1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

SKKN Một số kinh nghiệm dạy bồi dưỡng học sinh giỏi môn Ngữ văn Trung học phổ thông chuyên đề Lý luận văn học và Nghị luận xã hội

85 888 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 85
Dung lượng 572,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

SKKN Một số kinh nghiệm dạy bồi dưỡng học sinh giỏi môn Ngữ văn Trung học phổ thông chuyên đề Lý luận văn học và Nghị luận xã hộiSKKN Một số kinh nghiệm dạy bồi dưỡng học sinh giỏi môn Ngữ văn Trung học phổ thông chuyên đề Lý luận văn học và Nghị luận xã hộiSKKN Một số kinh nghiệm dạy bồi dưỡng học sinh giỏi môn Ngữ văn Trung học phổ thông chuyên đề Lý luận văn học và Nghị luận xã hộiSKKN Một số kinh nghiệm dạy bồi dưỡng học sinh giỏi môn Ngữ văn Trung học phổ thông chuyên đề Lý luận văn học và Nghị luận xã hộiSKKN Một số kinh nghiệm dạy bồi dưỡng học sinh giỏi môn Ngữ văn Trung học phổ thông chuyên đề Lý luận văn học và Nghị luận xã hộiSKKN Một số kinh nghiệm dạy bồi dưỡng học sinh giỏi môn Ngữ văn Trung học phổ thông chuyên đề Lý luận văn học và Nghị luận xã hộiSKKN Một số kinh nghiệm dạy bồi dưỡng học sinh giỏi môn Ngữ văn Trung học phổ thông chuyên đề Lý luận văn học và Nghị luận xã hộiSKKN Một số kinh nghiệm dạy bồi dưỡng học sinh giỏi môn Ngữ văn Trung học phổ thông chuyên đề Lý luận văn học và Nghị luận xã hộiSKKN Một số kinh nghiệm dạy bồi dưỡng học sinh giỏi môn Ngữ văn Trung học phổ thông chuyên đề Lý luận văn học và Nghị luận xã hộiSKKN Một số kinh nghiệm dạy bồi dưỡng học sinh giỏi môn Ngữ văn Trung học phổ thông chuyên đề Lý luận văn học và Nghị luận xã hộiSKKN Một số kinh nghiệm dạy bồi dưỡng học sinh giỏi môn Ngữ văn Trung học phổ thông chuyên đề Lý luận văn học và Nghị luận xã hội

Trang 1

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Bồi dưỡng học sinh giỏi môn Ngữ văn được xem là công tác mũi nhọn và trọngtâm của trường THPT Chuyên nói chung và là nhiệm vụ quan trọng, thường xuyên củangười giáo viên dạy chuyên nói riêng Nó góp phần quan trọng trong việc hình thành,phát triển các năng lực, bồi dưỡng nhân tài của người học đồng thời nâng cao trình độchuyên môn, tay nghề của người dạy

Bồi dưỡng học sinh giỏi môn Ngữ văn là công việc khó khăn và lâu dài, đòi hỏinhiều công sức của cả thầy và trò, đặc biệt người thầy phải thật tâm huyết, tinh tếtrong công tác phát hiện, tuyển chọn và bồi dưỡng

Những năm gần đây, đề thi chọn học sinh giỏi các cấp của các Tỉnh, Khu vực,Quốc gia có cấu trúc chung gồm hai câu: câu 1 là câu nghị luận xã hội với mức điểm8/20 điểm, câu 2 là nghị luận văn học với mức điểm 12/20 điểm; trong câu hỏi số 2học sinh cần phải có những kiến thức lý luận văn học cơ bản để làm bài Trên thực tế,phạm vi đề ra về kiến thức lý luận và nghị luận xã hội là rất rộng mà số tiết phân bốcho việc dạy bồi dưỡng không nhiều nên việc bồi dưỡng còn gặp những khó khăn nhấtđịnh

Sau nhiều năm nghiên cứu, với những kết quả đã đạt được, chúng tôi xin traođổi kinh nghiệm và chia sẻ nguồn từ liệu để áp dụng vào công tác bồi dưỡng học sinh

giỏi môn Ngữ văn nhằm nâng cao chất lượng đội tuyển với giải pháp Một số kinh nghiệm dạy bồi dưỡng học sinh giỏi môn Ngữ văn Trung học phổ thông chuyên đề Lý luận văn học và Nghị luận xã hội.

2 Giới hạn (Phạm vi và mục đích nghiên cứu)

2.1 Phạm vi nghiên cứu

Nghiên cứu của đề tài này gồm hai nội dung: Lý luận văn học (một phần yêucầu trong câu 12 điểm) và Nghị luận xã hội (câu 8 điểm) Nghiên cứu được tiến hànhgiảng dạy ở các đội tuyển chọn học sinh giỏi dự thi cấp Tỉnh, Khu vực của trườngTHPT Chuyên Bảo Lộc và đội tuyển học sinh giỏi dự thi cấp Quốc gia của Tỉnh LâmĐồng cụ thể như sau:

Trang 2

- Đội tuyển Olimpic Ngữ văn 10,11 năm học 2013 – 2014

- Đội tuyển Olimpic Ngữ văn 10,11 năm học 2014 – 2015

- Đội tuyển Olimpic Ngữ văn 10,11 năm học 2015 – 2016

- Đội tuyển thi chọn Học sinh giỏi cấp Tỉnh năm học 2013 – 2014

- Đội tuyển thi chọn Học sinh giỏi cấp Tỉnh năm học 2014 – 2015

- Đội tuyển thi chọn Học sinh giỏi cấp Tỉnh năm học 2015 – 2016

- Đội tuyển thi chọn Học sinh giỏi cấp Quốc gia năm học 2015 – 2016

2.2 Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu này nhằm mục đích:

- Trao đổi kinh nghiệm và chia sẻ nguồn tư liệu dùng cho giảng dạy, bồi dưỡnghọc sinh giỏi môn Ngữ văn các cấp

- Đổi mới phương pháp dạy bồi dưỡng học sinh giỏi môn Ngữ văn theo hướngtích hợp, ứng dụng công nghệ thông tin nhằm nâng cao chất lượng đội tuyển

- Phát huy tính tích cực, tạo hứng thú học tập, rèn luyện kĩ năng làm văn nghịluận xã hội và Lý luận văn học

3 Phương pháp nghiên cứu

Thực hiện giải pháp này chúng tôi đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu chủyếu: Thống kê, phân tích, so sánh đối chiếu, tổng hợp đánh giá vấn đề, thực nghiệm…

4 Thời gian nghiên cứu

Từ tháng 9/ 2012 đến nay

Trang 3

Như vậy, văn nghị luận là loại văn phổ biến trong nhà trường, thường được lấylàm yêu cầu của phần làm văn trong các đề thi hiện nay Nội dung và cấu trúc của một

văn bản nghị luận được hình thành từ các yếu tố cơ bản là: Vấn đề cần nghị luận (luận đề), luận điểm, luận cứ và lập luận (luận chứng) Căn cứ vào nội dung nghị luận, có

thể chia văn nghị luận thành hai loại: nghị luận văn học và nghị luận xã hội

II Nghị luận xã hội

Nghị luận xã hội là một dạng bài trong văn nghị luận, dùng lí lẽ và dẫn chứng

để bàn bạc về một vấn đề xã hội nhằm thể hiện quan điểm, tư tưởng, lập trường củangười viết Nghị luận xã hội không chỉ mang những đặc điểm chung của văn nghị luậnmà còn có những đặc trưng riêng Trước hết, đề tài của dạng bài nghị luận xã hội hếtsức rộng mở gắn liền với đời sống thực tiễn phong phú đa diện đa chiều Nó gồm tất

cả những vấn đề về tư tưởng, đạo lí, lối sống, quan niệm sống hay một hiện tượng tíchcực hoặc tiêu cực đang diễn ra trong cuộc sống hàng ngày Bên cạnh đó, có thể nói,nghị luận xã hội là dạng bài văn ghi đậm dấu ấn cá nhân của người viết nhất Trướccác vấn đề xã hội, người viết có quyền bộc lộ thẳng thắn suy nghĩ, quan điểm củamình, có quyền đồng tình hoặc không đồng tình, bảo vệ quan điểm của mình hoặcphản bác những ý kiến đi ngược lại với nhận thức của bản thân

Nghị luận xã hội thường được chia thành ba dạng:

Trang 4

- Nghị luận về một tư tưởng, đạo lí: Bàn luận về một vấn đề tư tưởng, đạo đức,

lối sống… của con người, mang tính khái quát cao về những chân lí, những bài học

đạo đức; góp phần định hướng cho con người có lẽ sống tốt đẹp

- Nghị luận về một hiện tượng đời sống: Bàn luận về một hiện tượng, một vấn

đề có tính thời sự, được dư luận xã hội quan tâm, thường đi vào những vấn đề cụ thể(như những biểu hiện tích cực hoặc tiêu cực) trong cuộc sống Từ đó, gợi ý cho conngười những hành vi và cách ứng xử đúng đắn

- Nghị luận về một vấn đề xã hội đặt ra trong tác phẩm văn học: Bàn luận về

một vấn đề xã hội (một tư tưởng, đạo đức, lối sống hoặc một hiện tượng đời sống)được rút ra từ một câu/ một đoạn trích hoặc rút ra từ nội dung của một tác phẩm vănhọc nào đó Xuất phát từ nội dung xã hội cụ thể trong một tác phẩm văn học, đề bàihướng đến mục tiêu: Hình thành cho học sinh năng lực khái quát vấn đề, thể hiện quanđiểm của mình trước những vấn đề đời sống

Ngoài những nét khác biệt như trên, ba dạng đề này còn có những điểm tươngđồng về:

- Về nội dung: Cùng đề cập đến những vấn đề xã hội, góp phần nâng cao nhận thức và

định hướng về lối sống, cách ứng xử cho con người

- Về phương pháp nghị luận: Để thực hiện các dạng bài trên, người viết đều cần vận dụng kết hợp các thao tác lập luận như: giải thích, bình luận, phân tích, chứng minh, bác bỏ để bàn luận, trình bày quan điểm của mình xoay quanh vấn đề xã hội được đề

cập

III Lý luận văn học

Lý luận văn học là bộ môn nghiên cứu văn học ở bình diện lý thuyết khái quát,bao gồm trong đó sự nghiên cứu bản chất của sáng tác văn học, chức năng xã hội -thẩm mỹ của nó, đồng thời xác định phương pháp luận và phương pháp phân tíchvăn học văn học Đối tượng nghiên cứu gồm các nhóm lý thuyết chính:

- Đặc trưng văn học: là hoạt động sáng tạo tinh thần của con người bao gồm tính hình tượng, tính nghệ thuật, lý tưởng thẩm mỹ, các thuộc tính xã hội của văn học, các

Trang 5

nguyên tắc đánh giá sáng tác văn học nói chung

- Cấu trúc tác phẩm: bao gồm các khái niệm về đề tài, chủ đề, nhân vật, tính cách, cảmhứng, cốt truyện, kết cấu, các vấn đề phong cách học, ngôn ngữ, thi pháp, luật thơ

- Quá trình văn học: bao gồm các khái niệm chính về phong cách, các loại và các thể văn học, các trào lưu, khuynh hướng văn học và các quá trình văn học nói chung

B Cơ sở thực tiễn

I Thời lượng và nội dung kiến thức học sinh được học

1 Lý luận văn học

Chương trình Ngữ văn THPT, phần Lí luận văn học được phân bố 7 tiết với 4 bài:

+ Lớp 10: Văn bản văn học (1 tiết).

+ Lớp 11: Một số thể loại văn học (2 tiết).

+ Lớp 12: Quá trình văn học và phong cách văn học (2 tiết), Giá trị văn

học và tiếp nhận văn học (2 tiết).

Chương trình chuyên sâu, phần Lí luận văn học được phân bố 33 tiết với 5 chuyên đề:

+ Văn học – Nhà văn – Quá trình sáng tác (5 tiết) - Lớp 10.

+ Đọc hiểu văn bản văn học (6 tiết) – Lớp 11.

+ Đọc thơ, truyện ngắn, tiểu thuyết, kịch (8 tiết) - Lớp 11.

+ Tiếp nhận văn học và các giá trị của văn học (7 tiết) - Lớp 12.

+ Một số vấn đề về quá trình văn học (7 tiết) - Lớp 12.

Kiến thức lí luận văn học vốn là những kiến thức khái quát về bản chất, giá trịcủa văn học, cấu trúc tác phẩm, quá trình văn học được vận dụng trong bài làm văn.Đối với một bài văn học sinh giỏi, đòi hỏi học sinh phải biết vận dụng kết hợp kiếnthức lí luận với khả năng đọc - hiểu, cảm thụ văn bản Vậy, dạy thế nào để trang bịđược những kiến thức lí luận văn học cơ bản và cần thiết cho học sinh?

2 Nghị luận xã hội

Chương trình Ngữ văn THPT, nội dung nghị luận xã hội được phân bố như sau:

+ Lớp 10: Bài viết số 3 (2 tiết).

+ Lớp 11: Bài viết số 1 (1 tiết), Bài viết số 5 (1 tiết),

Trang 6

+ Lớp 12: Nghị luận về một tư tưởng, đạo lí (1 tiết), Nghị luận về một

hiện tượng đời sống (1 tiết), Bài viết số 1 (1 tiết), Bài viết số 2 (về nhà)

Số tiết phân bố cho dạy đội tuyển quốc gia là 48/300 tiết, đội tuyển Tỉnh, Khuvực là 20/90 tiết

II Thống kê một số đề thi chọn học sinh giỏi các cấp trong thời gian gần đây

1 Đề thi chọn học sinh giỏi của Tỉnh Lâm Đồng

- Năm học 2013 - 2014

Câu 1: (8 điểm)

Một anh chàng nọ nói với mọi người rằng anh ta rất muốn từ bỏ thế giới này nhưng vì gia đình quá yêu thương anh ta nên anh không đành lòng ra đi.

Chuyện này đến tai một nhà thông thái Ông bèn bảo anh chàng kia rằng:

- Có thật như vậy không? Để ta thử xem nhé …

Nhà thông thái yêu cầu anh chàng hãy giả vờ chết để xem chuyện gì sẽ xảy ra Ngày hôm sau, theo hướng dẫn của nhà thông thái, anh chàng giả chết y như thật Cả gia đình anh ta không ngừng khóc than thảm thiết Đúng lúc ấy, nhà thông thái xuất hiện và bảo rằng ông có khả năng làm cho anh chàng sống lại với điều kiện ai đó chịu chết thay cho anh ta Ông hỏi:

- Có ai tình nguyện không?

Và “xác chết” đã hết sức ngạc nhiên khi mọi thành viên trong gia đình đều từ chối yêu cầu chết thay Họ đưa ra những lý do hết sức chính đáng cho việc vì sao mình cần phải sống…, vợ anh ta nói rằng:…………

(Theo Hạt giống tâm hồn: Bài học vô giá từ những điều bình dị, NXB Tổng hợp

TPHCM)

1 Lời người vợ?

2 Câu chuyện trên gợi cho anh/chị suy nghĩ gì?

Câu 2: (12 điểm)

Sự thăng hoa tình yêu cuộc sống của Xuân Diệu trong thi phẩm Vội vàng và Hàn Mặc Tử trong thi phẩm Đây thôn Vĩ Dạ.

Vội vàng

Trang 7

Xuân Diệu

Tặng Vũ Đình Liên

Tôi muốn tắt nắng đi

Cho màu đừng nhạt mất;

Tôi muốn buộc gió lại

Cho hương đừng bay đi

Của ong bướm này đây tuần tháng mật;Này đây hoa của đồng nội xanh rì;

Này đây lá của cành tơ phơ phất;

Của yến anh này đây khúc tình si;

Và này đây ánh sáng chớp hàng mi,

Mỗi buổi sớm, thần Vui hằng gõ cửa;Tháng giêng ngon như một cặp môi gần;Tôi sung sướng Nhưng vội vàng một nửa:Tôi không chờ nắng hạ mới hoài xuân

Xuân đương tới, nghĩa là xuân đương qua,Xuân còn non, nghĩa là xuân sẽ già,

Mà xuân hết, nghĩa là tôi cũng mất

Lòng tôi rộng, nhưng lượng trời cứ chật,Không cho dài thời trẻ của nhân gian,Nói làm chi rằng xuân vẫn tuần hoàn,Nếu tuổi trẻ chẳng hai lần thắm lại!

Còn trời đất, nhưng chẳng còn tôi mãi,Nên bâng khuâng tôi tiếc cả đất trời;Mùi tháng năm đều rớm vị chia phôi,Khắp sông núi vẫn than thầm tiễn biệt…

- Năm học 2014 - 2015

Trang 8

Đây là câu chuyện có thật diễn ra ở Nhật Bản – câu chuyện lạ lùng và cảm động

về một loài vật vốn đã rất quen thuộc với chúng ta.

Chuyện kể rằng, khi sửa nhà, một anh thanh niên người Nhật đã tìm thấy một con thằn lằn bị kẹt bên trong khe hở nhỏ giữa hai bức tường bằng gỗ Một sự tình cờ nào đó đã khiến chân chú thằn lằn tội nghiệp bị cây đinh ghim vào tường Nhưng lạ lùng hơn nữa là căn nhà đã được xây dựng hơn mười năm, điều đó đồng nghĩa với việc chú đã sống trong tình trạng này suốt thời gian qua.

Quá ngạc nhiên với những gì diễn ra trước mắt, chàng trai bèn ngưng làm việc

và tò mò theo dõi xem chú thằn lằn đã sống ra sao trong tình trạng bị “cầm tù” như vậy Không lâu sau đó, anh nhìn thấy một con thằn lằn khác xuất hiện, miệng ngậm đồ

ăn đến bên con thằn lằn bị ghim vào tường

Một cảnh tượng thật cảm động Con thằn lằn bị ghim đinh đã được một con thằn lằn khác nuôi ăn trong suốt mười năm qua Không ngờ loài vật tưởng chừng không suy nghĩ, không cảm xúc lại có thể có một tình cảm sâu nặng đến như vậy Có

lẽ, chỉ tình yêu mới tạo nên nghị lực sống và tinh thần phục vụ kỳ diệu đến thế.

Thử tưởng tượng cặp thằn lằn ấy đã sống thế nào suốt chừng ấy năm Chắc hẳn con thằn lằn bị đinh ghim dù phải chịu đau đớn nhưng vẫn không ngừng hy vọng Với con còn lại, nó đã làm việc không biết mệt mỏi và không hề bỏ rơi bạn mình trong suốt mười năm Loài sinh vật nhỏ này đã làm được điều mà con người chúng ta cũng phải thán phục Chúng ta thì sao?…

(Theo Hạt giống tâm hồn: Những câu chuyện cuộc sống, Nxb Tổng hợp

(Từ điển thuật ngữ Văn học, Nxb Giáo dục, năm 1992, trang 253)

Trang 9

Anh/chị hiểu như thế nào về ý kiến trên? Bằng việc tìm hiểu một số truyện ngắntrong chương trình Ngữ văn THPT, anh/chị hãy trình bày ý kiến của mình.

- Năm học 2015 - 2016

Câu 1: (8 điểm)

Sự bình yên

Một vị vua treo giải thưởng cho họa sĩ nào vẽ được bức tranh đẹp nhất về

sự b́nh yên Nhiều họa sĩ đã cố công dùng tài năng của mình để thể hiện sự bình yên ở nhiều góc độ của cuộc sống Nhà vua ngắm tất cả những bức tranh, nhưng ông chỉ thích có hai bức, và phải chọn lấy một.

Trong hai bức tranh đó:

– Một bức tranh vẽ hồ nước yên ả Mặt hồ là tấm gương tuyệt mỹ với những ngọn núi cao chót vót bao quanh Bên trên là bầu trời xanh với những đám mây trắng bồng bềnh, trôi lững lờ Tất cả những ai ngắm bức tranh đều cho rằng đây là một bức tranh bình yên thật hoàn hảo.

– Bức tranh thứ hai cũng có những ngọn núi, nhưng là những ngọn núi trần trụi và lởm chởm đá Bên trên, bầu trời giận dữ đổ mưa như trút, kèm theo sấm chớp

ầm ầm Bên vách núi là dòng thác cuồn cuộn nổi bọt trắng xóa Thật chẳng bình yên chút nào!

Nhưng sau khi nhà vua ngắm nhìn, ông thấy đằng sau dòng thác là một bụi cây nhỏ mọc lên từ khe nứt của một tảng đá Nơi đó, giữa dòng thác trút nước xuống một cách giận dữ, có con chim mẹ đang thản nhiên đậu trên tổ của mình, bên cạnh đàn chim con ríu rít… Bình yên thật sự…

“Ta chấm bức tranh này!”- Nhà vua công bố “Sự bình yên không có nghĩa là không ồn ào, không giận dữ Bình yên có nghĩa là ngay chính khi đang ở trong phong

ba bão táp, ta vẫn cảm thấy còn có sự yên tĩnh hiện diện trong nội tâm mình Đó mới

là ý nghĩa thực sự của sự bình yên”.

Anh (chị) hãy bình luận về sự lựa chọn của nhà vua

Câu 2: (12 điểm)

Trang 10

Quy luật tổng quát, bao trùm của văn học là “tương ứng với cuộc sống, với thời đại, là độc đáo, là không lặp lại” (Theo Lí luận văn học – vấn đề và suy nghĩ, Nxb Giáo dục,

(Theo Hạ Chi– Báo Hoa học trò)Anh (chị) có suy nghĩ gì về việc mọi người, đặc biệt là giới trẻ, đón nhận khẩuhiệu YOLO một cách nồng nhiệt đến vậy?

Câu 2: (12 điểm)

Nhà thơ lớn ư? Là để cho nhân loại yêu mình bằng mọi cách

Khi thì nâng niu Khi thì hạch sách

Khi giày vò mỗi chữ

Khi trân trọng ngắm từ xa

Nhà thơ vẫn vẹn nguyên qua trăm lần thử lửa

(Thơ Bình Phương – đời lập phương, Chế Lan Viên toàn tập, NXB Văn học, 2002)

Anh (chị) hiểu như thế nào về ý thơ trên? Bằng những hiểu biết về Truyện Kiều,

đặc biệt là các đoạn trích được học trong chương trình Ngữ văn 10, hãy chứng minh

Trang 11

Truyện Kiều của đại thi hào Nguyễn Du xứng đáng là một kiệt tác qua trăm lần thử lửa.

*Lớp 11

Câu 1: (8 điểm)

Nick Vujicic – tác giả cuốn sách Cuộc sống không có giới hạn từng tâm sự: “Từ sâu thẳm trái tim mình, tôi tin rằng cuộc đời không có bất cứ giới hạn nào hết Cho dù những thách thức mà bạn đang phải đối mặt là gì đi nữa, cho dù những thách thức ấy

co khốc liệt, nghiệt ngã đến mức nào chăng nữa, tôi cũng mong bạn hãy tin tưởng và cảm thấy như vậy về cuộc sống của mình”

Ý kiến trên gợi cho anh (chị) suy nghĩ già về những giới hạn của cuộc sống?

Câu 2: (12 điểm)

Văn học của cả dân tộc giống như một cây đàn và mỗi nhà văn giống như một sợi dây Trên cây đàn có những cung bậc riêng, âm điệu riêng nhưng chúng hợp lại tạo nên một giai điệu chung Từ hiểu biết về các tác phẩm Vội vàng của Xuân Diệu, Chí Phèo

của Nam Cao, làm sáng tỏ ý kiến trên

Trang 12

Ạnh (chị) hiểu nhận định trên như thế nào? Hãy cảm nhận về ngọn lửa đời rất ấm

trong các tác phẩm Cảnh ngày hè (Nguyễn Trãi) và Đọc Tiểu Thanh kí (Nguyễn Du)

*Lớp 11

Câu 1: (8 điểm)

“Bạn là một nhãn hiệu Khi người ta nghe tên bạn, họ liên tưởng ngay đến điều gì đó Khi nhìn thấy bạn, họ nảy sinh một cảm xúc nhất định Dù thích hay không, bạn vẫn thực sự là một nhãn hiệu”

Đó là chia sẻ của Robin Sharma, một trong những chuyên gia hàng đầu thế giới vềhuấn luyện nghệ thuật lãnh đạo và phát triển bản thân, tác giả của tám cuốn sách bán

chạy nhất thế giới Còn anh (chị) , anh (chị) nghĩ sao về nhãn hiệu của con người trong

(Hành trình của bầy ong – Nguyễn Đức Mậu)

Hành trình của bày ong trong đoạn thơ trên gợi cho anh, chị suy nghĩ gì về hành trình

sáng tạo của người nghệ sĩ? Anh, chị có cảm nhận gì về những mùa hoa mà Xuân Diệu và Nguyễn Tuân đã giữ lại cho con người, cuộc đời qua các tác phẩm Vội vàng và Chữ người tử tù.

- Năm học 2015 – 2016

*Lớp 10

Câu 1: (8 điểm)

Trang 13

Đất ôm ấp cho những hạt nảy mầm Nhưng chồi tự vươn mình tìm ánh sáng Nếu tất cả đường đời đều trơn láng Thì chắc gì ta nhận được ra nhau?

(Tự sự – Nguyễn Quang Hưng)

Đoạn thơ trên gợi cho anh/ chị những suy nghĩ gì về vấn đề “ta nhận được ra ta” trongđời sống?

Câu 2: (12 điểm)

Nhà văn là “người vẫn còn mang vết thương đã lại đi chữa vết thương cho người khác”

(Theo Sỏi đá buồn tênh – Nguyễn Ngọc Tư)

Bằng một vài tác phẩm văn học trung đại trong chương trình Ngữ văn 10, anh/ chị hãylàm sáng tỏ ý kiến trên

Câu 1 (8,0 điểm): Phải chăng sống là tỏa sáng?

Câu 2 (12,0 điểm): “Văn học chân chính ngay cả khi nói về cái xấu, cái ác cũng chỉ

Trang 14

Câu 2 (12,0 điểm): Marcel Proust quan niệm: “Thế giới được tạo lập không phải một lần, mà mỗi lần người nghệ sĩ độc đáo xuất hiện thì lại một lần thế giới được tạo lập”.

Tô Hoài cho rằng: “Mỗi trang văn đều soi bóng thời đại mà nó ra đời ” Bằng trải

nghiệm văn học của bản thân anh/ chị hãy bình luận những nhận định trên

Qua khảo sát, nghiên cứu chúng tôi nhận thấy nghị luận xã hội và Lý luận vănhọc là dạng đề đắc dụng trong các đề thi chọn học sinh giỏi Tỉnh, Khu vực, Quốc gia

Do vậy, chúng tôi xin chia sẻ một số kinh nghiệm bồi dưỡng chuyên đề Nghị luận xãhội và Lý luận văn học

III Giải pháp dạy bồi dưỡng đội tuyển

1 Chuyên đề Lý luận văn học*

a Thời lượng dạy chuyên đề Lí luận văn học với trường THPT chuyên khoảng 20

tiết, với trường THPT không chuyên khoảng 30 tiết (trong tổng số tiết bồi dưỡng), độituyển quốc gia 50/ 300 tiết

b Tài liệu tham khảo cần có:

- Hà Minh Đức (chủ biên) – Lí luận văn học – NXB Giáo dục, H, 2007.

………

*Đăng trên Tạp chí chí Dạy và học ngày nay số 12/2014, đăng trong Kỉ yếu của Hội nghị Liên kết bồi dưỡng

học sinh giỏi các tỉnh khu vực Duyên hải, Nam trung bộ và Tây nguyên lần thứ V và báo cáo tại Hội nghị.

Trang 15

- Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi (đồng chủ biên) – Từ điển thuật ngữ

văn học – NXB giáo dục, H, 1992.

- Lê Anh Xuân (chủ biên) – 100 đề chuyên bồi dưỡng học sinh giỏi văn THPT –

NXB Đại học quốc gia TP Hồ Chí Minh, 2011

- Đỗ Ngọc Thống – Tài liệu chuyên văn – NXB Giáo dục Việt Nam, H, 2012.

c Phương pháp giảng dạy: Cung cấp kiến thức lí luận văn học thật cô đọng, ở mỗi

vấn đề lí luận văn học, giáo viên cung cấp đề bài minh họa cho học sinh giải đề Vớichuyên đề lí luận văn học, học sinh cần:

- Nắm được vai trò và ý nghĩa của lí luận văn học:

+ Hiểu sâu hơn tác phẩm (tiếp nhận)

+ Viết dạng đề lí luận văn học tốt hơn (tạo lập)

- Nắm được các nội dung lí luận văn học cơ bản

+ Một số khái niệm/ thuật ngữ văn học cơ bản

+ Một số vấn đề lí luận văn học cơ bản

- Nắm được yêu cầu:

+ Nội dung cơ bản của khái niệm/ vấn đề lí luận văn học

+ Vai trò và ý nghĩa của khái niệm/ vấn đề lí luận văn học ấy đối với người học/người đọc

+ Vận dụng được trong tiếp nhận và tạo lập văn bản

d Nội dung giảng dạy: GV tiến hành giảng dạy 5 vấn đề lí luận văn học quan trọng sau:

* Vấn đề 1 Tác phẩm văn học - đặc trưng và cấu trúc:

- Đặc trưng ngôn từ và lao động ngôn từ, tính đa nghĩa

- Cấu trúc: Nội dung và hình thức (loại, thể…)

- Đề bài minh họa:

Đề 1: Yếu tố đầu tiên của văn học là ngôn ngữ Anh (chị) hãy bình luận ý kiến trên Đề 2: Anh, chị hãy giải thích câu nói của nhà nghiên cứu văn học Khrapchenco: Sáng tạo

nghệ thuật chân chính tuyệt nhiên không phải là sự minh họa giản đơn cho tư tưởng này hoặc tư tưởng khác cho dù đó là tư tưởng rất hay

Đề 3: Nhà văn Sô-lô-khôp đã từng khẳng định: Người nghệ sĩ không thể lạnh lùng khi

Trang 16

Đề 4: Nhà phê bình Nga, Belinsky (1811-1848) đã định nghĩa điển hình nghệ thuật như

là một người lạ mặt quen biết Anh, chị hiểu điều đó như thế nào? Hãy phân tích một số

điển hình văn học để làm sáng tỏ ý kiến của mình

Đề 5: Trong Truyện Kiều, đại thi hào Nguyễn Du khẳng định: Chữ tâm kia mới bằng ba

chữ tài Ý kiến trên gợi cho anh (chị) suy nghĩ gì về phẩm chất của người nghệ sĩ?

Đề 6: Nghệ sĩ là người biết khai thác các ấn tượng riêng chủ quan của mình, tìm trong

ấn tượng riêng ấy cái có giá trị khái quát và làm cho chúng có được hình thức riêng (M.Gorki - Bàn về văn học) Hãy bình luận ý kiến trên.

Đề 7: Hình tượng là kết tinh của những ấn tượng sâu sắc về cuộc đời, từng làm nhà văn

day dứt, trăn trở và thôi thúc họ phải nói to lên để chi sẻ với người khác (Văn học 10,

tập 2, trang 111, NXB Giáo dục 2003)

Đề 8: Bàn về lao động nghệ thuật của nhà văn, Mác-xen Pruxt cho rằng: Một cuộc thám

hiểm thực sự không phải ở chỗ cần một vùng đất mới mà cần một đôi mắt mới Anh/chị

hãy trình bày ý kiến của mình về nhận định trên?

Đề 9: Trong bài viết Sự sáng tạo cái mới trong văn học nghệ thuật, Giáo sư Trần Đình

Sử cho rằng: Điều then chốt là phải luôn luôn sáng tạo ra cái mới…Cái quý của nhà văn

là sáng tạo ra cái mới chứ không phải viết được nhiều (Văn học và thời gian – NXB Văn

học, 2001 – trang 185) Ý kiến của anh, chị về nhận định trên? Hãy làm sáng tỏ qua mộtsố tác phẩm văn học mà anh chị biết

Đề 10: Giải thích quan niệm sau đây của nhà thơ Chế Lan Viên:

Nhà thơ như con ong biến trăm hoa thành một mật

Một giọt mật thành, đòi vạn chuyến ong bay

Nay rừng nhãn non Đoài, mai vườn cam xứ Bắc,

Ngọt mật ở đồng bằng mà hút nhị tận miền Tây

(Tuyển tập Chế Lan Viên, Ong và mật, NXB Văn học, 1985)

* Vấn đề 2 Tiếp nhận và phân tích tác phẩm văn học theo đặc trưng thể loại:

- Tiếp nhận và đọc - hiểu

- Cảm nhận và phân tích

- Những xu hướng cần tránh

- Đề bài minh họa:

Trang 17

Đề 1: Có ý kiến cho rằng: Khi đọc một tác phẩm văn học, người đọc cần sống với tác

phẩm bằng toàn bộ tâm hồn để cảm nhận thông điệp thẩm mĩ mà tác giả gửi đến cho người đọc Suy ngẫm của anh, chị về ý kiến trên.

Đề 2: Ở truyện ngắn, mỗi chi tiết đều có vị trí quan trọng như mỗi chữ trong bài thơ

tứ tuyệt Trong đó những chi tiết đóng vai trò đặc biệt như những nhãn tự trong thơ vậy (Nguyễn Đăng Mạnh – Trong cuộc tọa đàm về cuốn sách Chân dung và đối thoại

của Trần Đăng Khoa báo Văn nghệ số 14, 4/1999)

Anh/chị hãy giải thích ý kiến trên Chọn phân tích một truyện ngắn trongchương trình Ngữ văn lớp 11 để làm sáng tỏ ý kiến trên

Đề 3: Bàn về thơ, nhà phê bình văn học Belinsky (1811- 1848) cho rằng: Thơ trước

hết là cuộc đời, sau đó là nghệ thuật Anh/chị suy nghĩ như thế nào về ý kiến trên?

Hãy phân tích và làm sáng tỏ điều đó qua các tác phẩm thơ đã học trong sách giáokhoa Ngữ văn 12

Đề 4: Mỗi bài thơ hay là một sáng tạo nghệ thuật độc đáo, có khả năng làm sống dậy

trong lòng người đọc những liên tưởng phong phú Cảm nhận của anh/chị về một bài

thơ như thế

Đề 5: Nhà thơ Trần Đăng Khoa cho rằng: Thơ hay là thơ giản dị, xúc động và ám ảnh.

Để đạt được một lúc ba điều ấy, đối với các thi sĩ vẫn là điều bí mật Anh (chị) hãy

bình luận nhận định trên Liên hệ với thực tế thơ ca để làm sáng rõ ý kiến của anh(chị)

* Vấn đề 3 Các mối quan hệ trong văn học:

- Nội dung và hình thức

- Nhà văn - hiện thực cuộc sống và tác phẩm

- Dân tộc - cổ điển và hiện đại

- Tâm và tài…

- Đề bài minh họa:

Đề 1: Cái đẹp mà văn học đem lại không phải là cái gì khác hơn là cái đẹp của sự thật

đời sống được khám phá một cách nghệ thuật (Hà Minh Đức) Suy nghĩ của anh, chị

về ý kiến trên

Trang 18

Bài thơ anh làm một nửa mà thôi Còn một nửa cho mùa thu làm lấy

Suy nghĩ của anh chị qua một số tác phẩm văn học

Đề 3: Tác phẩm văn học là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan.

Đề 4: Là sản phẩm của sự khái quát hóa đời sống, hình tượng nghệ thuật là hình ảnh

chủ quan của thế giới khách quan (Lí luận văn học, trang 27, NXB Giáo dục, 1997)

Đề 5: Nghệ thuật bao giờ cũng là tiếng nói của tình cảm con người, là sự tự giãi bày

và gửi gắm tâm tư (Lê Ngọc Trà) Anh (chị) hiểu ý kiến trên như thế nào? Phân tích

một tác phẩm tự chọn để chứng minh

Đề 6: Có ý kiến cho rằng :Văn học không chỉ là văn chương mà thực chất là cuộc

đời Văn học sẽ không là gì cả nếu không vì cuộc đời mà có Cuộc đời là nơi xuất phát

và cũng là nơi đi tới của văn học Anh (chị) hãy làm sáng tỏ ý kiến trên qua tác phẩm Hai đứa trẻ của Thạch Lam.

Đề 7: Hai người cùng nhìn xuống, một người chỉ nhìn thấy vũng nước, người kia lại

nhìn thấy những vì sao – (Đốp – gien – cô) Hãy bình luận kiến trên.

*Vấn đề 4 Vai trò và tác dụng của văn học

- Đề bài minh họa:

Đề 1: Trong tác phẩm Việt Hán văn khảo, Phan kế Bính viết: Ngồi trong xó nhà mà

lịch lãm suốt hết các nơi danh lam thắng cảnh của thiên hạ, xem trên mảnh giấy mà tinh tường được hết các việc hay, việc dở của thế gian; sinh ở sau mấy nghìn năm mà

tự hồ như được đối diện và được nghe tiếng bàn bạc của người sinh về trước mấy nghìn năm, cũng là nhờ có văn chương cả Bằng những hiểu biết của mình về văn học

anh, chị hãy bình luận và làm sáng tỏ nhận định trên

Đề 2: Anh, chị hiểu và suy nghĩ như thế nào khi nhà thơ R Gamzatov nói: Thơ ca,

nếu không có người, tôi đã mồ côi (Trích Đagextan của tôi, tập 1, trang 150)

Đề 3: Văn chương có đủ sức để sửa sang cuộc đời mới đáng lưu truyền ở đời (Ngô thế

Vinh)

Đề 4: Nhà tiết học Hi Lạp cổ đại Aristote có nói: Nhiệm vụ của nhà thơ không chỉ nói

về cái thực tại xảy ra mà là cái lẽ ra có thể xảy ra Ý kiến của em về câu nói trên.

Trang 19

Đề 5: Có ý kiến cho rằng: Tác phẩm nghệ thuật thực sự bao giờ cũng làm cho độc giả

sửng sốt bởi tính chân thực, tính tự nhiên, tính đúng đắn, tính thực tế đến mức khi đọc

nó, bất giác ta tin tưởng sâu sắc rằng: Tất cả những gì kể trong đó đều diễn ra đúng như thế chứ không thể khác được (Belinsky)

Đề 6: Bàn về chức năng của văn học nghệ thuật, Nguyên Ngọc cho rằng: Nghệ thuật

là phương thức tồn tại của con người, giữ cho con người mãi mãi là con người, không

sa xuống thành con vật và cũng không thành những ông thánh vô bổ vô duyên Nghệ thuật là sự vươn tới, sự hướng về, sự níu giữ mãi mãi tính con người cho con người Cái cốt lỗi của nghệ thuật là tính nhân bản (Báo văn nghệ, số 44) Anh, chị hãy bình

luận ý kiến trên

*Vấn đề 5: Phong cách văn học: tác phẩm, tác giả…

- Đề bài minh họa:

Đề 1: Trong bài Ngoại cảnh trong văn chương, in trên báo Tràng An, số 82, ngày

10/12/1935, Hoài Thanh viết: Nhà văn không có phép thần thong để vượt ra ngoài thế giới này, nhưng thế giới này trong con mắt nhà văn phải có một hình sắc riêng (Hoài Thanh, trích từ cuốn Bình luận văn chương, NXB Giáo dục, 1998, trang 54) Hãy bình

luận và làm sáng tỏ ý kiến trên

Đề 2: Nhà thơ Trần Đăng Khoa cho rằng: “Thơ hay là thơ giản dị, xúc động và ám

ảnh Để đạt được một lúc ba điều ấy, đối với các thi sĩ vẫn là điều bí mật”.Anh (chị)

hãy bình luận nhận định trên Liên hệ với thực tế thơ ca để làm sáng rõ ý kiến của anh(chị)

Đề 3: Nhà văn Macxim Gorki có nói: Bạn hãy giữ lấy cái gì là của riêng mình, hãy

săn sóc nó phát triển tự do Lúc một nghệ sĩ không có cái là của riêng mình thì phải thấy người đó không có gì hết Suy nghĩ của em về ý kiến trên? Chọn một tác gia và

một tác phẩm để làm sáng tỏ

Đề 4: Nhà văn I.X.Tuocghenhev nói: Cái quan trọng trong tài năng văn học là tiếng

nói của mình, là cái giọng riêng biệt của chính mình không thể tìm thấy trong cổ họng của bất kì một người nào khác (Dẫn theo Khravchenko, Cá tính sáng tạo của nhà văn

và sự phát triển văn học, NXB Tác phẩm mới, 1978) Anh, chị hãy bình luận ý kiến

Trang 20

trên và làm sáng tỏ giọng điệu riêng biệt của Nguyễn Khuyến so với Trần Tế Xươngqua một số bài thơ tiêu biểu

Đề 5: Trong truyện ngắn Đời thừa, Nam Cao viết: Văn chương không cần đến những

người thợ khéo tay làm theo một vài kiểu văn mẫu đưa cho Văn chương chỉ dung nạp được những người biết đào sâu, biết tìm tòi, khơi những nguồn chưa ai khơi và sáng tạo những cái gì chưa có Hãy bình luận ý kiến trên.

Đề 6: Trong truyện ngắn Giăng sáng (1942) nhà văn Nam Cao viết: Nghệ thuật không

cần phải là ánh trăng lừa dối, không nên là ánh trăng lừa dối, nghệ thuật chỉ có thể là tiếng đau khổ kia thoát ra từ những kiếp lầm than Hãy giải thích và bình luận ý kiến

trên

e Hướng dẫn học sinh học và giải quyết đề bài

- Mỗi nội dung lí luận chọn một số tác phẩm tiêu biểu, đặc sắc để chứng minh (Chọnchi tiết, hình ảnh, câu…)

- Chọn dẫn chứng để chạm ngay vào vấn đề

- Khai thác sâu dẫn chứng (tinh, chọn lọc), bình luận, đánh giá

- Đánh giá, khái quát luận điểm đó

- Mở rộng vấn đề: Theo thời gian (thời kì của văn học viết), theo không gian (Văn họcViệt Nam và Văn học nước ngoài) rồi tìm ra tiêu chí để phân loại, so sánh

2 Chuyên đề Nghị luận xã hội*

a Số tiết, nội dung bồi dưỡng

- Số tiết dạy: 50 tiết (đội tuyển quốc gia), 20 tiết (đội tuyển Khu vực, Tỉnh)

- Nội dung: các dạng đề nghị luận xã hội:

+ Nghị luận về một tư tưởng, đạo lí

………

*Đăng trên Kỉ yếu của Hội nghị Liên kết bồi dưỡng học sinh giỏi các tỉnh khu vực Duyên hải, Nam trung bộ và Tây nguyên lần thứ VI.

Trang 21

+ Nghị luận về một hiện tượng đời sống.

+ Nghị luận về một vấn đề xã hội đặt ra trong tác phẩm văn học

b Phương pháp giảng dạy

Trong chuyên đề này, giáo viên định hướng để học sinh biết xây dựng luậnđiểm, chọn luận cứ, nắm một số phương pháp viết mở bài, nắm kĩ năng làm bài:

c Nội dung giảng dạy

*Vấn đề 1: Tìm luận điểm tốt khi viết văn nghị luận xã hội

a Thế nào là luận điểm tốt?

- Chính xác: không trái với thực tại khách quan và lí luận khoa học.

- Rõ ràng: khẳng định cái gì, phủ định cái gì, lập trường rõ ràng không lập lờ.

- Sâu sắc: cần phải đi sâu vào sự vật hiện tượng để làm lộ ra cái bản chất của các sự

vật và tìm ra những thứ có quy luật

- Độc đáo: có những kiến giải độc đáo, mới mẻ đối với các sự việc và các loại vấn đề

khác nhau trong cuộc sống

b Cách đưa ra luận điểm tốt

- Đọc kĩ đề (tài liệu), xác định rõ nội dung yêu cầu

- Đi sâu suy ngẫm, nắm vững trọng tâm của đề bài học tài liệu

- Chọn đúng góc độ lập luận

- Khái quát luận điểm bằng ngôn từ sắc bén

*Vấn đề 2: Nên chọn luận cứ như thế nào?

a Hình thức luận cứ: Trong văn nghị luận xã hội, luận cứ có hai hình thức:

- Luận cứ thực tế: bao gồm sự thực trong lịch sử, những loạt truyện điển hình haynhững con số được thống kê

Trang 22

- Luận cứ đạo lí: bao gồm chân lí qua kiểm nghiệm thực tế, những luận điểm đượcthuật lại bởi các danh nhân, trình bày và phân tích, cách ngôn, cùng với những nguyênlí, khái niệm, định luật, công thức của tự nhiên và khoa học xã hội.

b Phương pháp chọn luận cứ:

- Chọn luận cứ từ cuộc sống

- Chọn luận cứ từ việc đọc sách

c Các nguyên tắc chọn luận cứ

- Xoay quanh luận điểm chính

- Có tính đặc trưng

- Luận cứ phong phú

- Luận cứ có ý nghĩa thời đại

- Luận cứ đầy đủ

- Kết cấu chặt chẽ

*Vấn đề 3: Một số phương pháp viết mở bài

Giáo viên giới thiệu cho học sinh một số phương pháp viết mở bài, mỗi phươngpháp giáo viên minh họa kèm theo đề bài, mở bài mẫu để học sinh tự so sánh, hìnhdung:

- Mở bài bằng câu danh ngôn

- Mở bài bằng cách đi thẳng vào vấn đề

- Mở bài bằng cách dẫn dắt nội dung bằng một câu chuyện

- Mở bài bằng cách đặt câu hỏi

- Mở bài bằng cách giải thích khái niệm

- Mở bài bằng phương pháp so sánh

*Vấn đề 4: Những yêu cầu về ngôn ngữ trong bài nghị luận xã hội

- Lời văn phải chọn lọc, chuẩn xác

Trang 23

- Ngôn ngữ phải giàu hình tượng.

- Ngôn ngữ phải có khí thế

Ngôn ngữ phải mang tính logic chặt chẽ

*Vấn đề 5: Tạo hứng thú học tập (Tích hợp, đổi mới phương pháp)

Thay vì cung cấp văn bản, giáo viên thay đổi cách thức để tạo hứng thú học tậptheo hướng dạy học tích hợp: Cung cấp văn bản bằng những clip, cho học sinh thưởngthức âm nhạc,… để học sinh tự ra đề nghị luận xã hội rồi bàn bạc để tìm ra luận điểm,luận cứ,…

*Vấn đề 6: Rèn luyện kĩ năng làm bài

1 Kiểu bài Nghị luận về một tư tưởng, đạo lí

a Phạm vi đề tài

- Nhận thức về lí tưởng, mục đích sống…

- Đề cập đến mối quan hệ giữa con người với gia đình và xã hội

- Đề cập đến vẻ đẹp tính cách, tâm hồn con người: lòng yêu nước, lòng nhân ái, baodung, lòng dũng cảm, thái độ trung thực…

b Yêu cầu về nội dung

- Giới thiệu tư tưởng, đạo lí cần bàn luận

- Giải thích, phân tích theo từng ý, từng vế của vấn đề được nêu

- Phát biểu nhận định, đánh giá của mình về tư tưởng, đạo lí đó (Khẳng định đối vớinhững mặt đúng, bác bỏ những biểu hiện sai lệch)

- Nêu ý nghĩa, rút ra bài học nhận thức và hành động về tư tưởng, đạo lí

Trang 24

b Yêu cầu về nội dung

- Nêu rõ hiện tượng đời sống cần bàn luận

- Phân tích, đánh giá các biểu hiện của hiện tượng (tốt - xấu, đúng - sai, lợi - hại).

- Lí giải các nguyên nhân và hậu quả của hiện tượng

- Bày tỏ thái độ, ý kiến đối với hiện tượng đời sống đó Đề xuất giải pháp đối với hiện iải pháp tượng đời sống đó

- Rút ra bài học về cách sống, cách ứng xử nói chung và đối với bản thân

- Tìm hiểu, nhận diện được hiện tượng đời sống được nêu trong đề bài

- Chọn lựa những dẫn chứng phù hợp, tiêu biểu để chứng minh cho vấn đề nghịluận nhằm làm tăng sức thuyết phục đối với người đọc

3 Kiểu bài Nghị luận về một vấn đề xã hội đặt ra từ tác phẩm văn học

a Rèn kĩ năng đọc hiểu tác phẩm văn học

- Đọc hiểu những chi tiết quan trọng, tiêu biểu trong tác phẩm có liên quan đến vấn đềcần nghị luận

Trang 25

- Xác định tư tưởng, chủ đề, nội dung chính của tác phẩm hoặc hình tượng trung tâm.

- Khái quát vấn đề xã hội được đặt ra qua tác phẩm

b Rèn kĩ năng bình luận về vấn đề xã hội đặt ra trong tác phẩm văn học

- Giải thích, làm rõ vấn đề cần nghị luận nếu thấy cần thiết

- Phân tích vai trò, ý nghĩa của vấn đề xã hội được đề cập

- Chỉ ra những biểu hiện đa dạng phong phú của vấn đề xã hội đó trong đời sống hiệnnay

- Nêu được những suy nghĩ cá nhân của người viết về vấn đề xã hội đó

c Rèn kĩ năng viết mở bài

- Cách 1 Giới thiệu vấn đề cần bàn luận rồi khẳng định vấn đề đó không chỉ là câuchuyện/ tình tiết được đề cập trong một tác phẩm văn học cụ thể mà còn là một vấn đề

có ý nghĩa với xã hội hiện nay

- Cách 2 Giới thiệu về tác phẩm văn học có liên quan, khẳng định một phương diệnquan trọng làm nên giá trị nội dung của tác phẩm chính là vấn đề có ý nghĩa xã hộiđược tác giả đề cập Sau đó nêu rõ vấn đề xã hội đó là gì

d Rèn kĩ năng viết thân bài

- Mỗi đoạn văn là sự triển khai hoàn chỉnh một nội dung đã được xác định từ khi lậpdàn ý

- Bám sát dàn ý để viết thân bài là kĩ năng học sinh đã được rèn luyện khá nhiều, do đóbài viết này chỉ tập trung trình bày về cách cách liên kết, việc tổ chức điểm nhìn chobài văn trong khi viết

+ Dùng từ ngữ để liên kết

++ Nếu muốn nối các đoạn có quan hệ thứ tự để làm rõ tính hệ thống của việc sắp xếp

ý trong bài, ta có các từ ngữ liên kết như: trước tiên, trước hết, thoạt nhiên, tiếp theo, sau đó, cuối cùng, một là, hai là, bắt đầu là…

Trang 26

++ Nếu cần nối các đoạn văn được triển khai theo quan hệ song song (có điểm tương

đồng về vai trò trong bài văn) ta có thể dùng các từ liên kết như: một mặt, mặt khác, ngoài ra, bên cạnh đó, cũng vậy,…

++ Nếu cần nối các đoạn văn có quan hệ tăng tiến (đoạn sau nhấn mạnh, phát triển nội

dung của đoạn trước) ta có thể sử dụng các từ liên kết như: hơn nữa, thậm chí, không chỉ/ mà còn…

++ Nếu cần nối các đoạn văn có quan hệ tương phản (để làm rõ những luận điểm cónội dung khác nhau, nhất là việc chuyển ý từ chính đề sang phản đề trong bài nghị

luận xã hội) ta có thể sử dụng những từ nối kết như: nhưng, tuy nhiên, tuy vậy, thế nhưng, trái lại, ngược lại, …

++ Nếu cần nối các đoạn văn có quan hệ nhân quả, ta có thể sử dụng các từ liên kết

như: bởi vậy, do đó, vì thế cho nên…

++ Nếu cần chuyển ý sang một đoạn văn có ý nghĩa tổng kết ý nghĩa của các đoạn

trước đó; ta có thể dùng các từ liên kết như: tóm lạị, chung quy, tổng kết lại, tựu trung lại, có thể khẳng định…

+ Tổ chức điểm nhìn cho bài văn:

++Điểm nhìn bên trong: Viết bằng cảm xúc, ấn tượng của bản thân

++Điểm nhìn bên ngoài: Người viết đóng vai một người đang tìm hiểu để phân tích,đánh giá về vấn đề cần nghị luận một cách khách quan

e Rèn kĩ năng viết kết bài

- Kết bài bằng cách tóm lược: Là kiểu kết bài mà ở đó người viết tóm tắt quan điểm,

tổng hợp những ý chính đã nêu ở thân bài Cách kết bài này dễ viết hơn và thườngđược sử dụng nhiều hơn

- Kết bài bằng cách bình luận mở rộng và nâng cao: Là kiểu kết bài trên cơ sở quanđiểm chính của bài viết, bằng liên tưởng, vận dụng, người viết phát triển, mở rộngnâng cao vấn đề

Trang 27

*Vấn đề 7: Sửa bài làm, nhân rộng những bài viết hay thành tuyển tập những bài nghị luận xã hội lưu hành nội bộ.

*Vấn đề 8: Giới thiệu một số đề bài nghị luận xã hội

Giáo viên chọn một số đề bài, yêu cầu học sinh xây dựng luận điểm, chọn luận

cứ, viết bài văn, chỉ ra cách dùng từ đắt, nhận diện lỗi thường gặp…

Đề 1

Trong Tình yêu – Dòng sông, nhà thơ Vũ Quần Phương có viết:

Có bao giờ sông chảy thẳng đâu em Sông lượn khúc, lượn dòng mà tới biển.

Hai câu thơ trên gợi cho em suy nghĩ gì về dòng sông và những bài học cuộcđời rút ra từ đó?

* Gợi ý

1.Ý nghĩa hai câu thơ của Vũ Quần Phương

- Hai câu thơ là những suy nghiệm của chủ thể trữ tình về hình ảnh dòng sông tự nhiêntrong hành trình đến biển Do đặc điểm địa hình khác nhau ở từng nơi mà dòng sông

chảy qua; nên để đến biển thì dòng sông nào cũng phải lượn khúc, lượn dòng Đó là lí

do sông không bao giờ chảy thẳng.

- Phép nhân hóa Sông lượn khúc, lượn dòng mà tới bể gợi liên tưởng dòng sông như

một con người, dù phải đối mặt với nhiều ngáng trở trên hành trình nhưng vẫn kiên trìmục tiêu, vượt mọi khó khăn để tới đích

Hai câu thơ xuất phát từ hình ảnh dòng sông tự nhiên mà gợi liên tưởng đến lốisống chủ động, tích cực, linh hoạt của con người trong xã hội

2 Bàn luận về bài học nhân sinh rút ra từ ý thơ của Vũ Quần Phương

- Ý thơ của nhà thơ Vũ Quần Phương gợi ra một bài học nhân sinh sâu sắc; vì để có

được thành công trong cuộc sống, con người cần linh hoạt, chủ động, kiên trì mục tiêucủa mình

Trang 28

+ Nếu sông chảy thẳng thì khi va phải núi cao, vực sâu… dòng chảy sẽ bị chặn lại, không bao giờ sông có thể tới biển; việc lượn khúc, lượn dòng giúp cho dòng sông có

thể vượt qua trở ngại, tiếp tục hành trình tìm đến biển

+ Cuộc sống của con người cũng vậy: Khát vọng càng lớn thì khó khăn càng nhiều Đểđến đích, mỗi cá nhân không chỉ cần nỗ lực hết mình mà còn cần sự linh hoạt, tỉnh táo,

có cách ứng xử phù hợp trong mọi hoàn cảnh Trước những khó khăn, con người cần

biết lượng sức mình, tránh đối đầu một cách liều lĩnh theo kiểu lấy trứng chọi đá để

rồi chuốc lấy thất bại

3 Mở rộng, nâng cao vấn đề

+ Phê phán những người cứng nhắc, bảo thủ, liều lĩnh hoặc những người dễ nản lòng,thiếu kiên định mục tiêu

+ Cần phân biệt cách ứng xử linh hoạt, mềm dẻo và sự hèn nhát, thiếu quyết đoán, nétránh khó khăn ở một số người

Đề 2 …

Đừng sống như hòn đá, giống như hòn đá Sống không một tình yêu

Sống chỉ biết thân mình Tâm hồn luôn luôn băng giá Đừng hóa thân thành đá … (Trích bài hát: Tâm hồn của đá, Trần Lập) Những ca từ trên gợi cho anh/chị cảm nghĩ gì? Lấy nhan đề Đừng sống như hòn đá hãy viết một bài văn để bày tỏ quan điểm của mình

* Gợi ý

1 Giải thích về những ca từ trong bài hát Tâm hồn của đá: Những câu hát là một lời

khuyên thể hiện nhiệt huyết và khát vọng sống hết mình của tác giả Lời khuyên

hướng tới nội dung: Con người đừng sống như một hòn đá Hình ảnh hòn đá (sống

Trang 29

không một tình yêu, sống chỉ biết thân mình, tâm hồn băng giá) là ẩn dụ cho cuộc sống

ích kỉ, nhàm tẻ, vô cảm và thiếu trách nhiệm với cuộc đời và con người Đó chỉ là một

sự tồn tại vô nghĩa, chứ không phải là đang sống với đầy đủ ý nghĩa của từ này.

2 Bàn luận về lối sống “như hòn đá” ở một bộ phận người trong xã hội

+ Biểu hiện: Lối sống ích kỉ, vô cảm, không chia sẻ và yêu thương đang tồn tại trongthực tế với nhiều biểu hiện ở các mức độ, cấp độ khác nhau

+ Có hiện tượng con người trơ lì, vô cảm đến mức không mảy may động lòng trướcvui buồn của đồng loại, không hề quan tâm đến những vấn đề xảy ra trong xã hội;không bày tỏ thái độ hoặc có những hành động cụ thể khi chứng kiến cái Xấu, cái Áchoành hành trong xã hội

+ Lại có những người vì những mong muốn ích kỉ của bản thân mà trở thành nhữngnhững “hòn đá” ngáng trở người khác, cản trở sự tiến bộ của xã hội

3 Nguyên nhân:

+ Khách quan: Lối sống “như hòn đá” có thể bắt nguồn từ những tác động của nền

kinh tế thị trường Nhiều người chạy theo vật chất nên chỉ chú ý đến lợi ích của cánhân, “mũ ni che tai” với cuộc sống bên ngoài mình Bên cạnh đó: Xã hội cũng chưa

có những hình thức lên án và răn đe mãnh mẽ; đủ sức đẩy lùi căn bệnh vô cảm, lốisống ích kỉ ở nhiều người

+ Chủ quan: Nhận thức của nhiều người về ý nghĩa thực sự của cuộc sống còn mơ hồ.Từ chỗ coi trọng đời sống vật chất, xem nhẹ đời sống tinh thần dẫn đến tình trạngtâm hồn “băng giá”

4 Hậu quả: Sống như hòn đá sẽ khiến cho mỗi cá nhân bị cô lập; những nét đẹp nhân

văn trong xã hội cũng bị thủ tiêu Lối sống ích kỉ, vô cảm còn là nguồn gốc của nhiềuthói hư, tật xấu khác

5 Bài học nhận thức và hành động:

+ Những ca từ trong bài hát Tâm hồn của đá đã phủ định lối sống khép mình, ích kỉ,

vô cảm ở một bộ phận con người trong xã hội Từ đó đề xuất lối sống tích cực: Sống

Trang 30

đồng nghĩa với giao cảm, sẻ chia, đùm bọc, yêu thương Sống không chỉ là tồn tại màcòn là cảm giác; không chỉ là hưởng thụ mà còn là cống hiến, không chỉ nhận yêuthương mà còn cần chia sẻ yêu thương

+ Cần phê phán những người có lối sống “như hòn đá” Tư tưởng Đừng sống như hòn

đá không chỉ là một lời răn mình của mỗi người; mà còn là lời cảnh tỉnh với tất cả mọi

người trong xã hội

Đề 3

Xót người tựa cửa hôm mai Quạt nồng ấp lạnh những ai đó giờ (Truyện Kiều, Nguyễn Du) Chuyện Quạt nồng, ấp lạnh của Thuý Kiều gợi cho anh (chị) suy nghĩ gì về

cách cư xử của con cái với cha mẹ trong xã hội ngày nay

* Gợi ý

1 Tấm lòng hiếu nghĩa của Thuý Kiều với cha mẹ trong Truyện Kiều (Nguyễn Du)

* Giải thích: Quạt nồng, ấp lạnh (Tức: Hạ Sảnh, Đông Ôn) Sách Hiếu kinh nói: “Hiếu

tử đông ôn, hạ sảnh” nghĩa là người con hiếu thờ cha mẹ, mùa lạnh ấp chăn cho nóng để

cha mẹ vào nằm khỏi giá rét, mùa hạ quạt màn cho mát để cha mẹ vào nghỉ khỏi nóngbức Nghĩa bóng: nói sự thờ phụng, báo hiếu cha mẹ

* Khái quát nội dung hai câu thơ: nói về tâm trạng nhớ thương cha mẹ của ThuýKiều Việc bán mình chuộc cha của Thuý Kiều cũng đã nói lên đầy đủ tấm lònghiếu thảo của Kiều: Nàng quyết hi sinh chữ tình để làm tròn chữ hiếu Trong suốt

thời gian lưu lạc, “Hết nạn nọ đến nạn kia, thanh lâu hai lượt, thanh y hai lần”, bản

thân luôn sống trong đau khổ, buồn rầu nhưng Thuý Kiều vẫn luôn nhớ thương cha

mẹ Kiều tưởng tượng đến cảnh cha mẹ già đau buồn tựa cửa mong ngóng mình.Nàng lo lắng liệu có ai thay mình phụng dưỡng mẹ cha?

Tóm lại: Thuý Kiều là một người con hiếu thảo, đúng như lời nhận xét của Nguyễn

Du: Người sao hiếu nghĩa đủ đường.

Trang 31

2 Bàn luận về cách cư xử của con cái đối với cha mẹ trong xã hội hiện nay

- Hành động hiếu nghĩa của Thuý Kiều có còn phù hợp với xã hội ngày nay?

Cần khẳng định rằng đạo hiếu không thay đổi nhưng cách bày tỏ tấm lòng hiếu nghĩa thì

có thể không còn như xưa nữa (HS có thể nêu những biểu hiện cụ thể…)

- Thực trạng về cách cư xử của con cái với cha mẹ:

+ Có nhiều tấm gương tốt về tấm lòng hiếu nghĩa của con cái với cha mẹ (lấy dẫnchứng trong văn chương và trong đời sống Chẳng hạn câu chuyện về đứa con của haibà mẹ ung thư - Nguyễn Hữu Ân )

+ Tuy nhiên, có một bộ phận không nhỏ những người con chưa giữ trọn đạo làm con,chưa làm tròn chữ hiếu trong cách cư xử với cha mẹ:

++ Chỉ biết hưởng thụ: quen được bố mẹ quan tâm chăm sóc, chiều chuộng từ những

điều nhỏ nhất, trái lại họ lại rất “vô tâm” với cha mẹ, nhất là về đời sống tinh thần.

++Có những hành động, lời nói, cử chỉ “vô lễ”, xúc phạm, thậm chí bạc đãi với cha

mẹ, làm cha mẹ phải đau lòng (nêu dẫn chứng)

- Nguyên nhân:

+ Khách quan: do cuộc sống, xã hội thay đổi (đời sống vật chất và tinh thần đã kháhơn rất nhiều so với trước kia); Cha mẹ quá nuông chiều, chưa chú tâm dạy con…+ Chủ quan: do nhận thức của một số người chưa đầy đủ về vị trí, vai trò, trách nhiệm

của người con đối với cha mẹ, chỉ biết “nhận” mà không biết “cho”…

- Giải pháp khắc phục:

+ Về phía gia đình: Cần có quan điểm giáo duc đúng đắn đối với con cái

+ Nhà trường: không chỉ dạy chữ mà còn phải chú trọng dạy người

+ Xã hội: cần có biện pháp giáo dục và can thiệp khi cần thiết

+ Bản thân mỗi con người: cần có ý thức tu dưỡng bản thân (Đạo hiếu là đạo lớn nhấtcủa đạo làm người)

Trang 32

Câu chuyện về Chim Én và Dế Mèn

Mùa xuân đất trời đẹp, Dế Mèn thơ thẩn ở cửa hang, hai con Chim Én thấy tội nghiệp bèn rủ Dế Mèn dạo chơi trên trời Mèn hốt hoảng Nhưng sáng kiến của Chim

Én đưa ra rất giản dị: hai Chim Én ngậm hai đầu của một cọng cỏ khô, Mèn ngậm vào giữa Thế là cả ba cùng bay lên Mây nồng nàn, trời đất gợi cảm, cỏ hoa vui tươi.

Dế mèn say sưa Sau một hồi lâu miên man, Mèn ta chợt nghĩ bụng, ơ hay việc gì ta phải gánh hai con Én này trên vai cho mệt nhỉ Sao ta không quảng gánh nợ này đi để dạo chơi một mình có sướng hơn không? Nghĩ là làm, Mèn há mồm ra Và nó rơi vèo xuống đất như một chiếc lá lìa cành

(Những câu chuyện hay trong Quà tặng cuộc sống)

Suy nghĩ của anh/chị được gợi ra từ câu chuyện trên

* Gợi ý

1 Phân tích ý nghĩa của câu chuyện

- Chim én tốt bụng tặng cho Dế mèn một món quà nhưng Dế mèn không biết trântrọng điều đó Bản thân là gánh nặng của người khác nhưng lại tưởng người khác làgánh nặng của mình Lòng ích kỉ, toan tính khiến Dế ngộ nhận và phải trả giá

 Câu chuyện gợi ra nhiều vấn đề, hiện tượng đáng để suy nghĩ trong cuộc sống:+ Tác hại của lối sống ích kỉ, lối sống thực dụng, hướng mọi người đến sự dung hòagiữa cho và nhận

+ Trong cuộc sống rất cần đến sự hợp tác và sẻ chia đến từ hai phía để đôi bên cùng cólợi

+ Con người cần phải nhận ra những giá trị đích thực của cuộc sống, biết trân trọngnhững gì đang có, sẽ có Chỉ có như vậy cuộc sống mới không gặp những điều bấthạnh giống như chú Dế nhỏ

+ Đó cũng là câu chuyện về niềm tin của con người trong cuộc sống Lòng tốt là rấtđáng quý nhưng niềm tin tưởng lẫn nhau còn đáng quý hơn gấp bội

2 Nghị luận về ý nghĩa của câu chuyện

* Bàn luận:

- Trong thực tế, nhiều người có lối sống ích kỉ, thực dụng Họ chỉ biết nhận mà khôngbiết cho đi, luôn toan tính cho bản thân mà bất chấp tất cả

Trang 33

- Trong cuộc sống con người không nên có lối sống thực dụng, toan tính, ích kỉ Lốisống ấy khiến con người trở nên vô cảm, sống cô đơn, thậm chí chuốc họa vào thân.

- Cuộc sống luôn cần sự quan tâm, hợp tác và sẻ chia để mỗi người luôn cảm nhậnđược niềm hạnh phúc

- Sự quan tâm, hợp tác, chia sẻ, giúp đỡ lẫn nhau sẽ khiến cho các mối quan hệ xã hộiluôn tốt đẹp, cuộc sống gần gũi, tràn ngập yêu thương

- Giá trị cuộc sống nằm ở những điều mình đang có tuy vậy thực tế vẫn còn rất nhiềungười không biết trân trọng những điều đó luôn tìm kiếm những giá trị xa xôi, viểnvông

- Biết trân trọng mọi điểu thuộc về hiên tại con người sẽ luôn cảm thấy tự tin, yêu cuộcsống, thấy cuộc sống này thật đáng sống, không ngừng nỗ lực phấn đấu

- Trong cuộc sống, chỉ có lòng tin tưởng lẫn nhau mới giúp duy trì các mối quan hệdài lâu, nhưng vẫn có những người trao đi lòng tốt với thái độ ngờ vực, thiếu tintưởng

- Niềm tin giúp cho chúng ta vượt qua những thử thách khó khăn, thấy cuộc sống luôn

có ý nghĩa và tràn đầy yêu thương

- Một mối quan hệ tốt đẹp không thể được xây dựng bằng sự ích kỉ, lòng toan tính hay

sự thiếu tin tưởng lẫn nhau Chỉ có quan tâm sẻ chia, tin tưởng mới là cầu nối chonhững mối quan hệ dài lâu

Đề 5

Chiếc lá

Chim sâu hỏi chiếc lá:

- Lá ơi! Hãy kể chuyện cuộc đời bạn cho tôi nghe đi!

- Bình thường lắm, chẳng có gì đáng kể đâu.

Trang 34

- Bạn đừng có giấu! Nếu bình thường vậy, sao bông hoa kia lại có vẻ rất biết

- Chưa! Chưa một lần nào tôi biến thành một thứ gì khác tôi cả Suốt đời tôi chỉ là một chiếc lá nhỏ nhoi bình thường.

- Thế thì chán thật! Bông hoa kia đã làm tôi thất vọng Hoa ơi, bạn chỉ khéo bịa chuyện.

- Tôi không bịa chút nào đâu Mãi mãi tôi kính trọng những chiếc lá bình thường như thế Chính nhờ họ mới có chúng tôi – những hoa, những quả, những niềm vui mà bạn vừa nói đến

(Tiếng Việt lớp 4, tập 2)

Suy nghĩ của anh/chị được gợi ra từ câu chuyện trên

*Gợi ý

1 Phân tích ý nghĩa của câu chuyện

- Chiếc lá nhỏ nhoi bình thường là niềm biết ơn lớn lao của bông hoa Chim sâu cứtưởng nó đã đôi lần biến thành hoa, thành quả, thành mặt trời nhưng không, cả đời nóvẫn là chiếc lá như thế Chính vì nó luôn là chiếc lá, sự giản đơn, bình thường ấy đãtạo ra bao đóa hoa đẹp đẽ

 Câu chuyện đã cho thấy nhiều vấn đề và hiện tượng của cuộc sống:

+ Giá trị của con người thực chất lại là những điều vô cùng giản dị, bình thường

+ Cuộc đời mỗi con người là câu chuyện đẹp nhất do mỗi chúng ta viết ra

+ Cái đẹp chính là nằm ở sự giản dị, khiêm tốn, thầm lặng dâng hiến, không ganh đua,bon chen

+ Cuộc sống là tổng hòa của các mối quan hệ xã hội Giống như bông hoa phải đặtcạnh chiếc lá, chiếc lá tôn vinh nét đẹp của bông hoa, cái tôi phải đặt trong cái ta, cái

Trang 35

ta là sự tổng hợp của những cái tôi nhỏ bé Chỉ có như vậy cuộc sống mới trở nên tốtđẹp, có ý nghĩa.

2 Bàn bạc về ý nghĩa của câu chuyện

- Phê phán những kẻ khoa trương hống hách, thiếu sự khiêm tốn, giản dị

- Phê phán những kẻ luôn đặt cái tôi của bản thân lên trên hết, sống ích kỉ toan tính, vìbản thân mà bất chấp tất cả

* Mở rộng:

Trang 36

- Giá trị của con người nằm ở những điều bình thường nhưng không có nghĩa là chúng

ta ngừng tìm kiếm những ước mơ, vươn tới những điều tốt đẹp hơn

- Luôn phải đặt cái tôi riêng của bản thân sau cái ta chung của mọi người nhưng không

có nghĩa là ta sống một cách thụ động, không có chính kiến, không có tiếng nói

Đề 6

Từ bài thơ Tiếng Việt của Lưu Quang Vũ, anh/chị có suy nghĩ gì về hiện tượng dùng

tiếng nước ngoài tràn lan của một bộ phận giới trẻ hiện nay?

Tiếng mẹ gọi trong hoàng hôn khói sẫm Cánh đồng xa cò trắng rủ nhau về

Có con nghé trên lưng bùn ướt đẫm Nghe xạc xào gió thổi giữa cau tre.

Tiếng kéo gỗ nhọc nhằn trên bãi nắng Tiếng gọi đò sông vắng bến lau khuya Tiếng lụa xé đau lòng thoi sợi trắng Tiếng dập dồn nước lũ xoáy chân đê.

Tiếng cha dặn khi vun cành nhóm lửa Khi hun thuyền gieo mạ lúc đưa nôi Tiếng mưa dội ào ào trên mái cọ Nón ai xa thăm thẳm ở bên trời

“Đá cheo leo trâu trèo trâu trượt ”

Đi mòn đàng dứt cỏ đợi người thương Đây muối mặn gừng cay lòng khế xót

Ta như chim trong tiếng Việt như rừng.

Chưa chữ viết đã vẹn tròn tiếng nói Vầng trăng cao đêm cá lặn sao mờ

Ôi tiếng Việt như đất cày, như lụa

Trang 37

Óng tre ngà và mềm mại như tơ.

Tiếng tha thiết, nói thường nghe như hát

Kể mọi điều bằng ríu rít âm thanh

Như gió nước không thể nào nắm bắt

Dấu huyền trầm, dấu ngã chênh vênh.

Dấu hỏi dựng suốt ngàn đời lửa cháy

Một tiếng “vườn” rợp bóng lá cành vươn Nghe mát lịm ở đầu môi tiếng “suối”

Tiếng “heo may” gợi nhớ những con đường.

Một đảo nhỏ xa xôi ngoài biển rộng

Vẫn tiếng “làng”, tiếng “nước” của riêng ta Tiếng chẳng mất khi Loa thành đã mất Nàng Mị Châu quì gối lạy cha già.

Tiếng thao thức lòng trai ôm ngọc sáng Dưới cát vùi sóng dập chẳng hề nguôi

Tiếng tủi cực kẻ ăn cầu ngủ quán

Thành Nguyễn Du vằng vặc nỗi thương đời.

Trái đất rộng giàu sang bao thứ tiếng

Cao qúy thâm trầm rực rỡ vui tươi

Tiếng Việt rung rinh nhịp đập trái tim người Như tiếng sáo như dây đàn máu nhỏ.

Buồm lộng sóng xô, mai về trúc nhớ

Phá cũi lồng vời vợi cánh chim bay

Trang 38

Tiếng trong trẻo như hồn dân tộc Việt.

Mỗi sớm dậy nghe bốn bể thân thiết Người qua đường chung tiếng Việt cùng tôi Như vị muối chung lòng biển mặn

Như dòng sông thương mến chảy muôn đời.

Ai thuở trước nói những lời thứ nhất Còn thô sơ như mảnh đá thay rìu Điều anh nói hôm nay, chiều sẽ tắt

Ai người sau nói tiếp những lời yêu?

Ai phiêu bạt nơi chân trời góc bể

Có gọi thầm tiếng Việt giữa đêm khuya?

Ai ở phía bên kia cầm súng khác Cùng tôi trong tiếng Việt quay về.

Ôi tiếng Việt suốt đời tôi mắc nợ Quên nỗi mình quên áo mặc cơm ăn Trời xanh quá môi tôi hồi hộp quá Tiếng Việt ơi tiếng Việt ân tình

* Gợi ý

1 Phân tích ngắn gọn văn bản “Tiếng Việt” của Lưu Quang Vũ:

Bài thơ đã ngợi ca sự giàu đẹp của tiếng Việt: vừa giản dị, mộc mạc, vừa phongphú, sâu sắc Tiếng Việt có sức sống mạnh mẽ, thẫm đẫm vẻ đẹp linh hồn dân tộc, cógiá trị bồi đắp tâm hồn, tình yêu dân tộc Bằng lời thơ chân thành, hình ảnh thơ giàugiá trị biểu cảm, Lưu Quang Vũ đã thể hiện tình yêu, niềm tự hào, sự trân trọng đốivới tiếng Việt thiêng liêng Đọc bài thơ, ta càng thêm trân quý ngôn ngữ của dân tộcvà giật mình trước hiện tượng một bộ phận giới trẻ hiện nay đang ngày càng lạm dụngngôn ngữ nước ngoài

Trang 39

2 Nghị luận về hiện tượng dùng tiếng nước ngoài tràn lan của một bộ phận giới trẻhiện nay

* Nêu và mô tả hiện tượng

- Hiện nay một bộ phận giới trẻ đang lạm dụng ngôn ngữ nước ngoài Họ dùng ngônngữ nước ngoài mọi lúc mọi nơi (biển hiệu, giao tiếp…), tây ta lẫn lộn không cần thiết,gây ra sự lai căng ngôn ngữ, sính ngoại thái quá Nhiều trường hợp vay mượn tiếngnước ngoài bừa bãi, làm mất sự thuần khiết của tiếng Việt

 Hiện tượng này đang trở thành một trào lưu đáng báo động trong giới trẻ

* Bàn luận về hiện tượng

- Nguyên nhân:

+ Quá trình hội nhập, giao lưu văn hóa, ngôn ngữ…

+ Tư tưởng sính ngoại

+ Trình độ tiếp thu chưa tốt…

- Đánh giá:

+ Sử dụng ngôn ngữ nước ngoài đúng lúc đúng chỗ giúp phát triển ngôn ngữ, hội nhậpthế giới

+ Sử dụng ngôn ngữ nước ngoài tràn lan gây ra nhiều hậu quả đáng buồn:

++ Làm mất đi sự trong sáng của tiếng Việt

++ Lệch chuẩn về ngôn ngữ, cư xử thiếu văn hóa

++ Mất dần tinh thần dân tộc…

* Bài học liên hệ:

- Giữ gìn sự trong sáng của ngôn ngữ dân tộc

- Tiếp thu có chọn lọc ngôn ngữ nước ngoài và sử dụng linh hoạt phù hợp

Đề 7

Bài học cuộc sống mà anh/chị rút ra được từ những vần thơ sau của Hồ Chí Minh:

Gạo đem vào giã bao đau đớn Gạo giã xong rồi trắng tựa bông Sống ở trên đời người cũng vậy Gian nan rèn luyện mới thành công

Trang 40

*Gợi ý

1 Phân tích ý nghĩa của bài thơ

- Bài thơ thể hiện suy nghĩ của Hồ Chí Minh về công việc giã gạo rất đỗi quen thuộc,bình dị trong cuộc sống

- Từ hình ảnh hạt gạo trắng tựa bông sau khi trải qua “bao đau đớn”, nhà thơ khái quát một chân lý trong cuộc sống con người: “Gian nan rèn luyện mới thành công”: phải

trải qua quá trình phấn đấu rèn luyện lâu dài gian khổ thì mới có thể đạt được thànhcông, thắng lợi Đây là một bài học đúng đắn và sâu sắc cho mỗi chúng ta

2 Nghị luận về vai trò của việc rèn luyện gian khổ lâu dài với mỗi người

- Con người cần có một quá trình gian nan rèn luyện mới đạt được thành công, bởi lẽtrong cuộc sống để có những thành quả tốt đẹp là điều không dễ dàng

- Trong thực tế đời sống có rất nhiều tấm gương bền bỉ kiên trì vượt qua gian nan thửthách để đạt được thành công

- Phê phán những kẻ nóng vội, lười biếng không chịu bỏ công sức mà chỉ chờ đợithành quả

- Bài học nhận thức và hành động: Nhận thức được ý nghĩa của việc rèn luyện bảnthân để vươn lên đạt thành công trong cuộc sống Cần chịu khó học hỏi, dám đươngđầu với khó khăn thử thách, năng động sáng tạo để vươn lên khẳng định mình

Đề 8

Người ăn xin

Một người ăn xin đã già Đôi mắt ông đỏ hoe, nước mắt ông giàn giụa, đôi môi tái nhợt, áo quần tả tơi Ông chìa tay xin tôi.

Tôi lục hết túi nọ đến túi kia, không có lấy một xu, không có cả khăn tay, chẳng

có gì hết Ông vẫn đợi tôi Tôi chẳng biết làm thế nào Bàn tay tôi run run nắm chặt lấy bàn tay run rẩy của ông:

- Xin ông đừng giận cháu! Cháu không có gì cho ông cả.

Ông nhìn tôi chăm chăm, đôi môi nở nụ cười:

- Cháu ơi, cảm ơn cháu! Như vậy là cháu đã cho lão rồi.

Khi ấy tôi chợt hiểu ra: cả tôi nữa, tôi cũng vừa nhận được một cái gì đó của ông (Theo Tuốc-ghê-nhép, Ngữ văn 9, tập 1, NXB Giáo dục, 2005, trang 22)

Ngày đăng: 27/10/2017, 23:40

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w