1. Trình bày khái niệm và các hình thức cơ bản của thế giới quan, khái quát lịch sử phát triển của thế giới quan duy vật. 2. Nội dung cơ bản và bản chất của chủ nghĩa duy vật biện chứng. Tại sao nói chủ nghĩa duy vật biện chứng là hạt nhân lý luận của thế giới quan khoa học? 3. Phân tích nội dung, ý nghĩa phương pháp luận của các quy luật cơ bản của phép biện chứng duy vật và sự vận dụng nó trong nhận thức và hoạt động thực tiễn. 4. Khái niệm phương pháp và phương pháp luận. Trình bày nội dung những nguyên tắc phương pháp luận cơ bản của phép biện chứng duy vật đối với quá trình nhận thức khoa học. 5. Khái niệm thực tiễn và lý luận. Những yêu cầu cơ bản và ý nghĩa phương pháp luận của nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn. Sự vận dụng nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn trong cách mạng Việt Nam. 6. Mối quan hệ biện chứng giữa lực lượng sản xuất với quan hệ sản xuất.Sự vận dụng mối quan hệ này trong quá trình đổi mới ở Việt Nam. 7. Mối quan hệ giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng xã hội. Sự vận dụng mối quan hệ này trong quá trình đổi mới ở Việt Nam. 8. Phân tích luận điểm: sự phát triẻn các hình thái kinh tế xã hội là một quá trình lịch sử tự nhiên? 9. Trình bày nội dung cơ bản và vai trò phương pháp luận của học thuyết hình thái kinh tế xã hội của triết học Mác – Lênin. Sự vận dụng lý luận hình thái kinh tế xã hội đối với việc nhận thức về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hộ ở Việt Nam hiện nay?
Trang 1ĐỀ CƯƠNG ÔN TẬP MÔN TRIẾT HỌC Cho Cao học không chuyên triết
1 Trình bày khái niệm và các hình thức cơ bản của thế giới quan, khái quát lịch sử pháttriển của thế giới quan duy vật
2 Nội dung cơ bản và bản chất của chủ nghĩa duy vật biện chứng Tại sao nói chủ nghĩaduy vật biện chứng là hạt nhân lý luận của thế giới quan khoa học?
3 Phân tích nội dung, ý nghĩa phương pháp luận của các quy luật cơ bản của phép biệnchứng duy vật và sự vận dụng nó trong nhận thức và hoạt động thực tiễn
4 Khái niệm phương pháp và phương pháp luận Trình bày nội dung những nguyên tắcphương pháp luận cơ bản của phép biện chứng duy vật đối với quá trình nhận thức khoahọc
5 Khái niệm thực tiễn và lý luận Những yêu cầu cơ bản và ý nghĩa phương pháp luậncủa nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn Sự vận dụng nguyên tắc thống nhấtgiữa lý luận và thực tiễn trong cách mạng Việt Nam
6 Mối quan hệ biện chứng giữa lực lượng sản xuất với quan hệ sản xuất.Sự vận dụngmối quan hệ này trong quá trình đổi mới ở Việt Nam
7 Mối quan hệ giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng xã hội Sự vận dụng mối quan
hệ này trong quá trình đổi mới ở Việt Nam
8 Phân tích luận điểm: sự phát triẻn các hình thái kinh tế - xã hội là một quá trình lịchsử- tự nhiên?
9 Trình bày nội dung cơ bản và vai trò phương pháp luận của học thuyết hình thái kinh tế
- xã hội của triết học Mác – Lênin Sự vận dụng lý luận hình thái kinh tế - xã hội đối vớiviệc nhận thức về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hộ ở Việt Nam hiệnnay?
Trang 2Câu 1: Khái niệm và hình thức cơ bản của thế giới quan? Khái quát lịch sử phát triển của thế giới quan duy vật?
1.1 Thế giới quan
a, Khái niệm
Thế giới quan là hệ thống những quan điểm, quan niệm của con người về thế giới
và về vị trí của con người trong thế giới đó, nhằm giải đáp những vấn đề về mục đích, ý nghĩa của cuộc sống.
Thế giới quan có thể hiểu là đơn giản là cái nhìn về các mặt của thế giới Chính vìvậy thế giới quan là hệ thống những nguyên tắc, quan điểm, niềm tin, khái niệm, biểutượng về toàn bộ thế giới bao gồm về những sự vật hiện tượng, về quy luật chung của thếgiới, về chỉ dẫn phương hướng hoạt động của người, một nhóm người trong xã hội nóichung đối với thực tại (nhằm phát triển sao cho tốt hơn) Thế giới quan chính là biểu hiệncủa cách nhìn bao quát (bức tranh) đối với thế giới bao gồm cả thế giới bên ngòai, cả conngười và cả mối quan hệ của người – thế giới (tức là mối quan hệ của người đối với thếgiới) Chính vì thế giới quan của mỗi người khác nhau là khác nhau và không chỉ vậy thếgiới quan của mỗi người ở mỗi thời điểm khác nhau cũng là khác nhau.Vì thế cho nên thếgiới quan của mỗi cá nhân dựa trên cơ sở kiến thức khoa học của nhân loại ở một giaiđoạn lịch sử nhất định Kiến thức khoa học đó bao gồm cả các quan điểm triết học, xã hộihọc, chính trị,đạo đức, kinh tế học và khoa học nói chung Thế giới quan mang tính chủquan bởi vì thế giới vận động khách quan mà cách nhìn thế giới của mỗi người thì khácnhau Vì vậy thế giới quan không chỉ bắt nguồn từ những kiến thức tiếp nhận được màcòn hình thành từ những kinh nghiệm cuộc sống đã trải nghiệm của mỗi chúng ta.Vì vậythế giới quan không chỉ phụ thuộc vào cách tiếp nhận thông tin từ cuộc sống mà còn bịchi phối bởi phong tục, quan niệm, tôn giáo… Thế giới quan đóng vai trò nhân tố sốngđộng của ý thức cá nhân, giữ vai trò chỉ dẫn cách thức tư duy và hành động của cá nhân
Nó đồng thời cũng thể hiện lý luận và khái quát hóa các quan điểm và hoạt động củanhóm xã hội Mỗi cá nhân cũng luôn mong muốn tiếp nhận những thế giới quan khác,làm phong phú thế giới quan cho mình, góp phần điều chỉnh định hướng cuộc sống Cómột thế giới quan đúng đắn sẽ hướng con người hoạt động theo sự phát triển lôgic của xãhội và góp phần vào sự tiến bộ của xã hội
b, Các hình thức của thế giới quan
Có nhiều cách tiếp cận để nghiên cứu về thế giới quan song nếu xét theo quá trìnhphát triển thì có thể chia thế giới quan thành ba loại hình cơ bản: Thế giới quan huyềnthoại, thế giới quan tôn giáo và thế giới quan triết học
Thế giới quan huyền thoại là phương thức cảm nhận thế giới của người nguyên thủy
ở thời kỳ này, các yếu tố tri thức và cảm xúc, lý trí và tín ngưỡng, hiện thực và tưởngtượng, cái thật và cái ảo, cái thần và cái người, v.v của con người hoà quyện vào nhauthể hiện quan niệm về thế giới Nếu như trước đây khi thế giới chưa rõ ràng trong mắt conngười, khi đó khoa học chưa phát triển chúng ta chưa giải thích được xã hội một cáchđúng đắn.Quan niệm về con người, thần, thế giới hòa quyện không phân định rõ
Cùng với sự phát triển của xã hội lại xuất hiện một hình thức thế giới quan mới đó làthế giới quan tôn giáo Trong thế giới quan tôn giáo, niềm tin tôn giáo đóng vai trò chủyếu; tín ngưỡng cao hơn lý trí, cái ảo lấn át cái thực, cái thần vượt trội cái người Thế giớiquan này ra đời với cơ sở niềm tin tôn giáo giữ vai trò thống trị thần lấn át người, niềmtin tôn giáo mù quáng phá vỡ nhưng điều đúng đắn của đời sống thực
Thế giới quan triết học diễn tả quan niệm của con người dưới dạng hệ thống cácphạm trù, quy luật đóng vai trò như những bậc thang trong quá trình nhận thức thế giới
Trang 3Với ý nghĩa như vậy, triết học được coi như trình độ tự giác trong quá trình hình thành vàphát triển của thế giới quan Như vậy, triết học là hạt nhân lý luận của thế giới quan; triếthọc giữ vai trò định hướng cho quá trình củng cố và phát triển thế giới quan của mỗi cánhân, mỗi cộng đồng trong lịch sử, giúp phá vỡ nhưng cái nhìn lệch lạc trước đây.
1.2 Khái quát lịch sử thế giới quan duy vật
a, Thế giới quan duy vật cổ đại
Triết học phương Tây ra đời trong rất sớm và được hình thành trên cơ sở chiếm hữu
nô lệ với hai giai cấp chủ yếu là chủ nô và nô lệ Sản suất nông nghiệp, thủ công nghiệp
có bước phát triển so với các dân tộc đương thời và đạt thành tựu trên một số lĩnh vực trithức Khoa học hình thành và phát triển và đời hỏi sự khái quát của triết học Nhưng tưduy triết học thời kì này phát triển chưa cao, tri thức triết học và tri thức khoa học cụ thểthường hòa vào nhau Các nhà triết học lại cũng là các nhà khoa học cụ thể.Vì vậy đặcđiểm triết học thời kì này gắn hữu cơ với khoa học tự nhiên, hầu hết các nhà triết học duyvật đều là các nhà khoa học tự nhiên.Cho nên hình thành thế giới quan đơn giản mộc mạcthô sơ, các nhà triết học quan điểm xem thế giới bắt nguồn từ một thứ vật chất nào đótheo quan điểm chủ quan của chính bản thân họ Hêraclit là nhà biện chứng nổi tiếng ở
Hy Lạp cổ đại Khác với các nhà triết học phái Milê, Hêraclit cho rằng không phải lànước, apeirôn, không khí, mà chính lửa là nguồn gốc sinh ra tất thảy mọi vật.CònĐêmôcrít thì cho rằng mọi vật chất đều được hình thành từ nguyên tử; nguyên tử là cáikhông thể phân chia được nữa, có vô vàn hình dạng.Tính đa dạng của nguyên tử làm nêntính đa dạng của thế giới các sự vật.Thế giới quan ở thời kì này còn bị ảnh hưởng bởi củađấu trnh giữ chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm Platôn là đại biểu của chủ ngĩa duytâm chủ quan; ông đưa ra hai quan niệm về thế giới; thế giới các sự vật cảm biết và thếgiới ý niệm.Thế giới ý niệm thì luôn chính xác và đúng đắn là những tứ chân thực,còn thếgiới cảm biết không chân thực là cái bong của thế giới ý niệm.Theo ông trí thức của conngười chỉ là sự hồi tưởng từ quá khứ.Nói chung cá nhà triết học thời kì này đã khẳng địnhđược thế giới tồn tại khác quan, giới luôn vận động biến đổi không ngừng, thế giới vậnđộng bởi các yếu tố nội tại bên trong của nó Thế giới là một thể thống nhất, nhưng tronglòng nó luôn luôn diễn ra các cuộc đấu tranh giữa các sự vật, lực lượng đối lập nhau Nhờcác cuộc đấu tranh đó mà mới có hiện tượng sự vật này chết đi, sự vật khác ra đời Điều
đó làm cho vũ trụ thường xuyên phát triển và trẻ mãi không ngừng Bản thân cuộc đấutranh giữa các mặt đối lập luôn diễn ra trong sự hài hoà nhất định Triết học Ấn Độ cổ đại
ra đời rất sớm cùng với sự phát triển của xã hội Đặc điểm nổi bật của điều kiện kinh tế
-xã hội của -xã hội Ấn Độ cổ, trung đại là sự tồn tại rất sớm và kéo dài kết cấu kinh tế - -xãhội theo mô hình "công xã nông thôn", chế độ quốc hữu về ruộng đất Trên cơ sở đó đãphân hóa và tồn tại bốn đẳng cấp lớn: tăng lữ (Brahman), quý tộc (Ksatriya), bình dân tự
do (Vaisya) và tiện nô (Ksudra) Vì vậy, xu hướng trội của các hệ thống triết học - tôngiáo ấn Độ đều tập trung lý giải và thực hành những vấn đề nhân sinh quan dưới góc độtâm linh tôn giáo nhằm đạt tới sự "giải thoát" tức là đạt tới sự đồng nhất tinh thần cá nhânvới tinh thần vũ trụ (Atman và Brahman) Triết học chịu ảnh hưởng rất nhiều của tôngiáo.Giữa triết học và tôn giáo rất khó phân biệt.Các nhà triết học thường kế tục màkhông gạt bỏ hệ thống triết học có trước.Triết học Ấn Độ cổ, trung đại đã đặt ra và bướcđầu giải quyết nhiều vấn đề của triết học Trong khi giải quyết những vấn đề thuộc bảnthể luận, nhận thức luận và nhân sinh quan, triết học Ấn Độ đã thể hiện tính biện chứng
và tầm khái quát khá sâu sắc; đã đưa lại nhiều đóng góp quý báu vào kho tàng di sản triếthọc của nhân loại Triết học Trung Hoa cổ, trung đại triết họ phát triển qua hai thời kìchính là Đông Chu, Tây Chu Thời kỳ thứ nhất là thời kì chế độ chiếm hữu nô lệ , những
Trang 4tư tưởng triết học đã xuất hiện, tuy chưa đạt tới mức là một hệ thống Thế giới quan thầnthoại, tôn giáo và chủ nghĩa duy tâm thần bí là thế giới quan thống trị trong đời sống tinhthần xã hội Trung Hoa bấy giờ Tư tưởng triết học thời kỳ này đã gắn chặt thần quyền vàthế quyền và lý giải sự liên hệ mật thiết giữa đời sống chính trị - xã hội với lĩnh vực đạođức luân lý Thời kỳ thứ hai là thời kỳ Đông Chu là thời kỳ chuyển biến từ chế độ chiếmhữu nô lệ sang chế độ phong kiến Sự biến chuyển mạnh mẽ về xã hội lực lượng sản xuấtphát triển đã đặt ra và làm xuất hiện những tụ điểm, những trung tâm các "kẻ sĩ" luôntranh luận về trật tự xã hội cũ và đề ra những hình mẫu của một xã hội trong tương lai.Lịch sử gọi thời kỳ này là thời kỳ "Bách gia chư tử" (trăm nhà trăm thầy), "Bách giaminh tranh" (trăm nhà đua tiếng) Chính trong quá trình ấy đã sản sinh các nhà tư tưởnglớn và hình thành nên các trường phái triết học khá hoàn chỉnh Hai trường phái triếthọc của triết học phương Đông đặc điểm các trường phái này là luôn lấy con người và xãhội làm trung tâm của sự nghiên cứu, có xu hướng chung là giải quyết những vấn đề thựctiễn chính trị - đạo đức của xã hội.Đặc trưng của triết học phương Đông vẫn là xem trọngvấn đề chính trị đạo đức, nhưng hạn chế ở tư duy trực giác còn quá lớn đặt của mình trênhết không quan tâm đến thế giới xung quanh các nhà tư tưởng triết học đều quen phươngthức tư duy trực quan thể nghiệm lâu dài, bỗng chốc giác ngộ.Đây chính là điêu làm hạnchế sự phát triển của triết học phương Đông cũng như thế giới quan của chúng ta.
b, Thế giới quan duy vật cận đại
Đây là thời kỳ quá độ từ xã hội phong kiến sang xã hội tư bản Thời kỳ này, sự pháttriển của khoa học đã dần dần đoạn tuyệt với thần học và tôn giáo thời kỳ trung cổ, bướclên con đường phát triển độc lập Sự phát triển của khoa học, về khách quan đã trở thành
vũ khí mạnh mẽ chống thế giới quan duy tâm tôn giáo Sự phát triển khoa học tự nhiên đãđòi hỏi có sự khái quát triết học, rút ra những kết luận có tính chất duy vật từ các tri thứckhoa học cụ thể.Đây là thời kì thắng lợi của chủ nghĩa duy vật vô thần đối với tư tưởngduy tâm hữu thần.Đặc điểm triết học là chủ nghĩa duy vật nửa vời không triệt để, xuấthiện phương pháp tư duy siêu hình, giữ vai trò thống trị Xuất hiện các đaị biểu nhưPhranxi Bêcơn là nhà triết học Anh, người đặt nền móng cho chủ nghĩa duy vật siêu hình,
là Tômát Hốpxơ là nhà triết học duy vật Anh nổi tiếng, người phát triển chủ nghĩa siêuhình, máy móc Nói chung đây là thời kì mà chủ nghĩa vô thần phát triển, các nhà triếthọc phê phán niềm tin tôn tôn giáo mù quáng trong quan điểm triết học của mình Platôn
đã một kết luận nổi tiếng “ Tôi suy nghĩ vậy tôi tồn tại”, phủ nhận tất cả những gì màngười ta mê tín Đây chỉ là giai đoạn phát quá độ để tư tưởng triết học phát triển lên mộtgiai đoạn cao hơn đó chính là triết học cổ điển Đức thế kỷ XVIII - nửa đầu thế kỷ XIX.Mặc dù điều kiện xã hội gây bất lợi cho sự phát triển của triết học tư sản thoả hiệp vớiphong kiến cách mang tư sản không thể tiến hành vì phong kiến còn quá mạnh mà tư sảncòn rất yếu Đây được xem là thời kì phát triển nhất của tư duy biện chứng, đã tạo ra một
tư tưởng biện chứng đạt tới một hệ thống lý luận.Các nhà triết học đã có quan điểm biệnchứng về thế giới vật chất thế giới là vật chất, giới tự nhiên tồn tại ngoài con người khôngphụ thuộc vào ý thức con người, là cơ sở sinh sống của con người Giới tự nhiên không
do ai sáng tạo ra, nó tồn tại, vận động nhờ những cơ sở bên trong nó.Các nhà triết họcđưa ra quan điểm phê phán niềm tin tôn giáo mù quán, Phoiơbắc cho rằng chính conngười sinh ra thượng đế; Thượng đế là nơi gửi gắm tất cả ước muốn của mình vào đó,chứ không phải là lực lượng siêu nhiên nào đó có thể chi phối đời sống con người.Thếnhưng triết học cổ điển Đức có hạn chế là tính chất duy tâm, nhất là duy tâm khách quancủa Hêghen.Ông cho rằng khởi nguyên của thế giới không phải là vật chất mà là "ý niệmtuyệt đối" hay "tinh thần thế giới" đây chỉ một cách nói khác về Thượng đế.Không chỉ
Trang 5vậy triết học còn luẩn quẩn giữa tư tương duy tâm và duy vật về sự nhận thức về conngười; Cantơ cho rằng con người chỉ nhận thấy được cái bên ngoài của sự vật chứ khôngnhận thức được cái cốt lõi bản chất bên trong của sự vật xét về thực chất không vượt quađược những hạn chế của chủ nghĩa duy vật thế kỷ XVII - XVIII Tây Âu.Nhưng nóichung triết học cổ điển Đức đã được triết học Mác kế thừa một cách có phê phán và nânglên ở trình độ mới của chủ nghĩa duy vật hiện đại
c, Thế giới quan duy vật biện chứng
Nó được ra đời khi lực lượng sản xuất phát triển mạnh mẽ do sự tác động của cuộccách mạng công nghiệp Phương thức sản xuất TBCN phát triển mạnh mẽ, thể hiện tínhhơn hẳn của nó so với phương thức sản xuất phong kiến Thế giới quan duy vật biệnchứng ra đời đã kế thừa được những thành tựu lớn lao của tư tưởng nhân loại như: triếthọc cổ điển Đức, chủ nghĩa xã hội không tưởng Pháp và kinh tế chính trị học cổ điểnAnh Đặc biệt trong triết học cổ điển Đức, những nội dung cách mạng trong phép biệnchứng của Hêghen, những tư tưởng duy vật của Phoiơbắc, đã được C.Mác - Ph.Ănghencải tạo, phát triển thành thế giới quan duy vật biện chứng triệt để, mở rộng vào tất cả cáclĩnh vực của tự nhiên, xã hội và tư duy Thế giới quan duy vật biện chứng là sự thốngnhất giữa thế giới quan duy vật và phương pháp biện chứng do đó nó thực sự là một khoahọc triết học Mác và Ăngghen đã cải tạo một cách biện chứng chủ nghĩa duy vật cũ, giảithoát chủ nghĩa duy vật biện chứng cũ khỏi tính hạn chế siêu hình, tạo ra hình thức caocủa PBC là PBCDV Mác và Ăngghen đã cải tạo một cách duy vật phép biện chứng duytâm của Hêghen, giải thoát nó khỏi chủ nghĩa duy tâm bằng cách đặt nó trên cơ sở hiệnthực, tạo ra hình thức cao của chủ nghĩa duy vật là chủ nghĩa duy vật biện chứng.Ở cácgiai đoạn trước C.Mác, thế giới quan duy vật thường bị tách rời vơi phép biện chứng.Chẳng hạn, thế giới quan duy vật cổ đại, mặc dù có chứa đựng một số tư tưởng biệnchứng nhất định nhưng mới chỉ phỏng đoán, tự phát mà không thống nhất với chủ nghĩaduy vật; hay thế giới quan duy vật cận đại là sự kết hợp giữa chủ nghĩa duy vật và phépsiêu hình Như vậy, thế giới quan duy vật biện chứng ra đời đã khắc phục được nhữnghạn chế của thế giới quan duy vật cổ đại, của thế giới quan duy vật siêu hình thế kỷ XVII
- XVIII
Trang 6Câu 2: Nội dung cơ bản và bản chất của chủ nghĩa duy vật biện chứng? Tại sao nói chủ nghĩa duy vật biện chứng là hạt nhân lý luận của thế giới quan khoa học?
2.1 Nội dung của CNDVBC
a Quan điểm duy vật về thế giới:
+ Tồn tại của thế giới là tiền đề thống nhất thế giới: Trước khi thế giới có thể là một thểthống nhất thì trước hết thế giới phải tồn tại Tính thống nhất thật sự của thế giới là ở tínhvật chất của nó, tính vật chất này được chứng minh bằng sự phát triển lâu dài và khó khăncủa triết học và khoa học tự nhiên
+ Nguyên lý về tính thống nhất vật chất của thế giới, có nội dung như sau:
- Thế giới vật chất tồn tại khách quan, vĩnh viễn, vô hạn, vô tận
- Trong thế giới vật chất chỉ tồn tại các quá trình vật chất cụ thể, có mức độ tổ chứcnhất định; đang biến đổi chuyển hóa lẫn nhau là nguồn gốc, nguyên nhân của nhau; cùngchịu sự chi phối bởi các quy luật khách quan của TGVC
- Ý thức, tư duy con người chỉ là sản phẩm của một dạng vật chất có tổ chức cao;thế giới thống nhất và duy nhất
- Phạm trù vật chất: vật chất là một phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại kháchquan được đem lại cho con người trong cảm giác, được cảm giác của chúng ta chép lại,chụp lại, phản ánh và tồn tại không phụ thuộc vào cảm giác
- Phạm trù ý thức, quan hệ giữa ý thức và vật chất: Ý thức của con người tồn tạitrước hết trong bộ óc con người, sau đó thông qua thực tiễn lao động nó tồn tại trong cácvật phẩm do con người sáng tạo ra Ý thức gồm nhiều yếu tố: tri thức,tình cảm, niềm tin,
ý chí… trong đó tri thức và tình cảm có vai trò rất quan trọng Thông qua hoạt động thựctiễn, ý thức con người xâm nhập vào hiện thực vật chất tạo nên sức mạnh tinh thần tácđộng lên thế giới góp phần biến đổi thế giới
b Quan điểm duy vật về xã hội:
- Xã hội là một bộ phận đặc thù của tự nhiên, nó là kết quả phát triển lâu dài của tựnhiên, có quy luật vận động, phát triển riêng, sự vận động, phát triển của xã hội phảithông qua hoạt động thực tiễn
- Sản xuất vật chất là cơ sở đời sống xã hội: Nền sản xuất vật chất trong từng giaiđoạn lịch sử gắn liền với một phương thức sản xuất nhất định, sự thay đổi PTSX sẽ làmthay đổi mọi mặt của đời sống xã hội
- Sự phát triển của xã hội là quá trình lịch sử tự nhiên, là lịch sử phát triển các hìnhthái kinh tế xã hội một cách đa dạng nhưng thống nhất từ thấp đến cao, mà thực chất làlịch sử phát triển của xã hội
- Quần chúng nhân dân (QCND) là chủ thể chân chính sáng tạo ra lịch sử: QCND làlực lượng trực tiếp sản xuất ra của cải vật chất, sáng tạo ra mọi giá trị tinh thần, quyếtđịnh thành bại của mọi cuộc cách mạng Vai trò chủ thể QCND biểu hiện khác nhau ởnhững điều kiện lịch sử khác nhau và ngày càng lớn dần; sức mạnh của họ chỉ được pháthuy khi họ được hướng dẫn, tổ chức, lãnh đạo
2.2 Bản chất của CNDVBC
- CNDVBC đã giải quyết vấn đề cơ bản của triết học từ quan điểm thực tiễn: khẳng địnhvật chất có trước và quyết định ý thức; trong hoạt động thực tiễn ý thức tác động tích cựclàm biến đổi hiện thực vật chất theo nhu cầu của con người
- CNDVBC đã thống nhất TGQDV với phép biện chứng: CNDV cũ mang nặng tính siêuhình, PBC được nghiên cứu trong hệ thống triết học duy tâm Mác cải tạo CNDV cũ, giảithoát PBC ra khỏi tính thần bí, tư biện và xây dựng nên
CNDVBC; thống nhất giữa TGQDV với PBC
Trang 7-CNDVBC là CNDV triệt để; nó không chỉ duy vật trong lĩnh vực tự nhiên mà còn tronglĩnh vực xã hội CNDVLS là cống hiến vĩ đại của C.Mác cho kho tàng tư tưởng của loàingười: CNDV cũ không triệt để; CNDV lịch sử ra đời là kết quả vận dụng CNDV vàonghiên cứu lĩnh vực xã hội, tổng kết lịch sử, kế thừa có phê phán toàn bộ tư tưởng xã hộitrên cơ sở khái quát thực tiễn mới của giai cấp vô sản Với CNDVLS nhân loại tiến bộ cóđược một công cụ vĩ đại trong nhận thức, cải tạo thế giới.
-CNDVBC mang tính thực tiễn - cách mạng, nó hướng dẫn con người trong hoạt độngthực tiễn cải tạo thế giới
-CNDVBC là vũ khí lý luận của giai cấp vô sản: Lợi ích giai cấp vô sản phù hợp lợi íchnhân loại tiến bộ, được luận chứng bằng những cơ sở lý luận khoa học CNDVBC trởthành hệ tư tưởng của giai cấp vô sản có sự thống nhất tính khoa học và tính cách mạng.-CNDVBC không chỉ giải thích thế giới mà còn góp phần cải tạo thế giới
-CNDVBC khẳng định sự tất thắng của cái mới: nó xóa bỏ cái cũ lỗi thời, xây dựng cáimới tiến bộ
-CNDVBC là một hệ thống mở, là kim chỉ nam cho mọi hành động
Trang 8Câu 3: Phân tích nội dung, ý nghĩa phương pháp luận của các quy luật cơ bản của phép biện chứng duy vật Sự vận dụng nó trong nhận thức và thực tiễn?
3.1 Quy luật chuyển hóa từ những sự thay đổi về lượng thành những sự thay đổi về chất và ngược lại
Đây là quy luật cơ bản, phổ biến thể hiện hình thức và cách thức của các quátrình vận động, phát triển trong tự nhiên, xã hội và tư duy
a Khái niệm chất, lượng
*Chất là tính quy định vốn có của sự vật, hiện tượng, nói lên sự vật đó là cái gì,
phân biệt nó với sự vật, hiện tượng khác.
*Lượng là tính quy định của sự vật, hiện tượng về mặt quy mô, cường độ, trình độ,
tốc độ, v.v
b Quan hệ biện chứng giữa chất và lượng
* Tính thống nhất giữa chất và lượng trong một sự vật
Chất và lượng là hai mặt thống nhất hữu cơ với nhau Chất nào có lượng đó; lượngnào có chất đó Chất và lượng có sự phù hợp với nhau Sự phù hợp này diễn ra trong mộtphạm vi, giới hạn nhất định gọi là “độ” Độ là phạm vi, giới hạn trong đó lượng đổi chưalàm chất thay đổi
* Quá trình chuyển hóa từ những sự thay đổi về lượng thành những sự thay đổi về chất
- Sự phát triển bắt đầu từ sự thay đổi về lượng Lượng biến đổi trong phạm vi “độ”chưa làm chất thay đổi
- Vượt quá độ, sự biến đổi về lượng dẫn đến sự thay đổi về chất Chất cũ mất đi,chất mới ra đời Sự thay đổi về chất gọi là bước nhảy Điểm diễn ra bước nhảy gọi làđiểm nút
* Quá trình chuyển hóa từ những sự thay đổi về chất thành những sự thay đổi về lượng
Chất mới ra đời thúc đẩy quá trình biến đổi về lượng với quy mô và tốc độ cao hơn.Bởi vì, trong phạm vi chất cũ, lượng biến đổi đến một giới hạn nhất định thì bị chất cũkìm hãm Do đó, thay chất cũ bằng chất mới là phá bỏ sự kìm hãm đó Mặt khác, chấtmới cần được kết hợp với lượng mới
* Bước nhảy và các hình thức của bước nhảy
Bước nhảy là sự thay đổi về chất từ chất cũ sang chất mới
Bước nhảy có nhiều hình thức đa dạng phong phú tùy theo bản chất của sự vật vàđiều kiện tồn tại của sự vật
Như vậy, bất kì sự vật, hiện tượng nào cũng là sự thống nhất biện chứng giữa haimặt chất và lượng Sự thay đổi về lượng tới điểm nút sẽ dẫn đến sự thay đổi về chấtthông qua bước nhảy Chất mới ra đời sẽ tác động trở lại sự thay đổi của lượng mới Quátrình đó diễn ra, tạo thành phương thức phổ biến của các quá trình vận động, phát triểncủa sự vật, hiện tượng trong tự nhiên, xã hội, tư duy
c Ý nghĩa phương pháp luận
- Giúp ta hiểu được cách thức của sự phát triển Chống lại các quan điểm duy tâm, siêu hình
- Trong hoạt động thực tiễn muốn có chất mới, cần phải có quá trình tích lũy về lượng.Cần chống khuynh hướng bảo thủ trì trệ, tranh thủ tạo ra những bước nhảy để thúc đẩy sựvật phát triển tiến lên Đồng thời phải chống lại bệnh chủ quan nóng vội, duy ý chí, thựchiện bước nhảy khi chưa có sự chín muồi về lượng và bất chấp những điều kiện tồn tại cụthể của sự vật, hiện tượng
Trang 93.2 Quy luật phủ định của phủ định
Đây là quy luật thể hiện khuynh hướng cơ bản phổ biến của mọi vận động, phát
triển diễn ra trong các lĩnh vực tự nhiên, xã hội và tư duy, đó là khuynh hướng vận động,phát triển của sự vật thông qua những lần phủ định biện chứng, tạo thành hình thức mạngtính chu kì “phủ định của phủ định”
a Khái niệm phủ định và phủ định biện chứng
- Phủ định nói chung là sự bài trừ, bác bỏ sự vật nhất định nào đó Nói cách khác, phủ định là một quá trình vận động trong đó sự vật, hiện tượng này được thay thế bởi sự vật, hiện tượng khác (đây là sự biến đổi nói chung).
- Phủ định biện chứng là quá trình tự phủ định, tự phát triển, là mắt khâu trên con đường dẫn tới sự ra đời của cái mới, cái tiến bộ hơn so với cái tự phủ định
* Đặc trưng của phủ định biện chứng
Phủ định biện chứng gồm hai đặc trưng sau đây:
- Tính khách quan: Phủ định biện chứng là sự tự thân phủ định, là kết quà giải
quyết mâu thuẫn bên trong của sự vật tồn tại khách quan
- Tính kế thừa: Đây là đặc trưng cơ bản nhất của phủ định biện chứng Phủ định
biện chứng là quá trình cái mới ra đời phủ định cái cũ, nhưng cái mới chỉ phủ định mặtlạc hậu, lỗi thời của cái cũ, đồng thời kế thừa những giá trị của cái cũ Do đó, phủ địnhbiện chứng là sự phủ định nhưng đồng thời cũng là sự khẳng định
b Phủ định của phủ định – hình thức “xoáy ốc” của sự phát triển
- Sự phát triển biện chứng thông qua những lần phủ định biện chứng là sự thống
nhất giữa loại bỏ, giữ lại (kế thừa) và phát triển Mỗi lần phủ định biện chứng được thựchiện sẽ mang lại những nhân tố mới Do đó, sự phát triển thông qua những lần phủ địnhbiện chứng sẽ tạo ra xu hướng tiến lên không ngừng
- Phủ định biện chứng được hoàn thành trong một chu kỳ phát triển Sự vật ở điểm
xuất phát ban đầu qua lần phủ định thứ nhất trở thành cái đối lập với nó - bước trung gian của sự phát triển; lần phủ định thứ hai, tái lập cái ban đầu nhưng trên cơ sở cao hơn Lần
phủ định thứ hai được gọi là phủ định của phủ định
Ví dụ: Hạt thóc Cây lúa Bông lúa
- Phủ định của phủ định làm xuất hiện cái mới
- Sự phủ định của phủ định là giai đoạn kết thúc của một chu kỳ phát triển
- Phủ định của phủ định được hoàn thành trong chu kỳ phát triển, thông thường mỗichu kỳ trải qua hai lần phủ định
- Quy luật phủ định của phủ định khái quát tính chất tiến lên của sự phát triển Sựphát triển không phải diễn ra theo đường thẳng mà theo đường “xoáy ốc”
- Diễn tả quy luật phủ định của phủ định bằng đường xoáy ốc chính là hình thứcbiểu đạt rõ ràng nhất các đặc trưng của quá trình phát triển biện chứng: tính kế thừa, tínhlặp lại nhưng không quay trở lại mà tiến lên của sự phát triển
Như vậy, nội dung cơ bản của quy luật này phản ánh mối quan hệ biện chứng giữacái phủ định và cái khẳng định trong quá trình phát triển của sự vật Phủ định biện chứng
là điều kiện cho sự phát triển, cái mới ra đời là kết quả của sự kế thừa những nội dungtích cực từ trong sự vật cũ, phát huy nó trong sự vật mới và tạo nên tính chu kỳ của sự
Trang 10phát triển Nhận xét vai trò của quy luật này, Ph.Ăngghen khẳng định: “Phủ định cái phủ định là gì? Là một quy luật vô cùng phổ biến và chính vì vậy mà có một tầm quan trọng
và có tác dụng vô cùng to lớn về sự phát triển của tự nhiên, của lịch sử và tư duy”.
c Ý nghĩa phương pháp luận
- Giúp ta hiểu được khuynh hướng của sự phát triển: tiến lên theo đường trôn ốc,cái mới, thay thế cái cũ.Giúp cho tư duy của con người nhận thức được về xu hướng của
sự vận động, biến đổi và phát triển, giúp cho tư duy con người nhận thức đúng về xuhướng phát triển của đối tượng rằng phát triển là quá trình phức tạp quanh co nhưng giaiđoạn sau bao giờ cũng tiến bộ hơn giai đoạn trước
Trong hoạt động nhận thức, hoạt động thực tiễn cần quán triệt nguyên tắc phủ địnhbiện chứng, có nghĩa là phủ định có tính kế thừa, chống thái độ phủ định sạch trơn
Phải hiểu các đặc điểm của từng chu kỳ trong sự phát triển để tác động cho phù hợp.Cần phải biết phát hiện, ủng hộ tạo điều kiện cho các mặt mà khi mới ra đời còn yếu
ớt, it ỏi, để cái mới chiến thắng cái cũ
- Khắc phục cách nhìn đơn giản về sự phát triển: phát triển theo đường thẳng,đường tròn khép kín
- Tin tưởng vào sự tất thắng của cái mới, vào chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng
sản ủng hộ và tạo điều kiện cho cái mới, cái tiến bộ chiến thắng cái cũ, cái lạc hậu
3.3 Nội dung quy luật mâu thuẫn- quy luật đấu tranh và thống nhất giữa các mặt đối lập
Đây là quy luật ở vị trí “hạt nhân” của phép biện chứng duy vật, quy luật này vạch
ra nguồn gốc, động lực cơ bản, phổ biến của mọi quá trình vận động và phát triển
a Mâu thuẫn: Là hiện tượng khách quan và phổ biến Mâu thuẫn là mối liên hệ tác động
qua lại giữa các mặt đối lập trong cùng một sự vật
Mặt đối lập là những mặt, những thuộc tính có xu hứơng phát triển ngược chiều nhau, tồn tại trong cùng một sự vật hiện tượng tác động biện chứng với nhau làm cho sự vật phát triển
Mâu thuẫn là hiện tượng khách quan và phổ biến Mâu thuẫn là khách quan cónghĩa là mâu thuẫn là cái vốn có ở mọi sự vật hiện tượng Mâu thuẫn hình thành pháttriển là do cấu trúc tự thân bên trong của sự vật quy định nó không phụ thuộc vào bất kỳmột lực lượng siêu tự nhiên nào và không phụ thuộc vào ý chí chủ quan của con người Mâu thuẫn là hiện tượng phổ biến có nghĩa là mâu thuẫn tồn tại trong tất cả cáclĩnh vực tự nhiên, xã hội và tư duy Mâu thuẫn tồn tại từ khi sự vật xuất hiện cho đến khikết thúc Mâu thuẫn tồn tại ở mọi không gian, thời gian, mọi giai đoạn phát triển Mâuthuẫn này mất đi thì mâu thuẫn khác lại hình thành Trong mỗi sự vật không phải chỉ cómột mâu thuẫn mà có thể có nhiều mâu thuẫn vì sự trong cùng một lúc có thể có nhiềumặt đối lập
Trong những điều kiện cụ thể khác nhau, mâu thuẫn thể hiện ra dưới nhiều hìnhthức đa dạng và phong phú khác nhau:
+ Mâu thuẫn bên trong và mâu thuẫn bên ngoài
+ Mâu thuẫn cơ bản và mâu thuẫn không cơ bản
+ Mâu thuẫn chủ yếu và mâu thuẫn thứ yếu
+ Mâu thuẫn đối kháng và không đối kháng
Cần chú ý: Trong tư duy thông thường khi nói đến hai mặt đối lập là nói lên mâuthuẫn Còn trong tư duy biện chứng, không phải hai mặt đối lập nào cũng tạo nên mâuthuẫn mà chỉ những mặt đối lập tác động biện chưng với nhau tạo nên sự vật hiện tượng
Trang 11và tạo lên sự phát triển mới được gọi là mâu thuẫn- mâu thuẫn biện chứng.
b Các mặt đối lập của mâu thuẫn vừa thống nhất vừa đấu tranh với nhau.
Sự thống nhất của các mặt đối lập là sự nương tựa, ràng buộc quy định lẫn nhaulàm tiền đề tồn tại cho nhau của các mặt đối lập Không có sự thống nhất của các mặt đốilập thì không tạo ra sự vật
Theo nghĩa hẹp sự thống nhất là sự đồng nhất, phù hợp ngang nhau của hai mặtđối lập đó là trạng thái cân bằng của mâu thuẫn
Sự thống nhất của các mặt đối lập là tạm thời tương đối, nghĩa là nó chỉ tồn tạitrong một thời gian nhất định, đó chính là trạng thái đứng im, ổn định tương đối của sựvật, tính tương đối của sự thống nhất của các mặt đối lập làm cho thế giới vật chất phânhoá thành các bộ phận các sự vật đa dạng phực tạp, gián đoạn
Sự đấu tranh của các mặt đối lập là sự bài trừ gạt bỏ phủ định biện chứng lẫnnhau của các mặt đối lập (Sự đấu tranh hiểu theo nghĩa tác động ảnh hưởng lẫn nhau củacác mặt đối lập chứ không phải theo nghĩa đen)
Sự đấu tranh của các mặt đối lập là tuyệt đối vĩnh viễn Nó diễn ra liên tục trongsuốt quá trình tồn tại của sự vật kể cả trong trang thái sự vật ổn định cũng như khi chuyểnhoá nhảy vọt về chất Sự đấu tranh của các mặt đối lập tạo lên tính chất tự thân, liên tụccủa sự vận động phát triển của sự vật Cũng vì vậy muốn thay đổi sự vật tì phải tăngcường sự đấu tranh
Sự đấu tranh của các mặt đối lập là một quá trình phức tạp diễn ra từ thấp đến cao,gồm nhiều giai đoạn, mỗi giai đoạn lại có những đặc điểm riêng
+ Giai đoạn đầu: Mâu thuẫn biểu hiện ra ở sự khác nhau của hai mặt đối lập songkhông phải sự khác nhau nào cũng là mâu thuẫn mà chỉ hai mặt khác nhau nào liên hệhữu cơ với nhau trong một chỉnh thể có khuynh hướng phát triển trái ngược nhau mới tạothành giai đoạn đầu của maau thuẫn, trong giai đoạn này sự đấu tranh chưa rõ và chưagay gắt
+ Giai đoạn sau: Trong quá trình phát triển của mâu thuẫn, sự khác nhau biếnthành đối lập, khi đó hai mặt đối lập càng rõ, càng sâu sắc thì sự đấu tranh giữa chúngngày càng gay gắt và quyết liệt, nếu có điều kiện chín muồi thì hai mặt chuyển hoá lẫnnhau và mâu thuẫn được giải quyết
c Sự đấu tranh và chuyển hoá của các mặt đối lập là nguồn gốc, động lực của sự phát triển.
Đấu tranh của các mặt đối lập gây ra những biến đổi của các mặt đối lập khi cuộcđấu tranh của các mặt đối lập trỏ lên quyết liệt và có điều kiện chín muồi thì sự thốngnhất của hai cũ bị phá h;uỷ, các mặt đối lập chuyển hoá lẫn nhau Sự chuyển hoá của cácmặt đối lập chính là lúc mâu thuẫn được giải quyết, sự vật cũ bị mất đi, sự vật mới xuấthiện Các mặt đối lập có thể chuyển hoá lẫn nhau với ba hình thức
- Các mặt đối lập chuyển hoá lẫn nhau mặt đối lập này thành mặt đối lập kia vàngược lại nhưng ở trình độ cao hơn về phương diện vật chất của sự vật Ví dụ, Mâu thuẫngiữa vô sản và tư sản biểu hiện thành cuộc cách mạng vô sản lật độ giai cấp tư sản
- Cả hai mặt đối lập đều mất đi và chuyển hoá thành mặt đối lập mới Ví dụ Giảiquyết mâu thuẫn giữa nông dân và địa chủ (chế độ phong kiến) xã hội lại xuất hiện mâuthuẫn mới là mâu thuẫn giữa tư sản và vô sản (Chế độ TBCN)
- Các mặt đối lập thâm nhập vào nhau, cải biến lẫn nhau Trong sự vật mới lại cómâu thuẫn mới, các mặt đối lập trong mâu thuẫn mới lại đấu tranh với nhau, làm cho sựvật ấy lại chuyển hoá thành sự vật khác tiến bộ hơn, cứ như vậy mà các sự vật hiện tượng
Trang 12thường xuyên biến đổi và phát triển không ngừng, vì vậy, mâu thuẫn là nguồn gốc độnglực của mọi quá trình vận động phát triển của sự vật hiện tượng.
d Ý nghĩa phương pháp luận
Vì mâu thuẫn là hiện tượng khách quan và phổ biến, nên trong nhận thận thức vàthực tiễn phải tôn trọng mâu thuẫn, tức là không được lẩn tránh mâu thuẫn cũng nhưkhông được tạo ra mâu thuẫn
Vì mâu thuẫn là động lực của sự phát triển nên muốn thúc đẩy sự phát triển phảinhận thức được mâu thuẫn và tìm cách giải quyết mâu thuẫn, phải tạo ra điều kiện thúcđẩy sự đấu tranh của các mặt đối lập theo chiều hướng phát triển
Vì mọi mâu thuẫn đều có quá trình phát sinh, phát triển và biến hoá Vì sự vậtkhác nhau thì mâu thuẫn khác nhau, mỗi mâu thuẫn lại có những đặc điểm riêng của nó
Do đó phải biết phân tích cụ thể một mâu thuẫn cụ thể và tìm cách giải quyết mâu thuẫn
Muốn nhận thức đúng đối tượng thì phải tìm hiểu, phân tích phát hiện ra mâuthuẫn của đối tượng, tức là phải tìm ra những mặt đối lập trong sự thống nhất của chúng
-Phải nhận thức đúng mâu thuẫn của đối tượng, đặc biệt phải xem xét sự phát triểnmâu thuẫn trong quá trình, trong mối liên hệ, quan hệ để giải quyết mâu thuẫn
-Mâu thuẫn là phổ biến, đa dạng phong phú, vì vậy khi giải quyết mâu thuẫn phảiđặt vào những điều kiện cụ thể bởi các sự vật hiện tượng của quá trình khác nhau thì mâuthuẫn khác nhau Hay trong một sự vật ở mỗi giai đoạn thì các mâu thuẫn cũng rất khácnhau
-Mâu thuẫn thì cần phải giải quyết chứ không được điều hòa mâu thuẫn Việc giảiquyết mâu thuẫn phải căn cứ vào điều kiện lịch sử cụ thể và chỉ bằng con đường đấutranh giữa các mặt đối lập khi điều kiện chín muồi
3.4 Sự vận dụng các quy luật trong nhận thức và thực tiễn
Ba quy luật cơ bản này rất có ý nghĩa trong nhận thức và thực tiễn Những kết luận
về mặt phương pháp luận của nó luôn được coi là “kim chỉ nam” cho hoạt động cáchmạng của những người cộng sản
Các quy luật này chỉ ra hình thức chung nhất cho sự vận động, phát triển của thếgiứoi vật chất và nhận thức của con người về thế giới đó, đồng thời cũng tạo cơ sở chophương pháp chung nhất của tư duy biện chứng
Trong phép biện chứng duy vật, nếu quy luật thống nhất và đấu tranh giữa các mặtđối lập chỉ ra nguyên nhân và động lực bên trong của sự vận động, quy luật chuyển hoá
từ những biến đổi về lượng dẫn đến những biến đổi về chất và ngược lại chỉ ra cách thức
và tính chất của sự phát triển thì quy luật phủ định của phủ định chỉ ra khuynh hướng,hình thức và kết quả của sự phát triển đó
Các quy luật này định hướng cho việc nghiên cứu của những quy luật đặc thù và đếnlượt mình, những quy luật cơ bản về sự phát triển của thế giới, của nhận thức và nhữnghình thức cụ thể của chúng chỉ có tác dụng trên cơ sở và trong sự gắn bó với những quyluật đặc thù
Mỗi quy luật cơ bản của phép biện chứng duy vật đề cập đến những phương diệnkhác nhau của quá trình vận động và phát triển của sự vật Trong thực tế, sự vận động vàphát triển của bất cứ sự vật nào cũng là sự tác động tổng hợp của tất cả những quy luật cơbản do phép biện chứng duy vật trừu tượng hóa và khái quát hóa Do đó, trong hoạt độngcủa mình, cả hoạt động nhận thức lẫn hoạt động thực tiễn để đạt chất lượng và hiệu quảcao, con người phải vận dụng tổng hợp tất cả những quy luật đó một cách đầy đủ, sâu
Trang 13Câu 4: Khái niệm phương pháp và phương pháp luận Trình bày nội dung những nguyên tắc phương pháp luận cơ bản của phép biện chứng duy vật đối với quá trình nhận thức khoa học?
4.1 Phương pháp và phương pháp luận
a Khái niệm phương pháp và các cấp độ phương pháp
- Định nghĩa phương pháp Phương pháp là hệ thống những nguyên tắc được rút ra từ trithức về các quy luật khách quan để điều chỉnh hoạt động nhận thức và hoạt động thựctiễn nhằm thực hiện mục tiêu nhất định; là cách thức xây dựng và tạo lập cơ sở cho các
hệ thống triết học và tri thức khoa học; là tổng số cách tiếp nhận và các hành động chinhphục thế giới hiện thực bằng lý luận hay thực tiễn
- Các cấp độ của phương pháp Sự đa dạng của đối tượng dẫn đến sự đa dạng của phươngpháp Các khoa học nghiên cứu những đối tượng khác nhau thì có những phương phápkhác nhau phù hợp với mục tiêu mà khoa học đó nghiên cứu Các phương pháp, do sựquy định đó và tuỳ thuộc vào các tiêu chí khác nhau, được chia thành các nhóm có quan
hệ tác động qua lại với nhau là phương pháp riêng, phương pháp chung, phương phápphổ biến và phương pháp nhận thức, phương pháp thực tiễn
b Khái niệm phương pháp luận và các cấp độ của phương pháp luận
- Định nghĩa Phương pháp luận là hệ thống những quan điểm, những nguyên tắc xuấtphát, những cách thức chung để thực hiện hoạt động nhận thức và thực tiễn, chỉ đạo chủthể trong việc xác định phương pháp cũng như trong việc xác định phạm vi, khả năng ápdụng chúng một cách hợp lý, có hiệu quả tối đa
- Các cấp độ của phương pháp luận Phương pháp luận được phân chia thành các cấp độkhác nhau gồm phương pháp luận bộ môn, phương pháp luận chung và phương phápluận chung nhất (phương pháp luận triết học) Các hình thức phương pháp luận trên hợpthành một hệ thống khoa học về phương pháp chỉ đạo nhằm xác định các phương pháp cụthể một cách đúng đắn Bởi các hình thức phương pháp luận vừa độc lập tương đối vớinhau, vừa bổ sung, xâm nhập vào nhau, do đó, phải biết vận dụng tổng hợp các hình thứcphương pháp luận trong các hoạt động
- Phương pháp và phương pháp luận vừa độc lập vừa thống nhất với nhau Phương pháp
là cách thức hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn cụ thể của con người cònphương pháp luận là những quan điểm, nguyên tắc xuất phát chỉ đạo chủ thể xác địnhphương pháp một cách đúng đắn; phương pháp luận, tuy nghiên cứu về phương pháp,nhưng không nhằm mục đích xác định phương pháp cụ thể mà chỉ nhằm rút ra nhữngquan điểm, những nguyên tắc chung cho việc xác định và áp dụng phương pháp Nhưvậy, phương pháp luận- thuần tuý lý luận còn phương pháp gồm cả lý luận và thực tiễn.Bởi vậy, không nên nhầm phương pháp với phương pháp luận và cũng phải coi phươngpháp thống nhất với phương pháp luận ở chỗ phương pháp luận là cơ sở để nghiên cứucác phương pháp cụ thể, còn phương pháp cụ thể phải xuất phát từ quan điểm, nguyên tắccủa phương pháp luận
4.2 Một số nguyên tắc phương pháp luận cơ bản của phép biện chứng duy vật
a Nguyên tắc toàn diện trong nhận thức và thực tiễn
- Cơ sở lý luận của nguyên tắc toàn diện là nguyên lý về mối liên hệ phổ biến của phépbiện chứng duy vật, theo đó, các sự vật, hiện tượng tồn tại trong sự tác động qua lại,chuyển hoá lẫn nhau và tách biệt nhau
- Nội dung của nguyên tắc toàn diện trong nhận thức và thực tiễn