Có thể nói, hạt giống Tin Mừng được gieo vào miền đất Thái Bình từ rất sớm. Theo sử sách để lại, năm 1638, sau khi được cử đến Đàng Ngoài loan báo Tin Mừng tại Kẻ Chợ, bằng đường sông Luộc, cha Felice Morelli đã đặt chân đến làng Bồ Trang (thuộc xứ Bồ Ngọc, Giáo phận Thái Bình ngày nay) để giảng đạo và được người dân nơi đây niềm nở tiếp đón. Từ đây Tin Mừng dần dần được lan rộng đến các làng khác trong Phủ Thái Bình. Tại Bồ Trang, cha Felice Morelli đã sao chép cuốn “Phép Giảng Tám Ngày” của cha Đắc Lộ làm tài liệu giảng đạo. Năm 1640, cha Felice Morelli thay thế cha bề trên Gaspar d’Amaral, lãnh đạo giáo phận Đàng Ngoài. Thời gian này vua Lê, chúa Trịnh rất có cảm tình với các thừa sai, nên chúa Trịnh Tạc đã nhận cha Felice Morelli làm dưỡng tử và gọi cha là Phúc Ông (dịch từ chữ Felice). Trong hoàn cảnh thuận lợi này, cha đã lập xứ đầu tiên trên phần đất Giáo phận Thái Bình, đó là xứ Kẻ Bái (xứ Bồ Ngọc ngày nay). Kẻ Bái đã trở thành cái nôi Đức Tin của Giáo phận. Đây là thành quả đầu tiên của các thừa sai nói chung, đặc biệt là cha Felice Morelli sau những năm miệt mài với công cuộc rao giảng. Biến cố đặc biệt này, được dân gian ghi lại qua bài vè: Bảy năm đi hết cả miền, Thì thầy ở lại hẳn miền Bồ Trang, Lập nên xứ Bái rõ ràng, Nam xuống Lai Ổn, Đông sang Ninh Cù. Chuông treo trống sắm cờ mua, Bấy giờ là lúc hết mùa Giêgiung (Mùa Chay: Jejunium) Năm 1649, cha Morelli trao quyền lãnh đạo giáo phận Đàng Ngoài cho cha Girolamo Magori và trở về Macao năm 1650.
Trang 1Lược sử Giáo phận Thái Bình
Thái Bình là một trong những vùng đất hình thành các giáo xứ Công giáo tại Việt Nam Tuy nhiên, Giáo phận Thái Bình lại là giáo phận được thành lập muộn nhất trong Giáo tỉnh Hà Nội Ngày 9 tháng 3 năm 1936, Đức Giáo hoàng Piô XI ban Sắc chỉ Praecipuas inter Apostolicas thành lập Giáo phận Thái Bình gồm hai tỉnh Thái Bình và Hưng Yên, tách ra từ Giáo phận Bùi Chu Ngày 15 tháng 6 năm 1936, Tòa Thánh bổ nhiệm cha Gioan Casado Thuận (Juan Casado Obispo) làm giám mục đại diện tông tòa Thái Bình Dù
là một giáo phận nhỏ nhưng Thái Bình đã đóng góp 19 trong số 117 Thánh tử đạo Việt Nam Tuy mới thành lập, nhưng Giáo phận Thái Bình có chung bề dày lịch sử với những biến cố thăng trầm của giáo phận mẹ Bùi Chu cũng như các giáo phận khác trong Giáo tỉnh Hà Nội.
Trang 21 HẠT GIỐNG TIN MỪNG TRÊN ĐẤT THÁI BÌNH
Có thể nói, hạt giống Tin Mừng được gieo vào miền đất Thái Bình từ rất sớm Theo sử sách để lại, năm 1638, sau khi được cử đến Đàng Ngoài loan báo Tin Mừng tại Kẻ Chợ, bằng đường sông Luộc, cha Felice Morelli đã đặt chân đến làng
Bồ Trang (thuộc xứ Bồ Ngọc, Giáo phận Thái Bình ngày nay) để giảng đạo và được người dân nơi đây niềm nở tiếp đón Từ đây Tin Mừng dần dần được lan rộng đến các làng khác trong Phủ Thái Bình Tại Bồ Trang, cha Felice Morelli đã sao chép cuốn “Phép Giảng Tám Ngày” của cha Đắc Lộ làm tài liệu giảng đạo
Năm 1640, cha Felice Morelli thay thế cha bề trên Gaspar d’Amaral, lãnh đạo giáo phận Đàng Ngoài Thời gian này vua Lê, chúa Trịnh rất có cảm tình với các thừa sai, nên chúa Trịnh Tạc đã nhận cha Felice Morelli làm dưỡng tử và gọi cha là Phúc Ông (dịch từ chữ Felice) Trong hoàn cảnh thuận lợi này, cha đã lập xứ đầu tiên trên phần đất Giáo phận Thái Bình, đó là xứ Kẻ Bái (xứ Bồ Ngọc ngày nay)
Kẻ Bái đã trở thành cái nôi Đức Tin của Giáo phận Đây là thành quả đầu tiên của các thừa sai nói chung, đặc biệt là cha Felice Morelli sau những năm miệt mài với công cuộc rao giảng Biến cố đặc biệt này, được dân gian ghi lại qua bài vè:
Bảy năm đi hết cả miền, Thì thầy ở lại hẳn miền Bồ Trang, Lập nên xứ Bái rõ ràng, Nam xuống Lai Ổn, Đông sang Ninh Cù.
Chuông treo trống sắm cờ mua, Bấy giờ là lúc hết mùa Giêgiung (Mùa Chay: Jejunium)
Năm 1649, cha Morelli trao quyền lãnh đạo giáo phận Đàng Ngoài cho cha Girolamo Magori và trở về Macao năm 1650
Như vậy, chúng ta có thể quả quyết rằng thừa sai Felice Morelli - một linh
mục Dòng Tên, quốc tịch Italy – được coi là “tổ phụ” truyền giáo của Giáo phận
Trang 3Thái Bình Ngài trực tiếp gieo rắc hạt giống Tin Mừng trên phần đất giáo phận từ
năm 1638 cho đến năm 1649
Năm 1659 Đức GH Alexandro VII công bố sắc lệnh thiết lập hai Giáo phận Đàng Ngoài (gồm khu vực Bắc Hà) và Đàng Trong (gồm khu vực Chúa Nguyễn, Cao Miên, Thái Lan); và bổ nhiệm hai vị Giám quản tông tòa đầu tiên cho hai Địa phận : ĐC Phanxico Pallu làm giám quản tông tòa Đàng ngoài và ĐC Lambert de
la Motte làm Giám quản Đàng Trong
Năm 1665, ĐC Pallu về Roma để xin Tòa thánh cử thêm Thừa sai, ĐC Lambert kiêm nhiệm Giám quản Đàng Ngoài, ngài đã tiến hành nhi?u chương trình mục vụ tại Đàng Ngoài :
Tháng 6 năm 1669 cùng với hai thừa sai De Bourges và Bouchard đặt chân tới Phố Hiến Đàng Ngoài bằng tàu buôn nước ngoài, đóng vai các thương gia Sau
6 tháng hoạt động tại Đàng Ngoài, các ngài đã ban các bí tích Rửa tội và Thêm sức cho nhi?u người
Ngày 26-2-1670 ngài chính thức thiết lập hội Dòng Mến Thánh Giá và đã nhận lời khấn của hai nữ tu đầu tiên Annê và Paula, người xứ Kiên Lao (Bùi Chu) như nền tảng của Hội Dòng này trên toàn nước Việt Nam
1.1 Công đồng Phố Hiến (Dinh Hiến) 1670
Đặc biệt trong hoàn cảnh cấm Đạo, thiếu nhân sự, ĐC Lambert đã triệu tập Công đồng Giáo phận Đàng Ngoài lần đầu tiên (cũng là Công đồng đầu tiên của Giáo hội tại Việt Nam), tại Phố Hiến , thuộc trấn Nam Sơn (nay thuộc thị xã Hưng Yên, giáo phận Thái Bình) Thực tế là cuộc họp trên một tàu buôn đang neo đậu trên sông cạnh Phố Hiến
Đó là ngày 14 tháng 2 năm 1670, nhân dịp Mùa Chay thánh, Công đồng chính thức khai mạc dưới quyền chủ tọa của ĐC Lambert Các thành viên tham dự gồm cha Chính giáo phận Deydier, hai thừa sai là Bourges và Bouchard cùng 7 LM đầu tiên của Việt Nam (cũng nên nhắc lại : tháng Giêng năm ấy Ngài đã truyền
Trang 4chức cho 7 tân LM là các cha Mattheu Mát, Simon Kiên, Antôn Quế, Philipphê Nhân, Giacobê Chiêu, Lêô Trung và Benedicto Tri)
Công đồng nhằm phổ biến các Nghị quyết của Tòa thánh về trách nhiệm và quyền hành của các vị Đại diện tông tòa, tổ chức cơ cấu mọi sinh hoạt tôn giáo trong Địa phận, đồng thời ra Huấn thị gồm 33 điều khoản, phần dâ giống như Huấn thị của đồng Juthia năm 1664 tại Thái Lan, chỉ sửa đổi nh?ng gì cần thiết cho thích hợp với hoàn cảnh và phong tục địa phương, Huấn thị này sau đó đã được Đức thánh cha Clemente X châu phê ngày 23-12-1673 Ngoài việc nhắc lại nh?ng quyết định của Công đồng Juthia, công đồng còn thêm nh?ng quyết định sau đây :
• Chính thức nhận thánh Giuse là bổn mạng cho toàn thể Giáo hôi Việt Nam
• Chia Địa phận Đàng Ngoài ra thành 9 giáo hạt và sẽ nhóm họp hằng năm
• Ấn định đào tạo Chủng sinh qua tổ chức Nhà Đức Chúa Trời
• Các nhà thờ phải công bố sắc chỉ của Tông tòa về quyền Đại diện Tông tòa Các LM phải nhận quyền từ Giám Mục Đại diện Tông tòa mới được giảng Đạo và giải tội
• Riêng về tổ chức Nhà Đức Chúa Trời vốn đã có từ thời Cha Alexandre de Rhode, công đồng đưa ra chỉ thị gồm 5 điểm :
1 Người Nhà ĐCT lên bậc Thày phải có tinh thần thoát tục và hy sinh, phải khấn ba điều Vâng phục, Độc thân và sống chung cộng đoàn
2 Các Thày phục vụ ở đâu phải vâng phục Linh mục nơi đó như bề trên của mình
3 Các Thày được cử đi các họ lẻ để dạy Giáo lý và hướng dẫn bổn đạo đọc kinh cầu nguyện
Trang 54 Những gì bổn đạo biếu tặng phải để làm của chung.
5 Buộc các Linh mục phải săn sóc dạy bảo mọi người Nhà Đức Chúa Trời thuộc quyền
Sau cuộc khai phá Đức Tin trên vùng đất mới của thừa sai các Dòng Tên, Augustinô, Phanxicô , năm 1673, Đức cha Francois Pallu - Giám mục tông tòa Giáo phận Đàng Ngoài - đến Philipines gặp cha bề trên Tỉnh dòng Rất Thánh Mân Côi (Dòng Đaminh) xin gửi thừa sai sang Việt Nam giúp Giáo phận Đàng Ngoài
Kể từ năm 1676, do việc cấm Đạo đã bớt phần căng thẳng, Phố Hiến trở thành nơi tiếp đón các nhà truyền giáo, nhất là các thừa sai Dòng Đaminh từ Philipines
Ngày 21.03.1890, tỉnh Thái Bình được thành lập, lấy phủ lị của Phủ Thái Bình làm Tỉnh lỵ, trụ sở cơ quan Hành chính Khi đó Phủ Thái Bình có Giáo họ Kỳ
Bá, thuộc xứ Sa Cát Gọi là giáo họ nhưng thật ra số tín hữu quá ít ỏi Kỳ Bá hay
Kỳ Bố - cũng gọi là Bố Hải Khẩu - có tên gọi là Bo (như bến đò Bo, cầu Bo) Cha Phêrô Munõagorri Trung - cha xứ Sa Cát - đã thấy được viễn tượng họ đạo Kỳ Bá
sẽ là nơi phù hợp cho việc xây dựng Toà giám mục Vì thế năm 1906, cha đã xây cất nhà thờ tỉnh lị Thái Bình theo kiến trúc Gothic Sau khi làm Giám mục, cha
Phêrô Munõagorri Trung đã thành lập Giáo xứ Thái Bình (17.08.1908), gồm 11 họ
lẻ cắt từ xứ Cổ Việt và xứ Sa Cát, với hơn 2.000 tín hữu Cha Tràng An (Marcos Gispert) được bổ nhiệm làm cha chính xứ đầu tiên
Sau mấy chục năm coi sóc, Đức cha Phêrô Munõagorri Trung đã đưa giáo phận đến điểm cực thịnh Năm 1934, Giáo phận Trung trởû thành quá lớn đối với một chủ chăn, Đức Thánh Cha Piô XI và Bề trên giáo phận có ý định chia Giáo phận Bùi Chu làm hai, đồng thời chuyển dần quyền lãnh đạo giáo phận cho hàng giáo sĩ bản quốc Ngày 12.03.1935, Đức Thánh Cha đã bổ nhiệm cha Đaminh Hồ Ngọc Cẩn làm Giám mục phó Bùi Chu với quyền kế vị Như vậy, Giáo phận Bùi
Trang 6Chu là giáo phận thứ hai chuyển giao cho hàng giáo sĩ Việt Nam (sau Giáo phận Phát Diệm)
1.2 - Thiết lập Giáo phận
Ngày 09 tháng 3 năm 1936 với Sắc chỉ Praecipuas inter Apostolicas của Đức Giáo hoàng Piô XI, Giáo phận Thái Bình chính thức được thành lập (tách khỏi Giáo phận Bùi Chu) bao gồm phần đất của hai tỉnh Thái Bình và Hưng Yên, với diện tích 2.207km2 Đây là một vùng đồng bằng trải rộng, đất đai màu mỡ, nuôi sống trên 3 triệu dân, chạy dài từ bãi biển Đồng Châu (phía Đông) tới nương khoai
An Vĩ (phía Tây)
Sau khi thành lập, Giáo phận Thái Bình ngày một thăng tiến về mọi mặt Tính đến năm 1939, ngoài Đức cha giáo phận Gioan Casado Thuận, Giáo phận còn có:
25 linh mục Dòng Đaminh (người Tây Ban Nha), 57 linh mục người Việt Nam,
333 thầy giảng, 12 sư huynh Lasan, 10 nữ tu Dòng Thánh Phaolô, 280 nữ tu Dòng
ba Đaminh, 140.000 tín hữu trong 50 giáo xứ và 552 họ lẻ (Theo thống kê năm
1939 của Les Missions Catholiques en Indochine)
2 – GIÁO PHẬN THÁI BÌNH TỪ NĂM 1936-1954
Giáo phận Thái Bình đã được thành lập, nhưng chưa có Giám mục cai quản Ngày 17.05.1936, linh mục thừa sai Gioan Casado Thuận, bấy giờ đang giữ chức
vụ quản lý Giáo phận Bùi Chu từ năm 1926 và kiêm nhiệm chức vụ cha quản hạt Khoái Đồng, Nam Định, được đặt làm cha bề trên cai quản Giáo phận Thái Bình Một tháng sau, ngày 15.6.1936, cha Gioan Casado Thuận được Tòa Thánh ban sắc phong Giám mục hiệu tòa Barata, Giám mục tông tòa đầu tiên Giáo phận Thái Bình Ngày 02.8.1936 tại nhà thờ chính tòa Thái Bình, lễ tấn phong Giám mục được tổ chức long trọng, chủ phong là Đức cha Gómez Lễ (Francois Gomez
de Santago OP)
2.1 - Giáo phận Thái Bình dưới thời Đức cha Gioan Casado Thuận (1936-1941)
Trang 7Đức cha Gioan Casado Thuận (Jean Casado Obispo) sinh ngày 27.12.1886 tại Fuentecen, tỉnh Burgos, phía Bắc nước Tây Ban Nha Ngày 07.12.1906, ngài gia nhập dòng Đaminh tại tu viện Ocana Lúc còn là thầy sáu, ngày 20.01.1911, thầy Casado tình nguyện sang Việt Nam để truyền giáo và tới Giáo phận Trung Ngày 28.01.1911, thầy Casado được thụ phong linh mục tại Phú Nhai
Vì giáo phận chưa có Toà giám mục, Chủng viện và các cơ sở cần thiết, nên sau khi được tấn phong Giám mục, ngài bắt tay ngay vào việc xây dựng cơ sở cho giáo phận Đức cha là một nhà truyền giáo nhiệt thành, là một chủ chăn tài ba có nhiều kinh nghiệm về xây dựng(trong các nhà thờ ngài chủ trì xây dựng có các nhà thờ Thức Hóa, Nam Định) Chỉ sau một năm, (9.1937) ngài đã khánh thành cơ sở đầu tiên là trường Tiểu chủng viện Mỹ Đức Tiểu chủng viện gồm một tòa nhà ba tầng cao 14 mét, rộng 13 mét, dài 90 mét - nằm bên tả ngạn sông Trà Lý, thuộc xã Cát Đàm, kề cận là nhà ăn, khu nhà hậu cần, chăn nuôi Đây là nơi đào tạo nhân sự cho giáo phận, có năm lên đến 140 tiểu chủng sinh
Đức cha cũng để ý đến việc bác ái, quan tâm đến các trẻ em bị bỏ rơi, nên ngài đã xây dựng một nhà Dục Anh cấp giáo phận, tại Giáo xứ An Lập, trao cho các chị em “nhà phước” chăm sóc
Cùng thời gian ấy, Ngài xây dựng Toà giám mục - một tòa nhà ba tầng ngay cạnh nhà thờ Chính tòa - trên một vị trí nhìn bao quát cả thị xã Thái Bình Năm
1940, ngài cho tu sửa nối dài phần đầu nhà thờ Chính tòa Đồng thời nối dài phần đầu Nhà Chủng viện để làm Nhà Nguyện (1941)
Trên phần đất giáo phận thuộc tỉnh Hưng Yên, Đức cha cho xây dựng một trường thầy giảng, tòa nhà kiến trúc theo lối Tây phương với ba tầng lầu, ngay tại tỉnh lị, làm nơi đào tạo các thầy giảng, những trợ tá cho các cha xứ trong giáo phận
Những cơ sở này, Đức cha đã hoàn thành trong một thời gian ngắn kỷ lục, nội trong có ba năm, ngài đã xây dựng cơ sở vật chất hầu như đầy đủ cho giáo phận
Trang 8Ngoài ra, Đức cha còn khuyến khích tu sửa, xây dựng nhiều thánh đường, các nhà
xứ, nhà phước, trường học nơi các giáo xứ
Về phương diện tinh thần, Đức cha chú ý đến việc đào tạo nhân tài cho giáo phận bằng việc gửi đại chủng sinh đi học xa, thành lập nhiều hội đoàn và thành lập một số giáo xứ mới Số tín hữu tăng nhanh, trung bình mỗi năm có thêm khoảng ba nghìn giáo hữu mới Số linh mục mỗi năm cũng tăng thêm từ 3 đến 5 vị Tu sĩ nam
nữ cũng ngày càng thêm đông số
Có thể nói, Giáo phận Thái Bình phát triển mạnh ngay từ ngày thành lập là nhờ sự lãnh đạo tài đức, khôn ngoan, nhiệt thành của Đức cha Gioan Thuận và những cộng sự viên của ngài
Ngày 26.4.1939, Đức cha Gioan Casado Thuận lên đường đi Rôma để triều yết Đức Thánh Cha Piô XII mới đăng quang Ngài trình bày về hiện tình giáo phận
mà ngài đang đảm nhiệm, xin Đức Thánh Cha chúc lành và nâng đỡ cho giáo phận còn non trẻ Tiện đường, Đức cha ghé Tây Ban Nha để thăm lại quê hương cũ, đồng thời quyên tiền để kiến thiết xứ sở truyền giáo, nơi ngài đang trách nhiệm Thế chiến thứ II bùng nổ, Đức cha Gioan không có phương tiện trở về giáo phận, ngài phải lưu lại thủ đô Madrid Ngày 22.01.1941, một cơn bạo bệnh bất ngờ
đã đưa Đức cha Gioan Casado về nước Chúa, bỏ lại Giáo phận Thái Bình thân yêu
mà ngài mới kiến tạo vững chắc cả về tinh thần cũng như vật chất
Trước khi qua đời, bằng một chúc thư, Đức cha Gioan Casado Thuận đã trao quyền điều hành giáo phận cho thừa sai Jose Sedano Thái - lúc đó đang là cha xứ Cao Mộc Cha Jose Sedano Thái quê ở tỉnh Burgos, Tây Ban Nha, là linh mục dòng Đaminh Ngài sang Việt Nam năm 1909 Sau hai chín năm coi sóc xứ Cao Mộc, ngài được Đức cha Gioan Casado Thuận chọn làm Giám quản Giáo phận Thái Bình (từ ngày 25.01.1941 cho đến khi có vị Giám mục mới)
Là một vị chủ chăn nhân từ, phúc hậu, hăng hái trong việc truyền giáo, cha chính Thái đã tận tâm điều hành mọi sinh hoạt trong giáo phận một cách xuôi chảy
Trang 9trong thời gian một năm giữ chức vụ nhiếp chính Tháng 2 năm 1941 một toán đặc công của một tổ chức bí mật tống tiền và bắt đi mất tích Mấy ngày sau giáo dân đi tìm kiếm, thấy thi thể ngài tren dòng sông Trà Lý gần bến Hộ Giáo dân đưa thi hài ngài về an táng trong khu vực nhà thờ Cát Đàm
2.2 - Giáo phận Thái Bình dưới thời Đức cha Santos Ubierna Ninh (1942-1954)
Ngày 24.02.1942, cha Santos Ubierna Ninh (thừa sai Tây Ban Nha, phó giám đốc kiêm giáo sư và quản lý Giáo hoàng chủng viện Thánh Alberto Nam Định), được Tòa Thánh ban Sắc phong Giám mục kế vị Đức cha Gioan Casado Thuận Đức tân Giám mục sinh ngày 01.11.1907 tại làng Huermeces, tỉnh Burgensis, nước Tây Ban Nha Ngài gia nhập dòng Đaminh ngày 29.6.1923, thụ phong linh mục ngày 20.12.1930 Năm 1932, ngài sang truyền giáo tại Việt Nam và được bổ nhiệm làm giáo sư chủng viện Thánh Alberto Nam Định Ngày 29.9.1942 tại Thái Bình, Đức cha được tấn phong Giám mục hiệu toà Lamdia
Trong suốt thời gian Đức cha Ubierna Ninh lãnh đạo giáo phận, đất nước luôn ở trong tình trạng chiến tranh, Giáo phận Thái Bình cũng lâm cảnh đau thương của kháng chiến chống Nhật, chống đói, chống Pháp Vì thế, Đức cha chỉ
có thể duy trì các cơ sở và giữ vững tinh thần đức tin cho cộng đoàn dân Chúa trong giáo phận qua các hội đoàn đã có sẵn Về văn hóa, ngài đã lập Nhà In Đaminh Thái Bình để in ấn những tài liệu, sách báo công giáo cho giáo phận Tuy ngài lãnh đạo giáo phận trong thời khó khăn, nhưng cũng mang lại nhiều thành quả tốt đẹp
Theo thống kê năm 1954, giáo phận Thái Bình có: 21 linh mục Dòng Đaminh, 64 linh mục giáo phận, 35 đại chủng sinh, 160 ngàn giáo dân Tổng số dân cư trên phần đất giáo phận là 1,5 triệu (chiếm tỉ lệ 10,75%) Ngài còn lập thêm nhiều giáo xứ, nâng tổng số giáo xứ trong giáo phận lên đến 63 giáo xứ
Trang 10Sau hiệp định Genève, Đức cha di cư vào miền Nam Thời gian này, ngài đã
về Tây Ban Nha thăm lại cố hương Khi trở lại Sài Gòn, Đức cha luôn thao thức về lại giáo phận trước ngày 29 hoặc 30 tháng 5 năm 1955 (là thời hạn chót cho việc tập kết, theo hiệp định đình chiến Genève) Ngày 15.4.1955, Đức cha đã an nghỉ trong Chúa, khi ngài mới có 48 tuổi và 13 năm chăn dắt đoàn chiên Giáo phận Thái Bình
3 - TỪ NĂM 1954- ĐẾN NAY
Vì lý do chiến tranh, hơn một nửa giáo dân di cư, hầu hết cha, tu sĩ cũng rời giáo phận ra đi (1954) Trong khi đó, cha Đaminh Đinh Đức Trụ - nguyên là linh hướng Chủng Viện Mỹ Đức, đang coi xứ Nguyệt Lãng - tình nguyện ở lại cùng với một số cha khác Cha đã được Đức cha Ninh đặt làm bề trên tổng quản giáo phận,
từ ngày 30.06.1954
Dưới quyền cha tổng quản Đaminh Đinh Đức Trụ, giáo phận chỉ còn 13 linh mục (phần lớn đã có tuổi), 23 chủng sinh, 26 dì phước dòng ba Đaminh, và khoảng 80.000 giáo dân
3.1 - Giáo phận Thái Bình dưới thời Đức cha Đaminh Maria Đinh Đức Trụ (1954-1982)
Sau gần 6 năm làm giám quản giáo phận, ngày 05.3.1960, Tòa Thánh ban sắc phong cha Đaminh Đinh Đức Trụ lên chức Giám mục hiệu tòa Catapas, làm Giám mục tông tòa Giáo phận Thái Bình Đức cha Đaminh Maria Đinh Đức Trụ chào đời ngày 15.10.1909 tại Phú Nhai Năm 16 tuổi ngài theo học Latinh tại Tiểu chủng viện Ninh Cường Mùa thu năm 1931, ngài theo học khóa Triết tại Đại chủng viện thánh Alberto Nam Định Mùa hè năm 1933, ngài thực tập tại Đông Chú và Đồng Lạc thuộc xứ Đồng Quan Mùa thu 1934, cha trở lại Đại chủng viện tiếp tục học Thần Học bốn năm Mãn khóa Thần Học, ngài được thụ phong linh mục ngày 23.05.1938