1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Bài giảng luat hon nhan gia dinh

26 552 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 26
Dung lượng 249,66 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

bài giảng bộ môn luật hôn nhân và gia đình của Thạc sĩ Trần Thị Hương giảng viên trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh ..............................................................................................

Trang 1

Tập bài giảng của Luật Hôn nhân và gia đìnhKHÁI NIỆM VÀ NHỮNG NGUYÊN TẮC CƠ BẢN CỦA

LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH

Điều quan trọng khi đọc luật là hiểu được ý định của nhà lập pháp Thách thức này đối với cả những công chức đang áp dụng luật trong thực tế

Luật là ý chí của nhà lập pháp, quyết định bởi giai cấp thống trị, tuy nhiên luật chưa bao giờ là ý chí ngẫu nhiên, tùy hứng, luật pháp muốn tồn tại phải có lí do của nó

Việc tìm hiểu luật quy định như thế nào là một phần, nhưng quan trọng hơn là phải trả lời được câu hỏi vì sao lại

có điều khoản luật đó  Tạo ra sự khác biệt giữa người đọc luật đơn thuần và người đi học luật

Văn bản pháp luật

1) Luật hôn nhân gia đình 2014

2) Nghị định 126/CP hướng dẫn thi hành Luật hôn nhân gia đình 2014

3) Nghị định 10/CP (2015) hướng dẫn thi hành sinh con bằng kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm và những điều kiện mang thai hộ vì mục đích nhân đạo

4) Thông tư 02 (a) của Bộ tư pháp về hướng dẫn thi hành một số điều của nghị định 126/CP về quan hệ hôn nhân gia đình

có yếu tố nước ngoài

5) Nghị quyết 35/QH về hướng dẫn thi hành một số điều của Luật 2000

6) Thông tư liên tịch số 01- Bộ tư pháp & Viện kiểm sát tối cao & Tòa án tối cao hướng dẫn thi hành một số điều của nghị quyết 35

7) Nghị định 158/CP về đăng kí và quản lý hộ tịch

8) Luật nuôi con nuôi 2010

9) Nghị định 19/CP hướng dẫn thi hành Luật nuôi con nuôi

KHÁI NIỆM VÀ NHỮNG NGUYÊN TẮC CƠ BẢN CỦA

LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH

I Quan điểm của chủ nghĩa Mác về các hình thái hôn nhân và gia đình trong lịch sử

Những tư tưởng này ảnh hưởng trực tiếp đến nhãn quan của nhà lập pháp Luật hôn nhân gia đình mà chúng ta đang thi hành  cần tìm hiểu về tư tưởng Mác

Tác phẩm: Nguồn gốc gia đình, chế độ tư hữu, nhà nước của Anghen

Trong tác phẩm này, 3 mối quan hệ này là mối quan hệ biện chứng Các hình thái gia đình trong lịch sử được xử lí tốt trong quyển này Theo quan điểm chủ nghĩa Mác, trong lịch sử có 4 hình thái gia đình

- Gia đình huyết tộc

- Gia đình Punanluan

- Gia đình đối ngẫu

- Gia đình một vợ một chồng

Hình thái gia đình sau tiến bộ hơn những hình thái trước, hội đủ những điều kiện kinh tế xã hội nhất định thì mới

ra đời được hình thái gia đình tương ứng: mặt xã hội, mặt kinh tế …

1) Sự ra đời của Gia đình huyết tộc

Gia đình có phải ra đời trong xã hội ban sơ của loài người hay không” Vấn đề này còn tranh cãi về triết học Dòng trước Mác,gia đình là thiết chế đầu tiên của xã hội Mác thì không đồng ý với quan điểm này, Mác cho rằng xã hội loài người ban đầu là xã hội bầy đàn, tổ thức đầu tiên là thị tộc, bộ lạc chứ không phải gia đình Mãi về sau gia đình mới ra đời Trong xã hội nguên thủy , sự lựa chọn hôn nhân mang tính ngẫu nhiên Sự lựa chọn hôn nhân ngẫu nhiên như vậy kéo dài trong lịch sử loài người trong một thời gian rất dài, Sau đó ra đời gia đình đầu tiên là gia đình huyết tộc Gia

Trang 2

Nếu trong xã hội nguyên thủy và thời kì đầu của bộ lạc thị tộc, một người đàn ông có thể là của nhiều người đàn bà và ngược lại Tuy nhiên đến giai đoạn gia đình huyết tộc, chia làm những người thuộc thế hệ cha mẹ, và những người thuộc thế hệ con Trong gia đình huyết tộc, những người thuộc thế hệ cha mẹ chỉ có phạm vi hôn nhân trong phạm vi nhóm thế hệ cha mẹ Nhóm cha mẹ không thể có quan hệ hôn nhân với nhóm con  Kéo theo đặc điểm quan trọng của gia đình huyết tộc là hôn nhân theo nhóm, dẫn đến rất nhiều hệ quả phát sinh: con sinh ra chỉ biết có mẹ, không biết cha của mình là ai (Chế độ thị tộc mẫu hệ hình thành do điều kiện kinh tế xã hội chứ ko phải là do vấn đề này) Vào thời kì này, lao động phụ nữ nuôi sống thị tộc, lao động người đàn ông ít có đóng góp,  chế độ thị tộc mẫu hệ Gia đình huyết tộc tồn tại trong chế độ thị tộc mẫu hệ

2) Sự ra đời của Gia đình Punanluan,

Gia đình Punanluan ra đời với việc lựa chọn hôn nhân diễn ra khác biệt hơn Tiêu chí thế hệ vẫn không thay đổi, tuy nhiên, ngoài ra còn có bổ sung thêm tiêu chí khác

Bà mẹ 1: có 1 nhóm các con trai và 1 nhóm các con gái của mình

Bà mẹ 2: có 1 nhóm các con trai và 1 nhóm các con gái của mình

Trong gia đình huyết tộc, nhóm con trai của bà mẹ 1 có thể lấy nhóm con gái của bà mẹ 1

Trong gia đình Punaluan, không có trường hợp này xảy ra Anh chị em của cùng 1 bà mẹ không thể có quan hệ hôn nhân với nhau được, mà anh em trai con của bà mẹ này phải lấy chị em gái con của bà mẹ khác Từ Punaluan có nghĩa là những người bạn đường, mô phỏng việc nhóm anh trai con của bà mẹ này cùng nhau đi sang nhóm chị em gái con của bà mẹ kia

Hôn nhân vẫn theo nhóm Con sinh ra chỉ biết theo mẹ, sinh sống theo thị tộc của mẹ mình, thừa kế theo thị tộc

mẹ mình Vẫn là chế độ thị tộc mẫu hệ

3) Gia đình đối ngẫu

Trong chế độ thị tộc mẫu hệ, trong gia đình huyết tộc và gia đình Punaluan, lao động của người phụ nữ đóng vai trò quyết định

Sau đó, trong tiến trình phát triển của lịch sử loài người, bắt đầu có những sự lựa chọn thông minh hơn, biết trồng trọt, biết chăn nuôi, phân hóa ra Khi phân hóa lao động ra, nghề trồng trọt, chăn nuôi xuất hiện  Năng suất lao động cao, đáp ứng nhu cầu xuất hiện sản phẩm dư thừa Trong thị tộc của mẹ xuất hiện sản phẩm dư thừa  tư tưởng tư hữu xuất hiện và phát triển Gia đình đối ngẫu xuất hiện

Gia đình đối ngẫu: liên minh của 1 người đàn ông và người đàn bà Người phụ nữ giành người đàn ông của riêng mình Về kết cấu, gia đình một vợ một chồng giống gia đình đối ngẫu Tuy nhiên, sự khác biệt, gia đình đối ngẫu, sự tồn tại của nó không bền vững, nó có thể bị phá vỡ bất kì lúc nào bởi người vợ hoặc người chồng Trong khi đó, gia đình một vợ một chồng được sự bảo vệ của nhà nước Gia đình đối ngẫu tồn tại trong chế độ thị tộc Hệ quả tất yếu là gì? Không có nhà nước và không có pháp luật Gia đình đối ngẫu là tiền đề quan trọng để hình thành nên gia đình 1 vợ

1 chồng

Lí do liên minh của 1 người đàn ông và 1 người đàn bà trong gia đình đối ngẫu lại lỏng lẻo

- Chỉ là một đơn vị hôn phối chứ không phải là một đơn vị kinh tế trong xã hội Đơn vị kinh tế duy nhất trong xã hội là thị tộc, bộ lạc

- Không được bảo vệ bởi pháp luật và nhà nước

4) Gia đình một vợ một chồng

Gia đình một vợ một chồng gần như đồng thời với thời điểm nhà nước xuất hiện

Xã hội loài người bước sang giai đoạn bình minh

Đặc điểm

- Con sinh ra biết cha của mình

- Sự thay đổi địa vị của người đàn ông trong xã hội  thay đổi địa vị trong gia đình  huyết tộc theo cha, thừa kế theo cha

II Khái niệm hôn nhân và các đặc điểm của hôn nhân

II.1 Khái niệm hôn nhân

Khoản 1, Điều 3, Luật hôn nhân gia đình 2014

Trang 3

Hôn nhân là quan hệ giữa vợ và chồng sau khi kết hôn

Hôn nhân (quan hệ); Kết hôn (hành vi)

Trong cách hiểu thông thường của mọi người, thì hôn nhân là một mối liên hệ giữa người nam và người nữ, cùng xây dựng cuộc sống gia đình, tuy nhiên, dưới góc độ luật pháp, tì tiêu chí xác định vợ chồng cần phải đúng luật Vợ chồng dưới quan điểm nhãn quan của lập pháp? Thế nào được xem là vợ chồng (nghiên cứu sau- trả lời 3 ví dụ trên sau)

Dưới góc độ lập pháp, kết hôn là một hành vi pháp lý, đó là một sự kiện pháp lý để làm thiết lập nên quan hệ hôn nhân Còn về hôn nhân, hôn nhân chưa bao giờ là hành vi cả, mà nó là một mối quan hệ, nó có điểm khởi đầu, điểm kết thúc và các quyền và nghĩa vụ của các bên

Lí do nhà lập pháp lựa chọn hôn nhân để làm rường cột trong việc điều chỉnh trong luật hôn nhân gia đình Trong quá trình phát triển nhân cách, tình bạn rất quan trọng trong việc phát triển con người, tại sao nhà lập pháp không điều chỉnh mối quan hệ này Hôn nhân là cơ sở mấu chốt để thiết lập nên gia đình trong đời sống xã hội muốn điều chỉnh đời sống xã hội, bắt nguồn từ việc điều chỉnh chính quan hệ hôn nhân

II.2 Các đặc điểm của hôn nhân

o Hôn nhân là sự liên kết giữa một người nam và một người nữ

Lí do gì mà buộc phải liên kết một người nam, một người nữ Xã hội hiện đại, một người nam muốn sống bên một người nam, một người nữ muốn ở bên cạnh người nữ? Chúng ta có quyền gì mà định đoạt hạnh phúc của người khác Người ta đã tranh đấu rất quyết liệt để giành được quyền kết hôn đồng giới Vậy việc quy định hôn nhân là sự liên kết giữa một người nam và một người nữ có đi ngược với xu hướng chung không?

Hôn nhân điều chỉnh bởi quy luật tự nhiên và quy luật xã hội Mác xác định: sản xuất ra của cải vật chất và sản xuất ra tư liệu sản xuất Tuy nhiên nền sản xuất ra của cải vật chất có phát triển đến đâu chăng nữa mà thiếu đi nền sản xuất tư liệu sản xuất đi nữa thì cũng ko đủ Chức năng tái sản xuất ra con người, về mặt bản chất sinh học, hôn nhân phải là mối quan hệ khác giới Về mặt nguyên tắc thì như vậy, tuy nhiên vẫn có ngoại lệ (Khi học luật, phải tiếp cận vấn đề dưới dạng nguyên tắc chung, và đồng thời phải tiếp cận & hiểu cả ngoại lệ Khi giải quyết ngoại lệ, thì nếu dùng nguyên tắc chung thì sẽ bị sai) Do vậy, về mặt nguyên tắc, thì hôn nhân phải là mối quan hệ khác giới, nhưng ngoại lệ thì vẫn có thể có hôn nhân đồng giới Luật của một số nước đã chấp nhận hôn nhân đồng giới

o Hôn nhân dựa trên nguyên tắc hoàn toàn tự nguyện

Đối với xã hội phương Đông, cưới mà không có sự đồng ý của cha mẹ là không phù hợp với đạo đức hoặc thậm chí pháp luật (trong pháp luật phong kiến )

Hôn nhân tự nguyện thuần túy là sản phẩm của người phương Tây Hôn nhân suy cho cùng ảnh hưởng trực tiếp đến người trong cuộc, do vậy, người trong cuộc phải tự quyết định Hiện nay, đã trở thành giá trị phổ biến của xã hội loài người

o Hôn nhân là sự liên kết bình đẳng

Khái niệm bình đẳng là khái niệm trừu tượng Thế nào là bình đẳng Bình đẳng dưới góc độ luật pháp là bình đẳng dựa vào dấu hiệu giới tính Bình đẳng trong vợ chồng chưa bao giờ là việc khi vợ nấu cơm, thì chồng phải rửa bát Hiểu như thế là tầm thường hóa pháp luật Bình đẳng có nghĩa là Quyền và nghĩa vụ phải được bình đẳng dưới góc độ lập pháp Việc thiết kế quyền và nghĩa vụ làm sao cho bình đẳng là nhiệm vụ của nhà lập pháp

o Hôn nhân là sự liên kết nhằm chung sống suốt đời

Mục đích của hôn nhân mới là điều đáng bàn ở đây Các bên cần có mục đích là trở thành vợ chồng của nhau không có thời hạn Tham gia vào quan hệ hôn nhân với tâm thế là không biết khi nào chấm dứt quan hệ hôn nhân này V/d: bà B chấp nhận kết hôn với ông A Sau đó ông A sẽ bảo lãnh cho bà B đi ra nước ngoài Sau khi bà B nhập được quốc tịch vào nước mà ông A là công dân, thì họ sẽ li hôn với nhau Trường hợp này không phải là hôn nhân, mà

là kết hôn giả tạo Do bởi hôn nhân là phải nhằm mục đích sống chung suốt đời

Còn thực tế, hôn nhân kéo dài hay ngắn là phụ thuộc vào hành vi của vợ chồng đó,

o Hôn nhân đó là sự liên kết theo quy định của pháp luật

Để trở thành vợ chồng được pháp luật công nhận, hôn nhân hợp pháp thì cần phải đáp ứng được những quy định của pháp luật

V/d: Ông A, bà B đăng kí kết hôn với nhau tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền, nhận được giấy chứng nhận Về

tổ chức đám cưới Vậy anh A, chị B có phải là vợ chồng không? Phải

Trang 4

V/d: Anh C, chị D không đăng kí kết hôn, không tổ chức đám cưới, về sống chung với nhau Vậy C & D có phải

vợ chồng không? Không

V/d: M & N, kết hôn khi N mới 15 tuổi, tuy nhiên lúc đăng kí kết hôn cán bộ hộ tịch không phát hiện được Nhận giấy chứng nhận đăng kí kết hôn, làm đám cưới Vậy M&N có phải là vợ chồng không? Không

III Khái niệm gia đình và các chức năng cơ bản của gia đình

Khoản 2, Điều 3, Luật hôn nhân gia đình 2014

Gia đình là tập hợp những người gắn bó với nhau do hôn nhân, quan hệ huyết thống hoặc quan hệ nuôi dưỡng, làm phát sinh các quyền và nghĩa vụ giữa họ với nhau theo quy định của Luật hôn nhân & gia đình

V/d: con dâu, con rể trong mối quan hệ với cha mẹ chồng, cha mẹ vợ có phải là thành viên trong 1 gia đình theo quy định của khoản 2, Điều 3, Luật HNGĐ 2014 hay không? Nếu họ có hoạt động kinh tế chung, sống chung một nhà,

sổ hộ khẩu gia đình chung?

Các cơ sở để thiết lập nên gia đình:

- Quan hệ hôn nhân: khoản 1, Điều 3:

- Quan hệ huyết thống

- Quan hệ nuôi dưỡng: Quan hệ Nuôi dưỡng không phải là quan hệ nào khác ngoài quan hệ nuôi con nuôi Chú ý: quan

hệ nuôi dưỡng <> nghĩa vụ nuôi dưỡng

Các thành viên gia đình có quyền và nghĩa vụ với nhau

 Vậy theo khoản 2, Điều 3, Luật hôn nhân gia đình thì con dâu và cha mẹ chồng, con rể và cha mẹ vợ không phải là thành viên trong một gia đình

Tuy nhiên, nếu theo Luật hôn nhân gia đình, thì có ngoại lệ theo Điều 79, Luật hôn nhân gia đình: Con dâu và cha

mẹ chồng, con rể và cha mẹ vợ, … là thành viên trong một gia đình theo tiêu chí khác: …

Các thành viên trong gia đình bao gồm

- Quan hệ giữa vợ và chồng

- Quan hệ giữa cha mẹ và con

- Quan hệ giữa anh, chị, em

- Quan hệ giữa ông bà nội, ông bà ngoại và cháu nội, cháu ngoại

- Quan hệ giữa cô, dì, chú, cậu, bác ruột và cháu ruột…

- Quan hệ nuôi dưỡng…

IV Khái niệm Luật hôn nhân và gia đình

Khải niệm: Luật hôn nhân gia đình là một khái niệm tổng thể

- Là một môn học

- Là một văn bản pháp luật cụ thể

- Là một ngành luật

IV.1 Đối tượng điều chỉnh của LHNGĐ

(Việc xác định đối tượng điều chỉnh của một ngành luật là quan trọng Luật Việt Nam hiện tại còn nhập nhằng Có những công trình mang tính chất quan trọng, liên quan đến lợi ích quốc gia, mà giải tỏa dân chúng ì ra, không chịu đi, nhà nước lại không xử lý được Trong khi đó có những công trình đơn thuần là kinh tế, Chủ đầu tư mượn bàn tay của nhà nước để cưỡng bức dân chúng, gây ra những rối ren trong xã hội)

Đối tượng điều chỉnh của Luật hôn nhân gia đình là những nhóm quan hệ xh trong lĩnh vực hôn nhân & gia đình,

cụ thể là quan hệ nhân thân và quan hệ tài sản giữa vợ cà chồng, giữa cha mẹ và con, giữa những người thân thích ruột thịt khác, mà PL hôn nhân và gia đình hướng tới, tác động tới

Trong kỹ thuật lập pháp, lựa chọn những mối quan hệ rường cột trong đời sống xã hội để điều chỉnh Nhà lập pháp lựa chọn quan hệ nhân thân và quan hệ tài sản để điều chỉnh

Vậy luật hôn nhân gia đình có phải là ngành luật độc lập, hay là một bộ phận của Bộ luật Dân sự? Do bởi đối tượng điều chỉnh của 2 ngành luật này là giống nhau?

Quan điểm 1:

Trang 5

Quan điểm 2

Nếu theo quan điểm 1, sẽ dân sự hóa quan hệ hôn nhân gia đình Mà quan hệ hôn nhân gia đình hết sức gần gũi, riêng tư, không chỉ đơn thuần là quan hệ dân sự

Những đặc điểm riêng của các QHPL mà LHNGĐ điều chỉnh

- Luật hôn nhân gia đình cũng điểu chỉnh 2 nhóm quan hệ xh, đó là quan hệ nhân thân và quan hệ tài sản, nhưng hai nhóm quan hệ này không tách bạch lẫn nhau mà nó có sự liên quan mật thiết với nhau Quan hệ nhân thân trong một chừng mực nhất định đóng vai trò chủ đạo và quyết định trong các quan hệ hôn nhân và gia đình

- Quan hệ nhân thân quyết định t/c nội dung các QH khác

V/d: việc ông A kí với ông B một hợp đồng, yếu tố quan trọng là sự cân bằng lợi ích (muốn đạt được lợi ích thì cũng phải để cho đối tác được lợi ích tương đương) Đặc điểm quan trọng là đền bù và ngang giá Trong đó yếu tố tình cảm ko chi phối, mà yếu tố lợi ích chi phối Trong lĩnh vực dân sự, tách bạch giữa nhân thân và tài sản

Tuy nhiên, trong quan hệ hôn nhân gia đình thì khác Quan hệ đền bù ngang giá không được đặt ra

V/d: cô A cân nhắc giữa anh X và anh Y anh X nhiều tiền? Quan hệ hôn nhân chân chính không dựa trên tài sản,

mà là dựa trên sự chia sẻ ……

Ngày 17/11

2 Phương pháp điều chỉnh

Là bằng cách thức biện pháp mà nhà nước sử dụng trong pháp luật để tác động lên các quan hệ nhân thân và quan

hệ tài sản thuộc đối tượng điều chỉnh của ngành luật hôn nhân gia đình

Quan hệ hôn nhân gia đình

Vậy trong 4 công cụ trên, công cụ nào là hữu ích nhất, quan trọng nhất?

Người Trung Quốc có câu: vô phúc đáo tụng đình Trong quan hệ hôn nhân gia đình, điều này là rất đúng Do bởi, khi đã kéo nhau ra tòa thì thứ họ được là hữu hạn, còn thứ họ mất là vô hạn Do vậy, tốt nhất là không nên sử dụng công cụ cuối cùng là pháp luật

- Ngoài ra, các biện pháp tác động lên quan hệ hôn nhân và gia đình còn có những đặc điểm sau

Quy phạm pháp luậtQuy phạm đạo đức

Quy phạm tôn giáo

Quan hệ Hôn nhân & Gia đình

Phong tục tập quán

Trang 6

o Việc thực hiện luật hôn nhân & gia đình được đảm bảo bằng cưỡng chế nhà nước trên tinh thần phát huy tính tự giác qua việc giáo dục, khuyến khích và hướng dẫn thực hiện

o Các chủ thể khi thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình phải xuất phát từ lợi ích chung của gia đình

Để đảm bảo tính tuân thủ luật hôn nhân gia đình, nhà nước cần giáo dục, khuyến khích dân chúng, làm cho họ hiểu

V Nhiệm vụ và những nguyên tắc cơ bản của Luật hôn nhân gia đình

CHƯƠNG II QUAN HỆ PHÁP LUẬT HÔN NHÂN GIA ĐÌNH

(tự nghiên cứu)

KẾT HÔN

I Kết hôn và điều kiện kết hôn

1 Khái niệm kết hôn

Khoản 5, Điều 3, Luật hôn nhân gia đình

Kết hôn là việc nam và nữ xác lập quan hệ vợ chồng với nhau theo quy định của Luật này về điều kiện kết hôn và đăng ký kết hôn

2 Điều kiện kết hôn

a) Khái niệm điều kiện kết hôn: là những quy định mang tính pháp lý bắt buộc mà các đôi nam nữ khi kết hôn phải tuân thủ

o Tính tối thiểu của điều kiện kết hôn

o Tính bắt buộc tuân thủ

b) Các điều kiện kết hôn cụ thể

Điều 8, Luật HN&GĐ 2014

Điều 8 Điều kiện kết hôn

1 Nam, nữ kết hôn với nhau phải tuân theo các điều kiện sau đây:

a) Nam từ đủ 20 tuổi trở lên, nữ từ đủ 18 tuổi trở lên;

b) Việc kết hôn do nam và nữ tự nguyện quyết định;

c) Không bị mất năng lực hành vi dân sự;

d) Việc kết hôn không thuộc một trong các trường hợp cấm kết hôn theo quy định tại các điểm a, b, c và d khoản 2 Điều 5 của Luật này.

2 Nhà nước không thừa nhận hôn nhân giữa những người cùng giới tính.

*) Điều kiện về độ tuổi:

Nam từ đủ 20 tuổi trở lên, nữ từ đủ 18 tuổi trở lên

o (So sánh với Luật 2000: Luật 2000 quy định: Nam từ 20 tuổi trở lên, nữ từ 18 tuổi trở lên  - Cách tính tuổi của Luật

2000 & Luật 2014 là khác nhau: Từ đủ: là cách tính tuổi tròn, tròn ngày, tròn tháng, tròn năm Còn quy định của luật

2000, theo văn bản hướng dẫn, thì nam chỉ cần bước sang 20 tuổi là được… Tuổi 20 (nam) hay 18 (nữ) là quãng thời gian

Tuân thủ các điều kiện kết hôn

Quan hệ hôn nhân hợp pháp

Thực hiện việc đăng kí kết hôn

Trang 7

Chú ý: việc này ảnh hưởng đến bài tập tình huống.)

Việc quy định “từ đủ” của Luật 2014, đã giúp đồng bộ hóa pháp luật với Bộ luật dân sự…

o Căn cứ của việc pháp luật quy định độ tuổi kết hôn

Để tham gia vào hôn nhân, người ta cần có sự trưởng thành về mọi phương diện: tâm lý, thể chất, trách nhiệm… Chính vì vậy, để quy định về độ tuổi kết hôn là phải trên cơ sở nghiên cứu y học Một số quốc gia có độ tuổi kết hôn là sớm, một số quốc gia có độ tuổi là trễ Đồng thời, để đảm bảo chất lượng nòi giống, duy trì nòi giống, nếu kết hôn quá sớm thì sẽ ảnh hưởng đến nòi giống…

*) Điều kiện về sự tự nguyện

Việc kết hôn do nam và nữ tự nguyện quyết định

Bản chất của sự tự nguyện: thống nhất ý chí bên tong và sự thể hiện ý chí ra bên ngoài

Căn cứ của việc pháp luật quy định về sự tự nguyện khi kết hôn: tự làm và tự chịu trách nhiệm hành vi của chính mình

Sự tự nguyện khi kết hôn dẫn đến việc không cho phép ủy quyền trong kết hôn

*) Điều kiện về năng lực hành vi dân sự

- Người kết hôn không bị mất năng lực hành vi dân sự

- Khái niệm người mất năng lực hành vi dân sự

V/d: ông A bị tâm thần nặng, nhưng ko có ai yêu cầu tòa án tuyên bố mất năng lực hành vi & tòa cũng chưa tuyên

 ông A không phải là người mất năng lực hành vi dân sự

-Căn cứ của việc pháp luật quy định về việc người kết hôn phải là người không mất năng lực hành vi dân sự: Hôn nhân phải là sự cố gắng không ngừng của 2 bên vợ chồng, do vậy, để có một cuộc sống bình thường diễn ra, thì những người tham gia hôn nhân phải có năng lực hành vi dân sự

Chú ý: có năng lực hành vi dân sự không có nghĩa là yêu cầu phải có năng lực hành vi dân sự đầy đủ

Nhận định: Người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự thì bị cấm kết hôn? Nhận định trên là Sai

*) Các trường hợp cấm kết hôn

Quyền của các cá nhân, có những quyền nghiễm nhiên phải được hưởng, nhà nước tốt thì phải tôn trọng quyền đó

Có những quyền mà nhà nước ban phát, Kết hôn chưa bao giờ là quyền mà nhà nước ban phát, mà đó là quyền đương nhiên của con người Nhà nước phải đảm bảo quyền đó của công dân phải được thực hiện một cách êm thấm nhất, hoàn hảo nhất Do vậy, khi quy định các điề ukhoản về kết hôn, phải đảm bảo rằng việc cấm đó là phù hợp, không vi phạm quyền con người Nhà lập pháp phải lấy điều đó làm ki chỉ nam cho các quy định của mình

Luật HN & GĐ 2014 có sự thay đổi trong kỹ thuật lập pháp:

Khoản 2, Điều 5, Luật HN & GĐ

Cấm Kết hôn giả tạo, (khoản 11, Điều 3, LHN & GĐ 2014)

Cấm Tảo hôn, cưỡng ép kết hôn, lừa dối kết hôn, cản trở kết hôn; (khoản 8, khoản 9, khoản 10, Điều 3, LHN

&GĐ 2014)

- Cấm tảo hôn : vi phạm độ tuổi

- Cưỡng ép kết hôn, lừa dối kết hôn, cản trở kết hôn: vi phạm sự tự nguyện khi kết hôn

Cấm Người đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác hoặc chưa có

vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người đang có chồng, có vợ;

- K/n người đang có vợ hoặc có chồng:

+) Là người đã kết hôn theo đúng quy định của pháp luật mà chưa ly hôn

+) Là người chung sống như người khác như vợ chồng từ trước ngày 3/1/1987 mà chưa đăng ký kết hôn

+) Nam nữ chung sống với nhau như vợ chồng từ ngày 3/1/1987 đến trước ngày 1/1/2001 có đủ điều kiện kết hôn, nhưng chưa đăng kí kết hôn thì vẫn được coi là người đang có vợ, có chồng nhưng chỉ đến ngày 1/1/2003 Sau ngày 1/1/2003 mà vẫn không đăng ký kết hôn thì sẽ không được coi là người đang có vợ, có chồng nữa

Nhận định: Người đã kết hôn là người đang có vợ có chồng? Nhận định trên là Sai, do bởi các trường hợp ly hôn, chết

Nhận định: Người đã kết hôn mà chưa ly hôn, cũng đang sống thì có phải là người đang có vợ có chồng không? Nhận định trên là Sai Do bởi kết hôn có đúng luật hay không

Trang 8

Tình huống pháp luật:

Ba mẹ con quấn khăn tang đi đánh ghen đám cưới bố

(Gia đình) - Đám cưới của bố và người tình trẻ bằng tuổi con gái đã bầu 5 tháng gián đoạn vì 3 mẹ con đầu quấn khăn tang, tay cầm ảnh tới đánh ghen.

Chiều 15/11, lễ thành hôn của Võ Đại Nhân (45 tuổi) và Nguyễn Thị Thanh Ngọc (21 tuổi, trú đường Vạn Xuân, phường Kim Long, TP Huế) được tổ chức tại Khách sạn Duy Tân (đường Hùng Vương, TP Huế) bị gián đoạn bởi 3 người đầu quấn khăn tang tới đánh ghen.

3 người này là chị Yến, người vẫn còn quan hệ vợ chồng với Nhân cùng với con gái là Nhung (21 tuổi) và con trai (18 tuổi).

Sau khi biết người chồng, người cha đã cố tình làm đám cưới với người từng là bạn của con gái mình, chị Yến đã

cùng con và hàng chục người thân tới vây Khách sạn Duy Tân đánh ghen đám cưới để “đòi chồng” Giữa hàng trăm quan khách tham dự tiệc cưới ở khách sạn, hai đứa con của Nhân đầu quấn khăn tang, tay cầm ảnh cha xông vào hôn

đường để phản đối kịch liệt đám cưới của cha với tình nhân trẻ.

Ngay khi sự việc xảy ra, hàng trăm khách mời hốt hoảng rời bỏ lễ cưới Hàng chục cán bộ, chiến sĩ CA TP Huế, bảo vệ khách sạn cũng nhanh chóng có mặt tại khuôn viên khách sạn Duy Tân để vãn hồi trật tự, đề phòng bất trắc xảy ra Đến 18h cùng ngày, đoàn người “đánh ghen” vẫn đang tụ tập trước cổng khách sạn Duy Tân Đồng thời, vợ con chị Hồng vẫn đang gào thét đòi gặp bằng được anh Nhân để yêu cầu gã chồng “Sở Khanh” này…làm rõ trắng đen.

Thông tin ban đầu cho biết, anh Nhân vốn đã có vợ là chị Yến và hai người con là Nhung 21 tuổi và người con trai 18 tuổi Hai vợ chồng anh trước đây làm giúp công việc gia đình nhà vợ ở bên Lào Thời gian qua, anh Nhân để chị Yến ở Lào, về quê xây nhà và chăm sóc cho con cái.

Một người thân của chị Yến cho biết: "Trong một lần Ngọc đến nhà Nhung chơi thì gặp bố của Nhung là ông Nhân và có quan hệ trai gái, yêu đương nhưng gia đình không hề biết".

Cuối cùng, Ngọc đã có thai 5 tháng và dù gia đình, người thân can ngăn, ông Nhân vẫn quyết cưới Ngọc chỉ đáng tuổi con gái mình về làm vợ.

* Tên nhân vật trong bài đã được thay đổi.

Phân tích tình huống pháp luật trên? Việc kết hôn của ông Nhân có đúng luật không?

Cấm Kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng giữa những người cùng dòng máu về trực hệ; giữa những người có họ trong phạm vi ba đời;

- K/n những người cùng dòng máu về trực hệ (khoản 17, Điều 3, LHN&GD2014)

- K/n những người có họ trong phạm vi ba đời (khoản 18, Điều 3, LHN &GD2014): đây là quan hệ bàng hệNhận định: Những người cùng dòng máu về trực hệ là những người có họ trong phạm vi ba đời? Nhận định trên là Sai Do bởi phạm vi 3 đời là quan hệ bàng hệ (nhành), còn quan hệ trực hệ là quan hệ chủ yếu của quan hệ huyết thống

Do vậy không có khái niệm trực hệ và ba đời (bàng hệ) là giống nhau

Trong xã hội hiện đại, vì sao luật không cho phép: do bởi loài người đã học được một bài học đó là nòi giống sẽ bị suy thoái nếu hôn nhân là cận huyết Con lai thì thông minh, con cận huyết thì dễ có nguy cơ bị khiếm khuyết …

 Cấm kết hôn giữa cha, mẹ nuôi với con nuôi; giữa người đã từng là cha, mẹ nuôi với con nuôi, cha chồng

với con dâu, mẹ vợ với con rể, cha dượng với con riêng của vợ, mẹ kế với con riêng của chồng;

Vì sao luật hôn nhân gia đình Việt Nam lại cấm, mà luật các nước khác không cấm việc kết hôn này Giá trị chung nhất giữa các gia đình Việt đó là sự tôn trọng tôn ti trật tự trong gia đình Những người thuộc đối tượng trên là thuộc 2 thế hệ khác biệt Nếu cho phép kết hôn giữa 2 thế hệ, thì đi ngược lại với các giá trị truyền thống của xã hội mà chúng

ta đang theo đuổi

3 Đăng kí kết hôn

Điều 9 Đăng ký kết hôn

1 Việc kết hôn phải được đăng ký và do cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện theo quy định của Luật này

và pháp luật về hộ tịch.

Việc kết hôn không được đăng ký theo quy định tại khoản này thì không có giá trị pháp lý.

Trang 9

2 Vợ chồng đã ly hôn muốn xác lập lại quan hệ vợ chồng thì phải đăng ký kết hôn.

*) Thẩm quyền đăng ký kết hôn

- Yếu tố trong nước

o UBND xã, phường thị trấn nơi cư trú của một trong hai bên kết hôn là cơ quan đăng ký kết hôn

o Cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan lãnh sự Việt Nam ở nước ngoài là cơ quan đăng ký kết hôn giữa công dân Việt Nam với nhau ở nước ngoài

Nhận định: UBND cấp xã có thẩm quyền đăng kí kết hôn? Nhận định trên là Sai Chỉ có UBND cấp xã nơi cư trú của một trong hai bên kết hôn mới là cơ quan có thẩm quyền đăng kí kết hôn

Khái niệm cư trú:

- Yếu tố nước ngoài

+) UBND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, nơi cư trú của một trong hai bên kết hôn

+) UBND xã giáp biên giới nơi cư trú của công dân Việt Nam nếu công dân Việt Nam này kết hôn với công dân của nước láng giềng ở địa phận giáp đường biên giới với VIệt Nam

+) Cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan lãnh sự Việt Nam ở nước ngoài

Hôn nhân mang yếu tố nước ngoài là một vấn đề nhiều bức xúc & bất cập, vấn nạn quốc gia của Việt Nam

V/d: công dân Việt Nam đến công dân Mỹ đến đâu kết hôn?

V/d: công dân Việt Nam đến công dân Lào đến đâu kết hôn?

Về mặt nguyên tắc, kết hôn có yếu tố nước ngoài do UBND cấp tỉnh thực hiện Tuy nhiên, có những ngoại lệ, chỉ

áp dụng cho các trường hợp kết hôn ở vùng biên giới (v/d: ở xã giáp biên giới ở huyện thuộc tỉnh Tây Ninh, kết hôn với công dân Campuchia ở bên kia biên giời)

Vì sao có điều khoản mang tính ngoại lệ này Trường hợp ở các xã giáp biên giới, khoảng cách tới UBND cấp tỉnh

là xa, có sự cản trở về mặt địa lý  ko yêu cầu những công dân ở Việt Nam ở các xã giáp biên giới phải đến đăng kí cấp tỉnh

Ngày 19/11

Việc Kết hôn không được đăng kí theo quy định của pháp luật thì không có giá trị pháp lý Hôn nhân không có giá trị pháp lý (chứ không gọi là hôn nhân bất hợp pháp) Hôn nhân suy cho cùng dù được luật công nhận hay công nhận thì bản chất của hôn nhân cũng không mất đi Nhà nước không thể dùng luật của mình để phá rối hôn nhân được Quy định của pháp luật về đăng kí kết hôn: nghi thức, trình tự, thủ tục thực hiện việc đăng ký kết hôn

*c) Quan hệ hôn nhân thực tế

Là các trường hợp nam nữ chung sống với nhau mà không đăng ký kết hôn nhưng được pháp luật công nhận là

vợ chồng

Việc đăng ký kết hôn

Đúng thẩm

ký kết hôn

Trang 10

Hôn nhân thực tế là trường hợp ngoại lệ của quan hệ hôn nhân hợp pháp  Thông điệp đằng sau: hôn nhân thực

tế chỉ áp dụng trong một số trường hợp đặc biệt

Các trường hợp

Luật 1959 - 03/01/1987 Luật 1986 - 01/01/2001 - Luật 2000

1) Quan hệ vợ chồng được xác lập trước 03/01/1987 mà chưa đăng ký thì được khuyến khích đăng ký Nếu các bên không đăng kí mà có yêu cầu li hôn, thì tòa án vẫn giải quyết yêu cầu li hôn

2) Nam nữ chung sống như vợ chồng từ 03/01/1987 đến trước ngày 01/01/2001 có đủ điều kiện kết hôn có nghĩa vụ đăng

kí kết hôn trong thời hạn 02 năm (từ 01/01/2001 đến 01/01/2003) Trong thời hạn 2 năm này, các bên không đăng kí

mà có yêu cầu li hôn, thì tòa án vẫn giải quyết yêu cầu li hôn Sau thời hạn 2 năm này mà vẫn không thực hiện đăng kí kết hôn thì pháp luật sẽ không công nhận quan hệ vợ chồng

3) Trừ hai trường hợp trên, nam nữ chung sống như vợ chồng mà không đăng kí kết hôn thì không công nhận là vợ chồng

Câu hỏi: Mốc thời gian nào được coi là quan trọng mà dựa vào đấy mà người ta mới suy luận xem việc này có phải là hôn nhân thực tế không  Căn cứ vào mốc ngày 01/01/2001 Xem bắt đầu chung sống với nhau như vợ chồng

từ ngày mấy Nếu trước ngày 01/01/2001, thì khi đó mới xét xem là thuộc trường hợp 1 hay trường hợp 2

Ngày 03/01/1987: Luật hôn nhân gia đình 1986 bắt đầu có hiệu lực pháp luật

Ngày 01/01/2001: Luật hôn nhân gia đình 2000 bắt đầu có hiệu lực pháp luật

Từ sau ngày 01/01/2001, việc chung sống với nhau như vợ chồng không được xem xét đến để xác định xem có việc hôn nhân thực tế hay không

Tại sao trong luật phải thừa nhận hôn nhân thực tế: Luật pháp đặt ra cách giải quyết mềm dẻo và linh hoạt cho

các trường hợp đặc biệt, do bởi lỗi không đăng kí kết hôn cũng một phần do bởi luật hôn nhân gia đình Phong tục tập quán ảnh hưởng rất mạnh đến quan hệ hôn nhân gia đình Những lĩnh vực luật pháp liên quan đến đời sống thực như luật dân sự, luật hôn nhân gia đình, thì phong tục tập quán cũng là một trong những nguồn của luật Trước đây thẩm phán có thể trả đơn về, không thụ lý vụ việc khi không có quy định của pháp luật Tuy nhiên, người dân nộp thuế cho nhà nước là để được nhà nước bảo vệ Nhà nước phải có một hệ thống pháp luật hoàn thiện để bảo vệ người dân, chứ

ko được lấy lí do không có quy định pháp luật mà từ chối đơn của người dân  Trong pháp luật tố tụng dân sự sắp tới, sửa đổi, thẩm phán không được phép trả đơn khi không có quy định của pháp luật Do vậy, nguồn phong tục tập quán cũng là một nguồn quan trọng để giải quyết vụ việc Phong tục tập quán ảnh hưởng lớn đến luật hôn nhân gia đình Trong luật 1959, muốn trở thành vợ chồng thì phải đăng kí kết hôn Khi Luật 1959 có hiệu lực, không đi vào lòng người, do vậy, thời kì đó, việc ko đăng kí kết hôn mà chung sống như vợ chồng cũng là phổ biến Luật 1986 cũng như vậy Luật 1959 & Luật 1986 không có đề cập đến việc nếu không đăng kí kết hôn thì vấn đề gì sẽ xảy ra, do vậy người dân cũng ko quan tâm đến việc đăng kí

Sự khác nhau giữa trường hợp 1 & 2

Quan hệ vợ chồng được xác lập trước 03/01/1987 mà chưa đăng ký thì được khuyến khích đăng ký Nếu các bên không đăng kí mà có yêu cầu li hôn, thì tòa án vẫn giải quyết yêu cầu li hôn Quan hệ hôn nhân của họ được công

nhận  nhà nước chỉ khuyến khích các bên đăng ký kết hôn, các bên không đăng kí không sao

Nam nữ chung sống như vợ chồng từ 03/01/1987 đến trước ngày 01/01/2001 có đủ điều kiện kết hôn có nghĩa vụ đăng kí kết hôn trong thời hạn 02 năm (từ 01/01/2001 đến 01/01/2003) Trong thời hạn 2 năm này, các bên không đăng

kí mà có yêu cầu li hôn, thì tòa án vẫn giải quyết yêu cầu li hôn Sau thời hạn 2 năm này mà vẫn không thực hiện đăng

kí kết hôn thì pháp luật sẽ không công nhận quan hệ vợ chồng Thái độ của nhà lập pháp đã thay đổi Nhà nước

không sử dụng từ “Quan hệ vợ chồng” nữa mà sử dụng từ “Nam nữ chung sống như vợ chồng”  Trường hợp này, quan hệ hôn nhân không được mặc nhiên công nhận như trường hợp trên, mà phải tuân thủ quy định của pháp luật

Chú ý: Vấn đề quan hệ hôn nhân thực tế mà pháp luật đặt ra chỉ liên quan duy nhất đến vấn đề đăng kí kết hôn

thôi Điều đó có nghĩa là, muốn xem xét vấn đề hôn nhân thực tế, thì còn cần phải xem xét xem họ có vi phạm các điều kiện kết hôn hay không

V/d: ông A kết hôn với bà B, cãi nhau, ông A bỏ đi nơi khác, gặp C, chung sống với C 15 năm trời Ông A bị tai nạn chết Hôn nhân của ông A & bà C có phải là hôn nhân thực tế không? Không phải, do bởi hôn nhân giữa ông A &

bà B là hôn nhân hợp pháp, do vậy, hôn nhân của A & C không được xem là hôn nhân hợp pháp

(Về nhà đọc nghị quyết 35/QH & Thông tư liên tịch 01- VKSND tối cao & TAND tối cao)

Trang 11

II KẾT HÔN TRÁI PHÁP LUẬT VÀ BIỆN PHÁP XỬ LÝ

1) Khái niệm kết hôn trái pháp luật

Khoản 6, Điều 3, Luật hôn nhân gia đình 2014

6 Kết hôn trái pháp luật là việc nam, nữ đã đăng ký kết hôn tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền nhưng một bên hoặc cả hai bên vi phạm điều kiện kết hôn theo quy định tại Điều 8 của Luật này.

V/d: ông A và bà B kết hôn với nhau khi mà một bên chưa đủ tuổi kết hôn Việc đăng kí kết hôn của A & B là sai thẩm quyền (A & B đăng kí hộ khẩu thường trú ở 1 nơi, đăng kí hộ khẩu tạm trú có thời hạn ở 1 nơi Để về nơi có hộ khẩu thường trú để đăng kí kết hôn thì rất mất thời gian, do vậy A&B đến nơi đăng kí hộ khẩu tạm trú có thời hạn để đăng kí kết hôn UBND Phường ở đó cấp GCN đăng kí kết hôn cho A & B) Vậy tòa án có nhận định đây có phải là trường hợp kết hôn trái pháp luật hay không?  Không, do bởi để coi là kết hôn trái pháp luật thì phải thỏa mãn các điều kiện nêu trên Mà trong trường hợp này, việc đăng ký kết hôn Sai thẩm quyền

Điều 9 Đăng ký kết hôn

1 Việc kết hôn phải được đăng ký và do cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện theo quy định của Luật này

và pháp luật về hộ tịch.

Việc kết hôn không được đăng ký theo quy định tại khoản này thì không có giá trị pháp lý.

2 Chủ thể có quyền yêu cầu Tòa án hủy kết hôn trái pháp luật

Điều 10 Người có quyền yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật

1 Người bị cưỡng ép kết hôn, bị lừa dối kết hôn, theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự, có quyền tự mình yêu cầu hoặc đề nghị cá nhân, tổ chức quy định tại khoản 2 Điều này yêu cầu Tòa án hủy việc kết hôn trái pháp luật

do việc kết hôn vi phạm quy định tại điểm b khoản 1 Điều 8 của Luật này.

2 Cá nhân, cơ quan, tổ chức sau đây, theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự, có quyền yêu cầu Tòa án hủy việc kết hôn trái pháp luật do việc kết hôn vi phạm quy định tại các điểm a, c và d khoản 1 Điều 8 của Luật này: a) Vợ, chồng của người đang có vợ, có chồng mà kết hôn với người khác; cha, mẹ, con, người giám hộ hoặc người đại diện theo pháp luật khác của người kết hôn trái pháp luật;

b) Cơ quan quản lý nhà nước về gia đình;

c) Cơ quan quản lý nhà nước về trẻ em;

d) Hội liên hiệp phụ nữ.

3 Cá nhân, cơ quan, tổ chức khác khi phát hiện việc kết hôn trái pháp luật thì có quyền đề nghị cơ quan, tổ chức quy định tại các điểm b, c và d khoản 2 Điều này yêu cầu Tòa án hủy việc kết hôn trái pháp luật.

Sự khác biệt giữa khoản 1 & khoản 2

Vì tính khả thi của pháp luật Vi phạm sự tự nguyện: sự cưỡng ép, lừa dối Chỉ có người bị vi phạm, họ mới có thể hiểu được họ bị vi phạm sự tự nguyện đó như thế nào Nếu quy định cho những cơ quan, tổ chức khác thì tính khả thi không được  khoản 1

Vi phạm về độ tuổi kết, các trường hợp cấm kết hôn… , những người ngoài đều có thể biết

3 Hậu quả pháp lý của QĐ hủy KH trái PL

Điều 12 Hậu quả pháp lý của việc hủy kết hôn trái pháp luật

Trang 12

2 Quyền, nghĩa vụ của cha, mẹ, con được giải quyết theo quy định về quyền, nghĩa vụ của cha, mẹ, con khi ly hôn.

3 Quan hệ tài sản, nghĩa vụ và hợp đồng giữa các bên được giải quyết theo quy định tại Điều 16 của Luật này

*) Quan hệ nhân thân

*) Quan hệ tài sản

*) Xử lý vấn đề con chung

Khoảng thời gian từ “Ngày kết hôn trái pháp luật” cho đến “Ngày quyết định hủy kết hôn trái pháp luật của tòa có hiệu lực” giải quyết như thế nào? Dưới góc độ luật pháp, các bên chưa bao giờ được thừa nhận là vợ chồng cả, mà họ vẫn tồn tại ở vị thế quan hệ như vợ chồng  Giải quyết các quan hệ còn lại trên tinh thần quan hệ nhân thân như vậyCon chung của các bên: Đường lối xử lý con chung không khác gì nhau cả giữa việc hủy hôn trái pháp luật, ly hôn… cả Hành vi vi phạm của cha mẹ không được ảnh hưởng đến con

Điều 16 Giải quyết quan hệ tài sản, nghĩa vụ và hợp đồng của nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng

mà không đăng ký kết hôn

1 Quan hệ tài sản, nghĩa vụ và hợp đồng của nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn được giải quyết theo thỏa thuận giữa các bên; trong trường hợp không có thỏa thuận thì giải quyết theo quy định của Bộ luật dân sự và các quy định khác của pháp luật có liên quan.

2 Việc giải quyết quan hệ tài sản phải bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của phụ nữ và con; công việc nội trợ và công việc khác có liên quan để duy trì đời sống chung được coi như lao động có thu nhập.

Tình huống: anh A & chị B kết hôn trái pháp luật, sống với nhau 10 năm, tài sản chung : 1 tỷ 2 giải quyết như thế nào

Trong dân sự, hôn nhân gia đình, kinh doanh thương mại, đây là ngành luật tư, có những nét đặc trưng của nó Một trong những nét đặc trưng đó là tranh chấp phát sinh giải quyết theo thỏa thuận Luật tư là luật gắn liền với lợi ích riêng tư của cá nhân đó, tổ chức đó

1 tỷ 2, trước hết là thỏa thuận Thỏa thuận không được, thì giải quyết theo quy định của Bộ luật dân sự và các quy định khác của pháp luật có liên quan

Do bởi quan hệ giữa ông A & chị B chưa bao giờ được công nhận là vợ chồng cả, do vậy, quan hệ tài sản giữa họ

là quan hệ dân sự thuần túy không thể sử dụng Luật hôn nhân gia đình ra để giải quyết

Sở hữu chung theo phần, chia theo công sức đóng góp

4 Xử lý việc kết hôn trái pháp luật

Điều 11

III TRƯỜNG HỢP PHÁP LUẬT KHÔNG CÔNG NHẬN QUAN HỆ VỢ CHỒNG

1) Các trường hợp PL không công nhận quan hệ vợ chồng

TH1: Việc đăng kí kết hôn được thực hiện không đúng thẩm quyền

TH2: Nam nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng kí kết hôn

Trường hợp không công nhận quan hệ vợ chồng được áp dụng đối với việc đăng kí kết hôn không đúng thẩm quyền, được áp dụng kể cả việc kết hôn đó vi phạm điều kiện kết hôn

Kết hôn trái pháp luật <> Không công nhận quan hệ vợ chồng

2) Hậu quả pháp lý của quyết định không công nhận quan hệ vợ chồng của tòa án

Ngày kết hôn trái pháp luật

Ngày quyết định hủy kết hôn của tòa

án có hiệu lực

Trang 13

*) Quan hệ nhân thân

*) Quan hệ tài sản

*) Xử lý vấn đề con chung

Không thừa nhận họ là vợ chồng của nhau nên họ không có những nghĩa vụ và quyền theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình

Quan hệ tài sản: giải quyết giống như trong trường hợp hủy kết hôn trái pháp luật

Xử lý con chung: giải quyết giống như trong trường hợp ly hôn

Ngày 21/11

QUAN HỆ GIỮA VỢ VÀ CHỒNG

I Quyền và nghĩa vụ nhân thân giữa vợ và chồng

(Điều 19 -> Điều 23)

II Đại diện giữa vợ và chồng

Quan hệ đại diện giữa vợ và chồng là một phần của quan hệ đại diện trong pháp luật dân sự Những nền tảng cơ bản và chủ yếu do Luật dân sự xử lý Trong đời sống thực tiễn, quan hệ đại diện giữa vợ và chồng còn có nhiều vướng mắc Khi nào một giao dịch dân sự do một bên tiến hành được xem là vô hiệu, khi nào là không, còn là một thách thức,

kể cả với thẩm phán

Nhà lập pháp Luật HN & GĐ 2014 cố gắng giải quyết quan hệ đại diện giữa vợ và chồng tốt nhất có thể

Về vấn đề đại diện theo ủy quyền, theo quy định Luật dân sự

Về vấn đề đại diện khi một bên mất NLHVDS hoặc khi một bên bị hạn chế NLHVDS

Khoản 3, Điều 24

3 Vợ, chồng đại diện cho nhau khi một bên mất năng lực hành vi dân sự mà bên kia có đủ điều kiện làm người giám hộ hoặc khi một bên bị hạn chế năng lực hành vi dân sự mà bên kia được Tòa án chỉ định làm người đại diện theo pháp luật cho người đó, trừ trường hợp theo quy định của pháp luật thì người đó phải tự mình thực hiện quyền, nghĩa vụ có liên quan.

Trong trường hợp một bên vợ, chồng mất năng lực hành vi dân sự mà bên kia có yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn thì căn cứ vào quy định về giám hộ trong Bộ luật dân sự, Tòa án chỉ định người khác đại diện cho người bị mất năng lực hành vi dân sự để giải quyết việc ly hôn.

V.d: một bên vợ hoặc chồng bị mất năng lực hành vi dân sự (do tâm thần), muốn bán tài sản chung, xử lý như thế nào? Bên kia nếu thấy mình đủ điều kiện thì làm đại diện cho người đó trong giao dịch dân sự Nếu giao dịch được thực hiện mà không có ai tranh chấp, thì giao dịch đó vẫn có hiệu lực bình thường Còn nếu có bên tranh chấp và yêu cầu Tòa án tuyên giao dịch vô hiệu, thì Tòa án sẽ xem xét vấn đề xem người đó có đủ điều kiện để làm đại diện hay không Nếu ko đủ điều kiện đại diện thì tòa tuyên giao dịch vô hiệu

Vậy như thế nào thì một bên được xem là đủ điều kiện làm người giám hộ cho một bên vợ/ chồng bị mất năng lực hành vi dân sự: Điều kiện là người đó có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, có nghĩa là không bị mất năng lực hành vi dân sự, không bị hạn chế năng lực hành vi dân sự

Ủy quyền

Đại diện giữa

vợ và chồng

Khi một bên bị hạn chế NLHVDSKhi một bên

mất NLHVDS

Ngày đăng: 01/03/2017, 20:38

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w