PHÁP LUẬT KINH DOANH BẢO HIỂM TS. Nguyễn Thị Thủy CHƯƠNG I KHÁI QUÁT CHUNG VỀ BẢO HIỂM VÀ PHÁP LUẬT KINH DOANH BẢO HIỂM I. KHÁI NIỆM VÀ PHÂN LOẠI BẢO HIỂM THƯƠNG MẠI 1. Khái niệm Vd: 1 người dắt xe ra khỏi nhà, đến trường học. Trên đường từ nhà đến trường, bị tai nạn. Nếu người này biết từ nhà đến trường sẽ bị tai nạn, thì chắc chắn người đó sẽ không đi học. Sự kiện bị tai nạn là khách quan, mang tính ngẫu nhiên. Nếu một sự kiện xảy ra mà không gây thiệt hại cho họ, thì không gọi là rủi ro, còn nếu có thiệt hại xảy ra, thì gọi là rủi ro. Hoán chuyển rủi ro, thực chất là hoán chuyển thiệt hại. Bản chất của bảo hiểm là sự hoán chuyển rủi ro từ người mua bảo hiểm sang nhà bảo hiểm. Khi mua bảo hiểm là mua sự an toàn về mặt tài chính, rủi ro vẫn xảy ra, nhưng chúng ta chuyển giao thiệt hại từ sự kiện đó sang cho chủ thể khác gánh chịu thay và chúng ta trả phí bảo hiểm. Nhà bảo hiểm thu phí bảo hiểm của nhiều người, chi trả cho người gặp rủi ro => Lấy số đông bù số ít (Nguyên lý chia sẻ mang tính cộng đồng). Bảo hiểm: Là hoạt động tạo lập quỹ tiền tệ của bên bảo hiểm được hình thành chủ yếu từ phí bảo hiểm của bên mua bảo hiểm và bên bảo hiểm sử dụng quỹ này để chi trả cho những trường hợp thuộc trách nhiệm bảo hiểm. Nguyên lý sự chia sẻ mang tính cộng đồng sẽ bao trùm lên đặc trưng của các loại hình bảo hiểm. Các loại hình bảo hiểm Bảo hiểm y tế Bảo hiểm xã hội Bảo hiểm thất nghiệp Bảo hiểm tiền gửi Bảo hiểm thương mại Bảo hiểm thương mại (Kinh doanh bảo hiểm): Là hoạt động của DNBH được thực hiện trên cơ sở DNBH thu phí bảo hiểm của người mua bảo hiểm và cam kết bồi thường hoặc trả tiền bảo hiểm cho người được bảo hiểm hoặc người thụ hưởng khi có sự kiện bảo hiểm xảy ra hoặc theo cam kết trong HĐBH. Đặc điểm: Chủ thể: Chủ thể thực hiện hoạt động kinh doanh bảo hiểm chỉ là các DNBH (ai thu phí không quan trọng, người sở hữu phí bảo hiểm là DNBH; dù bảo hiểm được bán qua ai không quan trọng, người cuối cùng chịu trách nhiệm bồi thường hoặc trả tiền bảo hiểm chính là DNBH). Tổ chức tín dụng muốn thực hiện hoạt động kinh doanh bảo hiểm thì phải tuân thủ theo quy định của Luật kinh doanh BH => phải thành lập doanh nghiệp riêng, độc lập để kinh doanh bảo hiểm. Đối tượng kinh doanh: rủi ro. Tuy nhiên, đây đều không phải là đối tượng mà cả bên mua bảo hiểm nhà bảo hiểm hướng đến. Người mua bảo hiểm khi tham gia bảo hiểm không muốn gặp rủi ro (bản chất của bảo hiểm là sự bù đắp, đảm bảo an toàn cho người mua bảo hiểm, chứ ko phải để tạo lợi nhuận cho người mua bảo hiểm). Về phía doanh nghiệp, cũng ko muốn rủi ro xảy ra, vì họ sẽ mất lợi nhuận. Sản phẩm của doanh nghiệp bảo hiểm mang bán chính là lời hứa, là các cam kết chi trả vì tài chính: Giá cả của sản phẩm bảo hiểm chính là phí bảo hiểm: Phí bảo hiểm được hình thành trên cơ sở xác suất rủi ro, tuy nhiên tại thời điểm bán bảo hiểm, rủi ro chưa xảy ra. Nên sẽ dựa vào xác suất rủi ro trước đây để tính. Trong doanh nghiệp bảo hiểm, vai trò của “Chuyên gia tính phí bảo hiểm” là rất quan trọng. Chuyên gia tính phí bảo hiểm trong bảo hiểm nhân thọ là quan trọng hơn nhiều so với bảo hiểm phi nhân thọ. Luật kinh doanh bảo hiểm 2010 quy định, nếu doanh nghiệp bảo hiểm thay đổi chuyên gia tính phí bảo hiểm, phải báo cáo Bộ Tài chính. Nhà nước phải quản lý để đảm bảo an toàn cho hoạt động kinh doanh bảo hiểm. Sự chia sẻ mang tính chất cộng đồng: đây là đặc trưng của hoạt động bảo hiểm nói chung, không chỉ là hoạt động kinh doanh bảo hiểm. Khoản phí bảo hiểm mà người mua bảo hiểm đóng cho nhà bảo hiểm, thuộc quyền sở hữu của nhà bảo hiểm từ thời điểm đóng phí. Doanh nghiệp bảo hiểm được toàn quyền quyết định việc sử dụng khoản phí này. Cho nên, nếu người mua bảo hiểm đã đóng phí, nhưng hết thời hạn bảo hiểm ko có rủi ro, thì người mua bảo hiểm cũng ko được hoàn lại phí bảo hiểm. Trường hợp hợp đồng bảo hiểm chấm dứt trước thời hạn, người mua bảo hiểm được quyền đòi lại số tiền phí bảo hiểm còn lại. Trách nhiệm trả tiền bảo hiểm của DNBH chỉ phát sinh đối với những trường hợp gặp rủi ro trong phạm vi bảo hiểm hoặc theo cam kết trong HĐBH. 2. Phân loại Bảo hiểm Thương mại ) Căn cứ vào phạm vi hoạt động của DNBH BHTM được phân thành 3 loại Bảo hiểm nhân thọ; Bảo hiểm phi nhân thọ; Bảo hiểm sức khỏe (Theo quy định Luật kinh doanh bảo hiểm sửa đổi 2010) Lưu ý: Bảo hiểm nhân thọ: là loại hình bảo hiểm có đối tượng bảo hiểm là tuổi thọ và tính mạng của con người. Đặc trưng o Đối tượng của hoạt động bảo hiểm nhân thọ là những yếu tố gắn chặt với mỗi một con người, không thể tách rời khỏi con người. Do vậy, trong bảo hiểm nhân thọ, quy tắc và điều khoản bảo hiểm trong bảo hiểm nhân thọ do DNBH ban hành phải được Bộ Tài chính phê chuẩn. Nội dung hợp đồng bảo hiểm nhân thọ: Doanh nghiệp bảo hiểm phải đăng ký Mẫu hợp đồng bảo hiểm nhân thọ với Bộ Tài chính. Nếu mẫu hợp đồng bảo hiểm nhân thọ chưa đăng ký với Bộ Tài chính mà đưa vào sử dụng, hành vi này của doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ sẽ bị xử phạt vi phạm hành chính. o Đối tượng của hoạt động bảo hiểm nhân thọ là yếu tố phi giá trị (tuổi thọ, tính mạng của con người không thể tính toán được về mặt giá trị). Trong bảo hiểm nhân thọ, Số tiền bảo hiểm sẽ do Người mua bảo hiểm đề nghị. Số tiền này phụ thuộc vào khả năng tài chính của Người mua bảo hiểm. o Thời hạn bảo hiểm nhân thọ dài, phí bảo hiểm nhàn rỗi dài, doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ được phép sử dụng để đầu tư trung hạn, dài hạn nhiều hơn. Có 2 sự khác biệt lớn giữa bảo hiểm nhân thọ phi nhân thọ Trong bảo hiểm nhân thọ, phí bảo hiểm người mua phải đóng là cao, còn trong bảo hiểm phi nhân thọ, phí bảo hiểm là thấp hơn. Lợi nhuận của bảo hiểm nhân thọ chủ yếu là từ đầu tư tài chính. Bảo hiểm phi nhân thọ: Bao gồm: Bảo hiểm tài sản; Bảo hiểm thiệt hại; Bảo hiểm trách nhiệm dân sự. Đặc trưng: o Đối tượng bảo hiểm trong bảo hiểm phi nhân thọ là những yếu tố tách biệt với con người. (tài sản hôm nay là của tôi, nhưng ngày mai bán đi thì là của người khác; TNDS sẽ không phát sinh nếu như không vi phạm pháp luật…). Quy tắc bảo hiểm không cần Bộ Tài chính phê chuẩn, DNBH chỉ cần đăng ký với Bộ Tài chính là được. Việc đăng ký Quy tắc điều khoản bảo hiểm của DNBH phi nhân thọ là để thông báo cho Bộ Tài chính biết là DNBH kinh doanh gói bảo hiểm này, chứ ko phải là phải được Bộ Tài chính phê chuẩn mới được đưa vào kinh doanh. Hợp đồng bảo hiểm phi nhân thọ không cần đăng ký với Bộ Tài chính. o Đối tượng bảo hiểm phi nhân thọ là yếu tố tính toán được bằng tiền: Người ta quan tâm đến giá trị của đối tượng bảo hiểm. Vd: Chiếc xe ô tô mua với giá 2 tỷ, nhưng chỉ muốn bảo hiểm với số tiền 1,5 tỷ; 500 triệu còn lại chúng ta tự gánh chịu; chúng ta sẽ trả phí tương ứng với 1,5 tỷ. Còn nếu mua số tiền bảo hiểm 3 tỷ, thì thiệt hại xảy ra, chúng ta cũng ko được bồi thường quá 2 tỷ là số tiền thực tế của xe. o Thời hạn bảo hiểm phi nhân thọ ngắn, khối phí bảo hiểm ngắn, DNBH phi nhân thọ chủ yếu đầu tư ngắn hạn. Xác suất trả tiền bảo hiểm trong bảo hiểm phi nhân thọ thấp hơn trong bảo hiểm nhân thọ: vì trong bảo hiểm phi nhân thọ không có yếu tố tích lũy như trong bảo hiểm nhân thọ. Phí bảo hiểm phi nhân thọ là thấp hơn so với bảo hiểm nhân thọ. Lợi nhuận của doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ chủ yếu dựa vào hoạt động kinh doanh bảo hiểm. Bảo hiểm sức khỏe: Luật kinh doanh bảo hiểm 2000 xếp loại bảo hiểm sức khỏe vào Bảo hiểm Phi nhân thọ, nhưng quy định của Luật KDBH SĐBS 2010 tách rời loại hình bảo hiểm sức khỏe ra khỏi Bảo hiểm phi nhân thọ. Theo quy định của Luật KDBH, một doanh nghiệp bảo hiểm không được phép đồng thời kinh doanh bảo hiểm nhân thọ phi nhân thọ. Anhchị hãy cho biết lí do tại sao? (Đề thi trong ngân hàng đề thi) (Luật không cấm Doanh nghiệp bảo hiểm PNT kinh doanh bảo hiểm sức khỏe, Doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ kinh doanh bảo hiểm sức khỏe). Bản chất của hoạt động kinh doanh bảo hiểm là bán lời hứa, thực hiện cam kết chi trả về tài chính. Nhà nước sẽ phải đưa ra những quy định nhằm đảm bảo an toàn khả năng tài chính cho DNBH. Muốn vậy, Nhà nước phải kiểm soát được hoạt động kinh doanh của DNBH. Nếu cho phép một DNBH vừa kinh doanh bảo hiểm nhân thọ, vừa kinh doanh bảo hiểm phi nhân thọ, thì rất khó quản lý. Nếu cho phép một DNBH vừa kinh doanh bảo hiểm nhân thọ, vừa kinh doanh bảo hiểm phi nhân thọ, rất khó tách bạch quỹ bảo hiểm nhàn rỗi, sẽ dẫn đến rủi ro cao: v.d: doanh nghiệp sử dụng phí bảo hiểm phi nhân thọ để đầu tư dài hạn… Nên để trả lời câu hỏi trên, thì dựa vào những phân tích về sự khác biệt, đặc thù của 2 loại hình bảo hiểm ở trên để từ đó đưa ra lập luận.. ) Căn cứ vào đối tượng bảo hiểm: Đối tượng bảo hiểm là yếu tố người mua bảo hiểm hướng đến bảo vệ. BHTM được phân thành 3 loại Bảo hiểm TNDS Bảo hiểm tài sản Bảo hiểm con người ) Căn cứ vào tính chất bắt buộc: Bảo hiểm được phân thành 2 loại Bảo hiểm bắt buộc Bảo hiểm tự nguyện II. KHÁI QUÁT VỀ PHÁP LUẬT KINH DOANH BẢO HIỂM 1. Khái niệm Pháp luật kinh doanh bảo hiểm là tổng hợp các quy phạm pháp luật do cơ quan NN có thẩm quyền ban hành hoặc thừa nhận nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình các chủ thể tham gia vào hoạt động kinh doanh bảo hiểm. Đặc điểm Là một ngành luật chuyên sâu: Sản phẩm bảo hiểm chính là quy tắc, điều khoản bảo hiểm mà doanh nghiệp bảo hiểm thiết kế. Người mua bảo hiểm khi tham gia vào quan hệ bảo hiểm không phải là chuyên gia về bảo hiểm. Tham gia vào giao kết hợp đồng bảo hiểm có sự bất cân xứng hiểu biết về lĩnh vực này giữa người bán và người mua. Tranh chấp xảy ra nhiều. Người mua bảo hiểm thường rơi vào thế yếu. Điều chỉnh hoạt động kinh doanh có điều kiện: (Ngân hàng đề thi: Anhchị hãy chứng minh hoạt động kinh doanh bảo hiểm là hoạt động kinh doanh có điều kiện => Chứng minh: o Khả năng tài chính: Chủ thể thực hiện hoạt động kinh doanh này là DNBH. DNBH phải có khả năng tài chính. Một trong những điều kiện để thành lập Cty Bảo hiểm: vốn điều lệ = hoặc cao hơn vốn pháp định o Loại hình doanh nghiệp được phép thành lập để thực hiện hoạt động kinh doanh bảo hiểm: Cty Cổ phần, Cty TNHH Hợp tác xã. Tức là phải đảm bảo về loại hình doanh nghiệp. Không phải bất kỳ loại hình nào cũng được kinh doanh bảo hiểm. DNTN Cty hợp danh không được kinh doanh bảo hiểm o Điều kiện về người quản trị điều hành: phải có trình độ chuyên môn nghiệp vụ, thể hiện thông qua bằng cấp mà người đó có được, đã tham gia vào hoạt động bảo hiểm ít nhất 3 năm kinh nghiệm. Đọc Điều luật trong Luật KDBH về thành lập DNBH) Phạm vi điều chỉnh của pháp luật kinh doanh bảo hiểm là các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình các chủ thể tham gia vào hoạt động kinh doanh bảo hiểm: 2. Phạm vi điều chỉnh của Pháp luật kinh doanh bảo hiểm Nhóm các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình xác định địa vị pháp lý của các chủ thể tham gia vào hoạt động kinh doanh bảo hiểm. Nhóm các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình mua BH và chi trả BH Nhóm các quan hệ XH phát sinh trong quá trình quản lý nhà nước đối với hoạt động KDBH. CHƯƠNG II. ĐỊA VỊ PHÁP LÝ CỦA CÁC CHỦ THỂ THAM GIA VÀO HOẠT ĐỘNG KINH DOANH BẢO HIỂM Tham gia vào hoạt động kinh doanh bảo hiểm ngoài cty bảo hiểm người mua bảo hiểm, còn có: môi giới bảo hiểm (môi giới cho người mua bảo hiểm), đại lý bảo hiểm (môi giới cho cty bảo hiểm để được hưởng hoa hồng). Khi nghiên cứu Địa vị pháp lý của một chủ thể, cần nghiên cứu 3 nội dung Điều kiện cấp giấy phép hoạt động Nội dung hoạt động Giải thể, phá sản. I. DOANH NGHIỆP BẢO HIỂM 1. Khái niệm Doanh nghiệp bảo hiểm là DN được thành lập theo quy định của PL và luật KDBH để thực hiện hoạt động kinh doanh bảo hiểm trên cơ sở thu phí bảo hiểm của người mua bảo hiểm và cam kết bồi thường hoặc trả tiền bảo hiểm theo thỏa thuận trong HĐBH. Đặc trưng: Là doanh nghiệp được thành lập theo quy định của PL và luật KDBH; (Công ty cổ phần bảo hiểm; Công ty trách nhiệm hữu hạn bảo hiểm; Hợp tác xã bảo hiểm; Tổ chức bảo hiểm tương hỗ). o Doanh nghiệp bảo hiểm được thành lập theo quy định của PL nói chung, chính là pháp luật Doanh nghiệp, pháp luật Hợp tác xã. o Doanh nghiệp bảo hiểm được thành lập theo quy định của luật KDBH: ngoài những điều kiện mà luật chung quy định, DNBH còn phải tm các điều kiện của luật KDBH. Những gì luật riêng không quy định, áp dụng luật chung. Những gì cả luật chung luật riêng quy định, thì áp dụng luật riêng. Theo quy định của luật KDBH, DNBH chỉ được tồn tại dưới 3 hình thức: Công ty cổ phần, Công ty TNHH, Hợp tác xã. Trong đó Hợp tác xã thì có 2 loại: Hợp tác xã bảo hiểm Tổ chức bảo hiểm tương hỗ. Hợp tác xã bảo hiểm có quyền bán bảo hiểm cho ngoài thành viên của mình, còn Tổ chức bảo hiểm tương hỗ chủ yếu hỗ trợ về tài chính cho các thành viên của nó. (Ở Việt Nam, chưa có Tổ chức bảo hiểm tương hỗ nào được thành lập). (Trắc nghiệm: Tổ chức cá nhân được thành lập cty hợp danh để KDBH? Cá nhân được thành lập Cty tư nhân để KDBH? => Sai. Pháp luật không cho phép…, nhằm mục đích bảo đảm an toàn tài chính. ) Đối tượng kinh doanh: rủi ro: Trong hoạt động KDBH cần có những quy định đặc thù. Sản phẩm kinh doanh là sản phẩm hình thành trong tương lai (bán các lời hứa): Chưa tồn tại tại thời điểm giao kết hợp đồng như các sản phẩm thông thường. Sản phẩm này có thể hình thành, có thể không, phụ thuộc vào rủi ro có phát sinh hay không Chịu sự quản lý nhà nước của Bộ Tài chính: 2. Điều kiện cấp giấy phép thành lập và hoạt động (Điều 63, 64) Có số vốn điều lệ đã góp không thấp hơn mức vốn pháp định theo quy định của Chính phủ; (Vốn pháp định của Cty BHNT (600 tỷ VND) cao hơn Cty BHPNT (300 tỷ VND)). Trong quá trình hoạt động, nếu vốn điều lệ giảm xuống thấp hơn mức vốn pháp định, phải tăng vốn điều lệ. Có loại hình doanh nghiệp điều lệ phù hợp với quy định của Luật KDBH và các quy định khác của pháp luật; Người quản trị, người điều hành có năng lực quản lý, chuyên môn, nghiệp vụ về bảo hiểm. Có hồ sơ xin cấp giấy phép thành lập và hoạt động theo quy định tại Điều 64, Luật KDBH. 3. Nội dung hoạt động (Điều 60) Kinh doanh bảo hiểm, kinh doanh tái bảo hiểm; Đề phòng, hạn chế rủi ro, tổn thất; Giám định tổn thất; Đại lý giám định tổn thất, xét giải quyết bồi thường, yêu cầu người thứ ba bồi hoàn; Quản lý quỹ và đầu tư vốn; Các hoạt động khác theo quy định của pháp luật. (Nếu xin giấy phép 1 lần thì sẽ đỡ tốn chi phí hơn. Nên xin giấy phép bảo hiểm 1 lần luôn cho các nội dung hoạt động luôn => Đọc Nghị định 73: Mức vốn pháp định quy định bao nhiêu.) 4. Khôi phục khả năng thanh toán, giải thể, phá sản DNBH (Điều 77 – Điều 83) ) Khôi phục khả năng thanh toán: Khi một DNBH rơi vào tình trạng mất khả năng chi trả, thì: DNBH phải báo cáo với Bộ Tài chính (nếu không sẽ bị xử phạt hành chính theo quy định); Lập phương án khôi phục khả năng thanh toán; Thực hiện yêu cầu của Bộ Tài chính về việc khôi phục khả năng thanh toán ) Giải thể, phá sản
Trang 1PHÁP LUẬT KINH DOANH BẢO HIỂM
TS Nguyễn Thị Thủy CHƯƠNG I KHÁI QUÁT CHUNG VỀ BẢO HIỂM VÀ PHÁP LUẬT KINH DOANH BẢO HIỂM
I KHÁI NIỆM VÀ PHÂN LOẠI BẢO HIỂM THƯƠNG MẠI
1 Khái niệm
V/d: 1 người dắt xe ra khỏi nhà, đến trường học Trên đường từ nhà đến trường, bị tai nạn Nếu người này biết từ nhà đến trường sẽ bị tai nạn, thì chắc chắn người đó sẽ không đi học Sự kiện bị tai nạn
là khách quan, mang tính ngẫu nhiên Nếu một sự kiện xảy ra mà không gây thiệt hại cho họ, thì không gọi là rủi ro, còn nếu có thiệt hại xảy ra, thì gọi là rủi ro
Hoán chuyển rủi ro, thực chất là hoán chuyển thiệt hại Bản chất của bảo hiểm là sự hoán chuyển rủi
ro từ người mua bảo hiểm sang nhà bảo hiểm Khi mua bảo hiểm là mua sự an toàn về mặt tài chính, rủi ro vẫn xảy ra, nhưng chúng ta chuyển giao thiệt hại từ sự kiện đó sang cho chủ thể khác gánh chịu thay và chúng ta trả phí bảo hiểm Nhà bảo hiểm thu phí bảo hiểm của nhiều người, chi trả cho người gặp rủi ro
=> Lấy số đông bù số ít (Nguyên lý chia sẻ mang tính cộng đồng).
Bảo hiểm: Là hoạt động tạo lập quỹ tiền tệ của bên bảo hiểm được hình thành chủ yếu từ phí bảo
hiểm của bên mua bảo hiểm và bên bảo hiểm sử dụng quỹ này để chi trả cho những trường hợp thuộc trách nhiệm bảo hiểm
Nguyên lý sự chia sẻ mang tính cộng đồng sẽ bao trùm lên đặc trưng của các loại hình bảo hiểm Các loại hình bảo hiểm
- Bảo hiểm y tế
- Bảo hiểm xã hội
- Bảo hiểm thất nghiệp
- Bảo hiểm tiền gửi
- Bảo hiểm thương mại
Bảo hiểm thương mại (Kinh doanh bảo hiểm):
Là hoạt động của DNBH được thực hiện trên cơ sở DNBH thu phí bảo hiểm của người mua bảo hiểm và cam kết bồi thường hoặc trả tiền bảo hiểm cho người được bảo hiểm hoặc người thụ hưởng khi
có sự kiện bảo hiểm xảy ra hoặc theo cam kết trong HĐBH
Đặc điểm:
- Chủ thể: Chủ thể thực hiện hoạt động kinh doanh bảo hiểm chỉ là các DNBH (ai thu phí không quan trọng, người sở hữu phí bảo hiểm là DNBH; dù bảo hiểm được bán qua ai không quan trọng, người cuối cùng chịu trách nhiệm bồi thường hoặc trả tiền bảo hiểm chính là DNBH) Tổ chức tín dụng muốn thực hiện hoạt động kinh doanh bảo hiểm thì phải tuân thủ theo quy định của Luật kinh doanh BH => phải thành lập doanh nghiệp riêng, độc lập để kinh doanh bảo hiểm
- Đối tượng kinh doanh: rủi ro Tuy nhiên, đây đều không phải là đối tượng mà cả bên mua bảo hiểm & nhà bảo hiểm hướng đến Người mua bảo hiểm khi tham gia bảo hiểm không muốn gặp rủi ro (bản chất của bảo hiểm là
sự bù đắp, đảm bảo an toàn cho người mua bảo hiểm, chứ ko phải để tạo lợi nhuận cho người mua bảo hiểm) Về phía doanh nghiệp, cũng ko muốn rủi ro xảy ra, vì họ sẽ mất lợi nhuận
- Sản phẩm của doanh nghiệp bảo hiểm mang bán chính là lời hứa, là các cam kết chi trả vì tài chính:
- Giá cả của sản phẩm bảo hiểm chính là phí bảo hiểm: Phí bảo hiểm được hình thành trên cơ sở xác suất rủi
ro, tuy nhiên tại thời điểm bán bảo hiểm, rủi ro chưa xảy ra Nên sẽ dựa vào xác suất rủi ro trước đây để tính Trong doanh nghiệp bảo hiểm, vai trò của “Chuyên gia tính phí bảo hiểm” là rất quan trọng Chuyên gia tính phí bảo hiểm trong bảo hiểm nhân thọ là quan trọng hơn nhiều so với bảo hiểm phi nhân thọ Luật kinh doanh bảo hiểm 2010 quy định, nếu doanh nghiệp bảo hiểm thay đổi chuyên gia tính phí bảo hiểm, phải báo cáo Bộ Tài chính Nhà nước phải quản lý để đảm bảo an toàn cho hoạt động kinh doanh bảo hiểm
- Sự chia sẻ mang tính chất cộng đồng: đây là đặc trưng của hoạt động bảo hiểm nói chung, không chỉ là hoạt động kinh doanh bảo hiểm Khoản phí bảo hiểm mà người mua bảo hiểm đóng cho nhà bảo hiểm, thuộc quyền sở hữu của nhà bảo hiểm từ thời điểm đóng phí Doanh nghiệp bảo hiểm được toàn quyền quyết định việc sử dụng khoản phí này Cho nên, nếu người mua bảo hiểm đã đóng phí, nhưng hết thời hạn bảo hiểm ko có rủi ro, thì người
Trang 2mua bảo hiểm cũng ko được hoàn lại phí bảo hiểm Trường hợp hợp đồng bảo hiểm chấm dứt trước thời hạn, người mua bảo hiểm được quyền đòi lại số tiền phí bảo hiểm còn lại
- Trách nhiệm trả tiền bảo hiểm của DNBH chỉ phát sinh đối với những trường hợp gặp rủi ro trong phạm vi bảo hiểm hoặc theo cam kết trong HĐBH
2 Phân loại Bảo hiểm Thương mại
*) Căn cứ vào phạm vi hoạt động của DNBH
BHTM được phân thành 3 loại
- Bảo hiểm nhân thọ;
- Bảo hiểm phi nhân thọ;
- Bảo hiểm sức khỏe
(Theo quy định Luật kinh doanh bảo hiểm sửa đổi 2010)
Lưu ý:
- Bảo hiểm nhân thọ: là loại hình bảo hiểm có đối tượng bảo hiểm là tuổi thọ và tính mạng của con người.
Đặc trưng
oĐối tượng của hoạt động bảo hiểm nhân thọ là những yếu tố gắn chặt với mỗi một con người , không thể tách rời khỏi con người Do vậy, trong bảo hiểm nhân thọ, quy tắc và điều khoản bảo hiểm trong bảo hiểm nhân thọ
do DNBH ban hành phải được Bộ Tài chính phê chuẩn Nội dung hợp đồng bảo hiểm nhân thọ: Doanh nghiệp bảo hiểm phải đăng ký Mẫu hợp đồng bảo hiểm nhân thọ với Bộ Tài chính Nếu mẫu hợp đồng bảo hiểm nhân thọ chưa đăng ký với Bộ Tài chính mà đưa vào sử dụng, hành vi này của doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ sẽ bị xử phạt vi phạm hành chính
oĐối tượng của hoạt động bảo hiểm nhân thọ là yếu tố phi giá trị (tuổi thọ, tính mạng của con người không thể tính toán được về mặt giá trị) Trong bảo hiểm nhân thọ, Số tiền bảo hiểm sẽ do Người mua bảo hiểm đề nghị
Số tiền này phụ thuộc vào khả năng tài chính của Người mua bảo hiểm
oThời hạn bảo hiểm nhân thọ dài, phí bảo hiểm nhàn rỗi dài, doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ được phép sử dụng để đầu tư trung hạn, dài hạn nhiều hơn
Có 2 sự khác biệt lớn giữa bảo hiểm nhân thọ & phi nhân thọ
Trong bảo hiểm nhân thọ, phí bảo hiểm người mua phải đóng là cao, còn trong bảo hiểm phi nhân thọ, phí bảo hiểm là thấp hơn
Lợi nhuận của bảo hiểm nhân thọ chủ yếu là từ đầu tư tài chính
- Bảo hiểm phi nhân thọ: Bao gồm: Bảo hiểm tài sản; Bảo hiểm thiệt hại; Bảo hiểm trách nhiệm dân sự.
Đặc trưng:
oĐối tượng bảo hiểm trong bảo hiểm phi nhân thọ là những yếu tố tách biệt với con người (tài sản hôm nay
là của tôi, nhưng ngày mai bán đi thì là của người khác; TNDS sẽ không phát sinh nếu như không vi phạm pháp luật…) Quy tắc bảo hiểm không cần Bộ Tài chính phê chuẩn, DNBH chỉ cần đăng ký với Bộ Tài chính là được Việc đăng ký Quy tắc & điều khoản bảo hiểm của DNBH phi nhân thọ là để thông báo cho Bộ Tài chính biết là DNBH kinh doanh gói bảo hiểm này, chứ ko phải là phải được Bộ Tài chính phê chuẩn mới được đưa vào kinh doanh Hợp đồng bảo hiểm phi nhân thọ không cần đăng ký với Bộ Tài chính
oĐối tượng bảo hiểm phi nhân thọ là yếu tố tính toán được bằng tiền: Người ta quan tâm đến giá trị của đối tượng bảo hiểm V/d: Chiếc xe ô tô mua với giá 2 tỷ, nhưng chỉ muốn bảo hiểm với số tiền 1,5 tỷ; 500 triệu còn lại chúng ta tự gánh chịu; chúng ta sẽ trả phí tương ứng với 1,5 tỷ Còn nếu mua số tiền bảo hiểm 3 tỷ, thì thiệt hại xảy
ra, chúng ta cũng ko được bồi thường quá 2 tỷ là số tiền thực tế của xe
oThời hạn bảo hiểm phi nhân thọ ngắn, khối phí bảo hiểm ngắn, DNBH phi nhân thọ chủ yếu đầu tư ngắn hạn
Xác suất trả tiền bảo hiểm trong bảo hiểm phi nhân thọ thấp hơn trong bảo hiểm nhân thọ: vì trong bảo hiểm phi nhân thọ không có yếu tố tích lũy như trong bảo hiểm nhân thọ Phí bảo hiểm phi nhân thọ là thấp hơn so với bảo hiểm nhân thọ Lợi nhuận của doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ chủ yếu dựa vào hoạt động kinh doanh bảo hiểm
- Bảo hiểm sức khỏe: Luật kinh doanh bảo hiểm 2000 xếp loại bảo hiểm sức khỏe vào Bảo hiểm Phi nhân
thọ, nhưng quy định của Luật KDBH SĐBS 2010 tách rời loại hình bảo hiểm sức khỏe ra khỏi Bảo hiểm phi nhân thọ
Trang 3Theo quy định của Luật KDBH, một doanh nghiệp bảo hiểm không được phép đồng thời kinh doanh bảo hiểm nhân thọ & phi nhân thọ Anh/chị hãy cho biết lí do tại sao? (Đề thi trong ngân hàng đề thi)
(Luật không cấm Doanh nghiệp bảo hiểm PNT kinh doanh bảo hiểm sức khỏe, Doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ kinh doanh bảo hiểm sức khỏe)
Bản chất của hoạt động kinh doanh bảo hiểm là bán lời hứa, thực hiện cam kết chi trả về tài chính Nhà nước sẽ phải đưa ra những quy định nhằm đảm bảo an toàn khả năng tài chính cho DNBH Muốn vậy, Nhà nước phải kiểm soát được hoạt động kinh doanh của DNBH Nếu cho phép một DNBH vừa kinh doanh bảo hiểm nhân thọ, vừa kinh doanh bảo hiểm phi nhân thọ, thì rất khó quản lý Nếu cho phép một DNBH vừa kinh doanh bảo hiểm nhân thọ, vừa kinh doanh bảo hiểm phi nhân thọ, rất khó tách bạch quỹ bảo hiểm nhàn rỗi, sẽ dẫn đến rủi ro cao: v.d: doanh nghiệp sử dụng phí bảo hiểm phi nhân thọ để đầu tư dài hạn…
Nên để trả lời câu hỏi trên, thì dựa vào những phân tích về sự khác biệt, đặc thù của 2 loại hình bảo hiểm ở trên để từ đó đưa ra lập luận
*) Căn cứ vào đối tượng bảo hiểm: Đối tượng bảo hiểm là yếu tố người mua bảo hiểm hướng đến
bảo vệ BHTM được phân thành 3 loại
- Bảo hiểm TNDS
- Bảo hiểm tài sản
- Bảo hiểm con người
* ) Căn cứ vào tính chất bắt buộc: Bảo hiểm được phân thành 2 loại
- Bảo hiểm bắt buộc
- Bảo hiểm tự nguyện
II KHÁI QUÁT VỀ PHÁP LUẬT KINH DOANH BẢO HIỂM
1 Khái niệm
Pháp luật kinh doanh bảo hiểm là tổng hợp các quy phạm pháp luật do cơ quan NN có thẩm quyền ban hành hoặc thừa nhận nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình các chủ thể tham gia vào hoạt động kinh doanh bảo hiểm
Đặc điểm
- Là một ngành luật chuyên sâu: Sản phẩm bảo hiểm chính là quy tắc, điều khoản bảo hiểm mà doanh nghiệp bảo hiểm thiết kế Người mua bảo hiểm khi tham gia vào quan hệ bảo hiểm không phải là chuyên gia về bảo hiểm Tham gia vào giao kết hợp đồng bảo hiểm có sự bất cân xứng hiểu biết về lĩnh vực này giữa người bán và người mua Tranh chấp xảy ra nhiều Người mua bảo hiểm thường rơi vào thế yếu
- Điều chỉnh hoạt động kinh doanh có điều kiện:
(Ngân hàng đề thi: Anh/chị hãy chứng minh hoạt động kinh doanh bảo hiểm là hoạt động kinh doanh có điều kiện => Chứng minh:
oKhả năng tài chính: Chủ thể thực hiện hoạt động kinh doanh này là DNBH DNBH phải có khả năng tài chính Một trong những điều kiện để thành lập Cty Bảo hiểm: vốn điều lệ = hoặc cao hơn vốn pháp định
oLoại hình doanh nghiệp được phép thành lập để thực hiện hoạt động kinh doanh bảo hiểm: Cty Cổ phần, Cty TNHH & Hợp tác xã Tức là phải đảm bảo về loại hình doanh nghiệp Không phải bất kỳ loại hình nào cũng được kinh doanh bảo hiểm DNTN & Cty hợp danh không được kinh doanh bảo hiểm
oĐiều kiện về người quản trị & điều hành: phải có trình độ chuyên môn nghiệp vụ, thể hiện thông qua bằng cấp mà người đó có được, đã tham gia vào hoạt động bảo hiểm ít nhất 3 năm kinh nghiệm
Đọc Điều luật trong Luật KDBH về thành lập DNBH)
- Phạm vi điều chỉnh của pháp luật kinh doanh bảo hiểm là các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình các chủ thể tham gia vào hoạt động kinh doanh bảo hiểm:
2 Phạm vi điều chỉnh của Pháp luật kinh doanh bảo hiểm
- Nhóm các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình xác định địa vị pháp lý của các chủ thể tham gia vào hoạt động kinh doanh bảo hiểm
- Nhóm các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình mua BH và chi trả BH
- Nhóm các quan hệ XH phát sinh trong quá trình quản lý nhà nước đối với hoạt động KDBH
Trang 4CHƯƠNG II.
ĐỊA VỊ PHÁP LÝ CỦA CÁC CHỦ THỂ THAM GIA VÀO HOẠT ĐỘNG KINH DOANH BẢO HIỂM
Tham gia vào hoạt động kinh doanh bảo hiểm ngoài cty bảo hiểm & người mua bảo hiểm, còn có: môi giới bảo hiểm (môi giới cho người mua bảo hiểm), & đại lý bảo hiểm (môi giới cho cty bảo hiểm để được hưởng hoa hồng).
Khi nghiên cứu Địa vị pháp lý của một chủ thể, cần nghiên cứu 3 nội dung
- Điều kiện cấp giấy phép hoạt động
- Nội dung hoạt động
- Giải thể, phá sản
I DOANH NGHIỆP BẢO HIỂM
1 Khái niệm
Doanh nghiệp bảo hiểm là DN được thành lập theo quy định của PL và luật KDBH để thực hiện hoạt động kinh doanh bảo hiểm trên cơ sở thu phí bảo hiểm của người mua bảo hiểm và cam kết bồi thường hoặc trả tiền bảo hiểm theo thỏa thuận trong HĐBH
Đặc trưng:
- Là doanh nghiệp được thành lập theo quy định của PL và luật KDBH; (Công ty cổ phần bảo hiểm; Công ty trách nhiệm hữu hạn bảo hiểm; Hợp tác xã bảo hiểm; Tổ chức bảo hiểm tương hỗ)
oDoanh nghiệp bảo hiểm được thành lập theo quy định của PL nói chung, chính là pháp luật Doanh nghiệp, pháp luật Hợp tác xã
oDoanh nghiệp bảo hiểm được thành lập theo quy định của luật KDBH: ngoài những điều kiện mà luật chung quy định, DNBH còn phải t/m các điều kiện của luật KDBH Những gì luật riêng không quy định, áp dụng luật chung Những gì cả luật chung & luật riêng quy định, thì áp dụng luật riêng Theo quy định của luật KDBH, DNBH chỉ được tồn tại dưới 3 hình thức: Công ty cổ phần, Công ty TNHH, Hợp tác xã Trong đó Hợp tác xã thì có
2 loại: Hợp tác xã bảo hiểm & Tổ chức bảo hiểm tương hỗ Hợp tác xã bảo hiểm có quyền bán bảo hiểm cho ngoài thành viên của mình, còn Tổ chức bảo hiểm tương hỗ chủ yếu hỗ trợ về tài chính cho các thành viên của nó (Ở Việt Nam, chưa có Tổ chức bảo hiểm tương hỗ nào được thành lập)
(Trắc nghiệm: Tổ chức cá nhân được thành lập cty hợp danh để KDBH? Cá nhân được thành lập Cty tư nhân
để KDBH? => Sai Pháp luật không cho phép…, nhằm mục đích bảo đảm an toàn tài chính )
- Đối tượng kinh doanh: rủi ro: Trong hoạt động KDBH cần có những quy định đặc thù
- Sản phẩm kinh doanh là sản phẩm hình thành trong tương lai (bán các lời hứa): Chưa tồn tại tại thời điểm giao kết hợp đồng như các sản phẩm thông thường Sản phẩm này có thể hình thành, có thể không, phụ thuộc vào rủi ro có phát sinh hay không
- Chịu sự quản lý nhà nước của Bộ Tài chính:
2 Điều kiện cấp giấy phép thành lập và hoạt động (Điều 63, 64)
- Có số vốn điều lệ đã góp không thấp hơn mức vốn pháp định theo quy định của Chính phủ;
- (Vốn pháp định của Cty BHNT (600 tỷ VND) cao hơn Cty BHPNT (300 tỷ VND)) Trong quá trình hoạt động, nếu vốn điều lệ giảm xuống thấp hơn mức vốn pháp định, phải tăng vốn điều lệ
- Có loại hình doanh nghiệp & điều lệ phù hợp với quy định của Luật KDBH và các quy định khác của pháp luật;
- Người quản trị, người điều hành có năng lực quản lý, chuyên môn, nghiệp vụ về bảo hiểm
- Có hồ sơ xin cấp giấy phép thành lập và hoạt động theo quy định tại Điều 64, Luật KDBH
3 Nội dung hoạt động (Điều 60)
- Kinh doanh bảo hiểm, kinh doanh tái bảo hiểm;
- Đề phòng, hạn chế rủi ro, tổn thất;
- Giám định tổn thất;
- Đại lý giám định tổn thất, xét giải quyết bồi thường, yêu cầu người thứ ba bồi hoàn;
- Quản lý quỹ và đầu tư vốn;
- Các hoạt động khác theo quy định của pháp luật
Trang 5(Nếu xin giấy phép 1 lần thì sẽ đỡ tốn chi phí hơn Nên xin giấy phép bảo hiểm 1 lần luôn cho các nội dung hoạt động luôn => Đọc Nghị định 73: Mức vốn pháp định quy định bao nhiêu.)
4 Khôi phục khả năng thanh toán, giải thể, phá sản DNBH (Điều 77 – Điều 83)
*) Khôi phục khả năng thanh toán: Khi một DNBH rơi vào tình trạng mất khả năng chi trả, thì:
- DNBH phải báo cáo với Bộ Tài chính (nếu không sẽ bị xử phạt hành chính theo quy định);
- Lập phương án khôi phục khả năng thanh toán;
- Thực hiện yêu cầu của Bộ Tài chính về việc khôi phục khả năng thanh toán
*) Giải thể, phá sản
- Chuyển giao hợp đồng bảo hiểm: Một DNBH nếu muốn giải thể hoặc lâm vào tình trạng phá sản, thì phải chuyển giao hợp đồng bảo hiểm trước Việc chuyển giao hợp đồng bảo hiểm này là bắt buộc đ/v DNBH trước khi giải thể hoặc phá sản (nếu không tìm được DNBH để chuyển giao, Bộ Tài chính sẽ chỉ định) (So sánh chuyển giao HĐBH với chuyển nhượng HĐBH)
Chuyển giao hợp đồng bảo hiểm Chuyển nhượng hợp đồng bảo hiểm
Chủ thể Giữa các DNBH với nhau Giữa người mua bảo hiểm với nhau
Mục đích Nhằm bảo vệ quyền lợi cho người mua bảo
hiểm
Đáp ứng nhu cầu của người mua bảo hiểm
Nội dung Không làm thay đổi quyền & nghĩa vụ của
bên mua bảo hiểm DNBH được chuyển giao sẽ kế thừa quyền
& nghĩa vụ của DNBH chuyển giao
Thay đổi người mua bảo hiểm =>có thể thay đổi quyền & nghĩa vụ của các bên
Thủ tục Không cần có sự đồng ý của Người mua
bảo hiểm
Phải được sự đồng ý của DNBH
Thời gian Chủ yếu diễn ra khi DNBH rơi vào tình
trạng giải thể hoặc phá sản
Trong thời hạn Hợp đồng bảo hiểm
II ĐẠI LÝ BẢO HIỂM
1 Khái niệm
Là tổ chức, cá nhân tham gia vào hoạt động kinh doanh bảo hiểm với tư cách đại diện cho DNBH trong phạm vi ủy quyền được thỏa thuận tại hợp đồng đại lý
Đặc điểm
- Là tổ chức hoặc cá nhân: Tổ chức có thể là tổ chức kinh doanh hoặc tổ chức phi kinh doanh Pháp luật không hạn chế loại hình của đại lý bảo hiểm
- Tham gia vào hoạt động KDBH với tư cách đại diện cho DNBH:
oHành vi của đại lý trước người mua bảo hiểm trong phạm vi ủy quyền của hợp đồng đại lý sẽ chính là hành
vi của DNBH
oNếu hợp đồng bảo hiểm bán thông qua đại lý, người chịu trách nhiệm trước người mua bảo hiểm chính là DNBH, chứ không phải là đại lý bảo hiểm, với điều kiện trong phạm vi bảo hiểm Trường hợp vượt phạm vi ủy quyền, đây chính là giao dịch dân sự giữa đôi bên, không thuộc trách nhiệm của DNBH V/d: một đại lý bảo hiểm làm giả GCNBH TNDS của chủ xe cơ giới bán cho người mua bảo hiểm => đây là quan hệ dân sự giữa đại lý bảo hiểm & người mua bảo hiểm
(Câu hỏi: Luật KDBH có điều chỉnh mối quan hệ giữa Đại lý bảo hiểm với Người mua bảo hiểm không => Trả lời: Không Luật KDBH chỉ điều chỉnh quan hệ giữa DNBH với đại lý bảo hiểm, giữa DNBH với người mua bảo hiểm mà thôi.)
V/d: A mua bảo hiểm thông qua đại lý B B là đại lý của DNBH C Sau đó có hợp đồng bảo hiểm kí kết giữa DNBH C với A Sau đó A đóng phí bảo hiểm cho B Ngày đóng phí bảo hiểm là ngày 3/2/2017 Đến 5/2/2017, sự kiện bảo hiểm xảy ra Khi sự kiện bảo hiểm xảy ra, A y/c DNBH C bồi thường theo HĐBH giữa A & C Khi nhận được yêu cầu bồi thường, DNBH kiểm tra thì chưa có khoản tiền phí bảo hiểm mà A đóng =>DNBH C từ chối bồi thường cho A Việc từ chối trả tiền bảo hiểm của C đ/v A là đúng hay sai? => Nếu A chứng minh được rằng A đã đóng phí bảo hiểm cho B trước ngày sự kiện bảo hiểm xảy ra => hành vi A đóng phí bảo hiểm cho B đồng nghĩa với
A đã đóng bảo hiểm cho C =>…
Trang 6 Kinh nghiệm: Khi mua bảo hiểm thông qua đại lý, cần yêu cầu đại lý xuất trình hợp đồng đại lý bản gốc giữa đại lý ký với DNBH & giữ lại biên lai, biên nhận thu phí bảo hiểm
Khi giao kết HĐBH, cần ghi rõ ngày, giờ của thời hạn bảo hiểm
- Có chứng chỉ đào tạo đại lý bảo hiểm do cơ sở đào tạo được Bộ Tài chính chấp thuận cấp: Hoạt động đại lý bảo hiểm khác so với hoạt động đại lý thông thường Đại lý bảo hiểm không chịu trách nhiệm, không kiểm soát được chất lượng sản phẩm bảo hiểm Đại lý bảo hiểm phải có kiến thức về bảo hiểm thì mới bán được bảo hiểm (sản phẩm vô hình) Việc yêu cầu đại lý bảo hiểm phải có chứng chỉ do cơ sở đào tạo được Bộ Tài chính chấp thuận chủ yếu là để bảo vệ quyền lợi cho DNBH
- Tham gia vào hoạt động KDBH vì quyền lợi của DNBH:
- Chỉ được làm đại lý cho một DNBH (trừ trường hợp được DNBH đồng ý): đây là quy định nhằm tránh xung đột lợi ích
2 Nội dung hoạt động (Điều 85)
III DOANH NGHIỆP MÔI GIỚI BẢO HIỂM
Để hoạt động kinh doanh bảo hiểm có hiệu quả & để bảo vệ quyền lợi cho người mua bảo hiểm, pháp luật cho phép 1 chủ thể nữa tham gia vào hoạt động bảo hiểm, chính là Doanh nghiệp môi giới bảo hiểm
1 Khái niệm
Là DN được thành lập theo quy định của PL và luật KDBH để thực hiện hoạt động môi giới bảo hiểm
Đặc điểm
- Là doanh nghiệp: Phải tồn tại dưới hình thức doanh nghiệp (tất cả các loại hình doanh nghiệp, kể cả DNTN
& Cty hợp danh)
- Đủ điều kiện thành lập theo quy định của PL, luật KDBH; (vốn pháp định của DN môi giới bảo hiểm là 4 tỷ đồng)
- Tham gia vào hoạt động KDBH vì quyền lợi của người mua BH: khi mua bảo hiểm qua môi giới, người mua bảo hiểm ký 2 hợp đồng: Hợp đồng môi giới bảo hiểm & Hợp đồng bảo hiểm Nếu người mua bảo hiểm bị thiệt hại do nội dung tư vấn của môi giới bảo hiểm, thì môi giới bảo hiểm phải bồi thường Tuy nhiên, trên thực tế,
DN môi giới ko ký hợp đồng môi giới, mà chỉ làm thư giới thiệu
- Nhận hoa hồng môi giới từ DNBH: Phí môi giới bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm trả, nhưng người mua bảo hiểm chịu, phí môi giới được tính trong phí bảo hiểm
- Phải mua BH trách nhiệm nghề nghiệp: bảo vệ quyền lợi cho người mua bảo hiểm
(Anh chị hãy cho biết tại sao DN môi giới lại phải mua bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp? => Môi giới bảo hiểm là chuyên gia, dùng trình độ chuyên môn nghiệp vụ của mình tư vấn cho người mua bảo hiểm, nên phải có trách nhiệm với người mua bảo hiểm Tuy nhiên vốn pháp định của DN môi giới thấp,
để đảm bảo khả năng bồi thường cho người mua bảo hiểm => cần có Bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp của DN môi giới bảo hiểm)
- Được môi giới cho nhiều DNBH
- Chịu sự quản lý NN của Bộ Tài chính
2 Nội dung hoạt động (Điều 90)
3 Giải thể phá sản DN môi giới bảo hiểm (nghị định 73).
CHƯƠNG III PHÁP LUẬT VỀ HỢP ĐỒNG BẢO HIỂM
I KHÁI QUÁT CHUNG VỀ HỢP ĐỒNG BẢO HIỂM
1 Khái niệm
HĐBH là sự thỏa thuận bằng văn bản giữa DNBH với người mua BH nhằm xác lập các quyền và nghĩa vụ nhất định của các bên trong quá trình mua bảo hiểm và chi trả BH.
Trang 7Đặc trưng:
- Hình thức bằng văn bản (hợp đồng mẫu do chính DNBH soạn thảo): Điều 13, Luật KDBH: Hợp đồng bảo hiểm phải có các điều khoản sau đây… Đối với hợp đồng bảo hiểm nhân thọ, DNBH phải đăng ký với Bộ Tài chính mẫu hợp đồng trước khi sử dụng Có sự bất cân xứng về trình độ chuyên môn nghiệp vụ giữa người mua bảo hiểm
& DNBH, & để thuận lợi cho việc giao kết hợp đồng => Hợp đồng bảo hiểm dưới hình thức hợp đồng mẫu Điều
21, Luật KDBH: nếu có điều khoản không rõ ràng => giải thích theo hướng có lợi cho bên mua bảo hiểm
- Bằng chứng của việc giao kết HĐBH là GCNBH hoặc đơn BH do DNBH cấp: Điều 17, Luật KDBH: nghĩa
vụ của DNBH là cấp GCNBH hoặc đơn BH cho người mua bảo hiểm Để tìm hiểu quyền lợi bảo hiểm => Căn cứ vào quy tắc, điều khoản bảo hiểm
(Câu hỏi đề thi: Phân biệt sự khác nhau giữa BH bắt buộc & BH tự nguyện
Các chủ thể tham gia buộc phải mua bảo hiểm v.d: BH
TNDS bắt buộc của chủ xe cơ giới, BH TNDS bắt buộc
của người hành nghề luật sư…
Các chủ thể không bắt buộc phải mua bảo hiểm, tùy thuộc vào ý chí của họ
Mức phí bảo hiểm & số tiền bảo hiểm tối thiểu do cơ
quan nhà nước quy định (Bộ Tài chính)
Mức phí & số tiền bảo hiểm do các bên thỏa thuận, pháp luật không can thiệp
Quy tắc & điều khoản bảo hiểm do cơ quan nhà nước
(Bộ Tài chính) quy định
Do chính DNBH quy định
Quy tắc & điều khoản bảo hiểm chính là văn bản pháp
luật, có giá trị bắt buộc áp dụng
Quy tắc & điều khoản bảo hiểm chỉ đơn thuần là văn bản nội bộ của DNBH Không có giá trị bắt buộc áp dụng đ/v bên ngoài
- Đối tượng của HĐBH: Quyền lợi có thể được BH: khoản 9, Điều 3, Luật KDBH Về bản chất, Quyền lợi được bảo hiểm chính là lợi ích tài chính mà người mua bảo hiểm có được đ/v đối tượng bảo hiểm
- Nghĩa vụ cung cấp thông tin là nghĩa vụ bắt buộc của các bên trong HĐBH:
(Ngân hàng đề thi: Tại sao pháp luật quy định nghĩa vụ cung cấp thông tin là nghĩa vụ bắt buộc của các bên trong HĐBH? Cơ sở pháp lý: Điều 17, Điều 18, Luật KDBH (Có bài báo cô giáo cung cấp chi tiết về vấn đề này) Việc cung cấp thông tin không chỉ là trước khi giao kết hợp đồng bảo hiểm mà là trong khi thực hiện HĐBH Trong bảo hiểm, sản phẩm bảo hiểm là sản phẩm vô hình, sự chênh lệch về trình độ chuyên môn bảo hiểm giữa người mua bảo hiểm & người bán bảo hiểm => doanh nghiệp BH có nghĩa vụ cung cấp thông tin liên quan đến sản phẩm bảo hiểm, dù cho bên mua bảo hiểm có hỏi hay không
Còn những thông tin về rủi ro, người mua bảo hiểm phải cung cấp cho DNBH,
Những thông tin này quyết định đến việc giao kết hợp đồng bảo hiểm
Tình huống: 1 công ty mua bảo hiểm tài sản cho kho hàng của mình Tại thời điểm giao kết hợp đồng bảo hiểm, bên cạnh kho hàng, chưa có cây xăng Sau khi giao kết HĐBH được 8 tháng, bên cạnh công ty này xây 1 cây xăng kế bên kho hàng, tuy nhiên, công ty này không thông báo cho DNBH biết về sự kiện này 2 tháng sau, do bất cẩn của nhân viên cây xăng, nên cây xăng bốc cháy, dẫn đến kho hàng bốc cháy luôn Hỏi DNBH có phải bồi thường cho công ty này không?
Theo quy định tại điểm c, khoản 2, Điều 18, Luật KDBH: nghĩa vụ của bên mua bảo hiểm là thông báo trường hợp có thể làm tăng rủi ro hoặc làm phát sinh thêm trách nhiệm của doanh nghiệp bảo hiểm trong quá trình thực hiện hợp đồng bảo hiểm theo yêu cầu của doanh nghiệp bảo hiểm (Thông thường, trong hợp đồng bảo hiểm DNBH chắc chắn sẽ có điều khoản quy định về nghĩa vụ thông báo này của bên mua bảo hiểm)
Nếu bên mua bảo hiểm vi phạm nghĩa vụ cung cấp thông tin, căn cứ khoản 2, Điều 19, Luật KDBH, điểm c, khoản 1, Điều 17, Luật KDBH, DNBH có quyền đơn phương đình chỉ thực hiện hợp đồng bảo hiểm Nếu DNBH muốn chấm dứt, thì phải thông báo cho bên kia Nếu không muốn chấm dứt, thì không cần thông báo Chứ không phải là chấm dứt hợp đồng đương nhiên
Trong tình huống nêu trên, trong hợp đồng bảo hiểm chắc chắn sẽ có điều khoản quy định nghĩa vụ thông báo khi gia tăng rủi ro của bên mua bảo hiểm
oNếu trong HĐBH có thỏa thuận rằng, nếu bên mua BH không thông báo trường hợp làm gia tăng rủi ro, thì DNBH được quyền A, B, C… thì sẽ giải quyết theo điều khoản hợp đồng BH
Trang 8oCòn nếu như HĐBH không có điều khoản quy định về hậu quả của việc bên mua BH không thông báo trường hợp làm gia tăng rủi ro, khi đó, DNBH phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ theo hợp đồng bảo hiểm (vì hợp đồng bảo hiểm không đương nhiên bị chấm dứt)
=> Nếu đóng vai trò là tư vấn cho DNBH, trong HĐBH cần thiết kế điều khoản nếu vi phạm nghĩa
vụ cung cấp thông tin thì hậu quả đối với bên mua bảo hiểm như thế nào
Nếu đóng vai trò là tư vấn cho người mua bảo hiểm, nếu trong điều khoản HĐBH không có điều khoản về vi phạm nghĩa vụ cung cấp thông tin, thì có thể giữ nguyên HĐBH như vậy, vì sẽ có lợi cho người mua bảo hiểm
(Những trường hợp đương nhiên chấm dứt hợp đồng: Điều 23 V/d: mua bảo hiểm cho xe ô tô, thời hạn 1 năm, sau đó 8 tháng, thì bán xe ô tô cho người khác, tuy nhiên vẫn giữ Hợp đồng bảo hiểm lại Hợp đồng bảo hiểm đã chấm dứt kể từ thời điểm bán xe ô tô (chuyển quyền sở hữu) theo khoản 1, Điều 23, Luật KDBH Nên nếu sự kiện bảo hiểm có xảy ra sau khi chuyển quyền sở hữu, thì DNBH cũng ko bồi thường bảo hiểm
Trường hợp hợp đồng bảo hiểm rơi vào các trường hợp chấm dứt hợp đồng theo Điều 23, Luật KDBH, Nếu tranh chấp ra tòa, tòa yêu cầu phải chấm dứt HĐBH Còn nếu các bên không ra tòa, tự thỏa thuận được, thì hợp đồng vẫn diễn ra bình thường Trên thực tiễn, có những hợp đồng sai rồi, nhưng nếu kiện ra tòa bị chấm dứt thì đều bị bất lợi cho đôi bên, nên 2 bên vẫn tiếp tục thực hiện Trong giao dịch dân sự, trừ phi vi phạm luật hành chính hoặc hình sự, nếu các bên ko yêu cầu Tòa giải quyết, Tòa sẽ không giải quyết.)
- Quy tắc bảo hiểm do DNBH ban hành hoặc do cơ quan nhà nước ban hành là bộ phận không tách rời của HĐBH (chi tiết hóa quyền & nghĩa vụ của các bên trong HĐBH, sản phẩm BH):
Một tranh chấp bảo hiểm khi kiện ra Tòa, Thẩm phán sẽ dựa vào tài liệu theo thứ tự ưu tiên:
oHợp đồng bảo hiểm: => Hợp đồng càng chi tiết bao nhiêu, thì càng tránh được tranh chấp bấy nhiêu
oQuy tắc, điều khoản bảo hiểm: chi tiết hóa quyền & nghĩa vụ của các bên trong HĐBH V/d: trong HĐBH quy định trường hợp A là thuộc loại trừ bảo hiểm Nhưng trong quy tắc, quy định trường hợp A không thuộc loại trừ bảo hiểm => áp dụng hợp đồng
Tuy nhiên, Nếu luật quy định đây là trường hợp loại trừ, nhưng quy tắc & hợp đồng không quy định đây không phải là loại trừ => áp dụng luật (Những gì pháp luật cấm, không được phép làm)
oVăn bản pháp luật: áp dụng văn bản chuyên ngành trước, sau đó đến văn bản chung
- Trách nhiệm BH của DNBH chỉ phát sinh khi HĐBH được giao kết và bên mua BH đã đóng phí BH, trừ trường hợp DNBH cho nợ phí: tranh chấp liên quan đến nghĩa vụ đóng phí bảo hiểm trong kinh doanh bảo hiểm diễn ra thường xuyên V/d: HĐBH được giao kết ngày 10/3/2017, trong hợp đồng có điều khoản hợp đồng có hiệu lực kể từ thời điểm giao kết Hợp đồng quy định, trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày giao kết hợp đồng bảo hiểm, bên mua bảo hiểm có nghĩa vụ đóng phí => Điều khoản này thể hiện là DNBH cho bên mua bảo hiểm nợ phí
oNgày 22/3/2017, sự kiện bảo hiểm xảy ra Ngày 23/3/2017, bên mua bảo hiểm mới đóng phí & DNBH chấp nhận thu phí => Vậy DNBH có phải trả tiền bảo hiểm hay không?
Hướng giải quyết 1: ngày 23/3/2017, DNBH thu phí là chấp nhận bảo hiểm là chấp nhận bảo hiểm từ ngày 23/3/2017, còn trước ngày 23/3/2017, là chưa phát sinh nghãi vụ bảo hiểm
Hướng giải quyết 2: chấp nhận thu phí có nghĩa là sự chấp nhận nợ phí => DNBH buộc trả tiền bảo hiểm (Nếu HĐBH có quy định điều khoản: sau khi hết thời hạn đóng phí, nếu bên mua bảo hiểm đóng phí ở thời điểm nào, thì hợp đồng bảo hiểm phát sinh hiệu lực pháp lý ở thời điểm đấy => thì quy định như vậy là rõ ràng)
So sánh thời điểm phát sinh hiệu lực pháp lý của HĐBH & Thời điểm phát sinh trách nhiệm của DNBH:
Thời điểm phát sinh hiệu lực pháp lý của HĐBH: Thời điểm pháp luật ghi nhận quyền & nghĩa vụ của các bên (theo quy định của Bộ luật dân sự)
Thời điểm phát sinh trách nhiệm của DNBH: căn cứ Luật KDBH: hợp đồng bảo hiểm đã được giao kết + bên mua bảo hiểm đã đóng phí
V.d: Ngày giao kết hợp đồng: 10/3/2017, thời hạn nợ phí BH là 10 ngày Thời điểm phát sinh hiệu lực pháp lý của HĐBH là 10/3/2017 Sau 10 ngày, bên mua bảo hiểm không đóng phí bảo hiểm, HĐBH chấm dứt Về nguyên tắc, DNBH vẫn được quyền đòi phí bảo hiểm cho thời hạn 10 ngày bảo hiểm, vì nếu
sự kiện bảo hiểm xảy ra trong vòng 10 ngày, thì DNBH vẫn có nghĩa vụ trả tiền bảo hiểm
Trang 9V/d: Ngày giao kết hợp đồng: 10/3/2017 Nếu như không có điều khoản về cho nợ phí, mà bên mua bảo hiểm chưa đóng phí bảo hiểm Ngày 15/3/2017, sự kiện bảo hiểm xảy ra => Trách nhiệm của DNBH chưa phát sinh, DNBH không phải trả tiền bảo hiểm
Trong bảo hiểm, luật KDBH là luật riêng, Luật dân sự là luật chung => áp dụng luật riêng Khi giải quyết tranh chấp, chỉ cần quan tâm đến thời điểm phát sinh trách nhiệm bảo hiểm của DNHB Nếu c/m được rằng đã phát sinh trách nhiệm bảo hiểm của DNBH, thì DNBH phải trả tiền bảo hiểm nếu có sự kiện bảo hiểm xảy ra.)
Bộ Hợp đồng bảo hiểm
Bao gồm
- Đơn yêu cầu BH
- Hợp đồng BH
- Giấy chứng nhận BH; Đơn BH
- Quy tắc BH
Tài liệu 1 & 2 có thể không có
Câu hỏi Đề thi: Anh chị hãy cho biết Giá trị pháp lý của Quy tắc điều khoản BH do Doanh nghiệp bảo hiểm ban hành
- ………
- Chi tiết hóa quyền & nghĩa vụ các bên
- Không có Quy tắc điều khoản bảo hiểm thì DNBH không được bán sản phẩm
2 Nội dung của HĐBH (Điều 13)
3 Giao kết, thực hiện, chấm dứt HĐBH
HỢP ĐỒNG BẢO HIỂM VÔ HIỆU (Điều 22)
II PHÁP LUẬT VỀ CÁC LOẠI HỢP ĐỒNG BẢO HIỂ
1 Hợp đồng bảo hiểm TNDS
a Giới thiệu chung về loại hình BHTNDS
Bảo hiểm TNDS là loại hình bảo hiểm theo đó DNBH tiến hành thu phí bảo hiểm của người mua bảo hiểm và cam kết gánh chịu phần trách nhiệm dân sự của người được bảo hiểm đối với người thứ ba trong phạm vi và mức độ đã được các bên thỏa thuận trong HĐBH
Ngày 28/9/2017
Đặc điểm (Bảo hiểm TNDS)
- Đối tượng bảo hiểm: Là trách nhiệm dân sự của người được bảo hiểm đ/v người thứ ba
- Đối tượng trong BHTNDS mang tính trừu tượng, chưa tồn tại tại thời điểm giao kết HĐBH (Như vậy, điểm
b, khoản 1, Điều 22, Luật KDBH về hợp đồng bảo hiểm vô hiệu là không phù hợp với hợp đồng bảo hiểm TNDS)
- Người mua bảo hiểm không cần chứng minh quyền lợi được bảo hiểm khi giao kết HĐBH Điểm a, khoản
1, Điều 22, Luật KDBH quy định hợp đồng bảo hiểm vô hiệu khi bên mua bảo hiểm không có quyền lợi có thể được bảo hiểm Quy định này cũng ko phù hợp với bảo hiểm TNDS V/d: ông A tặng cho ông B hợp đồng bảo hiểm TNDS của chủ xe cơ giới Hợp đồng này vẫn có hiệu lực pháp lý
(Câu hỏi đề thi: Tại sao trong bảo hiểm TNDS, người mua bảo hiểm không cần chứng minh quyền lợi được bảo hiểm
- Thế nào là TNDS
- Đặc trưng của TNDS là gì
- Hệ quả của TNDS: (Hệ quả của TNDS là nghĩa vụ bồi thường thiệt hại <> Hệ quả của trách nhiệm hình sự
là hình phạt)
- Người mua bảo hiểm được quyền chuyển cho DNBH gánh chịu thay
- Mối liên quan giữa người mua bảo hiểm & đối tượng bảo hiểm ko phải là vấn đề đặt ra
- DNBH, Người mua bảo hiểm, người được bảo hiểm có thể là 3 chủ thể khác nhau )
- Là loại hình bảo hiểm có giới hạn hoặc không có giới hạn: V/d: một luật sư mua bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp, số tiền bảo hiểm không giới hạn => nếu người luật sư đó gây cho thiệt hại bao nhiêu thì DNBH sẽ bồi
Trang 10thường cho luật sư đó bấy nhiêu dựa trên cơ sở yêu cầu đòi bồi thường thiệt hại của người bị thiệt hại đ/v vị luật sư
đó DNBH trả tiền bảo hiểm cho vị luật sư để vị luật sư đó trả tiền cho khách hàng; hoặc theo yêu cầu của vị luật sư
đó, DNBH trả tiền bồi thường trực tiếp cho khách hàng Số tiền mà DNBH trả không bao giờ được vượt quá mức thiệt hại mà vị luật sư đó gây ra cho khách hàng Về phía DNBH, không muốn bán loại hình bảo hiểm không có giới hạn, vì như vậy người được bảo hiểm sẽ cẩu thả => rủi ro đ/v DNBH Còn về phía người mua bảo hiểm, nếu mua loại hình bảo hiểm không có giới hạn, phí bảo hiểm sẽ cao, nhưng chưa chắc sự kiện bảo hiểm đã có.=> Mặc dù pháp luật không cấm loại hình bảo hiểm TNDS không có giới hạn, nhưng hầu như trên thực tế, DNBH không thiết
kế loại hình bảo hiểm này
- Trách nhiệm trả tiền BH của DNBH phát sinh khi: Có phát sinh TNDS của người được BH và người bi thiệt hại yêu cầu người được BH phải bồi thường:
Cần làm rõ một số khái niệm dưới đây
Đối tượng hoạt động
KDBH
Đối tượng của Hợp đồng bảo hiểm Đối tượng bảo hiểm
Rủi ro Quyền lợi có thể được bảo hiểm: chính là
lợi ích tài chính mà người mua bảo hiểm, người được bảo hiểm có được từ đối tượng bảo hiểm (Quyền lợi có thể được bảo hiểm trong Bảo hiểm TNDS chính là nghĩa vụ bồi thường thiệt hại)
Yếu tố mà người mua bảo hiểm hướng đến để bảo vệ Có thể là TNDS, tài sản, hoặc con người
Thời điểm phát sinh trách nhiệm bảo hiểm
của DNBH
Thời điểm phát sinh trách nhiệm trả tiền bảo hiểm của DNBH
Đầy đủ 2 điều kiện
(1) HĐBH đã được giao kết
(2) Bên mua bảo hiểm đã đóng phí trừ
trường hợp DNBH cho nợ phí
Theo quy định của Điều 29, Luật KDBH, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác, trong vòng 15 ngày kể từ ngày DNBH nhận được đầy đủ hồ sơ hợp lệ (=> Kinh nghiệm thực tế: Nếu trong HĐBH, DNBH thỏa thuận thời hạn dài hơn 15 ngày thì nên cân nhắc, vì sẽ bất lợi cho người mua bảo hiểm)
Thế nào là nhận được đầy đủ hồ sơ hợp lệ? => Nếu khi có y/c bồi thường, người mua bảo hiểm nộp hồ sơ y/c đòi bồi thường mà DNBH yêu cầu bổ sung hồ sơ, thì người mua bảo hiểm nên yêu cầu DNBH gửi công văn thông báo hồ
sơ đầy đủ là bao gồm những giấy tờ gì, để sau khi người mua bảo hiểm nộp đầy đủ những giấy tờ đó là bắt đầu tính mốc thời gian hồ sơ hợp lệ
- Số tiền BH mà DNBH trả cho người được BH dựa trên cơ sở yêu cầu đòi bồi thường thiệt hại của người bị thiệt hại: Khi người được BH gây ra thiệt hại đ/v người bị thiệt hại, khi người bị thiệt hại y/c người được BH bồi thường => người được BH bồi thường cho người bị thiệt hại => sau đó y/c DNBH bồi thường cho mình Tuy nhiên, trên thực tế nếu làm theo quy trình này thì rất phức tạp Do vậy, trên thực tế, căn cứ hồ sơ yêu cầu bồi thường của người bị thiệt hại, người được BH gửi hồ sơ này đến DNBH, DNBH có thể trả trực tiếp cho người bị thiệt hại theo y/c của người mua bảo hiểm hoặc DNBH trả tiền cho người mua bảo hiểm, để người mua bảo hiểm trả tiền cho người bị thiệt hại
- Trong BHTNDS, có thể áp dụng chế định thế quyền: Chế định này không bắt buộc đ/v người được bảo hiểm
b Các loại hình bảo hiểm TNDS
* ) Bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới đối với người thứ ba