Mục tiêu của đề tài là tổng quan lý thuyết về sở hữu chéo, tác động của sở hữu chéo đến an toàn hoạt động của NHTM; phân tích hiện trạng sở hữu chéo trong hệ thống NHTM VN và tác động của sở hữu chéo đến chấp hành các quy định đảm bảo an toàn hoạt động của NHTM... Mời các bạn cùng tham khảo nội dung chi tiết.
Lý do ch ọn đề tài
Vai trò của hệ thống NHTM Việt Nam đối với nền kinh tế là vai trò chủ đạo trong việc tận dụng và phát huy các nguồn lực tài chính trong nước, đáp ứng nhu cầu tín dụng của đông đảo đối tượng và thành phần kinh tế, phục vụ đắc lực cho việc phát triển kinh tế - xã hội.
Kể từ 2005 tới nay, sự tăng trưởng nhanh chóng của các NHTM cổ phần đã đi kèm với việc hình thành một cấu trúc sở hữu chéo và đa phương giữa ngân hàng với doanh nghiệp và ngân hàng với ngân hàng.Trục trặc của hệ thống ngân hàng liên tục phát sinh, bộc lộ với việc các ngân hàng thương mại dùng sở hữu chéo để lách, không tuân thủ các quy định bảo đảm an toàn hoạt động
Trong báo cáo kinh tế vĩ mô năm 2012 do Ủy ban Kinh tế của Quốc hội vấn đề sở hữu chồng chéo trong hệ thống ngân hàng hiện nay đã được đề cập, trong đó nổi bật là việc sở hữu NHTM cổ phần (TMCP) bởi các tập đoàn, tổng công ty (TCT) nhà nước và tư nhân Ở Việt Nam, hình thức sở hữu chéo được thừa nhận là khá phổ biến, và mức độ sở hữu chéo ở Việt Nam rất khó đánh giá Nguyên do là không minh bạch thông tin và các kiểu "lách" luật sở hữu một cách hợp pháp
Vậy các ngân hàng đã làm như thế nào để hình thành mối quan hệ sở hữu chéo chằng chịt như hiện nay và mối quan hệ đó tác động như thế nào đến an toàn hoạt động của hệ thống ngân hàng thương mại cũng như làm thế nào để giảm những tác động tiêu cực đó Đề tài " Hạn chế tác động tiêu cực của sở hữu chéo đảm bảo an toàn hoạt động của ngân hàng thương mại Việt Nam" được tôi chọn làm đề tài nghiên cứu.
M ục tiêu nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu giải quyết 3 vấn đề cơ bản;
• Tổng quan lý thuyết về sở hữu chéo, tác động của sở hữu chéo đến an toàn hoạt động của NHTM
• Phân tích hiện trạng sở hữu chéo trong hệ thống NHTM VN và tác động của sở hữu chéo đến chấp hành các quy định đảm bảo an toàn hoạt động của
• Đưa ra các kiến nghị và giải pháp hạn chế sở hữu chéo và tác động tiêu cực của SHC đến an toàn hoạt động của NHTM
Đối tượng và ph ạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: tác động của sở hữu chéo đến việc tuân thủ quy định về bảo đảm an toàn hoạt động của NHTM
Phạm vi nghiên cứu: Các NHTM của Việt Nam trong giai đoạn 2008-2012
Phương pháp nghiên cứu: nghiên cứu định tính kết hợp nghiên cứu tính huống
B ố cục luận văn
Chương 1: Cơ sở lý luận về sở hữu chéo và quy định đảm bảo an toàn hoạt động của NHTM
Chương 2: Thực Trạng sở hữu chéo và việc chấp hành các quy định đảm bảo an toàn hoạt động của NHTM Việt Nam
Chương 3: Kiến nghị và giải pháp hạn chế tác động tiêu cực của sở hữu chéo đến an toàn hoạt động của NHTM
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ SỞ HỮU CHÉO VÀ QUY ĐỊNH ĐẢM BẢO AN TOÀN HO ẠT ĐỘNG CỦA NHTM
CÁC LÝ THUY ẾT VỀ SỞ HỮU CHÉO VÀ QUY ĐỊNH ĐẢM BẢO AN TOÀN
1.1.1 SỞ HỮU CHÉO TẠI CÁC NHTM
1.1.1.1 Khái niệm sở hữu chéo
Sở hữu chéo được định nghĩa là doanh nghiệp A sở hữu doanh nghiệp B và ngược lại doanh nghiệp B sở hữu doanh nghiệp A Bản chất sở hữu chéo là các dòng vốn đầu tư lẫn nhau mà lại chịu sự chi phối của một người hay một nhóm người nhất định
Sở hữu chéo ngân hàng là việc một ngân hàng A có cổ phần trong ngân hàng
B, rồi ngân hàng B lại có cổ phần trong ngân hàng A Hay ngân hàng A lại có cổ phần trong doanh nghiệp C và doanh nghiệp C lại có cổ phần trong ngân hàng A Cũng có thể là kiểu gián tiếp theo kiểu một nhóm nhà đầu tư hay một doanh nghiệp sở hữu cả NH A và Ngân hàng B (NH A và NH B là sở hữu chéo gián tiếp của nhau) Lý thuyết có thể hiểu một cách đơn giản là vậy tuy nhiên trên thực tế, sở hữu chéo phức tạp hơn nhiều bởi nó hàm chứa những mối quan hệ chằng chịt và đôi khi rất khó phân tách rõ ràng
1.1.2 ĐẢM BẢO AN TOÀN HOẠT ĐỘNG CỦA NHTM NHÌN TỪ BASEL
Ngân hàng thanh toán quốc tế (BIS) đã xây dựng chỉ tiêu đánh giá mức độ an toàn và hiệu quả trong hoạt động ngận hàng nhằm chuẩn mực hóa hoạt động ngân hàng trong trào lưu toàn cầu hóa Tiêu chí đầu tiên đánh giá khả năng tham gia vào thị trường vốn quốc tế là mức độ tuân thủ chỉ tiêu an toàn vốn tối thiểu – đây là nội dung nền tảng của Basel I (1988) Ngoài những ảnh hưởng của quá trình tự do hóa tài chính và sự tiến bộ trong công nghệ ngân hàng cũng như xu hướng đa dạng hóa các sản phẩm tài chính diễn ra rầm rộ vào những thập kỷ cuối thế kỷ 20 thì yêu cầu xây dựng một nền tảng so sánh hiệu quả hoạt động ngân hàng và đảm bảo hạn chế rủi ro trong hệ thống thanh toán liên ngân hàng toàn cầu là động lực dẫn đến
-4- sự ra đời của Hiệp ước Basel I và sau đó hơn 10 năm là Basel II (1999)
- Mục đích của Basel I: Củng cố sự ổn định của toàn bộ hệ thống ngân hàng quốc tế, Thiết lập một hệ thống ngân hàng quốc tế thống nhất, bình đẳng nhằm giảm cạnh tranh không lành mạnh giữa các ngân hàng quốc tế.
Tỉ lệ vốn dựa trên rủi ro - “Tỉ lệ Cook”: tỉ lệ này được phát triển bởi BCBS với mục đích củng cố hệ thống ngân hàng quốc tế, đối tượng ban đầu là những ngân hàng hoạt động quốc tế, nhưng sau này đã được thực thi trên hơn 100 quốc gia Theo tiêu chuẩn này, ngân hàng phải giữ lại lượng vốn bằng ít nhất 8% của rổ tài sản, được tính toán theo nhiều phương pháp khác nhau và phụ thuộc vào độ rủi ro của chúng
Tỉ lệ thoả đáng về vốn (CAR) = Vốn bắt buộc/Tài sản tính theo độ rủi ro gia quyền (RWA)
Theo đó, ngân hàng có mức vốn tốt là ngân hàng có CAR > 10%, có mức vốn thích hợp khi CAR > 8%, thiếu vốn khi CAR < 8%, thiếu vốn rõ rệt khi CAR
< 6% và thiếu vốn trầm trọng khi CAR < 2%
Vốn cấp 1, cấp 2 và cấp 3: Thành tựu cơ bản của Basel I là đã đưa ra được định nghĩa mang tính quốc tế chung nhất về vốn của ngân hàng và một cái gọi là tỷ lệ vốn an toàn của ngân hàng Tiêu chuẩn này quy định: Vốn cấp 1 ≥ Vốn cấp
Vốn cấp 1 là lượng vốn dự trữ sẵn có và các nguồn dự phòng được công bố, như là khoản dự phòng cho các khoản vay, bao gồm: Vốn chủ sở hữu vĩnh viễn; Dự trữ công bố (Lợi nhuận giữ lại); Lợi ích thiểu số (minority interest) tại các công ty con, có hợp nhất báo cáo tài chính; Lợi thế kinh doanh (goodwill)
Vốn cấp 2 (Vốn bổ sung) gồm: Lợi nhuận giữ lại không công bố; Dự phòng đánh giá lại tài sản; Dự phòng chung/dự phòng thất thu nợ chung; Công cụ vốn hỗn hợp; Vay với thời hạn ưu đãi; Đầu tư vào các công ty con tài chính và các tổ chức tài chính khác
Vốn Cấp 3 (Dành cho rủi ro thị trường) = Vay ngắn hạn
Vốn tính theo rủi ro gia quyền:
RWA = Tổng (Tài sản x Mức rủi ro phân định cho từng tài sản trong bảng cân đối kế toán) + Tổng (Nợ tương đương x Mức rủi ro ngoại bảng)
Basel I đưa ra trọng số rủi ro gồm 4 mức: quốc gia 0%; ngân hàng 20%; doanh nghiệp 100% Trọng số rủi ro không phản ánh độ nhạy cảm rủi ro trong mỗi
- Những thiếu sót của Basel I: Sau khi rủi ro tín dụng được thiết lập vào năm 1988, Uỷ ban Basel đã chuyển sự chú ý của họ sang rủi ro thị trường để phản ứng lại các hoạt động kinh doanh chuyên hữu ngày càng tăng của các ngân hàng thương mại và đến năm 1996, Bsael I đã được sửa đổi với mục đích tính đến cả phí vốn đối với rủi ro thị trường
Mặc dù vậy, Basel I vẫn có khá nhiều điểm hạn chế Một trong những điểm hạn chế cơ bản của Basel I là không đề cập đến một loại rủi ro đang ngày càng trở nên phức tạp với mức độ ngày càng tăng lên, đó là rủi ro vận hành (không có yêu cầu vốn dự phòng rủi ro vận hành) Ngoài ra, còn một số điểm hạn chế khác, như: không phân biệt theo loại rủi ro, không có lợi ích từ việc đa dạng hóa…
- Mục tiêu của Basel II: Nâng cao chất lượng và sự ổn định của hệ thống ngân hàng quốc tế; Tạo lập và duy trì một sân chơi bình đẳng cho các ngân hàng hoạt động trên bình diện quốc tế; Đẩy mạnh việc chấp nhận các thông lệ nghiêm ngặt hơn trong lĩnh vực quản lý rủi ro.
Hai mục tiêu đầu của Basel II là những mục tiêu chủ chốt của Hiệp ước vốn Basel I Mục tiêu cuối cùng là mới, đó là dấu hiệu của việc bắt đầu chuyển dần từ cơ chế điều tiết dựa trên tỷ lệ, mà đó chỉ là một phần của khung mới, hướng đến một sự điều tiết mà sẽ dựa nhiều hơn vào các số liệu nội bộ, thông lệ và các mô hình
- Basel II sử dụng khái niệm“Ba trụ cột”:
Trụ cột thứ I: liên quan tới việc duy trì vốn bắt buộc Theo đó, tỷ lệ vốn bắt buộc tối thiểu (CAR) vẫn là 8% của tổng tài sản có rủi ro như Basel I Tuy nhiên, rủi ro được tính toán theo ba yếu tố chính mà ngân hàng phải đối mặt: rủi ro tín dụng, rủi ro vận hành (hay rủi ro hoạt động) và rủi ro thị trường So với Basel I, cách tính chi phí vốn đối với rủi ro tín dụng có sự sửa đổi lớn, đối với rủi ro thị trường có sự thay đổi nhỏ, nhưng hoàn toàn là phiên bản mới đối với rủi ro vận hành Trọng số rủi ro của Basel II bao gồm nhiều mức (từ 0%-150% hoặc hơn) và rất nhạy cảm với xếp hạng
Trụ cột thứ II: liên quan tới việc hoạch định chính sách ngân hàng, Basel II cung cấp cho các nhà hoạch định chính sách những “công cụ” tốt hơn so với Basel I Trụ cột này cũng cung cấp một khung giải pháp cho các rủi ro mà ngân hàng đối mặt, như rủi ro hệ thống, rủi ro chiến lược, rủi ro danh tiếng, rủi ro thanh khoản và rủi ro pháp lý, mà hiệp ước tổng hợp lại dưới cái tên rủi ro còn lại (residual risk)
CÁC BÀI H ỌC KINH NGHIỆM VỀ SỞ HỮU CHÉO TRÊN THẾ GIỚI
1.2.1 Bài học kinh nghiệm sở hữu chéo ở Hàn Quốc Ở Hàn Quốc, sở hữu chéo được coi là đặc trưng nổi bật của các tập đoàn kinh doanh quy mô lớn (Chaebol).Mối quan hệ sở hữu chéo không chỉ giữa các công ty thành viên trong nội bộ Chaebol mà còn giữa các Chaebol với nhau Luật Thương
-8- mại của Hàn Quốc quy định rõ giới hạn cho phép đối với vấn đề này, theo đó, các công ty con không được phép nắm giữ cổ phiếu của công ty mẹ và công ty mẹ cũng không được phép nắm giữ quá 40% cổ phần của công ty con Tuy việc nắm giữ cổ phần chéo không được phép nhưng một công ty vẫn có thể đầu tư vốn vào một công ty khác và sau đó chuyển vốn cổ phần sang cho bên thứ 3 Hình thức này là hình thức đầu tư nội bộ, được gọi là “mô hình kim tự tháp”
Mô hình này cho thấy, với số vốn đầu tư không quá lớn (chỉ cần đảm bảo mức khống chế ở một số Cty chủ chốt và một lượng vốn nhỏ ở các Cty con) nhưng phạm vi ảnh hưởng của Cty mẹ hay các gia đình sáng lập thực sự rất lớn Cty mẹ chỉ cần duy trì tỷ lệ cổ phần khống chế tại Cty A và Cty B nhưng vẫn có ảnh hưởng rất lớn tới các Cty con của A và B Tuy nhiên, chính sự tập trung này cộng thêm với các chính sách bảo hộ quá lớn của Chính phủ là những nguyên nhân căn bản gây nên rất nhiều vấn đề bất cập ở Hàn Quốc:
Thứ nhất, những bất cập liên quan tới quản trị doanh nghiệp (DN): Tình trạng quản lý không rõ ràng, kém hiệu quả trong quản lý do những mối quan hệ qua lại đan xen trong mô hình sở hữu chéo khá phổ biến.Các Cty niêm yết trực thuộc các chaebol luôn có quan niệm mang tính mặc định là những người lãnh đạo sẽ không bao giờ bị thay thế.Vị trí của những người này sẽ vẫn được duy trì đến chừng nào những người ủng hộ họ vẫn còn nắm giữ các vị trí quản lý tại các Cty con, vì thế họ đương nhiên sẽ trúng cử trong đại hội cổ đông Thêm nữa là tình trạng không phân định rõ ràng chức năng quản trị của Hội đồng quản trị (HĐQT) với chức năng quản lý của Ban điều hành và thiếu tính minh bạch trong quản lý DN Cho đến năm 1997, HĐQT của tất cả các Cty niêm yết chỉ bao gồm những “người trong cuộc” và họ có quyền chỉ định kiểm toán viên bên ngoài.Vì thế, tính độc lập của các kiểm toán viên bên ngoài luôn là một vấn đề gây nhiều nghi vấn
Sau cuộc khủng hoảng 1997, Sở Giao dịch Chứng khoán Hàn Quốc đã buộc các Cty muốn niêm yết phải có tối thiểu là 1/4 thành viên của HĐQT là các thành viên độc lập từ bên ngoài Đồng thời, phải thành lập một uỷ ban bao gồm cả kiểm toán viên nội bộ, thành viên độc lập từ bên ngoài và các chủ nợ để lựa chọn (hoặc
-9- gợi ý lựa chọn) kiểm toán viên bên ngoài nhằm tăng thêm tính minh bạch cho hoạt động kiểm toán
Thứ hai, sự thiếu lành mạnh trong cơ cấu vốn của các chaebol: Chính tình trạng sở hữu chéo cộng với sự quản lý trực tiếp từ gia đình sáng lập gần như không tạo ra một cơ chế điều hành hiệu quả.Các Công ty hoạt động kinh doanh hiệu quả sẽ phải trợ cấp cho các Công ty hoạt động không hiệu quả trong nội bộ chaebol thông qua hoạt động đầu tư và bảo lãnh chéo Vấn đề “giải quyết nội bộ” như vậy khiến cho các Công ty mạnh bị yếu đi và trên bình diện chung gây nên tình trạng thiếu lành mạnh về cơ cấu vốn, thậm chí tạo nên dòng “vốn ảo”
Khủng hoảng tài chính năm 1997-1998 đã cho thấy một trong những nguyên nhân dẫn đến nợ xấu là việc các Công ty gia đình này nắm quyền kiểm soát ở các NHTM và sử dụng những NHTM này tài trợ cho các dự án của mình và các Công ty có liên quan.Vì thế, sau khủng hoảng, Hàn Quốc đã cấm ngay các tập đoàn không được đầu tư vào các lĩnh vực khác
1.2.2 Bài học kinh nghiệm sở hữu chéo ở Nhật Bản
SHC ở Nhật Bản có một số đặc thù Các công ty ở Nhật Bản thường thiết lập quan hệ chặt chẽ với một NH (gọi là “main bank”).Các NH này cho vay và mua cổ phần của các doanh nghiệp Scher (2001) cho thấy hai lý do của việc tồn tại SHC giữa NH và DN là duy trì mối quan hệ kinh doanh ổn định và duy trì yêu cầu đủ vốn Mô hình “main bank” đã đóng một vai trò nhất định trong sự thịnh vượng của kinh tế Nhật Bản kể từ sau Chiến tranh thế giới 2 Tuy nhiên nghiên cứu của Scher cũng cho thấy mô hình “main bank” không còn phù hợp từ những năm 1990 do đã góp phần tạo nên hậu quả xấu cho nền kinh tế Nhật Bản Cụ thể, do các NH không những thực hiện không tốt vai trò giám sát các DN liên quan mà còn cấp một lượng tín dụng lớn, kém chất lượng cho các DN này Hậu quả là các NH chịu những khoản nợ xấu lớn và bị suy giảm vốn chủ sở hữu
Tình trạng sở hữu chéo ở nước này đã giảm được đáng kể bằng cách hình thành một định chế tài chính là công ty quản lý vốn.Cần sử dụng hoạt động mua bán-sáp nhập (M&A) để giảm sở hữu chéo, đồng thời có giải pháp hạn chế tác động tiêu cực của sở hữu chéo, chẳng hạn định nghĩa lại khái niệm người có liên quan, minh bạch thông tin
Kinh nghiệm của Nhật Bản là thành lập công ty mua cổ phần NH (banks’ shareholding purchase corparation – BSPC).Các DN vi phạm quy định hạn chế SHC phải thoái vốn bằng cách bán cổ phần cho BSPC, sau đó BSPC sẽ bán lại cho các nhà đầu tư bên ngoài theo một lộ trình nhất định.Thêm vào đó, Quỹ ETF có thể giúp giải quyết vấn đề sở hữu chéo trong ngành ngân hàng (NH).Đây là một trong nhiều ưu điểm của loại hình quỹ này đang được UBCKNN tiếp nhận từ kinh nghiệm của Nhật Bản
Lý do để ETFs được Chính phủ Nhật đưa vào gói giải pháp khi đó chính là do ưu điểm dễ tiếp cận với NĐT, bao gồm cả NĐT cá nhân của loại hình quỹ này Tại Mỹ - nơi khởi nguồn của quỹ ETF - chính sự gia nhập mạnh mẽ của NĐT cá nhân là một trong những lý do lớn thúc đẩy loại hình quỹ ETF tăng trưởng chóng mặt (tốc độ tăng trưởng gộp tài sản quỹ ETF trong 10 năm đạt gần 30%/năm)
Lợi ích của ETF với NĐT cá nhân luôn được nhấn mạnh: Trước hết, các đơn vị tối thiểu của ETF rất nhỏ, giúp NĐT có thể đầu tư vào một nhóm CP theo ngành trọng tâm chỉ với số tiền khiêm tốn Trong khi đó, khác với danh mục đầu tư của các quỹ tương hỗ, ETFs lại được giao dịch như một CP trên sàn và do đó nó có tính linh hoạt và minh bạch lớn hơn rất nhiều.Ngay cả chi phí quản lý ETF cũng rất thấp so với các loại hình quỹ khác
ETF có tác dụng giúp giải quyết sở hữu chéo ở Nhật và giảm tác động khủng hoảng Châu Á.Bằng chứng từ Nhật cho thấy sở hữu chéo không hoàn toàn mang ý nghĩa tiêu cực.Thậm chí, đây là yếu tố quan trọng thúc đẩy sự thành công của quá trình công nghiệp hóa
1.2.3 Bài học kinh nghiệm sở hữu chéo ở Đức
Các nghiên cứu trên thế giới đều thừa nhận sự thành công của quá trình công nghiệp hóa ở Đức có sự đóng góp đáng kể của liên minh ngân hàng - doanh nghiệp
Hệ thống tài chính của Đức lúc bấy giờ đi theo định hướng dựa vào ngân hàng Đồng thời, lĩnh vực ngân hàng cũng có mức tập trung rất cao Có 4 ngân hàng lớn chiếm 20% quy mô doanh thu toàn ngành: Deutsche Bank, Dresdner Bank và Commerzbank (thành lập từ đầu thế kỷ XVIII vào thời kỳ công nghiệp hóa đầu tiên của người Đức) và Ngân hàng Bayerische Hypo-und Vereinsbank
THỰC TRẠNG SỞ HỮU CHÉO VÀ VIỆC CHẤP HÀNH CÁC QUY ĐỊNH ĐẢM BẢO AN TOÀN HOẠT ĐỘNG CỦA NHTM VIỆT NAM
Phân lo ại các hình thức sở hữu chéo ở các NHTM Việt Nam
Theo Ủy ban Giám sát Tài chính Quốc gia (NFSC) dẫn thống kê của Ủy ban Kinh tế Quốc hội thì vấn đề sở hữu chéo và đầu tư chéo tại các tổ chức tín dụng ở
Việt Nam được chia thành 6 nhóm: Sở hữu của các NHTMNN và NHTM nước ngoài tại các Ngân hàng liên doanh, Cổ đông chiến lược nước ngoài tại các NHTM,
Cổ đông tại các NHTM là các công ty quản lý quỹ, Sở hữu của NHTMNN tại các NHTM cổ phần, Sở hữu lẫn nhau giữa các NHTM cổ phần, Sở hữu NHTM cổ phần bởi các tập đoàn, tổng công ty Nhà nước và tư nhân.Với các hình thức sở hữu chéo này, tác giả luận văn khái quát vào minh họa bằng sáu sơ đồ sở hữu để sử dụng làm khung phân tích
2.1.1.1 Sở hữu của các NHTM nhà nước và NHTM nước ngoài tại các Ngân hàng liên doanh
Hình 1.1: Sở hữu của các NHTM nhà nước và NHTM nước ngoài tại các Ngân hàng liên doanh
( Nguồn: Tác giả tự vẽ )
Ngân hàng liên doanh thông thường được sở hữu bởi một ngân hàng nước ngoài và một ngân hàng trong nước
Hình 1.1 minh họa việc các NHTM nhà nước và NHTM nước ngoài cùng sở hữu ngân hàng liên doanh Sở hữu chéo này có tính tích cực vì các mối quan hệ này chủ yếu hướng đến việc tăng cường thúc đẩy hoạt động thương mại giữa Việt Nam và quốc tế, nâng cao năng lực quản trị và thúc đẩy việc sử dụng vốn một cách có hiệu quả Đồng thời việc sở hữu chéo cho phép NHTM nhà nước khai thác được cơ hội kinh doanh có lợi trên thị trường, đa dạng hóa hoạt động và phân tán rủi ro kinh doanh Ngoài ra NHTM nhà nước thể tăng vốn điều lệ bằng việc cố đông của NHTM nhà nước vay vốn của NH quốc tế Điều này, không chỉ giúp NHTM nhà nước ổn định tài chính mà còn thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế
Như vậy,việc sở hữu chéo giữa NHTM nhà nước và NHTM nước ngoài tại các Ngân hàng liên doanh góp phần cải thiện sự hỗ trợ vốn, công nghệ, góp phần nâng cao năng lực quản trị, nhân sự, mở rộng quy mô, thị phần, kinh nghiệm và hiểu biết lẫn nhau giữa các đối tác, thúc đẩy hoạt động liên kết kinh tế và thương mại giữa Việt Nam và quốc tế
2.1.1.2 Cổ đông chiến lược nước ngoài tại các NHTM
Ngân hàng Nhà nước vừa ban hành Dự thảo Nghị định Về việc nhà đầu tư nước ngoài mua cổ phần tổ chức tín dụng Việt Nam.Về điều kiện đối với nhà đầu tư nước ngoài mua cổ phần và trở thành nhà đầu tư chiến lược nước ngoài, dự thảo quy định:
-Nhà đầu tư phải là ngân hàng nước ngoài, công ty tài chính nước ngoài, công ty cho thuê tài chính nước ngoài được phép thực hiện hoạt động ngân hàng theo quy định của pháp luật của nước nơi đặt trụ sở chính Công ty tài chính nước ngoài chỉ được là nhà đầu tư chiến lược tại công ty tài chính Việt Nam, công ty cho thuê tài chính nước ngoài chỉ được là nhà đầu tư chiến lược tại công ty cho thuê tài chính Việt Nam;
- Nhà đầu tư phải có kinh nghiệm hoạt động quốc tế trong lĩnh vực tài chính ngân hàng từ 5 năm trở lên;
- Có tổng tài sản tối thiểu tương đương 10 tỷ USD vào năm trước năm nộp
-16- hồ sơ mua cổ phần;
- Có văn bản cam kết và kế hoạch rõ ràng về việc gắn bó lợi ích lâu dài với tổ chức tín dụng Việt Nam, hỗ trợ tổ chức tín dụng Việt Nam áp dụng công nghệ hiện đại; phát triển sản phẩm, dịch vụ ngân hàng; nâng cao năng lực quản trị, điều hành;
- Không sở hữu từ 10% vốn điều lệ trở lên tại bất kỳ tổ chức tín dụng nào khác tại Việt Nam và cam kết hoặc đã sở hữu từ 10% vốn điều lệ của tổ chức tín dụng Việt Nam trở lên
Hình 1.2: Sở hữu của các cổ đông chiến lược nước ngoài tại các NHTM
Nguồn: Tác giả tự vẽ
Hình 1.2 cho biết sự sở hữu của các cổ đông chiến lược nước ngoài tại các
NHTM Trường hợp cổ đông này trực tiếp nắm cổ phần của NH, các quyết định cho vay hay đầu tư của ngân hàng sẽ không thực hiện được hoặc bị hạn chế, giám sát chặt chẽ
Thêm vào đó với khoản tín dụng được cấp bởi NH mà mình sở hữu, cổ đông có thể dùng vốn vay để góp vốn lại vào chính NH hoặc vào NH khác Việc này tạo nên việc tăng vốn ảo trong hệ thống NH
Tuy nhiên, sở hữu của các cổ đông chiến lược nước ngoài tại các NHTM cũng được coi là nhóm sở hữu chéo mang ý nghĩa tích cực không chỉ cho các NHTM mà còn giúp ổn định nền kinh tế vĩ mô
Cổ đông chiến lược nước ngoài
Ngân hàng thương mại NHNN
2.1.1.3 Cổ đông tại các NHTM là các công ty quản lý quỹ
Hình 1.3: Sở hữu của các công ty quản lý quỹ tại các NHTM
Nguồn: Tác giả tự vẽ
Theo TTCK Mỹ định nghĩa: công ty quản lý quỹ là công ty chuyên trách thực hiện việc quản lý các quỹ đầu tư Công ty đầu tư sử dụng nhà tư vấn đầu tư, hay người quản lý đầu tư để quyết định loại chứng khoán nào sẽ đưa vào danh mục đầu tư của quỹ
Từ hình 1.3, chúng ta có thể nhận thấy sở hữu chéo giữa công ty quản lý quỹ và NHTM Các công ty quản lý quỹ vừa sở hữu ngân hàng vừa được ngân hàng cho vay Điều này không trái với quy định của pháp luật
Tại Việt Nam, khi cổ đông tại các NHTM là các công ty quản lý quỹ đã giúp hầu hết các NHTM vượt qua các khó khăn thử thách đồng thời cũng nâng cao công tác quản lý tài sản, nguồn vốn tại các NHTM
Tác động của sở hữu chéo đến an toàn hoạt động của các NHTM Việt Nam
Theo quy định của Nghị định 141/2006/NĐ -CP, vốn điều lệ thực góp của các ngân hàng phải đạt 1.000 tỷ đồng vào năm 2008 và 3.000 tỷ đồng vào năm
2010 Thông qua sở hữu chéo, cổ đông ngân hàng A có thể vay tiền ngân hàng B để góp vốn vào ngân hàng A, và ngược lại Hoạt động đi vay này tạo ra tình trạng tăng vốn ảo trong các ngân hàng
Ví dụ, một người có 1000 tỷ đồng mua cổ phần của ngân hàng A, lấy cổ phần đó đến ngân hàng B để thế chấp vay, được thêm 1000 tỷ đồng nữa Người đó sẽ quay lại ngân hàng A để mua thêm cổ phần để được vay nhiều hơn, hoặc mua cổ phần của ngân hàng C, lấy cổ phần của ngân hàng C để thế chấp vay ngân hàng D, được 1000 tỷ đồng mua cổ phần của ngân hàng E…Cứ như vậy, chỉ 1000 tỷ đồng chạy thành ra 5000-7000 tỷ đồng bằng cách sở hữu chéo tại nhiều ngân hàng.Vậy tại sao người ta lại làm như vậy?Bởi những người vay mua cổ phiếu, thành cổ đông lớn của ngân hàng thì sẽ khống chế, chi phối được ngân hàng đó để vay cho mục đích đầu tư cá nhân của mình
Chính điều này đã tạo ra luồng vốn tưởng là góp thật vào hệ thống nhưng thực chất lại là vốn vay lẫn nhau giữa các ngân hàng.Trong 4 năm qua, hàng loạt các NHTMCP đã nâng vốn điều lệ lên 3.000 tỷđồng Nhưng trên thực tế, quy mô của dòng vốn mới thực sự được bổ sung vào hệ thống ngân hàng vẫn chưa được làm rõ Với quy mô vốn điều lệ tăng, các ngân hàng được phép huy động thêm tiền gửi trong dân cư và hàng nghìn tỷ đồng vốn huy động mới này lại có thể được dùng để tài trợ cho những dự án sân sau của chính các cổ đông lớn của ngân hàng Ngoài ra, sở hữu chéo làm sai lệch việc đánh giá rủi ro của hệ thống ngân hàng vì rất nhiều chỉ số dựa trên số vốn tự có như hệ số an toàn (CAR),hay tỷ lệ vốn tự có/tổng tài sản, trong khi đó vốn tự có của các ngân hàng không thực chất là có quymô như vậy
-26- mà bao gồm cả nguồn vốn ảo do sở hữu chéo Trong những năm gần đây, tăng trưởng tín dụng của các ngân hàng liên tục nóng khiến hệ số đòn bẩy tài chính tăng lên và hệ số an toàn vốnCAR giảm, đồng thời tấm đệm để phòng ngừa rủi ro là vốn tự có lại mỏng và bị gây nhiễu bởi sở hữu chéo, tất cả những điều đó càng làm trầm trọng hơn những khó khăn của hệ thống.Các chỉ số không chính xác lại dẫn đến sai lệch cả về quản trị ngân hàng cũng như việc giám sát đối với hệ thống tài chính Điều này là đặc biệt nguy hiểm vì những rủi ro trong lĩnh vực ngân hàng tài chính khi bùng phát thì có sức lan tỏa rất rộng và hậu quả nghiêm trọng cho toàn bộ nền kinh tế
Thêm vào đó, trong khi hoạt động của công ty quản lý quỹ đầu tư, quỹ đầu tư, công ty chứng khoán bị kiểm soát, giám sát chặt chẽ bởi Ủy ban Chứng khoán Nhà nước; hoạt động của ngân hàng thương mại và công ty tài chính bị kiểm soát, giám sát chặt chẽ bởi Ngân hàng Nhà nước, thì công ty cổ phần đầu tư tài chính không bị giám sát, quản lý bởi cơ quan quản lý nhà nước chuyên ngành nào, mà chỉ hoạt động theo Luật Doanh nghiệp, cho dù công ty này hoạt động không khác gì quỹ đầu tư, công ty tài chính Lợi dụng kẽ hở này, một nhóm cá nhân thành lập công ty cổ phần đầu tư tài chính để mua cổ phần của một số ngân hàng nào đó, đồng thời họ cũng mua cổ phần tại những ngân hàng này.Sau khi đã sở hữu được lượng cổ phần kha khá, một mặt họ vay vốn tại ngân hàng mà họ là cổ đông, mặt khác lại yêu cầu các ngân hàng mà họ và công ty cổ phần đầu tư tài chính do họ sáng lập đầu tư vốn vào các ngân hàng trong nhóm và như thế, “quyền lực” của họ một lần nữa lại được nâng lên
2.1.3.2 Vi phạm về giới hạn tín dụng
Khi sở hữu chéo thì quy định này sẽ bị vô hiệu hóa Bởi lẽ, sở hữu chéo cho phép một doanh nghiệp, hay ngân hàng thương mại, có tỷ lệ cổ phần lớn trong các ngân hàng thương mại có thể gây áp lực để ngân hàng này cấp vốn đầu tư vào những dự án của doanh nghiệp hay ngân hàng “sân sau” của mình” Điều này sẽ dẫn đến nguy cơ là quy định bị “vượt rào”, bộ máy sàng lọc theo tiêu chí hiệu quả đầu tư của ngân hàng thương mại bị vô hiệu
Các quy định về các đối tượng cấm cho vay, hạn chế cho vay cũng sẽ bị ảnh hưởng Chẳng hạn, pháp luật không cho phép tổ chức tín dụng cho vay đối với Chủ tịch HĐQT, Tổng giám đốc, người thân của họ và một số đối tượng khác Tuy nhiên, những người này lại có thể vay ở tổ chức tín dụng khác mà tổ chức của mình là cổ đông lớn Sở hữu chéo cũng giúp các ngân hàng có thể lách quy định về việc không được cho các cổ đông của mình vay vốn bằng cách cho các công ty con của các doanh nghiệp vay vốn.Các NH cho vay người có liên quan sẽ vô hiệu hóa quy định về giới hạn tín dụng Nguy hiểm hơn, NH có thể chuyển các khoản nợ xấu thành tài sản có khác thông qua việc chuyển nợ xấu sang các công ty con, công ty liên kết và việc này sẽ vô hiệu hóa quy định về báo cáo chất lượng tín dụng và trích dự phòng rủi ro
Hơn nữa, trong bối cảnh hiện nay, ngân hàng thương mại rất dễ biến thành kênh huy động vốn cho Tập đoàn, các công ty con của Tập đoàn Nhìn xa hơn,
"mạng nhện" liên kết còn thể hiện ở những hoạt động kinh doanh thiếu kiểm soát, sự nhập nhằng trong việc cho vay, trong thẩm định và cung ứng vốn vay
Ví dụ, nhiều trường hợp ngân hàng A đang là cổ đông lớn chi phối ngân hàng B, không muốn thông qua một khoản vay, đã đẩy khách hàng cho ngân hàng B mà không gặp trở ngại gì do A đang nắm giữ cổ phần chi phối tại B B biết khách hàng không đáp ứng tiêu chuẩn cho vay nhưng khó có thể từ chối vì đang được điều hành bởi người của A
Một hệ lụy khác là sở hữu chéo cũng có thể cho phép ngân hàng A giấu nợ xấu của mình bằng cách không khai báo nợ xấu mà nhờ ngân hàng B, nơi A có sở hữu, cho vay, qua đó giảm được mức nợ xấu phải khai báo và không phải trích dự phòng rủi ro tương ứng Đó cũng là một trong những lý do khiến Ngân hàng Nhà nước khó nắm được chính xác số nợ xấu của toàn bộ hệ thống ngân hàng Đối với các doanh nghiệp (hay ngân hàng) là cổ đông lớn của ngân hàng, sở hữu chéo cho phép một doanh nghiệp (hay ngân hàng) có tỷ lệ cổ phần lớn trong các NHTM có thể gây áp lực (một cách hợp pháp như qua bỏ phiếu trong hội đồng quản trị với vị thế cổ đông chiến lược) để ngânhàng này cấp vốn đầu tư vào những
-28- dự án không đủ tiêu chuẩn của doanh nghiệp hay ngânhàng của mình Hay nói các khác, khi một TCTD lớn chiếm cổ phần chi phối ngân hàng khácvà biến ngân hàng này thành “sân sau” của mình, họ có thể buộc ngân hàng bị chi phối cấp tín dụng cho những dự án rủi ro hoặc cho doanh nghiệp có quan hệ thân thiết Mặc dù theoquy định thì các ngân hàng không được cho các cổ đông của mình vay vốn, nhưng các ngânhàng có thể lách quy định này bằng cách cho các công ty con của các doanh nghiệp vay vốn.Mặt khác, không loại trừ trường hợp lãnh đạo của ngân hàng chi phối lạm dụng quyền lựcbuộc ngân hàng mà mình có thể chi phối cấp tín dụng để phục vụ lợi ích cá nhân.
2.1.3.3 Vi phạm về góp vốn, mua cổ phần
Theo thông tư 13, một cá nhân không được sở hữu quá 5% vốn điều lệ của một ngân hàng, nhưng thông qua sở hữu chéo, họ vẫn thâu tóm hoặc gây ảnh hưởng đến ngân hàng.Họ có thể lách luật, thâu tóm ngân hàng bằng cách sử dụng hình thức ủy quyền Tức cá nhân A chỉ được sở hữu không quá 5% vốn điều lệ của một ngân hàng, nhưng trên thực tế cá nhân này chỉ nắm 2%, còn lại ủy quyền vốn cho nhiều cá nhân hoặc tổ chức khác không họ hàng gì với cá nhân A để cùng đầu tư vào một ngân hàng
Trong hệ thống ngân hàng, các ngân hàng thương mại được quyền cho phép sự tham gia góp vốn của doanh nghiệp, định chế tài chính, ngân hàng, quỹ đầu tư, công ty chứng khoán, cá nhân trong và ngoài nước Do đó làm gia tăng sở hữu chéo ngân hàng Việc đầu tư chéo đã và đang gián tiếp gây ra nợ xấu do nhiều nhà băng thiếu thận trọng trong hoạt động tín dụng đối với cổ đông là doanh nghiệp; làm phân tán nguồn vốn của doanh nghiệp nhà nước…Nghiêm trọng hơn, tình trạng đầu tư chéo đã xuất hiện một số dấu hiệu liên kết, lũng đoạn hệ thống tài chính - ngân hàng để trục lợi Đầu tư chéo đã phổ biến trong nền kinh tế, dẫn tới những hệ lụy, đặc biệt là đã vô hiệu hóa các quy định về an toàn Ngân hàng thương mại tăng vốn ảo, vô hiệu hóa các quy định về vốn pháp định, về hệ số đủ vốn (CAR), về giới hạn tín dụng…
Bên cạnh đó, ngân hàng thương mại vẫn có thể tham gia đầu tư chứng khoán,
-29- vì vậy vô hiệu hóa quy định giới hạn đầu tư, góp vốn cổ phần nhằm tách bạch hoạt động ngân hàng đầu tư ra khỏi hoạt động của ngân hàng thương mại.
TH ỰC TRẠNG SỞ HỮU CHÉO VÀ VIỆC CHẤP HÀNH CÁC QUY ĐỊNH ĐẢM BẢO N TOÀN HOẠT ĐỘNG CỦA NHTM VIỆT NAM
2.2.1THỰC TRẠNG CƠ CẤU SỞ HỮU VỐN CỦA CÁC NHTM VIỆT NAM 2.2.1.1 HỆ THỐNG NGÂN HÀNG VÀ SỰ HÌNH THÀNH SỞ HỮU CHÉO
2.2.1.1.1 Hệ thống ngân hàng và sự phát triển về số lượng và vốn
Tăng trưởng về số lượng
Thập kỷ qua, cùng với quá trình đổi mới và hội nhập, hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam đã có nhiều thay đổi quan trọng.Sự xuất hiện của các ngân hàng 100% vốn nước ngoài và việc loại bỏ dần các hạn chế đối với hoạt động của chi nhánh NH đã khiến mức độ cạnh tranh ngày càng trở nên gay gắt, buộc các NH
Việt Nam phải tái cấu trúc để tiếp tục phát triển 2 trong số 5 NHTM Nhà nước đã thực hiện cổ phần hóa và chính thức hoạt động theo mô hình đa sở hữu được gần hai năm.Các NHTM cổ phần một mặt đang cấu trúc lại, có sự tham gia của các nhà đầu tư chiến lược nước ngoài cùng lộ trình tăng vốn điều lệ lên mức tối thiểu là 3.000 tỉ VND.Tất cả các động thái này nhằm hướng tới sự phát triển bền vững trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế
Bảng 2.1: Số lượng ngân hàng giai đoạn 1991-2012
Chi nhánh NH nước ngoài 0 8 18 24 26 26 29 40 42 46
Nguồn: Tác giả thống kê từ http://www.sbv.gov.vn
Hình 2.1: Số lượng ngân hàng từ 1991-2012
Nguồn: Ngân hàng Nhà nước
Từ bảng 2.1 và hình 2.1 có nhận xét sau:
Giai đoạn từ năm 1991 đến năm 2012, ngân hàng Việt Nam có sự tăng trưởng rất mạnh về số lượng.Vào năm 1991, chỉ có 4 ngân hàng thương mại nhà nước đó là NH Công thương VN, NH Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn VN,
NH Ngoại thương VN và NH Đầu tư và Phát triển VN.Cho đến năm 2012, đã có thêm một ngân hàng thương mại nhà nước đó là Ngân hàng Phát triển Việt Nam Bên cạnh sự phát triển của NHTMNN thì các NHTMCP cũng có sự tăng lên rõ rệt Năm 1991 chỉ mới có 4 ngân hàng nhưng vào năm 1993 đã tăng lên thành 41 ngân hàng.Sau đó tiếp tục tăng lên thành 51 ngân hàng vào năm 1997 và đến năm
2012 đã giảm chỉ còn 40 ngân hàng Điều này là do một số ngân hàng do hoạt động còn yếu nên bị NHNN buộc phải sáp nhập như 3 ngân hàng đầu tiên sáp nhập là NHTMCP Đệ Nhất, NHTMCP Tín Nghĩa và NHTMCP Sài Gòn thành SCB vào cuối năm 2011, SHB được Ngân hàng Nhà nước chính thức chấp thuận việc sáp nhập Ngân hàng Nhà Hà Nội (Habubank) vào Ngân hàng Sài Gòn - Hà Nội (SHB)
Ngân hàng TMNN Ngân hàng TMCPChi nhánh NH nước ngoài Ngân hàng liên doanh
Năm 1991, Việt Nam chưa hề có sự xuất hiện của các chi nhánh ngân hàng nước ngoài thì chỉ hai năm sau đấy, đã có 8 chi nhánh NH nước ngoài và số lượng chi nhánh NH nước ngoài liên tục tăng qua các năm Năm 2012 đã có 46 chi nhánh ngân hàng nước ngoài.Và đến tháng 6/2013, đã có 6 NHTMNN, 34 NHTMCP, 50 chi nhánh NH nước ngoài và 4 ngân hàng liên doanh
Các NHTM CP cũng có sự bứt phá trong việc tăng năng lực tài chính thông qua việc góp vốn của các cổ đông chiến lược trong, ngoài nước Trước hội nhập, chỉ có 6 NHTM CP có nhà đầu tư chiến lược nước ngoài tham gia, nhưng sau 6 năm hội nhập, đã có thêm 17 NHTM có nhà đầu tư nước ngoài góp vốn Một số NHTM có số vốn góp của nhà đầu tư chiến lược nước ngoài chiếm tới 20- 30% như VietinBank,VCB, VIB
Có thể thấy các ngân hàng Việt Nam là một kênh đáp ứng vốn chủ yếu cho nền kinh tế, đóng góp không nhỏ vào mức tăng GDP hàng năm.Khi tham gia sâu vào hội nhập, cạnh tranh đã thực sự là động lực to lớn cho cải cách, đổi mới mạnh mẽ trong hoạt động ngân hàng Chính sự cạnh tranh này đã tác động đến quản trị nội bộ và văn hóa rủi ro của ngân hàng theo hướng minh bạch hơn, tin cậy hơn, đặc biệt khi 4 ngân hàng thương mại Nhà nước thực hiện cổ phần hóa, chuyển sang hoạt động theo mô hình cổ phần Việc nâng cao năng lực tài chính, tăng vốn chủ sở hữu, duy trì hệ số an toàn vốn tối thiểu, đầu tư công nghệ, phát triển các dịch vụ ngân hàng hiện đại, mở các chi nhánh ở nước ngoài để phục vụ tốt hơn, hiệu quả hơn khách hàng cả trong và ngoài nước đều được các NHTM quan tâm và thực hiện bằng những biện pháp khác nhau Để quản lý, giám sát hoạt động của hệ thống NHVN, các nghị định quy định về vốn pháp định của các NHTM đã ra đời
Bảng 2.2: Quy định về vốn pháp định của các NHTM
Nguồn: Quyết định số 67, Nghị định 82 và Nghị định 141
Như vậy, để quản lý, giám sát hoạt động của hệ thống NHVN thì các văn bản luật, cơ chế, chính sách của các Bộ/Ngành trong thời gian qua hầu như đã phủ kín các hoạt động chính của ngân hàng, tạo điều kiện cho các NHTM hoạt động Chính điều này đã góp phần to lớn vào việc duy trì sự phát triển của nền kinh tế, của doanh nghiệp, cải thiện đời sống của dân cư, góp phần đưa Việt Nam ra khỏi danh sách nước có thu nhập thấp vào năm 2009
2.2.1.1.2 Sự hình thành sở hữu chéo
Sở hữu chéo trong hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam thời gian đầu xuất phát chủ yếu do các ngân hàng quốc doanh góp vốn với tư cách cổ đông Nhà nước với mục đích giúp Nhà nước kiểm soát hoạt động của các ngân hàng cổ phần.Chính phủ đã chủ trương phải có đại diện của mình trong mỗi ngân hàng và các ngân hàng quốc doanh lớn đã được lựa chọn để góp vốn với tư cách cổ đông nhà nước Sự hiện diện của những ngân hàng quốc doanh nhằm mục đích hạn chế những hoạt động vượt ra ngoài khuôn khổ pháp lý nếu có cũng như những yếu kém ban đầu từ phía các ngân hàng cổ phần mới được thành lập.Trong bối cảnh bấy giờ, sự thận trọng này là cần thiết.Ngoài ra, xét từ góc độ nghiệp vụ, các ngân hàng quốc
-33- doanh lớn đã chia sẻ kinh nghiệm kinh doanh, quản trị thậm chí chia sẻ cả nguồn nhân lực với tất cả các ngân hàng họ góp vốn.Tuy nhiên, cùng với thời gian và sự phát triển của hệ thống ngân hàng Việt Nam, ảnh hưởng của các hình thức sở hữu chéo cũng có nhiều biến đổi
Giai đoạn 2006-2011, thị trường chứng khoán Việt Nam bùng nổ kéo theo việc gia tăng quy mô vốn chủ sở hữu của các ngân hàng thương mại và công ty tài chính Điều này làm gia tăng tình trạng sở hữu chéo đặc biệt là sở hữu chéo theo hình thức NH sở hữu NH và doanh nghiệp sở hữu NH
Bên cạnh đó, theo chủ trương của chính phủ, các doanh nghiệp nhà nước được tham gia vào hoạt động trong lĩnh vực ngân hàng Chính điều này đã làm dẫn đến tình trạng sở hữu chéo của các tập đoàn, tổng công ty Nhà nước và tư nhân với ngân hàng Đến nay, hầu hết các tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước đều sở hữu
NH Tuy nhiên, có rất nhiều các Tập đoàn kinh tế Nhà nước và các Tập đoàn cổ phần, dù không chuyên sâu về lĩnh vực tài chính nhưng hiện đang đầu tư dài hạn với vai trò nhà sáng lập, nhà đầu tư chiến lược trong các NHTM Điều nguy hiểm là mặc dù các Tập đoàn, Tổng công ty nắm giữ số lượng cổ phần tương đối lớn tại các NHTM cổ phần nhưng lại trực tiếp không tham gia quản trị điều hành, mà buông lỏng quản lý, mặc sức cho những dòng vốn của Nhà nước chảy đi đâu, về đâu, còn vai trò quản trị điều hành và thâu tóm lại thuộc về nhóm lợi ích hoặc một vài cá nhân
Tuy nhiên những bằng chứng cụ thể vẫn không được đưa ra một cách rõ ràng và hơn thế nữa là cũng chưa xác định được liệu những hành vi này có phạm luật hay không Vấn đề chính sách cần nghiên cứu ở đây là việc SHC giúp cho các NHTM lách các quy định về bảo đảm an toàn hoạt động thời gian qua
2.2.1.2 THỰC TRẠNG SỞ HỮU CHÉO
2.2.1.2.1 Sở hữu của các NHTM nhà nước và NHTM nước ngoài tại các Ngân hàng liên doanh