1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

văn học và âm nhạc

10 283 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 10
Dung lượng 46,2 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Về chất liêu: - Chất liệu của văn học là ngôn ngữ không dùng với nghĩa chuyển hay nói chính xác la ngôn từ.Tất cả tác giả đều dùng ngôn từ để tạo ra đứa con tinh thần của mình.Đ

Trang 1

ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI

*****

VĂN HỌC VÀ ÂM NHẠC

Bộ môn: Lý Luận Văn Học Giảng viên: Nguyễn Thị Ngọc Minh

hình thái ý thức xã hội ma còn la một loại hình nghê thuật Do vậy cũng giống như hình thái ý thức

2016 – 2017

Trang 2

xã hội, văn học cũng có mối quan hê với các loại hình nghê thuật khác trong đó có

âm nhạc

I. SỰ KHÁC BIỆT

1. Về chất liêu:

- Chất liệu của văn học là ngôn ngữ (không dùng với nghĩa chuyển)

hay nói chính xác la ngôn từ.Tất cả tác giả đều dùng ngôn từ để tạo ra đứa con tinh thần của mình.Điều đặc biêt nữa la ngôn từ phải giau hình ảnh va tác động trực tiếp đến người đọc.Không những vậy ngôn từ còn không phải la vật chất va chỉ la kí hiêu nhằm thể hiên điều gì đó

- Chất liệu để tạo nên loại hình âm nhạc là các nốt nhạc, âm

thanh, tiết tấu, Chúng đều la những vật chất cụ thể hơn so với chất liêu tạo thanh

văn học la ngôn ngữ

2. Phương tiên cảm nhận:

- Chủ yếu các tác phẩm văn học đều được nha văn xây dựng một hình

tượng nghê thuật nao đó từ chất liệu ngôn từ: từ, câu, đoạn…

- Chúng ta cảm nhận một bai hát qua nốt nhạc trầm bổng hay giai

điệu, nhịp điệu của bài hát.

3. Biểu hiên:

- Văn học rất giàu khuynh hướng tư tưởng, hay chứa đựng ý nghĩa

về văn hóa hay xã hội

Ví dụ: khuynh hướng sử thi trong tác phẩm “Rừng xà nu” của Nguyễn Trung Thành Văn học cũng chứa những sự chiêm nghiêm, suy ngẫm, kinh nghiêm rất

sâu sắc về con người, cuộc sống ma không phải trong một thời gian ngắn ma hiểu

Hay “Chiếc thuyền ngoài xa” của Nguyễn Minh Châu, chúng ta phải tìm hiểu suy

nghĩ thì mới mới hiểu được ý nghĩa của hình ảnh chiếc thuyền ngoai xa

- Còn âm nhạc thì không quá đào sâu như văn học.

Ví dụ: Bai hát “Biết ơn chị Võ Thị Sáu”: Chúng ta nghe ca từ của bai hát

như la : “Mùa hoa lê-ki-ma nở, ở quê ta miền đất đỏ.Nơi ấy vẫn còn nhắc tên

người anh hùng đã chết cho mùa hoa lê-ki-ma” Hay như câu: “chị Sáu đã hi sinh rồi ” thì chúng ta dễ dang hiểu nội dung ma tác giả muốn đề cập tới.

4. Sự tác động:

Trang 3

- Người đọc phải kiên trì đọc (hay nghe người khác đọc), suy nghĩ và tưởng tượng Không chỉ vậy nó còn chứa nhiều các biên pháp nghê thuật như ẩn

dụ, hoán dụ Hay một câu thơ, một chi tiết có nhiều ý nghĩa bên cạnh ý nghĩa trên bề nổi của câu chữ

Ví dụ: Đọc bai thơ “Tây Tiến” của nha thơ Quang Dũng:

“Tây Tiến đoan quân không mọc tóc Quân xanh mau lá dữ oai hùm”

Cụm từ : “quân xanh màu lá” có nhiều tầng ý nghĩa Nó không chỉ diễn tả ý trang

phục người lính với mau chủ đạo la mau xanh ma còn có ý nghĩa khác như la: căn bênh sốt rét đã hanh hạ các chiến sĩ lam da họ trở nên xanh xao gầy guộc

Ví dụ: đoạn thơ trong bai “Việt Bắc” của Tố Hữu có 2 câu thơ sau:

Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi Đèo cao nắng ấm dao gai thắt lưng

Đọc 2 câu thơ nay chúng ta phải tưởng tượng thì mới hình dung ra nét đặc biêt của bức tranh mùa đông Đó la bức tranh đặc biêt với gam mau xanh va đỏ tạo nên một bức tranh mùa đông ấm cúng tran đầy sức sống Trên nền bức tranh ấy la con người lao động khỏe khoắn nổi bật giữa núi rừng

- Âm nhạc tác động đến con người một cách dễ dang hơn qua thính giác Con người có thể không hiểu rõ lời nhưng vẫn có thể yêu thích bai hát đó.

Ví dụ: khi nghe các ca khúc tiếng nước ngoai như nhạc Mĩ, Han,Nhật

chúng ta có thể không hiểu nội dung nhưng vẫn thích nghe va nhiều khi còn yêu thích

5. Âm thanh

- Theo Lâm Vinh trong ''Trong câu thơ âm nhạc và câu thơ văn học''

âm thanh văn học có các đặc điểm sau: cung bậc có giới hạn bởi độ cao của vần, giai điêu không cố định, độ dai ngắn của âm không cố định Âm thanh không chia

Trang 4

nhỏ đến vô tận, giới hạn đến âm vị Nhịp điêu không chặt chẽ, tự do hơn, phức tạp hơn

- Âm thanh âm nhạc có cung bậc rõ rang, tăng về số lượng, hê thống giai điêu va điêu thức phong phú ,độ dai ngắn xác định, âm thanh chia nhỏ vô tận, nhịp phức tạp có giá trị tuyêt đối về trường độ

II. SỰ THỐNG NHẤT

1. Về nội dung:

- Văn học va âm nhạc la hai loại hình nghê thuật có khả năng phản

ánh hiện thực Mỗi thời đại lịch sử đều xuất hiên những trao lưu, những khuynh

hướng văn học mới phù hợp với thời đại đó Trở về những năm tháng cả dân tộc đồng lòng đấu tranh giữ gìn, bảo vê chủ quyền lãnh thổ đất nước, ta có thể tìm thấy biết bao sáng tác đã ra đời phản ánh hiên thực khốc liêt lúc bấy giờ Đó la bức tranh miêu tả cuộc sống thiếu thốn, khổ đau, nhưng trên tất cả, ta vẫn thấy được tinh thần “quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh” luôn hiên hữu trong trái tim của những chang lính trẻ Có những khi đường dai mỏi mêt với muôn van khó khăn:

“Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm Heo hút cồn mây súng ngửi trời”

(Tây Tiến – Quang Dũng)

Hay những khi mưa bom bão đạn xối xả ập đến:

“Bom giật bom rung kính vỡ mất rồi”

(Bài thơ về tiểu đội xe không kính – Phạm Tiến Duật)

Dẫu vậy, ở họ vẫn ngời lên ý chí quyết tâm, tinh thần sẵn sang chiến đấu hi sinh vì Tổ quốc:

“Chúng tôi đã đi không tiếc đời mình Nhưng tuổi hai mươi lam sao không tiếc Nhưng ai cũng tiếc tuổi hai mươi thì còn chi Tổ quốc?”

(Khúc bảy - Thanh Thảo)

- Văn học va âm nhạc còn la phương tiện thể hiện tư tưởng, tình cảm,

phương tiện truyền tải những thông điệp quý giá của người nghệ sĩ đến với con người và cuộc sống Thông qua các sáng tác của mình, mỗi tác giả đều bay tỏ

một tâm tư, nỗi niềm, một triết lí nhân sinh sâu sắc, thắp lên những tình cảm cao đẹp, nhằm hướng đến bạn đọc va lam thay đổi bạn đọc Đọc những sáng tác của Nam Cao, ta có thể thấy trong đó biết bao thông điêp, biết bao vấn đề xoay quanh

cuộc sống cần được nhân loại quan tâm Trong tác phẩm “Sống mòn”, Nam Cao cũng đề cập: “Chết là thường Chết ngay trong lúc sống mới thật là nhục” Theo

ông, cái đáng sợ nhất trong cuộc đời mỗi người chính la khi sự sống vẫn còn hiên

Trang 5

diên nhưng tâm hồn đã cằn cỗi, khô héo từ lâu Vấn đề chủ yếu ma ông luôn trăn trở muốn hướng đến người đọc la mỗi người cần phải sống thế nao cho có ý nghĩa

Đến với âm nhạc, Trịnh Công Sơn cũng thông qua đó để “bay tỏ một

điều gì đó với cuộc đời” Ông cho rằng âm nhạc tựa “như con đò chuyên chở nắng

mưa, hoa quả, buồn vui… từ bến bờ này sang bến bờ khác, từ người sáng tác đến công chúng” Chúng ta không thể phủ nhận mỗi bai ca của Trịnh Công Sơn như Biển nhớ, Bốn mùa thay lá, Biết đâu nguồn cội, Cát bụi, Còn tuổi nào cho em,…

đều la những thông điêp súc tích nhưng cao cả gửi đến cuộc đời, gửi đến con người những triết lí sâu xa về tình yêu, về cuộc sống, về tình cảm con người,… Đi suốt cả một đời, Trịnh Công Sơn cũng muốn nói thay lòng người những lo âu vụn vặt, những đau buồn mỏi mêt, những tiếc nuối ngỡ ngang, những băn khoăn trăn trở… về cuộc đời đa đoan, hữu hạn nay

- Văn học va âm nhạc còn thống nhất trong sự bày tỏ, thể hiện nhu cầu

tự biểu hiện, nhu cầu giao tiếp, nhu cầu tìm sự đồng cảm của người nghệ sĩ

Tự biểu hiên la sự bộc lộ chính mình, xuất phát từ ý thức về giá trị, về sự tồn tại, về quyền sống của mỗi cá nhân, từ đó dẫn đến khao khát về sự đồng cảm, sự thấu hiểu, mong muốn tìm được sự đồng vọng trong trái tim người khác Nhu cầu đó

đòi hỏi sự chia sẻ, tức la phải nói lên “Những điều trông thấy mà đau đớn long” (Nguyễn Du), phải “Nói to những điều ai cũng biết mà không phải ai cũng nói” (Mai Thánh Du) Không phải ngẫu nhiên lại có nhận định cho rằng “Thơ là một

điệu hồn đi tìm các hồn đồng điệu” Phải chăng vì thế ma con người trong thơ luôn

thanh thực về nhu cầu, về khát vọng, để nói với chính mình ma cũng la nói với người đời những nỗi lòng thầm kín va đòi hỏi một sự đồng cảm, sẻ chia, như

Nguyễn Du đã khóc cho nang Tiểu Thanh ba trăm năm trước bằng giọt lê chân

thanh của trái tim đồng điêu, va đau đáu mối hồ nghi “Bất tri tam bách dư niên

hậu/ Thiên hạ hà nhân khấp Tố Như?” (Chẳng biết ba trăm năm lẻ nữa/ Người đời

ai khóc Tố Như chăng?) Trịnh Công Sơn cũng nhận thấy ông có thể tự biểu hiên

được với người khác về những niềm vui, nỗi buồn của cuộc sống thông qua các ca khúc Qua những bai hát, ông trở thanh người tình của thiên nhiên, người bạn tri

âm tri kỉ của biết bao nhiêu người, ông đã cùng sẻ chia những hân hoan, cùng đau đớn thay cho những phiền muộn trong đời người Ông khẳng định chắc chắn rằng

“Ca khúc là đời sống thứ hai sau cái thân thể mà cha mẹ đã sinh thành”.

2. Về nghê thuật

- Hai yếu tố chính của âm nhạc la giai điệu va nhịp điệu Nhạc trong thơ

Trang 6

cũng có yếu tố nhịp điêu rõ rêt, còn yếu tố giai điêu có thể nhiều hoặc ít, tùy ở tiếng nói dân tộc Tiếng Viêt thuộc ngữ hê có thanh điêu nên trong tiếng Viêt có hiên tượng cung bậc tạo nên các quãng điêu thức Đó la cơ sở tạo nên sự phong phú của giai điêu thơ ca tiếng Viêt

Dưới đây la một ví dụ về nhịp điêu trong thơ Nhịp điêu mang lại sự hai hòa

du dương tạo không khí, sắc thái thẩm mĩ riêng cho mỗi sáng tác, lam cho người nghe cảm thấy êm tai, thoải mái, dễ chịu:

“Mình đi, có nhớ những ngay Mưa nguồn suối lũ những mây cùng mù

Mình về, có nhớ chiến khu

Miếng cơm chấm muối, mối thù nặng vai”…

(Việt Bắc – Tố Hữu)

“Đường ra trận mùa nay đẹp lắm Trường Sơn Đông, nhớ Trường Sơn Tây

(Trường Sơn Đông, Trường Sơn Tây – Phạm Tiến Duật)

- Văn học va âm nhạc còn mang tính phi vật thể Bởi lẽ, hình tượng âm

nhạc được tạo dựng bằng chất liêu âm thanh, còn hình tượng văn học được xây dựng nhờ chất liêu ngôn từ Âm thanh va ngôn từ giúp cho hình tượng chỉ hiên lên trong trí tưởng tượng của người đọc, ở chủ thể cảm thụ ma không thể dùng các giác quan để hình dung rõ nét Vì vậy khi thưởng thức một tác phẩm văn học hay lắng nghe một bản nhạc, mỗi người lại có một cảm nhận riêng về một đối tượng

Ví dụ như khi đọc thi phẩm “Truyện Kiều” của Nguyễn Du, mỗi một người tiếp

nhận lại có những đánh giá riêng mình về hình tượng nhân vật Kiều Bên cạnh muôn van lời ngợi ca vẻ đẹp, tai năng, tấm lòng của nhân vật Kiều, cũng có không

ít những lời đánh giá khắt khe Một trong số đó phải kể đến Nguyễn Công Trứ, ông

cho rằng Kiều bán mình đi lam “vợ” người ta la tính cách “ta dâm” không đánh lừa được người đời dù biên bạch bằng các lý do nay khác Ông khẳng định viêc “đoạn trường” la “đáng kiếp” Còn trong âm nhạc, người ta cũng đã thử lam thí nghiêm cho nhiều người cùng nghe một khúc nhạc cổ điển va yêu cầu mỗi người đưa ra nội dung tư tưởng của khúc nhạc đó Người thì cho rằng đó la cuộc đời của một cô gái bị hại, người cho la câu chuyên một loai hoa bị bão táp quật ngã, người thì khẳng định nói về con bướm nhỏ bị thiêu cháy trong đống than Như vậy, có thể kết luận rằng, nhờ có tính phi vật thể, ma hình tượng văn học va âm nhạc hiên lên một cách sinh động hơn trong cảm nhận của mỗi người Va, nó đòi hỏi sự tích cực, chủ động tưởng tượng, liên tưởng, sáng tạo của người thưởng thức

Trang 7

III. SỰ ẢNH HƯỞNG GIỮA VĂN HỌC VÀ ÂM NHẠC

Biểu hiên rõ nhất sự ảnh hưởng nay la tính nhạc trong văn học

- Tính nhạc tập trung biểu hiên ở cách hiêp vần, ngắt nhịp, phối thanh nhưng nó cũng tạo lên xung, trầm bổng, nhanh chậm như quãng giai điêu trong môt bản nhạc

Ví dụ: trong câu thơ của Quang Dũng trong bai thơ “Tây Tiến” có viết:

“Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi”

Ta thấy nhịp thơ 4/3 đã tạo nên câu thơ vừa có nhạc vừa có thanh nó thể hiên qua

“sông Mã xa rồi” hạ xuống để nói nên nỗi nhớ, sự tiếc nuối để rồi “Tây Tiến ơi”

dâng lên trong tha thiết trong tiếng gọi của nỗi nhớ Đây la nhạc của cảm xúc, nhạc của trái tim của một người nhớ về một thời gian khó khăn nhưng cũng rất hao hùng

Hay trong thơ Tố Hữu, để diễn tả công viêc “phá đường” tiêu thổ kháng chiến hồi đầu kháng chiến chống Pháp, Tố Hữu viết:

Hì hà hì hục Lục cục lào cào Anh cuốc em cuộc

Đá lở đất nhào

Ở đây, có nhiều yếu tố nhạc tính cùng tham gia gây hiêu quả cho đoạn thơ ,

chẳng hạn các từ “hì hà hì hục”, “lục cục lào cào” gợi một không khí lao động

chiến đấu sự nhiêt tình lam hết mình Bên cạnh đó còn gây cảm giác gì đó không

yên ả, bằng lặng, chẳng hạn “lở”, “nhào”.

mang một tâm trạng mau sắc nhạc tính” Tính nhạc có vai trò rất quan trọng trong văn học đặc biêt la trong thơ Ngay cả khi ta đọc thơ bằng mắt thì các từ ngữ vẫn vang lên thanh những âm hưởng đâu đó trong đầu ta va tâm hồn cùng trí não ta tiếp cận với tác phẩm chứ không thuần túy qua ngữ nghĩa như khi ta đọc một công trình khoa học, bởi thế chỉ cần nghe một người nao đó đọc có diễn cảm một đoạn thơ la

ta có thể biết cái cách người đó cảm thụ đoạn thơ đó như thế nao Vì thế ma có

Trang 8

những câu chuyên nghe ngâm thơ, hát nói,… cũng khiến con người ta lay động cảm xúc: những bai khóc cho cha mẹ trong đám hiếu…

các âm, ngữ điêu, vần nhịp, độ ngân vang của các từ trong câu thơ văn dựa trên cơ

sở ngữ âm.Cũng giống như âm thanh âm nhạc, âm thanh của ngôn từ đều xuất phát từ một động cơ: nhu cầu tự biểu hiên, bộc lộ cảm xúc, tâm tình vì âm thanh gắn chặt với cảm xúc

Ví dụ: Bức tranh sống động về cơn mưa tươi vui, rộn rang dưới con mắt của

nha thơ Trần Đăng Khoa miêu tả âm thanh:

“mưa

mưa

ù ù như xay lúa

lộp bộp

lộp bộp.”

Người đọc cảm nhận được cả không gian đất trời mù trắng nước Nước sủi bọt bong bóng phập phồng dưới mái hiên Cây lá được uống mưa, tắm mưa tươi tỉnh hả hê sung sướng

hứng sáng tạo Âm thanh tạo cho con người ta cảm hứng sáng tác chả vì thế ma

khi nghe thấy một cháu bé khóc, khi biết nguyên nhân phải vao tù, Bác đã xúc động viết bai Cháu bé trong nha lao Tân Dương:

Oa…!Oa…!Oa…!

Cha trốn không đi lính nước nha

Nên nỗi thân em vừa nửa tuổi Phải theo mẹ đến ở nha pha

cho thơ văn trở nên phong phú có nhịp điêu lôi cuốn người nghe

Trang 9

- Âm nhạc lam tăng giá trị biểu tượng cho văn chương Ở phương Đông,

quan niêm “Thi trung hữu nhạc ” la quan niêm phổ biến từ rất lâu Các quy luật

được đưa ra để duy trì duy trì sự trầm bổng, sự hai hòa ngân vang của âm thanh Mối tương quan giữa trữ tình va âm nhạc khiến ngôn từ va âm luật trong chữ tình không thể tách rời

Ví dụ: Để diễn đạt những tình huống mang cảm xúc mạnh mẽ, hùng tráng,

chẳng hạn: Nguyễn Du tả Từ Hải chẳng hạn:

“Đội trời, đạp đất, ở đời Họ Từ, tên Hải, vốn người Viêt Đông…”

Hay vẻ đẹp dung nhan, tai năng không ai sánh bằng của Thúy Kiều:

“Một hai nghiêng nước nghiêng thanh Sắc đanh đòi một tai đanh họa hai.”

Tóm lại, trong nghê thuật thơ, vấn đề nhạc tính chiếm một vị trí cực kỳ quan trọng,

va chắc chắn viêc đổi mới, lam phong phú thêm nhạc tính của ngôn ngữ thơ phải la mối quan tâm hang đầu cho những ai có tham vọng cách tân thơ ca, đáp ứng được nhu cầu thụ cảm va thưởng thức ngay cang cao của công chúng yêu thơ

IV. SỰ VAY MƯỢN

Với những tác động va ảnh hưởng to lớn giữa văn học va âm nhạc như vậy thì vấn đề vay mượn la điều tất yếu

1. Âm nhạc vay mượn từ văn học

- Âm nhạc đã có sự vay mượn nguồn cảm hứng từ văn học thông qua

viêc phổ nhạc các bai thơ thanh các bai hát

Ví dụ: bai thơ “Mùa xuân nho nhỏ” của Thanh Hải đã được phổ thanh

bai hát Bai thơ “Bài học đầu cho con” của Đỗ Trung Quân được nhạc sỳ Giáp

Văn Thạch phổ nhạc lấy tên “Quê hương”…

- Ca dao, dân ca trong văn học dân gian được thể hiên rất rõ, mỗi bai ca dao đặt trong môi trường diễn xướng đều có thể ca, để hát, để hò trong cuộc sống sinh hoạt của người dân va nhờ phổ nhạc những câu thơ lục bát đã tạo nên những điêu hát Nhiều điêu hò đã để lại thanh di sản văn hóa dân tộc như dân ca quan họ Bắc Ninh, hát ví, hát dặm Nghê Tĩnh, hát đúm Hải Phòng…

- Không chỉ vấn đề phổ nhạc ma văn học cũng là nguồn cảm hứng cho

thơ ca điều nay được thể hiên qua Lê Cát Trọng Lý giải thích “chênh vênh” đó la:

“Đó là cảm xúc sau khi em đọc câu chuyện về Tiên Dung – Chử Đổng Tử”, Phạm Hồng Phước với ca khúc “Cảm ơn người đã rời xa tôi” được sáng tác dựa trên cuốn sách cùng tên của tác giả trẻ Hà Thanh Phúc Hay ca khúc “Tôi thấy hoa

Trang 10

vàng trên cỏ xanh” do ca sĩ Ái Phương thể hiên được lấy ý tưởng do nhạc sỹ Đăng

Khoa lấy cảm hứng từ cuốn tiểu thuyết cùng tên của nha văn Nguyễn Nhật Ánh

- Tiếp đến âm nhạc vay mượn những điển tích trong văn học

Ví dụ: sáng tác của Lý Cát Trọng Lý trong bai “Cười Adam” có nhiều

hình ảnh gắn bó với những điển tích như Lạc Long Quân, Âu Cơ trong truyền thuyết Viêt Nam cho đến Adam va Êva từ thưở hồng hoang trong kinh thánh được mang vao ca từ của Lý

- Âm nhạc còn vay mượn các biện pháp tu từ trong văn học như ẩn dụ,

so sánh, tượng trưng, ước lê, điêp từ, điêp cấu trúc…

Ví dụ: ẩn dụ tình cảm anh va em trong bai hát “Thuyền và biển”

được phổ nhạc Phan Huỳnh Điểu hay bai hát “Tự nguyện” đã sử dụng ví von, so

sánh, điêp cấu trúc:

“Nếu la chim tôi sẽ la loai bồ câu trắng

Nếu la hoa tôi sẽ la một đóa hướng dương

Nếu la mây tôi sẽ lam một vầng mây ấm

La người tôi xin chết cho quê hương”

Nói tóm lại, cảm hứng văn học cùng với ngôn từ giau thanh điêu, nhạc điêu trong

văn thơ va những biên pháp nghê thuật la cái ma âm nhạc đã vay mượn từ văn học

2. Văn học vay mượn từ âm nhạc

- Văn học vay mượn ở âm nhạc hình thức ca, ngâm, hò… để lưu truyền

những bai ca dao, dân ca, ngâm khúc như “Chinh phụ ngâm”, “Cung oán ngâm

khúc”…

- Văn học vay mượn ở âm nhạc cả nguồn cảm hứng và ấn tượng trong

âm nhạc như Sinlo có lần tâm sự: “Trước hết tâm hồn tôi tran ngập bởi một ý

tưởng âm nhạc nao đấy va tư tưởng thi ca tìm đến tiếp theo” Từ đây chứng tỏ âm nhạc cung cấp, gợi ý cho văn chương các tứ thơ va ý thơ Âm nhạc cũng cung cấp cho văn chương những môtip đề tai: tiếng đan Thạch Sanh, tiếng đan Kiều, tiếng đan Trương Chi

Tóm lại la văn học vay mượn những yếu tố nhạc đã tạo nên tính nhạc trong thơ ca

cùng với đó la vay mượn hình thức ca, ngâm, hò đã tạo nên nguồn cảm hứng cho văn học va gợi ý cho văn chương những môtip những ý thơ giau biểu đạt

Ngày đăng: 16/10/2017, 16:56

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w