1. Trang chủ
  2. » Kinh Tế - Quản Lý

Ôn tập lý luận chính trị hành chính 3

20 181 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 20
Dung lượng 45,67 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trang bị những kiến thức cơ bản và cần thiết về lý luận chính trị – hành chính; củng cố, nâng cao bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức, trình độ lãnh đạo, quản ...Trang bị những kiến thức cơ bản và cần thiết về lý luận chính trị – hành chính; củng cố, nâng cao bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức, trình độ lãnh đạo, quản ...

Trang 1

BÀI 1 Câu 1 : Nội dung mối quan hệ biện chứng biện chứng giữa vật chất và

ý thức (quan điểm khách quan)? Ý nghĩa phương pháp luận? Liên hệ thực tiễn?

* Khái niệm vật chất:

“Vật chất là một phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quan được đem lại cho con người trong cảm giác, được cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lại, phản ánh và tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác”

(Vật chất có nhiều thuộc tính nhưng thuộc tính cơ bản nhất là “thực tại khách quan”, tức là tồn tại khách quan độc lập với ý thức con người và loài người tư duy con người có thể nhận thức được vật chất)

* Khái niệm ý thức:

Ý thức là sự phản ánh thế giới khách quan vào trong bộ óc con người một cách tích cực, năng động, chủ động, sáng tạo (hay ý thức là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan)

* Mối quan hệ giữa vật chất và ý thức:

+ Vật chất có trước và quyết định ý thức:

- Bộ óc người là dạng vật chất sống có tổ chức cao, là cơ sở, nển tảng vật chất của ý thức

- Ý thức tồn tại phụ thuộc vào hoạt động thần kinh của bộ óc trong quá trình phàn ánh TGKQ

- VC quyết định nội dung phản ánh của YT (YT là cái phản ánh cho nên là cái có sau, là cái bị quyết định)

- Sự tác động của YT đối với VC dù đến đâu chăng nữa vẫn phụ thuộc vào điều kiện VC

+ Ý thức tác động trở lại vật chất:

- Ý thức có tính năng động, chủ động, tích cực, sáng tạo nên tác động trở lại VC thông qua hoạt động thực tiễn của con người

- YT tác động trở lại VC theo 2 khuynh hướng thúc đẩy hoặc kềm hãm sự phát triển của sự vật

+ Tác động theo khuynh hướng thúc đẩy khi phản ánh đúng hiện thực và hình thành lý luận định hướng

+ Tác động theo khuynh hướng kềm hãm khi phản ánh sai lệch, xuyên tạc

sự thật

* Ý nghĩa phương pháp luận:

Giữa vật chất và ý thức có mối quan hệ biện chứng Từ mối quan hệ biện chứng rút ra quan điểm khách quan trong nhận thức và hoạt động thực tiễn

Trang 2

- Nhận thức sự vật vốn như nó có

- Trong hoạt động thực tiễn bao giờ cũng phải xuất phát tử thực tế khách quan, tôn trọng các quy luật khách quan

- Trong hoạt động thực tiễn phải biết phát huy tính năng động, tính sáng tạo của ý thức, tinh thần trong cải tạo thế giới

- Phải chống bệnh chủ quan, duy ý chí

* Liên hệ thực tiễn:

Trong những năm xây dựng chủ nghĩa xã hội trước thời kỳ đổi mới, chúng

ta đã phạm những sai lầm trong việc xác định mục tiêu và bước đi về xây dựng

cơ sở vật chất., kỹ thuật, cải tạo xã hội chủ nghĩa và quản lý kinh tế Chúng ta đã nóng vội muốn xoá bỏ ngay nền kinh tế nhiều thành phần, vi phạm nhiều quy luật khách quan Cương lĩnh của Đảng được thông qua tại Đại hội lần thứ VII đã khẳng định: “Đảng đã phạm sai lầm chủ quan duy ý chí, vi phạm quy luật khách quan” Vì vậy, từ lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin cũng như từ những kinh nghiệm thành công và thất bại quá trình lãnh đạo cách mạng, Đại hội lần thứ VII của Đảng đã rút ra bài học quan trọng là: mọi đường lối, chủ trương của Đảng phải

xuất phát từ thực tế, tôn trọng quy luật khách quan Bài học đó có ý nghĩa thời

sự nóng hổi trong quá trình đổi mới đất nước ta

Đại hội lần thứ VIII của Đảng đã tổng kết 10 năm đổi mới, đề ra những mục tiêu, phương pháp, nhiệm vụ cho thời kỳ mới - thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Trong thời kỳ mới này phải “lấy việc phát huy nguồn lực con người làm yếu tố cơ bản cho sự phát triển nhanh và bền vững”, chúng ta cần tránh sai lầm chủ quan nóng vội trong công nghiệp hoá, hiện đại hoá, đồng thời phải “khơi dậy trong nhân dân lòng yêu nước, ý chí quật cường, phát huy tài trí của người Việt Nam, quyết tâm đưa nước nhà ra khỏi nghèo nàn và lạc hậu…”

Câu 2 : Nội dung 2 nguyên lý cơ bản của phép biện chứng duy vật? Ý nghĩa? Liên hệ thực tế.

Nguyên lý 1: Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến

- Khái niệm mối liên hệ phổ biến: là sự chi phối, ràng buộc, tác động phụ thuộc,

chuyển hóa lẫn nhau trong giữa các mặt, các yếu tố các thuộc tính của một quá trình, hay sự vật hiện tượng này với sự vật hiện tượng khác, diễn ra ở khắp mọi nơi ở mọi sự vật hiện tượng trong thế giới khách quan

- Tính chất:

o Tính khách quan:

 Sự vật hiện tượng thống nhất với nhau ở tính vật chất nên chúng có mối liên hệ nhau

 Mối liên hệ không do chủ quan của con người gắn ghép

Trang 3

o Tính phổ biến: mọi sự vật hiện tượng trong thế giới khách quan đều có mối quan hệ ràng buộc, tác động chuyển hóa tự nhiên, xã hội, tư duy

o Tính đa dạng và phong phú:

 Xuất phát từ tính đa dạng của thế giới vật chất

 Mối liên hệ rất đa dạng phong phú: mối liên hệ bên trong, bên ngoài; bản chất, không bản chất; tất nhiên, ngẫu nhiên

- Ý nghĩa phương pháp luận: phải có quan điểm toàn diện

o Các mặt, các yếu tố, các mối liên hệ tác động, không cô lập, tách rời.

o Nhìn sự vật hiện tượng trong một chỉnh thể nhưng không cào bằng các mối liên hệ, phải có trọng tâm, trọng điểm

o Trong hoạt động thực tiễn phải đánh giá đúng vị trí, vai trò của từng mối liên hệ

- Liên hệ thực tế: giải pháp khắc phục xâm nhập mặn

o Nguyên nhân: có rất nhiều nguyên nhân tác động như: (1) do việc biến đổi khí hậu do sự nóng lên toàn cầu làm băng ở các cực tan chảy, dẫn đến việc xâm nhập mặn của nước biển làm ảnh hưởng đến điều kiện tự nhiên của các vùng trũng như ở đồng bằng Sông Cửu Long; (2) do hoạt động của các hệ thống đập thủy điện của các nước ở thượng nguồn sông Mekong như Trung Quốc, Thái Lan, hay Lào,…làm cho tình hình hạn hán tăng cao ở hạ nguồn; (3) do năm

2016 không có các cơn mưa trái mùa như những năm trước làm tình hình hạn hán tăng, đồng thời làm mực nước sông hồ tích lũy nước rửa mặn bị khô kiệt,…

o Hậu quả:

 Ngập mặn làm ảnh hưởng trực tiếp đến việc sản xuất nông nghiệp và nuôi trồng thủy sản Cụ thể, làm phần lớn diện tích đất trồng lúa và hoa màu bị mất trắng Xâm nhập mặn làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự tăng trưởng và bệnh của cá nước ngọt nói chung và các tra, loài cá kinh tế quan trọng của ĐBSCL nói riêng Bên cạnh đó, việc lột xác để tăng trưởng của các loài thủy hải sản kinh tế như tôm sú, tôm càng xanh bị ảnh hưởng nghiêm trọng và dẫn đến chết hàng loạt ở tôm

 Không những tác động đến sinh hoạt, việc ngập mặn và hạn hán ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống sinh hoạt của người dân Trong đó, việc thiếu nước sinh hoạt, một trong những chỉ tiêu quan trọng trong chất lượng đời sống người dân bị ảnh hưởng một cách nghiêm trọng Thông qua đó, người dẫn phải chi trả nhiều hơn gấp nhiều lần để có được nước sinh hoạt vốn không có giá trị đến mức như vậy

 Hơn thế nữa, do hậu quả của việc thiếu nước, sức khỏe của người dân bị ảnh hưởng nghiêm trọng do việc cố gắng sử dụng nước từ các nguồn giếng cạn vốn nhiều kim loại nặng và không an toàn

Trang 4

 Ngoài ra, việc xâm mặn kết hợp hạn hán có thể ảnh hưởng đến dân sinh Dân chúng thiếu hiểu biết lâm vào tình trạng khó khăn sẽ là đối tượng dễ bị kích động, từ đó gây nên các biến động làm ảnh hưởng đến an ninh Cả hệ thống chính trị phải vào cuộc Bên cạnh đó, phải cầu cạnh các nước thượng nguồn sông Mekong nhờ giúp đỡ trong việc xả nước hồ chứa ở các đập để cứu hạn hán

là một công tác ngoại giao thể hiện sự phụ thuộc Đặc biệt là đối với Trung Quốc, nước mà nước ta đang có những tranh đấu ngoại giao

o Giải pháp: phải toàn diện từ Trung ương đến địa phương kết hợp với sự

hỗ trợ của quốc tế

 Trung ương cần có những hành động kịp thời nhằm xây dựng các chính sách hỗ trợ kịp thời cho các vùng bị thiên tai Hỗ trợ các phương tiện khoa học kỹ thuật, nguồn vốn nhằm xoay sở kịp thời trong lúc khó khăn, cấp bách Bên cạnh đó, phải có các bước đi phù hợp nhằm đảm bảo tình hình an ninh, trật tự, các hoạt động y tế, dự phòng phục vụ tốt cho dân sinh và giữ vững, kiện toàn hệ thống chính trị

 Đối với địa phương: phải nắm bắt, cập nhật tình hình thực tế; xử lý tại chỗ đồng thời kịp thời báo cáo nhanh chóng tình hình thiên tai cho trung ương nhằm có được các hỗ trợ vật chất cũng như tinh thần một cách nhanh chóng Trước mắt phải nhanh chóng đảm bảo nguồn nước sinh hoạt cho người dân Sau là tìm kiếm các biện pháp kỹ thuật để tranh thủ nước tưới tiêu cho các đồng lúa, vườn trái cây như đào hồ chứa nước ngọt, tranh thủ bơm nước từ các vùng thượng lưu, tận dụng tối đa các nguồn nước ngầm, kể cả giếng cạn cho các hoạt động tưới tiêu

 Kêu gọi sự hỗ trợ tài chính từ các tổ chức, các quốc gia khác trong việc cứu đói, chống hạn Hơn nữa, thông qua các nhà khoa học, tìm kiếm các biện pháp phát triển bền vững hơn nền nông nghiệp ứng phó hiệu quả với việc biến đổi khí hậu Kêu gọi các tổ chức y tế trên thế giới nhằm cải thiện tình hình sức khỏe cho người dân trong vùng thiên tai cũng là một nhu cầu hết sức cấp bách Trong công tác ngoại giao, cần có những bước đi suy tính vẹn toàn nhằm tránh phụ thuộc vào các nước ở thượng nguồn

Nguyên lý 1: Nguyên lý về mối liên hệ phát triển

- Khái niệm mối liên hệ phát triển: là sự vận động bao gồm cả quá trình vận

động đi lên, tinh tiến, thụt lùi tạm thời, tan rã Nhưng khuynh hướng vận động phát triển là khuynh hướng chung chủ yếu của mọi sự vật hiện tượng

- Nguồn gốc của phát triển: là do mâu thuẫn bên trong của các mặt đối lập

- Tính khách quan: phát triển là khách quan, là thuộc tính vốn có của mọi sự vật

hiện tượng

Trang 5

- Khuynh hướng của phát triển: phát triển là sự vận động bao gồm cả quá trình

vận động đi lên, tịnh tiến, thụt lùi tạm thời, tan rã Khuynh hướng vận động phát triển là khuynh hướng chung chủ yếu của mọi sự vật hiện tượng

- Ý nghĩa phương pháp luận: phải có quan điểm phát triển

o Xem xét sự vật hiện tượng phải đặt nó trong sự vận động, phát triển, biến đổi…dự đoán khả năng xảy ra để chủ động

o Chống bảo thủ, trì trệ, ngại đổi mới

o Phát triển là khó khăn, bao gồm cả thụt lùi tạm thời…phải bình tĩnh, lạc quan tin tưởng vào tương lai

- Liên hệ thực tế: vấn đề xây dựng CNXH ở Việt Nam

o Giai đoạn trước đổi mới: còn trì trệ trong giai đoạn đầu, giai đoạn kế hoạch hóa tập trung bao cấp, còn quá lâu do Việt Nam học theo mô hình gập khuôn của Liên Xô………

o Giai đoạn sau đổi mới: tập trung phát triển nền nông nghiệp và công nghiệp nhẹ, có nhiều thành phần kinh tế (có cả thành phần kinh tế tư bản tư nhân); mở rộng giao lưu, học tập các nước phát triển;…

Từ đó, nền kinh tế nước ta dần dần khôi phục và phát triển trở lại đúng theo định hướng

Câu 3 : Nội dung 2 quy luật lượng, chất? mâu thuẫn, ý nghĩa, liên hệ thực tế?

1 Định nghĩa Chất và Lượng

- Chất: là phạm trù triết học chỉ tính quy định khách quan vốn có của các

sự vật, hiện tượng; là sự thống nhất hữu cơ các thuộc tính làm cho sự vật là nó

mà không phải là sự vật khác

- Lượng: là phạm trù triết học chỉ tính quy định khách quan vốn có của sự

vật, hiện tượng về mặt quy mô, trình độ phát triển, biểu thị đại lượng con số các thuộc tính, các yếu tố… cấu thành sự vật

2 Nội dung 2 quy luật:

- Theo triết học duy vật biện chứng, mỗi sự vật đều có sự thống nhất giữa chất và lượng Sự thay đổi của sự vật bao giờ cũng bắt đầu từ sự thay đổi về lượng, nhưng không phải mọi sự thay đổi về lượng đều dẫn đến thay đổi về chất Khoảng giới hạn mà sự thay đổi về lượng (tăng lên hoặc giảm đi) chưa làm cho chất của sự vật thay đổi được gọi là độ Nói khác đi, độ là phạm trù triết học chỉ

sự thống nhất giữa lượng và chất; là khoảng giới hạn mà trong đó sự thay đổi về lượng (tăng lên hoặc giảm đi) chưa làm cho sự thay đổi căn bản về chất của sự vật diễn ra

Trang 6

Ví dụ: độ của học viên lớp Trung cấp lý luận chính trị - hành chính là từ khi nhập học đến trước khi thi đỗ tốt nghiệp Trong khoảng thời gian đó, học viên có học và thi thêm được các môn học khác nhưng chất “học viên Trung cấp lý luận chính trị - hành chính” chưa đổi

- Sự thay đổi về lượng của sự vật (tăng lên hoặc giảm đi) đến giới hạn nhất định sẽ làm cho chất của sự vật thay đổi Điểm tới hạn đó được gọi là điểm nút

Ví dụ: khi học viên Trung cấp lý luận chính trị - hành chính thi đỗ tốt nghiệp, thì sẽ có sự thay đổi về chất diễn ra Chất “học viên Trung cấp lý luận chính trị - hành chính” đã chuyển sang chất “người có bằng Trung cấp lý luận chính trị - hành chính” Nghĩa là thời điểm thi đỗ tốt nghiệp của học viên Trung cấp lý luận chính trị - hành chính được gọi là điểm nút của bước chuyển sang

“Người có bằng Trung cấp lý luận chính trị - hành chính”

Khi có sự thay đổi về chất diễn ra do sự thay đổi về lượng trước đó gây ra được gọi là bước nhảy Có nhiều loại bước nhảy khác nhau

+ Bước nhảy đột biến (chất của sự vật biến đổi một cách nhanh chóng ở tất

cả các bộ phận cơ bản, cấu thành sự vật)

+ Bước nhảy dần dần (là quá trình thay đổi về chất diễn ra bằng con đường tích lũy dần dần những nhân tố của chất mới và mất đi dần dần những nhân tố của chất cũ)

+ Bước nhảy toàn bộ (là bước nhảy làm thay đổi về chất tất cả các mặt, các

bộ phận, các yếu tố cấu thành sự vật)

+ Bước nhảy cục bộ (là bước nhảy làm thay đổi một số mặt, một số yếu tố,

bộ phận của sự vật đó)

Trong lĩnh vực xã hội, thay đổi về lượng được gọi là “tiến hóa” thay đổi về chất được gọi là “cách mạng”

Sau khi ra đời, chất mới lại tác động trở lại lượng mới Sự tác động của chất mới đến lượng mới thể hiện ở chổ nó tác động tới quy mô, nhịp điệu, tốc độ… của lượng mới Tóm lại, sự thống nhất giữa lượng và chất trong sự vật tạo thành độ Những thay đổi về lượng dần dần đến giới hạn nhất định thì xảy ra bước nhảy, chất cũ bị phá vỡ, chất mới ra đời cùng với độ mới Như vậy, sự vật phát triển theo cách thức: đứt đoạn trong liên tục

3 Ý nghĩa phương pháp luận:

- Nhận thức sự vật phải nhận thức cả chất và lượng của nó Muốn thay đổi chất của sự vật phải có sự thay đổi về lượng, cho nên không được chủ quan, nóng vội

- Khi tích lũy về lượng đã đủ cần thực hiện bước nhảy, tránh bảo thủ, trì trệ, ngại khó Trong hoạt động thực tiễn cần chống “tả khuynh”, tức là tuyệt đối hóa bước nhảy về chất khi chưa tích lũy đủ về lượng

Trang 7

- Đồng thời cũng cần tránh xu hướng “hữu khuynh”, tức là tuyệt đối hóa sự tích lũy về lượng, không dám thực hiện bước nhảy về chất khi tích lũy về lượng

đã đủ

- Muốn giữ cho sự vật còn là nó thì phải nhận thức được giới hạn độ của nó

và giữ cho sự thay đổi về lượng không vượt quá giới hạn độ cho phép

4 Liên hệ thực tế:

- Mọi sự vật đều là sự thống nhất giữa lượng và chất, sự thay đổi dần dần

về lượng trong khuôn khổ của độ tới điểm nút sẽ dẫn đến sự thay đổi về chất của

sự vật thông qua bước nhảy; chất mới ra đời tác động trở lại sự thay đổi của lượng mới Quá trình tác động đó diễn ra liên tục làm cho sự vật không ngừng phát triển, biến đổi Sự vận động và phát triển của sự vật bao giờ cũng diễn ra bằng cách tích lũy dần dần về lượng đến một giới hạn nhất định, thực hiện bước nhảy để chuyển về chất và việc học tập của sinh viên cũng sẽ không thể nằm ngoài điều đó Để có một tấm băng Đại học các bạn sinh viên phải tích lũy đủ số lượng các học phần và để học phần có kết quả tốt cần phải tích lũy đủ sống lượng đơn vị học trình của các môn học Như vậy, ở các kỳ thi có thể coi thời gian học là độ, các kỳ thi là các điểm nút và kết quả kỳ thi đạt yêu cầu là bước nhảy, bởi kết quả kỳ thi tốt - bước nhảy là sự kết thúc một giai đoạn tích lũy tri thức trong quá trình học tập rèn luyện của sinh viên

- Do đó, trong hoạt động nhận thức, hoạt động học tập sinh viên phải biết từng bước tích lũy về lượng (tri thức) để làm biến đổi về chất (kết quả học tập) theo quy luật Cũng như trong hoạt động của mình ông cha ta chẳng thường có câu “tích tiểu thành đại”

- Những việc làm vĩ đại của con người bao giờ cũng là sự tổng hợp của những việc làm bình thường của con người đó Quy luật này giúp chúng ta tránh được tư tưởng chủ quan trong học tập và trong hoạt động thực tiễn hằng ngày

Câu 4 : ND MQH biện chứng giữa lý luận và thực tiễn? Ý nghĩa? Liên

hệ thực tiễn?

(Có thể hỏi: Phân tích quan điểm của chủ tịch Hồ Chí Minh: “Thực tiễn

mà không lý luận hướng dẫn thì thành thực tiễn mù quáng, lý luận mà không liên hệ thực tế là lý luận suông” Vận dụng quan điểm này vào thực tế công tác của đồng chí)

+ Trả lời:

I Phần lý thuyết:

Cơ sở lý luận của quan điểm của chủ tịch Hồ Chí Minh: “Thực tiễn mà không

lý luận hướng dẫn thì thành thực tiễn mù quáng, lý luận mà không liên hệ thực

tế là lý luận suông” bắt nguồn từ sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn trong con đường biện chứng của quá trình nhận thức chân lý mà chủ nghĩa duy vật biện chứng nêu lên

a Thực tiễn:

Trang 8

Khái niệm: Thực tiễn là phạm trù triết học chỉ toàn bộ hoạt động vật chất – cảm tính có tính chất lịch sử – xã hội của con người nhằm mục đích biến đổi tự nhiên và xã hội

Thực tiễn có 3 hình thức cơ bản: Sản xuất vật chất; hoạt động cải tạo (biến đổi) chính trị – xã hội và hoạt động thực nghiệm khoa học – kỹ thuật Trong đó, sản xuất vật chất là có sớm nhất, quan trọng nhất, quyết định các hình thức kia Hai hình thức kia có ảnh hưởng quan trọng tới sản xuất vật chất

b Lý luận:

Định nghĩa: Lý luận là một hệ thống những tri thức được khái quát từ kinh nghiệm thực tiễn phản ánh những mối liên hệ bản chất, tất nhiên, mang tính quy luật của sự vật, hiện tượng trong thế giới khách quan và được biểu đạt bằng hệ thống các khái niệm, phạm trù, nguyên lý, quy luật.v.v.;

c Mối quan hệ biện chứng giữa thực tiễn và lý luận:

Thực tiễn và lý luận có mối quan hệ biện chứng với nhau, tác động qua lại lẫn nhau Trong đó, thực tiễn quyết định lý luận

* Thực tiễn quy định lý luận:

Thực tiễn là cơ sở, động lực, mục đích của nhận thức, của lý luận, là tiêu chuẩn kiểm tra chân lý Thực tiễn quy định nội dung, nhiệm vụ, khuynh hướng phát triển của

lý luận Thực tiễn thay đổi thì lý luận cũng phải thay đổi cho phù hợp

- Thứ nhất: Thực tiễn là cơ sở, là động lực chủ yếu và trực tiếp nhất của nhận thức,

của lý luận Vì thực tiễn luôn vận động biến đổi, luôn đặt ra những yêu cầu, nhiệm vụ mới để lý luận được bổ sung hoàn thiện

- Thứ hai: Thực tiễn là mục đích của nhận thức, lý luận Vì lý luận được hình

thành từ thực tiễn, nhưng có mục đích là đáp ứng yêu cầu của thực tiễn

- Thứ ba: Thực tiễn là tiêu chuẩn của nhận thức, của chân lý Vì Thực tiễn là

thước đo tri thức trong quá trình nhận thức

Ví dụ: Tình trạng ngập lụt ở ĐBSCL vào mùa mưa lũ, chúng ta đã đắp đê ngăn lũ

để bảo vệ mùa màng, cây trái, tăng vụ tăng năng suất Trong quá trình thực hiện, chúng

ta thấy được nếu cánh đồng không cho nước lũ tràn về thì sẽ không còn lượng phù sa bồi đắp hàng năm, năng suất sẽ giảm, sâu rầy phát triển mạnh Chính vì vậy, chúng ta thực hiện phương châm: Sống chung với lũ Nghĩa là chúng ta khai thác nguồn tài nguyên từ nước lũ tràn về là tôm cá tự nhiên, hoặc cho nước tràn đồng rồi vây lưới lại để nuôi cá …

* Lý luận tác động trở lại thực tiễn:

- Lý luận đóng vai trò soi đường, chỉ đạo, hướng dẫn cho hoạt động thực tiễn vì lý luận có khả năng định hướng mục tiêu xác định lực lượng, phương pháp, biện pháp thực hiện

Trang 9

- Lý luận khoa học góp phần giáo dục, thuyết phục, động viên, tập hợp quần chúng nhân dân tạo thành phong trào hoạt động thực tiễn của đông đảo quần chúng, để cải tạo thế giới

- Lý luận đóng vai trò định hướng, dự báo cho hoạt động thực tiễn

- Lý luận không chỉ giúp con người hoạt động hiệu quả mà còn là cơ sở khắc phục những hạn chế và tăng năng lực hoạt động của con người

Tóm lại: Lý luận đúng đắn, khoa học, thâm nhập được vào quần chúng và được vận dụng đúng đắn có thể thúc đẩy thực tiễn phát triển Ngược lại sẽ kìm hãm thực tiễn VD: Xây nhà vượt lũ ở ĐBSCL không hiệu quả, tốn nhiều ngân sách Nhà nước vì người dân không chịu ở, tuy mục đích bảo đảm an toàn, tính mạng cho họ Chủ trương này được người dân ủng hộ vì không tính đến phong tục tập quán sinh sống của họ, đã kéo người dân ra khỏi đồng ruộng – những người bao đời nay gắn bó với đồng ruộng, người nông dân không có ruộng vườn để chăm sóc hàng ngày, không gần con rạch, bờ

ao để kiếm cái ăn hàng ngày, không có chỗ neo đậu xuồng

Ở đây, thực tiễn cuộc sống và chủ trương đã không đồng bộ với nhau, dẫn tới không mang lại hiệu quả

d Ý nghĩa phương pháp luận:

Sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn là nguyên tắc cơ bản của Chủ nghĩa Mác – Lênin Thực tiễn phải được chỉ đạo bởi lý luận, ngược lại lý luận phải được vận dụng vào thực tiễn, tiếp tục bổ sung và phát triển trong thực tiễn Chính vì vậy, phải có quan điểm thực tiễn trong nhận thức và hoạt động thực tiễn Nhận thức và hoạt động phải xuất phát từ thực tiễn, trên cơ sở thực tiễn, coi trọng việc tổng kết thực tiễn để có những nhận thức đóng vai trò định hướng cho hoạt động thực tiễn tiếp theo

- Yêu cầu của quan điểm thực tiễn:

+ Nhận thức sự vật phải gắn với nhu cầu thực tiễn của con người, xuất phát

từ thực tiễn địa phương, ngành, đất nước

+ Nghiên cứu lý luận phải liên hệ với thực tiễn, học đi đôi với hành Nếu xa rời thực tiễn sẽ đi đến những sai lầm của bệnh chủ quan duy ý chí, giáo điều máy móc, bệnh quan liêu Tuy nhiên cũng không nên tuyệt đối hóa vai trò của thực tiễn vì sẽ rơi vào chủ nghĩa thực dụng và kinh nghiệm chủ nghĩa

+ Chú trọng công tác tổng kết thực tiễn để bổ sung, hoàn thiện và phát triển

lý luận cũng như đường lối, chủ trương, chính sách Mọi đường lối chủ trương, chính sách, phương tiện, phương pháp phải xuất phát từ thực tiễn và quay về phục vụ thực tiễn và căn cứ vào thực để kiểm tra tính đúng đắn của lý luận Chính vì vậy chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: “Thực tiễn mà không lý luận hướng dẫn thì thành thực tiễn mù quáng, lý luận mà không liên hệ thực tế là lý luận suông”

II Liên hệ thực tiễn:

Trang 10

Trong thực tế có một số Đảng viên nói và làm không thống nhất Để khắc phục tình trạng nói không đi đôi với làm, trung ương Đảng đã đề ra một chủ đề trong Cuộc

vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức HCM”: Nói đi đôi với làm

Nói: Đúng chủ trương chính sách của Đảng, Đúng đường lối pháp luật nhà nước, Không được xuyên tạc nói sai Hay trong đơn vị, phải nói đúng với nghị quyết của chi

bộ và làm theo đúng kế hoạch của chính quyền đề ra

Làm: là làm theo đúng chủ trương đường lối kế hoạch đó

Cần tránh không được nói một đường làm một nẻo, hứa mà không thực hiện… Nội dung học tập và làm theo tấm gương đạo đức HCM này thực hiện trong nội

bộ Đảng Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện cuộc vận động, TW Đảng đã có những thay đổi để phù hợp với tình hình thực tế Cụ thể như sau:

- Vì hiệu quả mang lại cao đã khắc phục phần nào những hạn chế của đảng viên trong việc nói không đi đôi với làm; nên phong trào tiếp tục triển khai học tập trong CNVCLĐ và cuối cùng là nhân dân tạo ra phong trào học tập sôi nổi trong toàn Đảng, toàn quân, toàn dân

- Phát hiện thấy đa số tập thể và cá nhân chỉ triển khai nội dung hoặc chỉ đăng ký học tập chứ chưa có những việc làm cụ thể, TW Đảng tiếp tục chỉ đạo nhấn mạnh việc cần làm và làm gì thật cụ thể gắn công việc của từng cá nhân, đơn vị

- Tổ chức sơ kết năm, 3 năm thực hiện, có đánh giá của từng cá nhân, đơn vị để tiếp tục rút kinh nghiệm và đề ra những bước đi mới phù hợp với tình hình thực tế Qua các đợt học tập, đã có nhiều điển hình tiên tiến được giới thiệu, nhân rộng làm tấm gướng thực tế cho mọi người noi theo

Quan điểm “nói đi đôi với làm” của Bác Hồ không chỉ là nguyên tắc đạo đức, phương châm hoạt động, mà còn là biểu hiện hành động cụ thể của việc quán triệt sâu sắc nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn như ông bà ta thường nói: “ miệng nói, tay làm, tai lắng nghe”./

BÀI 2 Câu 5: Trình bày nội dung quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất? Liên hệ với quá trình phát triển theo định hướng XHCN ở Việt Nam?

* Khái niệm lực lượng sản xuất:

Lực lượng sản xuất là sự kết hợp giữa người lao động với tư liệu sản xuất, trước hết là công cụ lao động Lực lượng sản xuất gồm tư liệu sản xuất ( tư liệu sản xuất và đối tượng lao động) và người lao động với kỹ năng, kinh nghiệm lao động của họ

- Người lao động: với tư cách là chủ thể của sản xuất vật chất, tác động vào đối tượng lao động để tạo ra của cải vật chất, sáng tạo ra công cụ lao động

Ngày đăng: 09/10/2017, 11:11

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w