai trò nhất định trong
sự thịnh vượng của kinh tế Nhật Bản kể từ sau Chiến tranh thế giới 2 Tuy nhiên nghiên cứu của Scher cũng cho thấy mô hình “main bank” không còn phù hợp từ những năm 1990 do đã góp phần tạo nên hậu quả xấu cho nền kinh tế Nhật Bản Cụ thể, do các NH không những thực hiện không tốt vai trò giám sát các DN liên quan mà còn cấp một lượng tín dụng lớn, kém chất lượng cho các DN này Hậu quả là các NH chịu những khoản nợ xấu lớn và bị suy giảm vốn chủ sở hữu
Trang 20-10-
Tình trạng sở hữu chéo ở nước này đã giảm được đáng kể bằng cách hình thành một định chế tài chính là công ty quản lý vốn.Cần sử dụng hoạt động mua bán-sáp nhập (M&A) để giảm sở hữu chéo, đồng thời có giải pháp hạn chế tác động tiêu cực của sở hữu chéo, chẳng hạn định nghĩa lại khái niệm người có liên quan, minh bạch thông tin
Kinh nghiệm của Nhật Bản là thành lập công ty mua cổ phần NH (banks’ shareholding purchase corparation – BSPC).Các DN vi phạm quy định hạn chế SHC phải thoái vốn bằng cách bán cổ phần cho BSPC, sau đó BSPC sẽ bán lại cho các nhà đầu tư bên ngoài theo một lộ trình nhất định.Thêm vào đó, Quỹ ETF có thể giúp giải quyết vấn đề sở hữu chéo trong ngành ngân hàng (NH).Đây là một trong nhiều ưu điểm của loại hình quỹ này đang được UBCKNN tiếp nhận từ kinh nghiệm của Nhật Bản
Lý do để ETFs được Chính phủ Nhật đưa vào gói giải pháp khi đó chính là
do ưu điểm dễ tiếp cận với NĐT, bao gồm cả NĐT cá nhân của loại hình quỹ này Tại Mỹ - nơi khởi nguồn của quỹ ETF - chính sự gia nhập mạnh mẽ của NĐT cá nhân là một trong những lý do lớn thúc đẩy loại hình quỹ ETF tăng trưởng chóng mặt (tốc độ tăng trưởng gộp tài sản quỹ ETF trong 10 năm đạt gần 30%/năm)
Lợi ích của ETF với NĐT cá nhân luôn được nhấn mạnh: Trước hết, các đơn
vị tối thiểu của ETF rất nhỏ, giúp NĐT có thể đầu tư vào một nhóm CP theo ngành trọng tâm chỉ với số tiền khiêm tốn Trong khi đó, khác với danh mục đầu tư của các quỹ tương hỗ, ETFs lại được giao dịch như một CP trên sàn và do đó nó có tính linh hoạt và minh bạch lớn hơn rất nhiều.Ngay cả chi phí quản lý ETF cũng rất thấp
so với các loại hình quỹ khác
ETF có tác dụng giúp giải quyết sở hữu chéo ở Nhật và giảm tác động khủng hoảng Châu Á.Bằng chứng từ Nhật cho thấy sở hữu chéo không hoàn toàn mang ý nghĩa tiêu cực.Thậm chí, đây là yếu tố quan trọng thúc đẩy sự thành công của quá trình công nghiệp hóa
Trang 21-11-
1.2.3 Bài h ọc kinh nghiệm sở hữu chéo ở Đức
Các nghiên cứu trên thế giới đều thừa nhận sự thành công của quá trình công nghiệp hóa ở Đức có sự đóng góp đáng kể của liên minh ngân hàng - doanh nghiệp
Hệ thống tài chính của Đức lúc bấy giờ đi theo định hướng dựa vào ngân hàng Đồng thời, lĩnh vực ngân hàng cũng có mức tập trung rất cao Có 4 ngân hàng lớn chiếm 20% quy mô doanh thu toàn ngành: Deutsche Bank, Dresdner Bank và Commerzbank (thành lập từ đầu thế kỷ XVIII vào thời kỳ công nghiệp hóa đầu tiên của người Đức) và Ngân hàng Bayerische Hypo-und Vereinsbank
Các ngân hàng này có thể đóng nhiều vai trò trong quá trình phát triển: nhà cho vay, cổ đông, đại diện ủy quyền hoặc là nhà tư vấn Đồng thời, đại diện của ngân hàng có thể có mặt trong hội đồng giám sát công ty, cho dù không phải là cổ đông Đây là một dấu hiệu cho thấy sự ảnh hưởng mạnh mẽ của lĩnh vực tài chính lên sự quản trị của các ngành công nghiệp khác
Đặc biệt, sức mạnh của sự giám sát này thể hiện qua 2 con đường: tỉ lệ sở hữu cổ phần và mối quan hệ của người đại diện nằm trong ban quản trị công ty và ngược lại
Chính các mối quan hệ lâu dài, tập trung này đã dẫn đến sự ổn định, gần gũi, phụ thuộc lẫn nhau và hỗ trợ đáng kể trong chiến lược phát triển vì lợi ích chung của các bên liên quan
Alberto Onetti và Alessia Pisoni (2009) cho rằng SHC giữa NH, công ty
bảo hiểm và các DN lớn và mối quan hệ gần gũi, liên kết giữa thành viên hội đồng
quản trị của các công ty khác nhau là đặc điểm chính của mối quan hệ NH - DN ở Đức Mô hình truyền thống này đã hỗ trợ dẫn dắt sự thành công của quá trình công nghiệp hóa ở Đức, góp phần tạo nên một nền tảng công nghiệp ổn định Quan hệ SHC với các NH đảm bảo cho các DN sự ổn định về sở hữu cùng tính liên tục trong quản trị doanh nghiệp Đồng thời SHC cho phép NH nắm giữ quyền lực quan trọng trong các DN từ đó tạo nên cho NH mạng lưới các mối quan
hệ cá nhân, không phải luôn minh bạch, với một số nhất định các nhà điều hành của các công ty khác nhau
Trang 22-12-
Tuy nhiên Alberto Onetti và Alessia Pisoni (2009) cũng chỉ ra rằng, do ảnh hưởng của tiến trình toàn cầu hóa, đang hình thành một xu hướng hoạt động theo định hướng thị trường của các NH Đức Xu hướng truyền thống kiểm soát DN thông qua sở hữu chéo, mặc dù đang giữ vai trò lớn, theo xu thế đang dần giảm đi
tầm quan trọng
Trang 23- Sở hữu của các Tổ chức tài chính nước ngoài trong NHTM, đặc biệt là với
tư cách cổ đông chiến lược sẽ giúp mở rộng quy mô, mở rộng thị trường của Ngân hàng, nâng cao chất lượng sản phẩm và dịch vụ, chuyên nghiệp hơn trong quản trị
- Sở hữu chéo giữa NHTM với DN góp phần làm tăng hiểu biết giữa Ngân hàng với DN, đồng thời hình thành nên một cơ cấu sở hữu và quản trị ổn định trong các DN, qua đó nâng cao chất lượng của hoạt động kinh doanh thông qua sự hợp tác
bổ trợ lẫn nhau
Tuy nhiên tác động tiêu cực của sở hữu chéo làm vô hiệu hóa các quy định đảm bảo an toàn hoạt động của NHTM thì lại to lớn hơn rất nhiều lần lợi ích mà nó mang lại
- Sở hữu chéo làm tăng vốn ảo trong hệ thống dẫn đến các vi phạm về vốn
- Sở hữu chéo vô hiệu hóa các qui định về giới hạn tín dụng thông qua việc
cấp tín dụng cho các công ty con, công ty liên kết, các bên liên quan
- Thông qua sở hữu chéo qui định về góp vốn,mua cổ phần cũng bị vi phạm
dẫn đến thâu tóm ngân hàng, vượt tỷ lệ sở hữu theo qui định bằng hình thức ủy thác
hoặc thông qua các công ty liên kết
Nhìn chung, NH có thể tạo ra giá trị gia tăng cao nếu như biết sử dụng sở
hữu chéo một cách thích hợp trong chuỗi giá trị của mình.Tuy nhiên, những mặt tích cực của sở hữu chéo cũng chỉ như phần nổi của tảng băng
Trang 24-14-
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG SỞ HỮU CHÉO VÀ VIỆC CHẤP HÀNH CÁC QUY ĐỊNH ĐẢM BẢO AN TOÀN HOẠT ĐỘNG
2.1 Lý thuy ết sở hữu chéo và đảm bảo an toàn hoạt động của các NHTM Việt Nam
2.1.1 Phân lo ại các hình thức sở hữu chéo ở các NHTM Việt Nam
Theo Ủy ban Giám sát Tài chính Quốc gia (NFSC) dẫn thống kê của Ủy ban Kinh tế Quốc hội thì vấn đề sở hữu chéo và đầu tư chéo tại các tổ chức tín dụng ở
Việt Nam được chia thành 6 nhóm: Sở hữu của các NHTMNN và NHTM nước ngoài tại các Ngân hàng liên doanh, Cổ đông chiến lược nước ngoài tại các NHTM,
Cổ đông tại các NHTM là các công ty quản lý quỹ, Sở hữu của NHTMNN tại các NHTM cổ phần, Sở hữu lẫn nhau giữa các NHTM cổ phần, Sở hữu NHTM cổ phần bởi các tập đoàn, tổng công ty Nhà nước và tư nhân.Với các hình thức sở hữu chéo này, tác giả luận văn khái quát vào minh họa bằng sáu sơ đồ sở hữu để sử dụng làm khung phân tích
2.1.1.1 Sở hữu của các NHTM nhà nước và NHTM nước ngoài tại các Ngân hàng liên doanh
Hình 1.1 : Sở hữu của các NHTM nhà nước và NHTM nước ngoài
tại các Ngân hàng liên doanh
Trang 25chủ yếu hướng đến việc tăng cường thúc đẩy hoạt động thương mại giữa Việt Nam
và quốc tế, nâng cao năng lực quản trị và thúc đẩy việc sử dụng vốn một cách có
hiệu quả Đồng thời việc sở hữu chéo cho phép NHTM nhà nước khai thác được cơ hội kinh doanh có lợi trên thị trường, đa dạng hóa hoạt động và phân tán rủi ro kinh doanh Ngoài ra NHTM nhà nước thể tăng vốn điều lệ bằng việc cố đông của NHTM nhà nước vay vốn của NH quốc tế Điều này, không chỉ giúp NHTM nhà nước ổn định tài chính mà còn thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế
Như vậy,việc sở hữu chéo giữa NHTM nhà nước và NHTM nước ngoài tại các Ngân hàng liên doanh góp phần cải thiện sự hỗ trợ vốn, công nghệ, góp phần nâng cao năng lực quản trị, nhân sự, mở rộng quy mô, thị phần, kinh nghiệm và
hiểu biết lẫn nhau giữa các đối tác, thúc đẩy hoạt động liên kết kinh tế và thương
mại giữa Việt Nam và quốc tế
2.1.1.2 Cổ đông chiến lược nước ngoài tại các NHTM
Ngân hàng Nhà nước vừa ban hành Dự thảo Nghị định Về việc nhà đầu tư nước ngoài mua cổ phần tổ chức tín dụng Việt Nam.Về điều kiện đối với nhà đầu tư nước ngoài mua cổ phần và trở thành nhà đầu tư chiến lược nước ngoài, dự thảo quy định:
-Nhà đầu tư phải là ngân hàng nước ngoài, công ty tài chính nước ngoài, công ty cho thuê tài chính nước ngoài được phép thực hiện hoạt động ngân hàng theo quy định của pháp luật của nước nơi đặt trụ sở chính Công ty tài chính nước ngoài chỉ được là nhà đầu tư chiến lược tại công ty tài chính Việt Nam, công ty cho thuê tài chính nước ngoài chỉ được là nhà đầu tư chiến lược tại công ty cho thuê tài chính Việt Nam;
- Nhà đầu tư phải có kinh nghiệm hoạt động quốc tế trong lĩnh vực tài chính ngân hàng từ 5 năm trở lên;
- Có tổng tài sản tối thiểu tương đương 10 tỷ USD vào năm trước năm nộp
Trang 26-16-
hồ sơ mua cổ phần;
- Có văn bản cam kết và kế hoạch rõ ràng về việc gắn bó lợi ích lâu dài với
tổ chức tín dụng Việt Nam, hỗ trợ tổ chức tín dụng Việt Nam áp dụng công nghệ
hiện đại; phát triển sản phẩm, dịch vụ ngân hàng; nâng cao năng lực quản trị, điều hành;
- Không sở hữu từ 10% vốn điều lệ trở lên tại bất kỳ tổ chức tín dụng nào khác tại Việt Nam và cam kết hoặc đã sở hữu từ 10% vốn điều lệ của tổ chức tín
dụng Việt Nam trở lên
Hình 1 2: Sở hữu của các cổ đông chiến lược nước ngoài tại các NHTM
Ngu ồn: Tác giả tự vẽ
Hình 1.2 cho biết sự sở hữu của các cổ đông chiến lược nước ngoài tại các NHTM Trường hợp cổ đông này trực tiếp nắm cổ phần của NH, các quyết định cho vay hay đầu tư của ngân hàng sẽ không thực hiện được hoặc bị hạn chế, giám sát
chặt chẽ
Thêm vào đó với khoản tín dụng được cấp bởi NH mà mình sở hữu, cổ đông có thể dùng vốn vay để góp vốn lại vào chính NH hoặc vào NH khác Việc này tạo nên việc tăng vốn ảo trong hệ thống NH
Tuy nhiên, sở hữu của các cổ đông chiến lược nước ngoài tại các NHTM cũng được coi là nhóm sở hữu chéo mang ý nghĩa tích cực không chỉ cho các NHTM mà còn giúp ổn định nền kinh tế vĩ mô
Cổ đông chiến lược nước ngoài
Trang 27-17-
2.1.1.3 Cổ đông tại các NHTM là các công ty quản lý quỹ
Hình 1 3: Sở hữu của các công ty quản lý quỹ tại các NHTM
Ngu ồn: Tác giả tự vẽ
Theo TTCK Mỹ định nghĩa: công ty quản lý quỹ là công ty chuyên trách
thực hiện việc quản lý các quỹ đầu tư Công ty đầu tư sử dụng nhà tư vấn đầu tư, hay người quản lý đầu tư để quyết định loại chứng khoán nào sẽ đưa vào danh mục đầu tư của quỹ
Từ hình 1.3, chúng ta có thể nhận thấy sở hữu chéo giữa công ty quản lý quỹ
và NHTM Các công ty quản lý quỹ vừa sở hữu ngân hàng vừa được ngân hàng cho vay Điều này không trái với quy định của pháp luật
Tại Việt Nam, khi cổ đông tại các NHTM là các công ty quản lý quỹ đã giúp
hầu hết các NHTM vượt qua các khó khăn thử thách đồng thời cũng nâng cao công tác quản lý tài sản, nguồn vốn tại các NHTM
Nghiên cứu mới nhất của các chuyên gia cho thấy, ngoài các hình thức bơm
tiền từ ngân hàng vào chứng khoán theo những con đường truyền thống như: ngân hàng cho CTCK, công ty quản lý quỹ, nhà đầu tư vay tiền; ngân hàng bơm tiền vào
chứng khoán thông qua công ty con là CTCK, công ty quản lý quỹ, thì đã lộ diện
“đường đi mới” của dòng tiền từ các TCTD chảy vào chứng khoán
Ví dụ, Ngân hàng A do đã hết hạn mức cho vay chứng khoán, nên không thể cho vay tiếp Họ sẽ thông qua thị trường liên ngân hàng để đẩy vốn vào Ngân hàng
Trang 28-18-
B, vẫn còn hạn mức cho vay chứng khoán Tiền từ Ngân hàng B ngoài cách chảy vào chứng khoán theo phương thức truyền thống là cho CTCK, công ty quản lý quỹ, nhà đầu tư vay, thì còn một cách mới tinh vi hơn là cho công ty đầu tư tài chính (thường là sân sau của các ngân hàng, nhân sự chủ chốt tại ngân hàng) vay Tiếp đó, tiền từ công ty đầu tư tài chính thoải mái chảy vào chứng khoán Sở dĩ xảy ra tình trạng này, bởi về bản chất công ty đầu tư tài chính là một định chế tài chính, nhưng hiện nó không bị điều chỉnh bởi Luật Các tổ chức tín dụng
2.1.1.4 Sở hữu của NHTM nhà nước tại các NHTM cổ phần
Hình 1.4 minh họa việc sở hữu cuả NHTM nhà nước tại NHTM cổ phần Quan hệ
sở hữu này hình thành chủ yếu việc yếu kém nghiệp vụ ngân hàng của các NHTM cổ phần trong giai đoạn đầu thành lập cũng như trong giai đoạn khủng
hoảng
Trang 29-19-
Hình 1 4: Sở hữu của NHTM nhà nước tại các NHTM cổ phần
Ngu ồn: Tác giả tự vẽ
Sở hữu chéo trong trường hợp cho thấy khi các NHTM nhà nước là cổ đông
nhà nước và NHTM cổ phần cũng tạo điều kiện để cho các DNNN có thể dễ dàng
không vi phạm các quy định về các hạn chế nhằm bảo đảm an toàn hoạt động của NHTM cổ phần Đó là các quy định về những trường hợp không được cấp tín dụng,
hạn chế cấp tín dụng, giới hạn cấp tín dụng Tổn thất, thiệt hại của các hoạt động lách luật trên của đó là việc các DNNN sử dụng tiền vay đầu tư vào những dự án không đúng mục đích hiệu quả hoạt động của các DN không cao gây thất thoát thiệt
hại lớn về tài sản Dẫn đến tình trạng các DNNN rơi vào tình trạng phá sản Đó cũng là một trong những nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng nợ xấu tại các NH
Cổ đông lớn
NHTM nhà nước
Người gửi
tiền
Cổ đông thiểu số
Trang 30-20-
2.1.1.5 Sở hữu lẫn nhau giữa các NHTM cổ phần
Hình 1.5: S ở hữu lẫn nhau giữa các NHTM cổ phần
Ngu ồn: Tác giả tự vẽ
Hình 1.5 minh họa việc sở hữu lẫn nhau giữa các NHTM cổ phần Sở hữu
định về các hạn chế nhằm bảo đảm an toàn hoạt động của NHTM Đó là các quy định về những trường hợp không được cấp tín dụng, hạn chế cấp tín dụng, giới hạn
cấp tín dụng và quy định về giới hạn góp vốn, mua cổ phần Tổn thất, thiệt hại của các hoạt động lách luật trên cổ đông của NH A đầu tư mua cổ phần của NH khác không vì lợi ích của cổ đông mà vì lợi ích của các cổ đông lớn của NH làm thiệt
hại đến các cổ đông thiểu số của NHB NH B thực hiện hành động rủi ro là cho vay, đầu tư do quan hệ hoặc chỉ định Khi rủi ro xảy ra, khoản cho vay hay đầu tư bị lỗ, gây mất vốn NH B khó khăn về thanh khoản Mức độ thiệt hại của các khoản cho vay hay đầu tư ngày càng lớn, NH B sẽ mất thanh khoản
2.1.1.6 Sở hữu NHTM cổ phần bởi các tập đoàn, tổng công ty Nhà nước và tư nhân
Trang 31có cổ đông lớn là các tập đoàn, tổng công ty nhà nước và tư nhân khi đó NHTM cổ
phần này này trở thành sân sau, chuyên huy động vốn từ dân để tài trợ cho các dự
án của tập đoàn, công ty nhà nước và tư nhân là cổ đông Mặc dù theo quy định, các
NH không được cho các cổ đông của mình vay vốn nhưng các NH có thể lách quy định bằng cách cho các công ty con của các DN vay vốn
2.1.2 Các quy định đảm bảo an toàn hoạt động của NHTM Việt Nam
2.1.2.1 T ỷ lệ an toàn vốn tối thiểu
Thông tư số 13/2010/TT-NHNN (sau đây gọi tắt là Thông tư 13) quy định về các tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của tổ chức tín dụng được Ngân hàng Nhà nước Việt Nam ban hành ngày 20/5/2010, có hiệu lực từ ngày 01/10/2010 Thông tư 13 gồm 22 điều, đề cập đến nhiều vấn đề liên quan đến mức độ an toàn
của các TCTD, trong đó có điểm mấu chốt đó là tăng tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu
Theo quy định tài sản Có chia thành nhiều loại khác nhau có mức độ rủi ro từ 0% đến 250% Vốn tự có gồm vốn tự có cấp 1 và cấp 2 Tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu
CHÍNH PHỦ
Ngân hàng thương mại
Trang 32nợ cho vay tối đa với một nhóm khách hàng có liên quan là 25% vốn tự có của
NH Khoản đầu tư trái phiếu do DN phát hành cũng được tính gộp vào dư nợ tín
dụng Các NHTM không được cấp tín dụng cho DN hoạt động trong lĩnh vực kinh doanh chứng khoán mà NHTM nắm quyền kiểm soát
2.1.2.3 T ỷ lệ khả năng chi trả
Theo thông tư 13 thì tỷ lệ về khả năng chi trả phải được tổ chức tín dụng xác định và có các biện pháp để đảm bảo các tỷ lệ về khả năng chi trả cho ngày hôm sau như sau: Tỷ lệ tối thiểu bằng 15% giữa tổng tài sản “Có” thanh toán ngay và tổng
Nợ phải trả.Tỷ lệ tổng tài sản có đến hạn trong 7 ngày tiếp theo và tổng nợ đến hạn thanh toán trong vòng 7 ngày tối thiểu bằng 1
Theo quy định, tổ chức tín dụng phải thành lập một bộ phận quản lý tài sản
“Nợ”, tài sản “Có” (từ cấp phòng hoặc tương đương trở lên), để theo dõi và quản lý
khả năng chi trả hàng ngày Bộ phận quản lý tài sản “Nợ”, tài sản “Có” do Tổng Giám đốc (Giám đốc) hoặc Phó Tổng Giám đốc (Phó Giám đốc) được ủy quyền
phụ trách
2.1.2.4 Gi ới hạn góp vốn, mua cổ phần
Một cổ đông cá nhân không được sở hữu vượt quá 5% vốn điều lệ của một tổ chức tín dụng, một cổ đông là tổ chức không được sở hữu vượt quá 15% vốn điều lệ của một tổ chức tín dụng, trừ một số trường hợp đặc biệt, cổ đông và những người liên quan của cổ đông đó không được sở hữu vượt quá 20% vốn điều lệ của một tổ chức tín dụng
Theo luật số 47 luật các tổ chức tín dụng về góp vốn và mua cổ phần như sau:
- Mức góp vốn, mua cổ phần của một ngân hàng thương mại và các công ty
Trang 33-23-
con, công ty liên kết của ngân hàng thương mại đó vào một doanh nghiệp hoạt động trên lĩnh vực quy định tại khoản 4 Điều 103 của Luật này không được vượt quá 11% vốn điều lệ của doanh nghiệp nhận vốn góp Ngân hàng thương mại được góp
vốn, mua cổ phần của doanh nghiệp hoạt động trong các lĩnh vực sau đây:
+ Bảo hiểm, chứng khoán, kiều hối, kinh doanh ngoại hối, vàng, bao thanh toán, phát hành thẻ tín dụng, tín dụng tiêu dùng, dịch vụ trung gian thanh toán, thông tin tín
dụng;
+ Lĩnh vực khác không quy định tại điểm a khoản này
- Tổng mức góp vốn, mua cổ phần của một ngân hàng thương mại vào các doanh nghiệp, kể cả các công ty con, công ty liên kết của ngân hàng thương mại đó không được vượt quá 40% vốn điều lệ và quỹ dự trữ của ngân hàng thương mại
- Mức góp vốn, mua cổ phần của một công ty tài chính và các công ty con, công ty liên kết của công ty tài chính vào một doanh nghiệp theo quy định tại khoản
2 Điều 110 của Luật này không được vượt quá 11% vốn điều lệ của doanh nghiệp nhận vốn góp
+ Công ty tài chính được góp vốn, mua cổ phần của doanh nghiệp, quỹ đầu tư
- Tổng mức góp vốn, mua cổ phần của một công ty tài chính theo quy định tại khoản 1 Điều 110 của Luật này vào các doanh nghiệp, kể cả các công ty con, công ty liên kết của công ty tài chính đó không được vượt quá 60% vốn điều lệ và quỹ dự trữ của công ty tài chính
+ Công ty tài chính chỉ được dùng vốn điều lệ và quỹ dự trữ để góp vốn
+ Công ty tài chính được góp vốn, mua cổ phần của doanh nghiệp, quỹ đầu tư + Công ty tài chính chỉ được thành lập, mua lại công ty con, công ty liên kết
hoạt động trong các lĩnh vực bảo hiểm, chứng khoán, quản lý tài sản bảo đảm sau khi được Ngân hàng Nhà nước chấp thuận bằng văn bản
- Tổ chức tín dụng không được góp vốn, mua cổ phần của các doanh nghiệp,
tổ chức tín dụng khác là cổ đông, thành viên góp vốn của chính tổ chức tín dụng đó
Đồng thời Luật các tổ chức tín dụng cũng quy định tỷ lệ góp vốn tối đa vào mỗi công ty và tổng mức góp vốn, mua cổ phần của NHTM Các NHTM
Trang 34-24-
không được góp vốn, mua cổ phần của NHTM là cổ đông, thành viên góp vốn của chính NHTM đó Các khoản đầu tư, góp vốn cổ phần này của NHTM phải loại ra
khỏi vốn tự có khi tính các tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu
2.1.2.5 T ỷ lệ cấp tín dụng so với nguồn vốn huy động
Theo Thông tư 19, NHNN sửa đổi Điều 18 của Thông tư 13 về tỷ lệ cấp tín dụng từ nguồn vốn huy động Theo đó, tổ chức tín dụng chỉ được sử dụng vốn huy động để cấp tín dụng với điều kiện trước và sau khi cấp tín dụng đều đảm bảo tỷ lệ
về khả năng chi trả và các tỷ lệ bảo đảm an toàn khác quy định tại Thông tư này Việc cấp tín dụng từ nguốn vốn huy động không được vượt quá các tỷ lệ quy định như sau: Đối với ngân hàng là 80%; đối với tổ chức tín dụng phi ngân hàng là 85% Cấp tín dụng quy định tại Khoản 1 Điều này bao gồm các hình thức cho vay, cho thuê tài chính, bao thanh toán, chiếu khấu giấy tờ có giá và công cụ chuyển nhượng Sau đó, NHNN đã hủy bỏ quy định trên bởi Thông tư 22/2011/TT-NHNN
Trong Thông tư 13, quy định nguồn vốn huy động sử dụng để cho vay không bao gồm tiền gửi không kỳ hạn của tổ chức kinh tế, Kho bạc Nhà nước, Bảo hiểm
Xã hội và các tổ chức khác Một số ngân hàng cho hay, tiền gửi không kỳ hạn của những đối tượng trên thường chiếm tỷ lệ từ 15% - 20% trong tổng nguồn vốn huy động của các tổ chức tín dụng Đây là nguồn vốn có tính ổn định cao
Ngoài tỷ lệ 20% của nguồn vốn huy động không được sử dụng để cho vay theo công thức trên, thì còn khoảng 15% tiền gửi không kỳ hạn kể trên không được
sử dụng để cho vay Như thế, phần nguồn vốn để đảm bảo khả năng thanh toán lên tới 35% trên tổng nguồn vốn huy động là quá cao, không hợp lý…
Khoản 3, Điều 18 của Thông tư số 13 được sửa đổi tại Thông tư 19 quy định lại nguồn vốn huy động, bao gồm: Tiền gửi của cá nhân dưới các hình thức tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn; Tiền gửi có kỳ hạn của tổ chức, bao gồm cả tiền gửi có kỳ hạn của tổ chức tín dụng khác và chi nhánh ngân hàng nước ngoài; 25% tiền gửi không kỳ hạn của tổ chức kinh tế (trừ tổ chức tín dụng), kỳ hạn 3 tháng trở lên (trừ tiền vay của tổ chức tín dụng khác trong nước để bù đắp thiếu hụt tạm thời đối với các tỷ lệ về khả năng chi trả theo quy định tại Khoản 1, Điều 14 Thông tư
Trang 35vốn ảo trong các ngân hàng
Ví dụ, một người có 1000 tỷ đồng mua cổ phần của ngân hàng A, lấy cổ
phần đó đến ngân hàng B để thế chấp vay, được thêm 1000 tỷ đồng nữa Người đó
sẽ quay lại ngân hàng A để mua thêm cổ phần để được vay nhiều hơn, hoặc mua cổ
phần của ngân hàng C, lấy cổ phần của ngân hàng C để thế chấp vay ngân hàng D, được 1000 tỷ đồng mua cổ phần của ngân hàng E…Cứ như vậy, chỉ 1000 tỷ đồng
chạy thành ra 5000-7000 tỷ đồng bằng cách sở hữu chéo tại nhiều ngân hàng.Vậy
tại sao người ta lại làm như vậy?Bởi những người vay mua cổ phiếu, thành cổ đông
lớn của ngân hàng thì sẽ khống chế, chi phối được ngân hàng đó để vay cho mục đích đầu tư cá nhân của mình
Chính điều này đã tạo ra luồng vốn tưởng là góp thật vào hệ thống nhưng
thực chất lại là vốn vay lẫn nhau giữa các ngân hàng.Trong 4 năm qua, hàng loạt các NHTMCP đã nâng vốn điều lệ lên 3.000 tỷđồng Nhưng trên thực tế, quy mô
của dòng vốn mới thực sự được bổ sung vào hệ thống ngân hàng vẫn chưa được làm
rõ Với quy mô vốn điều lệ tăng, các ngân hàng được phép huy động thêm tiền gửi trong dân cư và hàng nghìn tỷ đồng vốn huy động mới này lại có thể được dùng để tài trợ cho những dự án sân sau của chính các cổ đông lớn của ngân hàng Ngoài ra,
sở hữu chéo làm sai lệch việc đánh giá rủi ro của hệ thống ngân hàng vì rất nhiều
chỉ số dựa trên số vốn tự có như hệ số an toàn (CAR),hay tỷ lệ vốn tự có/tổng tài
sản, trong khi đó vốn tự có của các ngân hàng không thực chất là có quymô như vậy
Trang 36-26-
mà bao gồm cả nguồn vốn ảo do sở hữu chéo Trong những năm gần đây, tăng trưởng tín dụng của các ngân hàng liên tục nóng khiến hệ số đòn bẩy tài chính tăng lên và hệ số an toàn vốnCAR giảm, đồng thời tấm đệm để phòng ngừa rủi ro là vốn
tự có lại mỏng và bị gây nhiễu bởi sở hữu chéo, tất cả những điều đó càng làm trầm
trọng hơn những khó khăn của hệ thống.Các chỉ số không chính xác lại dẫn đến sai
lệch cả về quản trị ngân hàng cũng như việc giám sát đối với hệ thống tài chính Điều này là đặc biệt nguy hiểm vì những rủi ro trong lĩnh vực ngân hàng tài chính khi bùng phát thì có sức lan tỏa rất rộng và hậu quả nghiêm trọng cho toàn bộ nền kinh tế
Thêm vào đó, trong khi hoạt động của công ty quản lý quỹ đầu tư, quỹ đầu
tư, công ty chứng khoán bị kiểm soát, giám sát chặt chẽ bởi Ủy ban Chứng khoán Nhà nước; hoạt động của ngân hàng thương mại và công ty tài chính bị kiểm soát, giám sát chặt chẽ bởi Ngân hàng Nhà nước, thì công ty cổ phần đầu tư tài chính không bị giám sát, quản lý bởi cơ quan quản lý nhà nước chuyên ngành nào, mà chỉ
hoạt động theo Luật Doanh nghiệp, cho dù công ty này hoạt động không khác gì
quỹ đầu tư, công ty tài chính Lợi dụng kẽ hở này, một nhóm cá nhân thành lập công ty cổ phần đầu tư tài chính để mua cổ phần của một số ngân hàng nào đó, đồng thời họ cũng mua cổ phần tại những ngân hàng này.Sau khi đã sở hữu được lượng cổ phần kha khá, một mặt họ vay vốn tại ngân hàng mà họ là cổ đông, mặt khác lại yêu cầu các ngân hàng mà họ và công ty cổ phần đầu tư tài chính do họ sáng lập đầu tư vốn vào các ngân hàng trong nhóm và như thế, “quyền lực” của họ một lần nữa lại được nâng lên
2.1.3.2 Vi ph ạm về giới hạn tín dụng
Khi sở hữu chéo thì quy định này sẽ bị vô hiệu hóa Bởi lẽ, sở hữu chéo cho phép một doanh nghiệp, hay ngân hàng thương mại, có tỷ lệ cổ phần lớn trong các ngân hàng thương mại có thể gây áp lực để ngân hàng này cấp vốn đầu tư vào những dự án của doanh nghiệp hay ngân hàng “sân sau” của mình” Điều này sẽ dẫn đến nguy cơ là quy định bị “vượt rào”, bộ máy sàng lọc theo tiêu chí hiệu quả đầu
tư của ngân hàng thương mại bị vô hiệu
Trang 37-27-
Các quy định về các đối tượng cấm cho vay, hạn chế cho vay cũng sẽ bị ảnh hưởng Chẳng hạn, pháp luật không cho phép tổ chức tín dụng cho vay đối với Chủ tịch HĐQT, Tổng giám đốc, người thân của họ và một số đối tượng khác Tuy nhiên, những người này lại có thể vay ở tổ chức tín dụng khác mà tổ chức của mình
là cổ đông lớn Sở hữu chéo cũng giúp các ngân hàng có thể lách quy định về việc không được cho các cổ đông của mình vay vốn bằng cách cho các công ty con của các doanh nghiệp vay vốn.Các NH cho vay người có liên quan sẽ vô hiệu hóa quy định về giới hạn tín dụng Nguy hiểm hơn, NH có thể chuyển các khoản nợ xấu thành tài sản có khác thông qua việc chuyển nợ xấu sang các công ty con, công ty liên kết và việc này sẽ vô hiệu hóa quy định về báo cáo chất lượng tín dụng và trích
dự phòng rủi ro
Hơn nữa, trong bối cảnh hiện nay, ngân hàng thương mại rất dễ biến thành kênh huy động vốn cho Tập đoàn, các công ty con của Tập đoàn Nhìn xa hơn,
"mạng nhện" liên kết còn thể hiện ở những hoạt động kinh doanh thiếu kiểm soát,
sự nhập nhằng trong việc cho vay, trong thẩm định và cung ứng vốn vay
Ví dụ, nhiều trường hợp ngân hàng A đang là cổ đông lớn chi phối ngân hàng B, không muốn thông qua một khoản vay, đã đẩy khách hàng cho ngân hàng B
mà không gặp trở ngại gì do A đang nắm giữ cổ phần chi phối tại B B biết khách hàng không đáp ứng tiêu chuẩn cho vay nhưng khó có thể từ chối vì đang được điều hành bởi người của A
Một hệ lụy khác là sở hữu chéo cũng có thể cho phép ngân hàng A giấu nợ xấu của mình bằng cách không khai báo nợ xấu mà nhờ ngân hàng B, nơi A có sở hữu, cho vay, qua đó giảm được mức nợ xấu phải khai báo và không phải trích dự phòng rủi ro tương ứng Đó cũng là một trong những lý do khiến Ngân hàng Nhà nước khó nắm được chính xác số nợ xấu của toàn bộ hệ thống ngân hàng
Đối với các doanh nghiệp (hay ngân hàng) là cổ đông lớn của ngân hàng, sở
hữu chéo cho phép một doanh nghiệp (hay ngân hàng) có tỷ lệ cổ phần lớn trong các NHTM có thể gây áp lực (một cách hợp pháp như qua bỏ phiếu trong hội đồng
quản trị với vị thế cổ đông chiến lược) để ngânhàng này cấp vốn đầu tư vào những
Trang 38-28-
dự án không đủ tiêu chuẩn của doanh nghiệp hay ngânhàng của mình Hay nói các khác, khi một TCTD lớn chiếm cổ phần chi phối ngân hàng khácvà biến ngân hàng này thành “sân sau” của mình, họ có thể buộc ngân hàng bị chi phối cấp tín dụng cho những dự án rủi ro hoặc cho doanh nghiệp có quan hệ thân thiết Mặc dù theoquy định thì các ngân hàng không được cho các cổ đông của mình vay vốn, nhưng các ngânhàng có thể lách quy định này bằng cách cho các công ty con của các doanh nghiệp vay vốn.Mặt khác, không loại trừ trường hợp lãnh đạo của ngân hàng chi phối lạm dụng quyền lựcbuộc ngân hàng mà mình có thể chi phối cấp tín
dụng để phục vụ lợi ích cá nhân
2.1.3.3 Vi ph ạm về góp vốn, mua cổ phần
Theo thông tư 13, một cá nhân không được sở hữu quá 5% vốn điều lệ của một ngân hàng, nhưng thông qua sở hữu chéo, họ vẫn thâu tóm hoặc gây ảnh hưởng đến ngân hàng.Họ có thể lách luật, thâu tóm ngân hàng bằng cách sử dụng hình thức
ủy quyền Tức cá nhân A chỉ được sở hữu không quá 5% vốn điều lệ của một ngân hàng, nhưng trên thực tế cá nhân này chỉ nắm 2%, còn lại ủy quyền vốn cho nhiều
cá nhân hoặc tổ chức khác không họ hàng gì với cá nhân A để cùng đầu tư vào một ngân hàng
Trong hệ thống ngân hàng, các ngân hàng thương mại được quyền cho phép
sự tham gia góp vốn của doanh nghiệp, định chế tài chính, ngân hàng, quỹ đầu tư, công ty chứng khoán, cá nhân trong và ngoài nước Do đó làm gia tăng sở hữu chéo ngân hàng Việc đầu tư chéo đã và đang gián tiếp gây ra nợ xấu do nhiều nhà băng thiếu thận trọng trong hoạt động tín dụng đối với cổ đông là doanh nghiệp; làm phân tán nguồn vốn của doanh nghiệp nhà nước…Nghiêm trọng hơn, tình trạng đầu
tư chéo đã xuất hiện một số dấu hiệu liên kết, lũng đoạn hệ thống tài chính - ngân hàng để trục lợi
Đầu tư chéo đã phổ biến trong nền kinh tế, dẫn tới những hệ lụy, đặc biệt là
đã vô hiệu hóa các quy định về an toàn Ngân hàng thương mại tăng vốn ảo, vô hiệu hóa các quy định về vốn pháp định, về hệ số đủ vốn (CAR), về giới hạn tín dụng…
Bên cạnh đó, ngân hàng thương mại vẫn có thể tham gia đầu tư chứng khoán,
Trang 39 Tăng trưởng về số lượng
Thập kỷ qua, cùng với quá trình đổi mới và hội nhập, hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam đã có nhiều thay đổi quan trọng.Sự xuất hiện của các ngân hàng 100% vốn nước ngoài và việc loại bỏ dần các hạn chế đối với hoạt động của chi nhánh NH đã khiến mức độ cạnh tranh ngày càng trở nên gay gắt, buộc các NH
Việt Nam phải tái cấu trúc để tiếp tục phát triển 2 trong số 5 NHTM Nhà nước đã
thực hiện cổ phần hóa và chính thức hoạt động theo mô hình đa sở hữu được gần hai năm.Các NHTM cổ phần một mặt đang cấu trúc lại, có sự tham gia của các nhà đầu tư chiến lược nước ngoài cùng lộ trình tăng vốn điều lệ lên mức tối thiểu là 3.000 tỉ VND.Tất cả các động thái này nhằm hướng tới sự phát triển bền vững trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế
B ảng 2.1: Số lượng ngân hàng giai đoạn 1991-2012
Trang 40NH Ngoại thương VN và NH Đầu tư và Phát triển VN.Cho đến năm 2012, đã có thêm một ngân hàng thương mại nhà nước đó là Ngân hàng Phát triển Việt Nam Bên cạnh sự phát triển của NHTMNN thì các NHTMCP cũng có sự tăng lên
rõ rệt Năm 1991 chỉ mới có 4 ngân hàng nhưng vào năm 1993 đã tăng lên thành 41 ngân hàng.Sau đó tiếp tục tăng lên thành 51 ngân hàng vào năm 1997 và đến năm
2012 đã giảm chỉ còn 40 ngân hàng Điều này là do một số ngân hàng do hoạt động còn yếu nên bị NHNN buộc phải sáp nhập như 3 ngân hàng đầu tiên sáp nhập là NHTMCP Đệ Nhất, NHTMCP Tín Nghĩa và NHTMCP Sài Gòn thành SCB vào
cuối năm 2011, SHB được Ngân hàng Nhà nước chính thức chấp thuận việc sáp nhập Ngân hàng Nhà Hà Nội (Habubank) vào Ngân hàng Sài Gòn - Hà Nội (SHB)