1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

ĐỀ CƯƠNG TRIẾT CAO học THI hết môn CÂU HỎI VÀ TRẢ LỜI

46 883 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 46
Dung lượng 66,91 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỤC LỤC Câu 1: Trình bày sự khác nhau giữa Triết học Phương Đông và Triết học Phương Tây? 1 Câu 2: Trình bày cuộc đấu tranh giữa CNDV và CNDT trong các giai đoạn Triết học trước Mác? (4 điểm) (Nếu câu hỏi trình bày cuộc đấu tranh giữa CNDV và CNDT trong giai đoạn triết học Hy Lạp cổ đại thì chỉ trình bày phần 1) 4 Câu 3: Trình bày thực chất, ý nghĩa cuộc cách mạng trong triết học biện chứng do Mác – Ăngghen thực hiện? (4 điểm) 18 Câu 4: Phân tích quan điểm khách quan và vận dụng vào hoạt động thực tiễn của bản thân? (6 điểm) 22 Câu 5: Phân tích nguyên nhân, bản chất, phương hướng khắc phục bệnh chủ quan duy ý chí? 24 Câu 6: Phân tích quan điểm lịch sử cụ thể và vận dụng? (6 điểm) 29 Câu 7: Phân tích quan điểm thực tiễn và rút ra ý nghĩa việc khắc phục bệnh giáo điều và bệnh kinh nghiệm? (6 điểm) 33 Câu 8: Tính thống nhất vật chất của thế giới và ý nghĩa? 37 Câu 9: Chứng minh chủ trương phát triển kinh tế hàng hoá nhiều thành phần ở nước ta hiện nay là phù hợp với quy luật khách quan (QHSX phù hợp với trình độ phát triển của LLSX)? 40 Câu 10: Tính phức tạp của cuộc đấu tranh giai cấp ở nước ta hiện nay? (6 điểm) 43

Trang 1

ĐỀ CƯƠNG TRIẾT THI HẾT MÔN

Câu 1: Trình bày sự khác nhau giữa Triết học Phương Đông

và Triết học Phương Tây?

* Giống nhau: Đều là những tư tưởng, nội dung thể hiện quan

niệm của con người về tự nhiên, XH và con người Đều được hình thành

và phát triển trên những điều kiện lịch sử tương ứng (nó quy định nộidung triết học) Đều đề cập đến các lĩnh vực căn bản của triết học nhưđều có những quan niệm về thế giới, con người, chính trị - xã hội…

* Khác nhau:

Triết học là một hình thái ý thức xã hội, là sự phản ánh tồn tại của

xã hội và đặc biệt sự tồn tại này ở xã hội phương Đông khác hẳn vớiphương Tây về cả điều kiện tự nhiên, địa lý, dân số, phương thức củasản xuất khác nhau do đó triết học phương đông và triết học phương tây

có những điểm khác biệt nhau:

- Thứ nhất: TH phương tây là triết học hướng ngoại còn triết học

phương đông là TH hướng nội

TH Phương đông do xuất phát từ “thiên nhân hợp nhất” nên lấycon người làm đối tượng nghiên cứu chủ yếu – tính chất hướng nội.Nhưng ngược lại triết học phương Tây lại đặt trọng tâm nghiên cứu vàothế giới – tính chất hướng ngoại; còn vấn đề con người chỉ được nghiêncứu để giải thích thế giới Cho nên phương Tây bàn đậm nét về bản thểluận của vũ trụ

Ngay trong vấn đề con người phương Đông cũng quan niệm khácphương Tây:

Ở Phương Đông người ta đặt trọng tâm nghiên cứu mối quan hệngười với người và đời sống tâm linh, ít quan tâm đến mặt sinh vật củacon người, chỉ nghiên cứu mặt đạo đức thiện hay ác theo lập trường củagiai cấp trống trị cho nên nghiên cưú con người không phải là để giảiphóng con người mà là để cai trị con người

Ở Phương Tây họ lại ít quan tâm đến mặt xã hội của con người, đềcao cái tự nhiên – mặt sinh vật trong con người, chú ý giải phóng conngười về mặt nhận thức, không chú ý đến nguyên nhân kinh tế – xã hội,cái gốc để giải phóng con người

Trang 2

- Thứ 2: TH phương Đông nhấn mạnh sự thống nhất trong mối

quan hệ giữa con người với tự nhiên “thiên nhân hợp nhất” (con ngườigắn bó với tự nhiên) Triết học phương Tây lại tách con người ra khỏi tựnhiên, coi con người là chủ thể độc lập để nghiên cứu chinh phục tựnhiên

- Thứ 3: Cuộc đấu tranh giữa CNDV và CNDT ở phương đông

không rõ rang, các tư tưởng duy vật và duy tâm thường đan xen trong hệthống triết học còn phương tây cuộc đấu tranh giữa CNDV và CNDTdiễn ra gay gắt suốt các giai đoạn lịch sử

- Thứ 4, ở phương Đông triết học ít khi tồn tại dưới dạng thuần tuý

mà thường đan xen với các hình thái ý thức xã hội khác đặc biệt là tôngiáo; triết học và tôn giáo gắn bó chặt chẽ với nhau, triết học chịu sự ảnhhưởng nhiều của tôn giáo Còn triết học phương tây thì triết học và tôngiáo tách biệt nhau

- Thứ 5, Phương Đông triết học phát triển theo lối trầm tích còn

triết học phương tây phát triển theo hướng liên tục, luôn có nhữngtrường phái mới trên cơ sở phê phán cái cũ, phủ định cái cũ

Ở Ấn độ, cũng như Trung quốc các trường phái có từ thời cổ đạivẫn giữ nguyên tên gọi cho tới ngày nay (từ thế kỷ VIII – V trước côngnguyên đến thế kỷ 19)

Ngược lại ở phương Tây lại có điểm khác biệt Ở mỗi giai đoạn,mỗi thời kỳ, bên cạnh các trường phái cũ lại có những trường phái mới

ra đời có tính chất vạch thời đại như thời cố đại bên cạnh trường pháiTalét, Hêraclit đến Đêmôcrit rồi thời đại khai sáng Pháp, CNDV ởAnh, Hà lan, triết học cổ điển Đức

- Thứ 6 khác nhau về hình thức phạm trù:

Về bản thể luận: Phương Tây dùng thuật ngữ “giới tự nhiên”, “bảnthể”, “vật chất” Còn ở phương Đông lại dùng thuật ngữ “thái cực” đạosắc, hình, vạn pháp, hay ngũ hành: Kim, Mộc, Thuỷ, Hoả, Thổ Đểnói về bản chất của vũ trụ đặc biệt là khi bàn về mối quan hệ giữa conngười và vũ trụ thì phương Tây dùng phạm trù khách thể – chủ thể; conngười với tự nhiên, vật chất với ý thức, tồn tại và tư duy Còn phươngĐông lại dùng Tâm – vật, năng – sở, lí – khí, hình – thần Trong đó hìnhthần là những phạm trù xuất hiện sớm và dùng nhiều nhất

Trang 3

Nói về tính chất, sự biến dổi của thế giới: phương Tây dùng thuậtngữ “biện chứng” siêu hình, thuộc tính, vận động, đứng im nhưng lấycái đấu tranh cái động là chính Đối với phương Đông dùng thuật ngữđộng – tĩnh, biến dịch, vô thường, thường còn, vô ngã và lấy cái thốngnhất, lấy cái tĩnh làm gốc.

Khi diễn đạt về mối liên hệ của các sự vật, hiện tượng trên thế giớithì phương Tây dùng thuật ngữ “liên hệ”, “quan hệ” “quy luật” Cònphương Đông dùng thuật ngữ “đạo” “lý” “mệnh” “thần”

- Thứ 7: Khác nhau về phép biện chứng: triết học phương đông là

nhịp nhàng, tuần hoàn đều còn triết học phương tây là đi lên khôngngừng theo hình xoắn ốc

- Thứ 8: Triết học phương đông gắn với khoa học tự nhiên không

rõ rệt còn triết học phương tây gắn với khoa học tự nhiên rõ rệt hơn

Ở phương Đông thì triết học thường ẩn dấu đằng sau các khoa học

Ở phương Tây ngay từ thời kỳ đầu triết học đã là một khoa học họcđộc lập với các môn khoa học khác mà các khoa học lại thường ẩn dấuđằng sau triết học Và thời kỳ Trung cổ là điển hình: khoa học muốn tồntại phải khoác áo tôn giáo, phải tự biến mình thành một bộ phận của giáohội

- Thứ 9, Sự phân chia trường phái triết học cũng khác:

Ở phương Đông đan xen các trường phái, yếu tố duy vật, duy tâmbiện chứng, siêu hình không rõ nét

Ngược lại triết học phương Tây thì sự phân chia các trường phái rõnét hơn và các hình thức tồn tại lịch sử rất rõ ràng như duy vật chất phácthô sơ đến duy vật siêu hình rồi đến duy vật biện chứng

- Thứ 10, Tuy cả triết học phương Đông và phương Tây đều nhằm

giải quyết vấn đề cơ bản của triết học nhưng phương Tây nghiêng nặng

về giải quyết mặt thứ nhất còn mặt thứ hai chỉ giải quyết những vấn đề

có liên quan Ngược lại ở phương Đông nặng về giải quyết mặt thứ haicho nên dẫn đến hai phương pháp tư duy khác nhau

Phương Tây đi từ cụ thể đến khái quát cho nên là tư duy tất định –

tư duy vật lý chính xác nhưng lại không gói được cái ngẫu nhiên xuấthiện

Còn phương Đông đi từ khái quát đến cụ thể bằng các ẩn dụ triếthọc với những cấu cách ngôn, ngụ ngôn nên không chính xác nhưng lại

Trang 4

hiểu cỏch nào cũng được, nú gúi được cả cỏi ngẫu nhiờn mà ngày naykhoa học gọi là khoa học hỗn mang – dự bỏo.( )

Cõu 2: Trỡnh bày cuộc đấu tranh giữa CNDV và CNDT trong cỏc giai đoạn Triết học trước Mỏc? (4 điểm) (Nếu cõu hỏi trỡnh bày cuộc đấu tranh giữa CNDV và CNDT trong giai đoạn triết học Hy Lạp cổ đại thỡ chỉ trỡnh bày phần 1)

Căn cứ vào việc giải quyết mặt thứ nhất vấn đề cơ bản củatriết học đó chia triết học thành 2 trường phỏi:CNDV và CNDT Tronglịch sử triết học luụn diễn ra cuộc đấu tranh giữa CNDV và CNDT

- CNDV: là những người cho rằng vật chất giới tự nhiờn là cỏi cútrước và quyết định ý thức con người; học thuyờt của họ hợp thành cỏcmụn phỏi khỏc nhau của CNDV

- CNDT: là những người cho rằng ý thức, tinh thần cú trước giới tựnhiờn,học thuyờt của họ hợp thành cỏc mụn phỏi khỏc nhau của CNDT

Để tỡm hiểu cuộc đấu tranh của Chủ Nghĩa Duy Vật và ChủNghĩa Duy Tõm chỳng ta cú thể đi qua một số giai đoạn và một số nhõnvật tiờu biểu ở những thời kỳ nhất định và cuộc đấu tranh giữa chỳng

1 Cuộc đấu tranh giữa CNDV và CNDT trong giai đoạn triết học Hy Lạp cổ đại:

Chủ nghĩa duy vật gắn với bộ phận chủ nụ quý tộc cũn chủnghĩa duy tõm gắn với chủ nụ dõn chủ

Triết gia tiêu biểu nh Talet, Anaximen, Pitago, Dờnon,

Socrate, Đờmụcrit, Platon, Anatago Am pê đốc lơ hay Ê pi crát v.v

Cuộc đấu tranh giữa Chủ Nghĩa Duy Vật và Chủ Nghĩa Duy Tâmthời kỳ này là cuộc đấu tranh giữa trờng phái Duy Vật của Đờmụcrit vàDuy Tâm của Platon là tiêu biểu và điển hình hơn cả

Đờmụcrit (460-370 TCN) là “một trong những nhà Duy Vật lớncủa thời kỳ cổ đại chiếm vị trí nổi bật trong triết học Duy Vật Hy Lạp cổ

đại” ông đã có quá trình tích luỹ kiến thức qua việc đi qua các nớc ở

ph-ơng đông, Babilon, là ngời am hiểu rất nhiều lĩnh vực Platon là đại diệncho trờng phái Duy tâm, ông là ngời đầu tiên xây dựng hệ thống hoànchỉnh cảu Chủ Nghĩa Duy Tâm khách quan đối lập với thế giới quan DuyVật Ông là ngời đã tiến hành đấu tranh gay gắt chống lại Chủ NghĩaDuy Vật đặc biệt là chống lại những đại biểu của Chủ Nghĩa Duy Vậtthời bấy giờ nh Hê ra crít hay Đờmụcrit

- Về bản thể luận

Trang 5

:+ Đêmôcrit: Đứng trên lập trường duy vật vô thần, ông cho rằngkhởi nguyên của thế giới là nguyên tử, là dạng vậtchất nhỏ nhất, khôngthể phân chia được nữa, nó là cơ sở của thế giới, của sự vật hiện tượng.Nguyên tử nàykhông màu, không mùi, không vị, không nóng, khônglạnh, nó không khác nhau về chất, nó chỉ khác nhau về hìnhdáng, về cấutạo, về tư thế sắp xếp và các nguyên tử này luôn luôn vận động trongchân không Các sự vật hiện tượng khác nhau là do sự liên kết giữa cácnguyên tử có hình dáng khác nhau, tư thế khác nhau, cấu tạo khácnhau.Các nguyên tử vận động không ngừng và chính sự đa dạng của cácnguyên tử tạo nên sự đa dạng của thế giới sựvật và sự hình thành của vũtrụ+ Đối lập với Democrit,

+Platon: Đứng trên lập trường duy tâm, ông khẳng định rằng bảnnguyên của thế giới là“thế giới ý niệm”, thế giới ý niệm tồn tại một cáchchân thật, vĩnh cửu và bất biến Ông chia thế giới thành hai bộ phận làthế giới ý niệm và thế giới vật cảm tính Thế giới ý niệm là thế giới cótrước và sinh ra thế giới vật cảmtính Thế giới vật cảm tính là thế giớikhông chân thật, không đúng đắn và luôn luôn thay đổi, là thế giới cósau vàlà cái bóng của thế giới ý niệm

- Về con người:

+ Đêmôcrit bác bỏ quan niệm thần thánh sinh ra con người Ôngcho rằng con người xuất hiện trên trái đất là kếtquả của sự tiến hóa tựnhiên và linh hồn được cấu tạo từ nguyên tử

+ Platon thì cho rằng con người gồm thể xác và linh hồn tồn tạiđộc lập với nhau Trong đó thể xác được tạo thànhtừ đất, nước, lủa vàkhông khí còn linh hồn do Thượng đế tạo ra và nó là bất tử, tồn tại vĩnhhằng

- Về nhận thức luận:

+ Đêmôcrit chia nhận thức thành hai dạng: nhận thức cảm tính vànhận thức lý tính Nhận thức cảm tính là dạngnhận thức mờ tối, do giácquan đem lại Nhận thức lý tính là dạng nhận thức thông qua nhữngphán đoán logic, làdạng trí tuệ Ông đã thấy được mối quan hệ giữa nhậnthức cảm tính và nhận thức lý tính và ông chỉ ra phải bằngnhận thức lýtính thì con người mới phát hiện được nguyên tử tức là nguồn gốc củathế giới

Trang 6

+ Platon cho rằng nhận thức cảm tính có sau nhận thức lý tính nênông cho rằng nhận thức là sự hồi tưởng củalinh hồn về thế giới ý niệm

có trước vật chất Ông cho rằng nhận thức cảm tính chỉ là sự nhận thứccái bóng của ýniệm, chỉ cho ta những quan niệm, chứ không phải là trithức chân thực Chỉ có nhận thức lý tính, tức nhận thứckhái niệm mớiđạt đến tri thức chân thực

- Về chính trị - xã hội

+ Đêmôcrit đứng trong lập trường của phái chủ nô dan chủ, kịchliệt chống lại phái chủ nô quý tộc Ông ra sức bảo vệ và tuyên truyềncho chế độ dân chủ của chủ nô trong đó thể hiện quyền lợi của mình gắnliền với sự phát triển ngày càng một mạnh mẽ của thương mại và côngnghiệp Ông đề cao, ca ngợi cổ vữ cho tình thân ái, tính ôn hoà lợi íchchung và quyền lợi chung của công dân tự do Theo ông “ cần phải ưathích cái nghèo trong một Nhà nước dân chủ hơn so với cái gọi là cuộcsống hạnh phúc trong chế độ chuyên chế tựa như là tự do tốt hơn nô lệ”(3) Đương nhiên là do xuất thân từ tầng lớp chủ nô dân chủ Đe mo-rítchỉ đề cập đến nền dân chủ của chủ nô, còn bản thân nô lệ thì cũng nhưcác nhà tư tưởng khác, ông cho rằng phải biết tuân theo người chủ nô

Ông đề cao Nhà nước, chính Nhà nước đóng vai trò duy trì trật tự

và điều hành xã hội Theo Đe mo-crít cần phải trừng trị nghiêm khắcnhững kẻ vi phạm pháp luật hay chuẩn mực đạo đức nào đó Phươngchâm tư tưởng của Đe mo-crít là thà sống nghèo khổ còn hơn là giàu cónhưng mất tự do dân chủ Mục tiêu của con người là sống hạnh phúcnhưng hạnh phúc không đơn thuần chỉ là giàu có Ông khẳng định hạnhphúc là sự thanh thản trong tâm hồn và được tự do Chỉ có người biếtbằng lòng với sự hưởng lạc vừa phải thì mới được hạnh phúc

+ Còn Platon: ông đề cao vai trò của chế độ quý tộc đứng trên lậptrường của phái chủ nô quý tộc chống lại chế độ dân chỉ tiến bộ của xãhội Ông cho rằng linh hồn gồm các bộ phận lý tính, ý chí và cảm tínhtrong xã hội có các hạng người tương ứng với các bộ phận của linh hồn

Lý tính là cơ sở của các đức tính cao cả chỉ có được ở những nhà triếthọc, các nhà thông thái ; ý chí là cơ sở của đức tính can đảm Nó thểhiện ở trong những người lính, những chiến binh Cảm tính là cơ sở củacác đức tính thận trọng Đức tính này thường có ở những người dân tự

Trang 7

do, những người thợ thủ công Platon đặc biệt miệt thị nô lệ Theo ông

nô lệ không phải là người mà chỉ là động vật biết nói, không có đạo đức

Platon chủ trương duy tri các hạng người trong xã hội, cũng cónghĩa là duy trì sự bất bình đẳng giữa mọi người Nhà nước ra đời là đểđáp ứng những nhu cầu đó Theo Platon hình thức cộng hoà là “Nhànước lý tưởng” Trong đó quyền thống trị tuyệt đối về tầng lớp chủ nôquý tộc Nhà nước, đó là hiện thân của cả ba đức tính đó là thông thái,can đảm và thận trọng Trong “Nhà nước lý tưởng”, ông chia xã hội rathành 3 đẳng cấp dựa vào đặc trưng đạo đức Đẳng cấp thứ nhất là cácnhà triết học, các nhà thông thái, giữ vai trò lãnh đạo xã hội ; đẳng cấpthứ hai là quân nhân có trách nhiệm bảo vệ “Nhà nước lý tưởng”; đẳngcấp thứ ba là dân lao động tự do, thợ thủ công và những người tự dokhác làm ra sản phẩm nuôi sống Nhà nước

Như vậy, chúng ta thấy ngay từ khi ra đời triết học Hy Lạp cổ đại

đã xảy ra cuộc đấu tranh mạnh mẽ giữa Chủ Nghĩa Duy Vật và ChủNghĩa Duy Tâm mà đại biểu tiêu biểu nhất là Đe mo-crít của phái vàPlaton của phái duy tâm

Có thể thấy rằng ngay từ thời cổ đại nhận thức của con người tuycòn nhiều hạn chế song giữa Chủ Nghĩa Duy Vật và Chủ Nghĩa DuyTâm đã hình thành nên cuộc đấu tranh gay gắt không thể điều hoà được

về mọi mặt trong xã hội

2 Cuộc đấu tranh giữa CNDV và CNDT thời kỳ trung đại

Chủ nghĩa kinh viện ra đời đã trở thành nét đặc trưng của triết họcTây Âu thời trung cổ Chủ nghĩa kinh viện là triết học chính thức chiếmđộc quyền giảng dạy trong nhà trường Triết học này khi ra đời là đã xácđịnh nhiệm vụ: “Đầy tớ của thần học và bảo vệ trật tự phong kiến” Vấn

đề này được các nhà kinh viện quan tâm nhất đó là mối quan hệ giữa

“cái chung” và “cái riêng”, cái nào có trước cái nào có sau Cuộc đấutranh giữa các quan điểm khác nhau kéo dài vào thế kỷ và phân chiathành hai phái “phái duy danh” và “phái cuy thực” Đây là cuộc đấutranh xuyên suốt toàn bộ lịch sử triết học Tây Âu thời trung cổ

Phái duy thực cho rằng cái chung cái phổ biến các khái niệmchung là tồn tại thực là cái có trước Nó là một thực thể tinh thần khôngphụ thuộc vào sự vật cụ thể Phái duy thực lấy triết học Platon làm cơ sở

lý luận và phái này về sau họ còn dựa vào học thuyết “ hình thức của

Trang 8

Đrít xtốt Chẳng hạn con người nói chung là sự tồn tại ý niệm về conngười Từ đó, nó quyết định sự tồn tại của con người đơn nhất.

Phái duy danh quan niệm rằng cái chung, khái niệm cái chung cáiphổ biến không tồn tại thực, không độc lập với con người Nó chỉ lànhững tên gọi đơn giản mà con ngưới sáng tạo ra Không có “con người”hay “cái nhà” nói chung mà chỉ có con người hay cái nhà tồn tại thực

Cuộc đấu tranh giữa hai trường phái trên là sự thể hiện hai khuynhhướng đối lập nhau trong lịch sử triết học : Chủ Nghĩa Duy Tâm và ChủNghĩa Duy Vật ẩn dấu đằng sau cái vỏ thần học là sự tồn tại khách quan

mà con người có thể cảm nhận được, là biểu hiện của phái duy danh.Trái lại, nhận thức, tư tưởng, khái niệm có trước sự vật là biểu hiện củaphái duy thực Như vậy chúng ta có thể dễ dàng nhận thấy các nhà triếthọc duy danh gần gũi với Chủ Nghĩa Duy Vật còn các nhà triết học duythực là biểu hiện của Chủ Nghĩa Duy Tâm Như vậy cuộc đấu tranh giữachủ nghĩa duy thực với chủ nghĩa duy danh ở triết học Tây Âu thời trung

cổ thực chất là cuộc đấu tranh giữa Chủ Nghĩa Duy Vật và Chủ NghĩaDuy Tâm Mặc dù vậy trong thời kỳ này Chủ Nghĩa Duy Tâm thắng thếnhờ sự ủng hộ của thiên chúa giáo và kinh viện

Trong thời kỳ trung cổ triết học Tây Âu có rất nhiều những đạibiểu, đại diện cho cả hai phái duy danh và duy thực Và sau đây là quanđiểm của một số đại biểu tiêu biểu nhất của cả hai phái

- Tô Mát Đa Canh: Ông là đại biểu xuất sắc nhất của phái duy thựctrong thời kỳ triết học trung cổ Tây Âu Học thuyết của ông được thiênchúa giáo coi là triết học chính thức của giáo hội thiên chúa

Tô Mát Đa Canh nghiên cứu nhiều lĩnh vực thần học, triết học,pháp quyền với 18 quyển sách trong tuyển tập của ông hợp thành bộbách khoa toàn thư về hệ thông tư tưởng thông trị thời trung cổ hưngthịnh Tô Mát Đa Canh nghiên cứu mối quan hệ giữa triết học và thầnhọc, giữa lý trí và niềm tin Ông khẳng định rõ ràng nhưng lại không đốilập nhau thần học và triết học Ranh giới đó thể hiện ở chỗ nếu như đốitượng nghiên cứu của triết học là chân lý của lý trí thì đối tượng nghiêncứu của thần học là chân lý của niềm tin Nhưng theo ông cả hai đều cómột đối tượng chung đó là thượng đế Chúng không hề đối lập với nhaunhưng cuối cùng Tô Mát Đa Canh lại hạ thấp triết học và ông nâng caovai trò và vị trí của thần học Ông quan niệm rằng triết học chỉ là tôi tớ

Trang 9

phục vụ cho thần học mà thôi Ông nói rằng “không phải mọi chân lýcủa niềm tin tôn giáo đều có thể đạt được bằng sự chứng minh hợp lý”.Chân lý tôn giáo không phải là điểm yếu mà triết học dễ thâm nhập vàođược bởi vì trí tuệ của con người là có hạn và thấp hơn sự anh minh củathượng đế.

- Quan điểm duy tâm thần bí còn được thể hiện trong nghiên cứưgiới tự nhiên Ông còn cho rằng toàn bộ giới tự nhiên cùng trật tự của nóđều được quyết định bởi sự thông minh của thượng đế đều trải qua sựhợp lý hoá của thượng đế bởi thượng đế là mục đích tối cao và là quyluật vĩnh viễn đứng trên mọi cái và quyết định mọi cái

- Khi giải quyết vấn đề bản chất của cái chung thì Tô Mát Đa Canhtheo chủ nghĩa duy thực ôn hoà (có sự dung hoà với chủ nghĩa duydanh)

Về lý luận nhận thức: ông chịu ảnh hưởng của học thuyết hìnhdạng của Arit xtốt Theo Tô Mát Đa Canh mọi nhận thức đều diễn ra chủthể tiếp thu khách thể nhưng không phải mọi sự nhận thức của khách thểđều được tiếp nhận mà chỉ tiếp nhận những hình ảnh của khách thể tức

là hình dạng của nó mà thôi bởi bản thân khách thể khi gia nhập vào tinhthần của cái nhận thức (chủ thể) thì cái được nhận thức bị mất đi tính vậtchất của mình và chỉ tồn tại với tư cách là hình dạng tức là hình ảnh củanhận thức

- Về sự tiếp nhận xã hội Tô Mát Đa Canh ca ngợi chế độ bất bìnhđẳng và trật tự đẳng cấp trong xã hội Ông cho rằng cuộc sống trần thếchỉ là tạm thời, là sự chuẩn bị cho cuộc sống tương lai vĩnh viễn ở thếgiới bên kia Ông là người theo chủ nghĩa quân chủ cho nên ông chorằng quốc vương không chỉ là người điều khiển mà còn là người sángtạo ra thế giới Nhưng quốc vương cũng là người của đức chúa Giê-su,thực hiện mọi yêu cầu của nhà thờ và trừng phạt một cách dã man nhữngngười tà đạo bởi vì nhà thờ là tối cao Đối lập với quan điểm duy thựccủa Tô Mát Đa Canh là quan điểm duy danh luận của Đơn xcốt, đại biểuxuất sắc của phái duy danh thời kỳ trung cổ

Đơn xcốt sinh ra ở nước Anh Ông là một nhà duy danh luận rấtnổi tiếng, ông sống ở thế kỷ XIII

Khi giải quyết vấn đề mối quan hệ giữa thần học và triết học ôngcho rằng đối tượng của thần học là thượng đế còn đối tượng của triết học

Trang 10

là tồn tại khách quan Ông đề cao vai trò lòng tin tôn giáo hơn so với lýtrí bởi vì lý trí chỉ nhận thức được tồn tại còn thượng đế là tối cao vô tận,phi vật chất, là lòng tin không thể nhận thức được.

Xuất phát từ thế giới quan của những nhà duy danh luận, ông chorằng cái chung không chỉ là sản phẩm của tư duy mà còn là cơ sở trongbản thân sự vật Cái chung tồn tại trong sự vật với tính cách là bản chấtvừa tồn tại sau sự vật bởi tính cách là khái niệm trừu tượng hoá trong tưduy tách khỏi bản chất của sự vật

Về lý luận nhận thức Đơn xcốt nhấn mạnh yếu tố tinh thần và chorằng, nó là hình thức của thân thể con người, gắn bó thân thể con ngườimới sinh ra Yếu tố tinh thần tuy có sức mạnh to lớn nhưng phụ thuộcvào đối tượng nhận thức Xuất phát từ yếu tố tinh thần và đối tượngnhận thức mà tri thức con người hình thành Ông cũng dề cập đến vai tròcủa lý trí và ý chí ý chí cao hơn lý trí và thống trị mọi dạng hoạt độngcủa con người ở thượng đế ý chí trở thành tự do

Khi giải quyết vấn đề cái chung thì Đơn xcốt cho rằng cái chungkhông phải là sản phẩm của lý trí mà nó nằm ngay trong chính bản thâncác sự vật Nó vừa tồn tại trong các sự vật như là bản chất của chúng lạivừa tồn tại sau các sự vật Với tư cách là những khái niệm được lý trícon người trừu tượng hoá, khái quát hoá khỏi các sự vật riêng lẻ

Như vậy trong học thuyết của mình Đơn xcốt đứng về phía thầnhọc và cho rằng triết học không xuất phát từ ý chí của thượng đế nêntriết học không thể chứng minh được bản chất của thượng đế, sự sángtạo ra thế giới Mặc dù vẫy những cống hiến của Đơn xcốt đã đưa ônglên vị trí là nhà duy danh luận nổi tiếng nhất thời trung cổ

3 Cuộc đấu tranh giữa CNDV và CNDT thời kỳ cận đại

Cuộc đấu tranh giữa Chủ Nghĩa Duy Vật và Chủ Nghĩa Duy Tâmthời lỳ này diễn ra gay gắt ở thời kỳ này Chủ Nghĩa Duy Vật là thế giớiquan của giai cấp tư sản, giai cấp tiến bộ đang trong quá trình đấu tranh

để hình thành phương thức sản xuất của mình Còn Chủ Nghĩa Duy Tâm

là thế giới quan của tôn giáo, giai cấp quý tộc, phong kiến, giai cấp lạchậu và phản động đang ra sức kéo dài cơn hấp hối của mình

Để thấy rõ được sự đấu tranh giữa Chủ Nghĩa Duy Vật và ChủNghĩa Duy Tâm thời kỳ này chúng ta có thể tìm hiểu thông qua một số

Trang 11

triết gia tiêu biểu như Bru nô,Galiê, Bê cơn, Hôp pơ, Đê các tơ, Xpi nô

đa, Lốc cơ, Béc cơ li, Hium

Brunô(1548-1600):

Ông là một đại diện xuất sắc của chủ nghĩa duy vật vô thần

Phạm trù trung tâm của triết học Brunô là cái duy nhất(UNO) đượcông lấy từ phái Platon mới và diễn giải dưới ngôn ngữ tự nhiên thần luậncủa mình UNO chính là thượng đế tồn tại dưới dạng tự nhiên Nó là mộtthế giới độc lập không được tạo ra và cũng không bị tiêu diệt Nó tồn tạivĩnh viễn Ông đồng nhất thượng đế với tự nhiên nhưng ông chỉ thừanhận thượng đế trên danh nghĩa và điều đó được thể hiện rõ khi ôngquan niệm cái duy nhất là giới tự nhiên thượng đế chứ không phảingười Theo ông mọi sinh vật chỉ là một dạng biểu hiện của cái duynhất Các sự vật biến đổi không ngừng, tức là có sinh ra tồn tại và mất đinhưng cái duy nhất lại là bất biến

Trong triết học của Brunô có chứa nhiều yếu tố biện chứng củathời cổ đại Ông cho rằng UNO là sự thống nhất giữa các mặt đối lậpnhư cực đại, cực tiểu cái tối thiểu và cái tối đa, tính thống nhất và tínhnhiều vẻ, khả năng và hiện thực, cái yêu đi liền với cái ghét, thuốc chữabệnh đồng thời là cái giết người Cái duy nhất là tất cả đồng thời cũngkhông là gì cả, nó tồn tại trong mọi cái đồng thời cũng không ở đâu cả

Tư tưởng biện chứng của Brunô đã vượt xa các nhà triết học HyLạp cổ đại Vì ông đã dựa trên thành tựu của toán học và cơ học của thờiđại mình Theo ông trong cái duy nhất vật chất và hình dạng không có “vật chất đầu tiên” hay “hình dạng thuần túy” như quan niệm của Aritxtốt được ông cho rằng vật chất phải là cái tích cực, cái cổ nhất là thực tếcủa mọi vật còn hình dạng phải là hình dạng của vật chất

Ông khẳng định tính thống nhất của thế giới và tính vô cùng, vôtận của nó Ông quan niệm rằng mọi sinh vật đều nằm trong vũ trụ và vũtrụ nằm trong tất thảy mọi vật Chúng ta ở trong vũ trụ và vũ trụ nằmtrong chúng ta hay ông còn khẳng định vũ trụ là một thể bao gồm vô vàncác hành trình trong đó trái đất hay mặt trời thì cũng chỉ là một trongnhững hành tinh ấy vì vậy không có hành tinh nào là trung tâm của vũtrụ theo nghĩa tuyệt đối của nó cả

Brunô còn xây dựng học thuyết đơn tử Theo học thuyết này, tất cảnói chung cả vũ trụ đều được cấu tạo từ các đơn tử

Trang 12

Về nhận thức luận: Brunô cho rằng đối tượng của nhận thức là giới

tự nhiên và ông đánh giá thấp vai trò của nhận thức cảm tính Theo ônghạn chế lớn nhất của cảm tính là không thấy được cái vô cùng hay, vôcùng không phải là đối tượng của cảm giác, ông đề cao vai trò của trí tuệcon ngườivà chỉ thừa nhận một chân lý do triết học và khoa học đem lại.Theo ông con đường nhận thức phải từ cảm giác đến lý trí và cuối cùng

là trí tuệ

Qua những quan điểm của Brunô ta thấy rằng ông là một đại diệntiêu biểu của Chủ Nghĩa Duy Vật thời kỳ này chống lại Chủ Nghĩa DuyTâm Ông đã không ngừng tuyên truyền các tư tưởng khoa học và ChủNghĩa Duy Vật triết học và do hoảng sợ toà án giáo hội đã thiêu sốngông Đây là bằng chứng cho thấy cuộc đấu tranh gay gắt giữa Chủ NghĩaDuy Vật và Chủ Nghĩa Duy Tâm thời kỳ này

Phran xi Bê cơn(1561-1627) :

Ông là người dáng lập ra triết học Duy Vật Anh Bê cơn thừa nhận

sự tồn tại khách quan của vật chất Bê cơn là người phê phán gay gắt chủnghĩa kinh viện, coi chủ nghĩa kinh viện chỉ là vô ích, chỉ là những lậpluận trừu tượng không có nội dung, khoa học mới sẽ đem lại sức mạnhcho con người trong việc chinh phục thế giới tự nhiên Để đạt được điều

đó nhận thức khoa học phải dựa trên các sự kiện và từ đó khái quátthành những lý luận, phương pháp quy nạp dựa trên các quan sát, phântích, so sánh thực nghiệm là phương pháp chủ yếu để nhận thức chân lý.Song để có được phương pháp trước hết phải loại bỏ những “nhầm lẫn”cản trở côn đường nhận thức như “ nhầm lẫn của chúng tôi”, nhầm lẫncủa hang động

Bê cơn là người đã đưa ra được các quan điểm duy vật Ông quanniệm rằng vật chất là tổng hợp của các hạt và cho rằng giới tự nhiên làtổng hợp của các vật thể đa dạng về chất, cũng đa dạng và là thuộc tínhkhông tách rời của vật chất Những tư tưởng Duy Vật của Bê cơn có ýnghĩa chống lại Chủ Nghĩa Duy Tâm và tôn giáo Các Mác viết: “ ở Bêcơn con người đầu tiên sáng tạo ra Chủ Nghĩa Duy Vật còn che dấu dướinhững hình thức ngây thơ, những mầm mống của sự phát triển mọi mặt.Vật chất mỉm cười với toàn bộ con người trong vẻ lộng lẫy của cái cảmtính nên thơ của nó”.(4)

Trang 13

Song Chủ Nghĩa Duy Vật của Bê cơn là siêu hình và không triệt

để Ông là người quá nhấn mạnh đến phương pháp quy nạp, đề cao phântích Tuy chống lại chủ nghĩa kinh viện nhưng ông lại thừa nhận tồn tạicủa thượng đế, thừa nhận lý luận về chân lý hai mặt

Ông không giám công khai xung đột với tôn giáo Đó chính là sựthể hiện tính không triệt để của Chủ Nghĩa Duy Vật của ông Mặc dùtriết học Duy Vật Bê cơn cũng giáng một đòn rất mạnh vào uy tín củagiáo hội và tôn giáo, thể hiện sự đấu tranh mạnh mẽ của Duy Vật vớiDuy Tâm

Tô Mát Hốpxơ(1588-1679):

Hốp xơ là người tiếp tục phát triển tư tưởng Duy Vật trong triếthọc của Bê cơn Ông là nhà triết học nổi tiếng, là đại biểu xuất sắc củaChủ Nghĩa Duy Vật Anh thế kỷ XVII Hốp xơ là người đã hệ thống hoáChủ Nghĩa Duy Vật của Bê cơn và ông đã tiếp tục cuộc đấu tranh của Bêcơn cho thế giới quan khoa học và Duy Vật Hốp xơ đã tiến hành cuộcđấu tranh rất gay gắt chống lại Chủ Nghĩa Duy Tâm và thần học Ôngcho rằng không có gì khác ngoài sợ hãi và ngu dốt sinh ra tôn giáo Ôngchia triết học ra thành “ Triết học tự nhiên” và “Triết học thông thường”

ở mức độ nào đó ông đã đồng nhất đối tượng của triết học với đối tượngcủa khoa học cụ thể Tuy nhiên cách đặt vấn đề của Hốp xơ về đối tượng

và nhiệm vụ của triết học lại theo hướng tiến bộ nhằm chống lại ChủNghĩa Duy Tâm Hốp xơ kiên quyết chống lại chủ nghĩa kinh viện vàtôn giáo Ông bác bỏ “chân lý hai mặt” của Bê cơn, ông phê phán họcthuyết đấu tranh của Đề các tơ về “ý niệm bẩm sinh” và phát triển cảmgiác luận Duy Vật trong lý luận nhận thức Ông cho rằng cảm giác kinhviện là ngu ngốc, của mọi tri thức song ông cũng không coi nhẹ vai tròcủa lý tính Hốp xơ đã phát triển tư tưởng đúng đắn cho rằng cơ sở củanhận thức là tri giác, cảm tính nhưng do hạn chế về mặt lịch sử, Hốp xơvẫn chưa hiểu được mối quan hệ biện chứng giữa cảm tính và lý tính

Khi nêu ra quan điểm về con người và Nhà nước Hốp xơ cho rằngcon người là một thể thống nhất giữa tính tự nhiên và tính xã hội Tính

tự nhiên làm cho con người đều giống nhau về thể xác và tinh thần Khicon người còn nằm trong trạng thái tự nhiên thì tính ích kỷ hung ácchiếm vị trí thống trị Để khắc phục trạng thái tự nhiên, con người đi tớithoả thuận, ký kết khế ước xã hội và “trạng thái tự nhiên” chuyển sang

Trang 14

“trạng thái xã hội” Như vậy, Nhà nước là do nhân dân lập ra chứ không

hề có nguồn gốc thần thánh

Hốp xơ là một nhà triết học vô thần mọi lĩnh vực siêu nhiên đều bịloại ra khỏi triết học của ông Nhưng ông không triệt để Ông quan niệmcon người và Nhà nước đều cần tôn giáo Con người cần tôn giáo vì conngười cần có lòng tin, mà tôn giáo thì đưa lại niềm tin Còn Nhà nướctôn giáo làm cái “đầy trói buộc xã hội ”

Rơ nê Đê Các tơ(1596-1660)

Nếu như Bê cơn và Hốp xơ chỉ ra phương pháp cơ bản của khoahọc là phương pháp thực nghiệm, kinh nghiệm về thế giới tự nhiên thìngược lại Đê các tơ lại đề cao vai trò của lý tính

Triết học của Đê các tơ là triết học nhị nguyên luận điển hình vìông cho rằng có hai thực thể đầu tiên tồn tại độc lập với nhau Thực thểvật chất có quảng tính hình thành nên thế giới vật chất còn thực thể tinhthần có tư duy tạo nên thế giới tinh thần Như vậy học thuyết vật chất vàtinh thần của Đê các tơ cho thấy triết học của ông lẫn lộn giữa ChủNghĩa Duy Vật và Chủ Nghĩa Duy Tâm

Chủ Nghĩa Duy Vật của ông thể hiện qua học thuyết tự nhiên Ôngcoi vật chất là một thực thể duy nhất là cơ sở duy nhất của tồn tại vànhận thức Cũng như Bê cơn, Đê các tơ đề cao vai trò của tri thức trongviệc thống trị giới tự nhiên trong sự hoàn thiện bản thân con người Đểđạt được điều đó theo ông cần phải nghi ngờ tất cả mọi thứ Ông nói:

“Tôi tư duy vậy tôi tồn tại” và ông cho đó là nguyên lý bất di bất dịch ýnghĩa của nguyên lý trên là ở chỗ nó rất tiến bộ, nó đề cao vai trò của lýtrí Nó phủ nhận tất cả những gì mà ta mê tín Nhưng nguyên lý ấy lạibiểu hiện tính chất duy tâm Vì ông đã không nhận thấy rằng không thểtìm thấy tiền đề xuất phát của nhận thứ ngay trong nhận thức mà phảitìm từ bản thân thực tiễn xã hội

Đê các tơ là người sáng lập ra chủ nghĩa duy lý Chủ nghĩa duy lýcủa ông ở một mức độ khá lớn có quan hệ với Chủ Nghĩa Duy Tâm bởi

vì theo ông lý trí của con người có “những tư tưởng bẩm sinh” độc lậpvới kinh nghiệm

Tuy nhiên qua học thuyết tự nhiên của ông cũng bộc lộ những tưtưởng duy tâm: ông chưa nhận thấy được sự khác nhau về chất giữa thếgiới sinh vật, coi cơ thể sống chỉ là một cỗ máy phức tạp Ông cho rằng

Trang 15

sự khác biệt giữa con người và động vật là ở chỗ Con người không chỉ

là một cơ thể vật chất mà còn là một thực thể có lý trí Nhưng lí trí theoông không phụ thuộc vào quá trình vật chất

4 Cuộc đấu tranh giữa CNDV và CNDT thời kỳ cổ điển Đức

Điển hình cho Chủ Nghĩa Duy Vật trong thời kỳ này ở Đức đó làLút-vích Phơ-bách Ông có công lao vĩ đại trong cuộc đấu tranh chốnglại thần học Ông là người đã giáng một đòn mạnh mẽ vào triết học duytâm của Hê-ghen và Chủ Nghĩa Duy Tâm nói chung

Phơ-bách chứng minh rằng thế giới là vật chất: giới tự nhiên không

do ai sáng tạo ra, nó tồn tại độc lập với ý thức và không phụ thuộc vàobất cứ triết học nào Do đó cơ sở tồn tại của giới tự nhiên nằm ngaytrong lòng của giới tự nhiên Chống lại hệ thống duy tâm của triết họcHê-ghen, hệ thống coi tự nhiên là “tồn tại khác” của tinh thần Phơ-báchcho rằng triết học mới này phải có tính chất nhân bản, phải kết hợp khoahọc với tự nhiên Nguyên lý nhân bản của triết học Phơ-bách xoá bỏ sựtách rời giữa tinh thần và thể xác do triết học duy tâm và triết học nhịnguyên luận tạo ra Mặt tích cực của nguyên lý nhân bản của Phơ-bách

là ở chỗ ông đấu tranh chống lại các quan niệm của tôn giáo và thần họccho rằng thượng đế sáng tạo ra thế giới, côn người Ông khẳng định rằngcon người sáng tạo ra thượng đế Ông cho rằng con người luôn luônhướng tới cái chân, cái thiện Nghĩa là hướng tới những gì đẹp nhấttrong hình tượng đẹp nhất về con người Nhưng trên thực tế con ngườikhông đạt được những mong muốn đó nên đã gửi gắm tất cả những ướcmuốn của mình vào hình tượng thượng đế Từ đó Phơ-bách đã phủ nhậnmọi thứ tôn giáo và thần học về một vị thượng đế siêu nhiên đứng ngoài,sáng tạo ra con người và chi phối cuộc sống con người

Công lao to lớn của Phơ-bách là ở chỗ ông không chỉ đấu tranhchống lại Chủ Nghĩa Duy Tâm mà ông còn đấu tranh chống lại ChủNghĩa Duy Vật tầm thường Ông có quan niệm rất đúng đắn là khôngthể quy các hiện tượng tâm lý vào các quá trình lý hoá Ông công nhậncon người có khả năng nhận thức được thế giới Ông phê phán kịch liệtnhững người theo chủ nghĩa hoài nghi và thuyết không thể biết Trongkhi phát triển lý luận nhận thức Duy Vật Phơ-bách đã biết dựa vào thựctiễn nhưng ông chỉ mới hiểu được thực tiễn là tổng hợp những yêu cầucủa con người về tinh thần về sinh lý mà chưa nhận thức nội dung cơ

Trang 16

bản của thực tiễn là hoạt động vật chất của con người Lao động sản xuấtvật chất, đấu tranh giai cấp trong xã hội của con người và hoạt động thựctiễn của nó là cơ sở của nhận thức cảm tính và lý tính.

Như vậy, Phơ-bách đã có những đóng góp xuất sắc vào lịch sửđấu tranh của Chủ Nghĩa Duy Vật chống lại Chủ Nghĩa Duy Tâm và tôngiáo Ông đã vạch rõ mối liên hệ giữa Chủ Nghĩa Duy Tâm và tôn giáo

Từ đó ông đã chỉ ra sự cần thiết phải đấu tranh loại bỏ tôn giáo hữu thần,coi đó là sự tha hoá bản chất của con người Ông đã có công khôi phụcChủ Nghĩa Duy Vật thế kỷ XVII, XVIII Triết học của Phơ-bách có ýnghĩa lịch sử lớn lao thông qua việc đấu tranh chống lại Chủ Nghĩa DuyTâm và tôn giáo Vì vậy, triết học duy tâm của Phơ-bách là một trongnhững nguồn gốc lý luận của triết học Mác

Đối lập với quan điểm duy vật của Phơ-bách là quan điểm duy tâmcủa Hê-ghen (1770-1831) Ông là nhà biện chứng đồng thời là nhà duytâm khách quan Triết học của Hê-ghen mang đầy những mâu thuẫn.Nếu phương pháp biện chứng của ông là hạt nhân hợp lý chưa đựng tưtưởng thiên tài về sự phát triển thì triết học duy tâm của ông đã phủ nhậntính khách quan của những nguyên nhân bên trong vốn có của sự pháttriển tự nhiên xã hội Ông cho rằng khởi nguyên của thế giới không phải

là vật chất mà là “ý niệm tuyệt đối” hay “tinh thần thế giới ” Tínhphong phú và đa dạng của giới tự nhiên là kết quả của sự vận động sángtạo của ý niệm tuyệt đối ý niệm tuyệt đối tồn tại vĩnh viễn Theo Lê-nin

“ý niệm tuyệt đối chỉ là một cách nói theo đường vòng, một cách khácnói về thượng đế mà thôi” Cho nên triết học Hê-ghen chẳng qua là sựbiện hộ cho tôn giáo

Hê-ghen đã phê phán tư duy siêu hình và ông là người đầu tiêntrình bày giới tự nhiên lịch sử và tư duy dưới dạng một quá trình nghĩa

là trong sự vận động và biến đổi không ngừng Đồng thời trong hệ thốngtriết học của mình Hê-ghen đã không chỉ trình bày các phạm trù nhưchất, lượng, phủ định, mâu thuẫn mà còn nói đến các quy luật như

“lượng đổi dẫn đến chất đổi và ngược lại”, “phủ định của phủ định” vàquy luật mâu thuẫn Nhưng tất cả cái đó chỉ là quy luật vận động và pháttriển của bản thân tư duy, của ý niệm tuyệt đối Trong tư tưởng triết họcduy tâm của Hê-ghen không phải ý thức tư tưởng phát triển phụ thuộcvào sự phát triển của tự nhiên và xã hội Mà ngược lại tự nhiên và xã hội

Trang 17

phụ thuộc vào sự phát triển của ý niệm tuyệt đối ý niệm tuyệt đối vàtinh thần thế giới là tính thứ nhất, giới tự nhiên là tính thứ hai, do ý niệmtuyệt đối và tinh thần Sau khi trải qua giai đoạn “tồn tại khác” ấy ý niệmtuyệt đối hay tinh thần thế giới mới trở lại “bản chất mình” và đó là giaiđoạn cao nhất, giai đoạn tột cùng được Hê-ghen gọi là “tinh thần tuyệtđối”.

Trong các quan điểm xã hội Hê-ghen đã đứng trên lập trường củachủ nghĩa Sô-vanh đề cao dân tộc Đức, miệt thị các dân tộc khác, coinước Đức là “ hiện thân của tinh thần vũ trụ mới” Chế độ của Nhà nướcPhổ đương thời được ông xem như là đỉnh cao của sự phát triển Nhànước và pháp luật

Tóm lại Hê-ghen là một nhà duy tâm khách quan đồng thời ông làmột nhà biện chứng Đứng trên lập trường duy tâm ông đã đấu tranhchống lại Chủ Nghĩa Duy Vật Là nhà duy tâm khách quan Hê-ghenquan niệm “ý niệm tuyệt đối” là cái có trước vật chất, tồn tại vĩnh viễnkhông phụ thuộc vào con người, tạo ra thực tại khách quan Giới tựnhiên chỉ là sự tồn tại khác của “ý niệm tuyệt đối” Tính đa dạng củathực tiễn được Hê-ghen xem như kết quả tác động và sáng tạo của ýniệm tuyệt đối Là một nhà biện chứng Hê-ghen đã có công nêu ranhững phạm trù và quy luật cơ bản của phép biện chứng duy tâm Chonên Mác gọi đó là phép biện chứng lộn ngược đầu xuống đất, vì đó chỉ

là những quy luật của “ý niệm tuyệt đối” mà thôi Mặc dù vậy ông chỉ

là người đầu tiên trình bày giới tự nhiên lịch sử và tinh thần dưới dạngmột quá trình không ngừng vận động, biến đổi và phát triển, cố gắngvạch ra những mối liên hệ bên trong của sự vận động và phát triển ấy.Các Mác và Enghen đã phê phán một cách triệt để tính chất phản khoahọc và thần bí của “ý niệm tuyệt đối” trong triết học Hê-ghen Đồng thờihai ông tiếp thu và đánh giá cao “hạt nhân hợp lí” trong phép biện chứngcủa Hê-ghen để xây dựng và phát triển học thuyết về phép biện chứngcủa mình

Trang 18

Câu 3: Trình bày thực chất, ý nghĩa cuộc cách mạng trong triết học biện chứng do Mác – Ăngghen thực hiện? (4 điểm)

Triết học Mác là sự kế thừa có phê phán và chọn lọc những tưtưởng triết học của nhân loại trong quá trình lịch sử Đồng thời sự ra đờicủa triết học Mác-Lênin là một bước ngoặt vĩ đại trong sự phát triển tưtưởng triết học của nhân loại Triết học Mác có những cái mới về chất

so với các hệ thống triết học trước đó:

* Thực chất:

+ C Mác và Ph Ăngghen phát triển chủ nghĩa duy vật lên hìnhthức cao của nó là chủ nghĩa duy vật biện chứngvà phát triển phép biệnchứng lên hình thức cao của nó là phép biện chứng duy vật

Trước Mác, chủ nghĩa duy vật thời cổ đại mang tính ngây thơ chấtphác

Thời cận đại mang tính chất siêu hình, máy móc Nó chưa đưađược quan điểm pháttriển vào trong lý luận của nó; nó lấy quy luật cơhọc để giải thích sự vận động của thế giới, dùng quy luật cơ họcvà quyluật sinh học để giải thích bản chất con người

Còn phép biện chứng trước Mác mà đỉnh cao của nó là phép biệnchứng Hêghen thì lại là duy tâm, tức ông đã xuất phát từ quy luật vậnđộng, phát triển của một ý niệm tuyệtđối nào đó có trước thế giới để giảithích tất cả những gì đang tồn tại Cho nên phép biện chứng của Hêghen

là phép biện chứng duy tâm, ngược đầu và đóng khung trong một mộtkết cấu tư biện, gượng gạo.Trên cơ sở kế thừa có phê phán và chon lọcnhững thành tựu mà mà các nhà duy vật đã đạt được cũng như kếthừahạt nhân hợp lý trong phép biện chứng của Hêghen, C Mác và Ph.Ăngghen sáng lập ra chủ nghĩa duy vật biệnchứng và phép biện chứngduy vật Từ khi triết học Mác ra đời, chủ nghĩa duy vật và phép biệnchứng được kếthợp với nhau thành một thể thống nhất

+ Việc sáng lập ra chủ nghĩa duy vật lịch sử là biểu hiện quantrọng nhất của bước ngoặt cách mạng trong sự phát triển tư tưởng triếthọc của nhân loại

Chủ nghĩa duy vật lịch sử là khoa học nghiên cứu những quy luậtchung nhất, phổ biến nhất của xã hội loài người

Trước Mác, các nhà triết học nếu có duy vật thì là duy vật về tựnhiên nhưng duy tâm về xã hội Họ đều cho rằngtinh thần, tư tưởng (ý

Trang 19

niệm tuyệt đối, tinh thần thế giới, trời, thượng đế, hoặc ý thức chủ quancủa con người) làyếu tố quyết định trong lịch sử Họ không thấy đượcvai trò quyết định của hoạt động sản xuất vật chất, của đờisống vật chất.

C Mác và Ph Ăngghen đã vận dụng chủ nghĩa duy vật biện chứngvào nghiên cứu đời sống xã hội Triết họcMác coi xã hội như là một cơthể sống, một cấu trúc phức tạp bao gồm những cá nhân, gia đình, giaicấp, dân tộcvới vô số những mối quan hệ xã hội chằng chịt được hìnhthành trên cơ sở hoạt động thực tiễn của họ Triết họcMác coi sản xuấtvật chất là cơ sở của sự tồn tại và phát triển của xã hội; vạch ra nhữngquy luật khách quan của sự phát triển xã hội không phụ thuộc ý muốnchủ quan của con người; lấy cơ sở hạ tầng để giải thích kiến trúcthượngtầng, lấy tồn tại xã hội để giải thích ý thức xã hội.Chính vì thế, triết họcMác là chủ nghĩa duy vật cân đối, hoàn chỉnh và triệt để; nó bao quát cả

tự nhiên, xã hội và tư duy

+ Thống nhất giữa lý luận và thực tiễn là một nguyên tắc cơ bảncủa triết học Mác-Lênin

Triết học Mác - Lênin không chỉ giải thích thế giới mà vấn đề quantrọng là cải tạo thế giới Trước Mác, người ta chưa xác lập được mốiquan hệ gắn bó với nhau giữa lý luận và thực tiễn Lý luận nhiều khi chỉ

là sản phẩm của tưduy thuần túy, chỉ là kết quả của sự suy lý tư biện củacác nhà lý luận Người ta chưa chỉ ra được một tiêu chuẩnkhách quan đểphân biệt cái đúng và cái sai trong lý luận Lý luận càng cao siêu, càng

xa rời thực tế thì càng đượcđánh giá cao.Lần đầu tiên trong lịch sử triếthọc, C Mác và Ph Ăngghen vạch ra một cách đầy đủ và chính xác vaitrò của hoạtđộng thực tiễn với tính cách là hoạt động vật chất cải tạo tựnhiên và xã hội đối với quá trình nhận thức; khẳng định rằng thực tiễn là

cơ sở, mục đích, động lực của nhận thức, tiêu chuẩn của chân lý Sựthống nhất giữa lý luậnvà thực tiễn là một nguyên tắc căn bản của triếthọc Mác-Lênin

* Ý nghĩa:

- Nó đã làm thay đổi căn bản về nhiệm vụ, vai trò của triết học cụthể: theo quan niệm của Mác – Ăngghen triết học là một khoa học cungcấp thế giới quan và phương pháp luận đúng đắn để nhận thức và cải tạothực tiễn phục vụ con người…trước đó nhiệm vụ của triết học cổ đại

Trang 20

giúp nhận thức thế giới và giải thích thế giới, triết học phục hưng phục

áp bức, bất công, xây dựng xã hội không có giai cấp,không có người bóclột người Những quan điểm cách mạng trong triết học Mác-Lênin, nhất

là quan điểm về chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộngsản không phải lànhững hoài bão chủ quan của loài người, mà trái lại chúng có cơ sở khoahọc vững chắc, dựa trên sự nghiên cứu nghiêm túc và lôgíc chặt chẽ củatriết học và các khoa học xã hội

- Triết học Mác đã đem lại một quan niệm đúng đắn về đối tượngcủa triết học

Trước đây quan niệm coi triết học là khoa học bao trùm tất cả cáckhoa học hay coi triết học chỉ còn “công cụ” của khoa học hoặc của hoạtđộng thực tiễn.Triết học Mác đã đưa ra một quan niệm đúng đắn trongviệc xác định đối tượng và vai trò của triết học Đối với triết học Mác,triết học không đồng nhất với các khoa học cụ thể, cũng không phải là

“khoa học của các khoa học”,mà là học thuyết về những nguyên lýchung nhất, là khoa học về những quy luật chung nhất của tự nhiên, xãhội vàtư duy con người.Sau C Mác và Ăngghen, triết học Mác đượcLênin bổ sung và phát triển một cách sáng tạo trong tình hình mới.Lênin

đã vận dụng sáng tạo học thuyết của Mác để giải quyết những vấn đềcủa cách mạng vô sản trong thời đạichủ nghĩa đế quốc và bước đầu xâydựng chủ nghĩa xã hội

- Triết học Mác là thế giới quan của giai cấp công nhân – giai cấptiến bộ và cách mạng nhất, một giai cấp có lợi ích phù hợp với lợi ích cơbản của nhân dân lao động và sự phát triển của xã hội Sự kết hợp lýluận của chủ nghĩa Mác với phong trào công nhân đã tạo nên bướcchuyển biến về chất trong phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân

từ tự phát lên tự giác

Trang 21

- Triết học Mác ra đời làm chủ nghĩa xã hội từ không tưởng thànhchủ nghĩa xã hội khoa học Trước Mác chúng ta đã có chủ nghĩa xã hộikhông tưởng, muốn biến nó thành hiện thực thì phải thông qua đấu tranhgiai cấp, bạo lực cách mạng và triết học Mác ra đời đã biến nó thànhhiện thực.

Trang 22

Câu 4: Phân tích quan điểm khách quan và vận dụng vào hoạt động thực tiễn của bản thân? (6 điểm)

Quan điểm khách quan là một trong những nguyên tắc quan trọngcủa phương pháp biện chứng Mác xít Quan điểm khách quan là quanđiểm mà khi xem xét sự vật, hiện tượng phải nghiên cứu nó một cáchkhách quan như cái vốn có của nó và không phụ thuộc vào ý thức củacon người

* Cơ sở lý luận quan điểm khách quan: Có nhiều cơ sở để đưa raquan điểm khách quan như toàn bộ phép biện chứng duy vật, lý luận vềnhận thức nhưng cơ sở quan trọng nhất, trực tiếp nhất là mối quan hệbiện chứng giữa vật chất và ý thức

- Khái niệm:

+ Vật chất là một phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại kháchquan được đem lại cho con người trong cảm giác, được cảm giác củachúng ta chép lại, chụp lại, phản ánh và tồn tại không lệ thuộc vào cảmgiác

+ Ý thức là sự phản ánh hiện thực khách quan vào trong bộ óc conngười một cách năng động, sáng tạo.ý thức là hình ảnh chủ quan của thếgiới khách quan

- Mối quan hệ biện chứng vật chất và ý thức:

+ Thứ nhất, vật chất suy cho cùng quyết định ý thức (phân tích rõphần này)

Vật chất quyết định sự ra đời của ý thức, do đó vật chất là cótrước, ý thức là có sau, ý thức chỉ là sự phản ánh của vật chất Nguyên lýnày biểu hiện về mặt xã hội là tồn tại xã hội có trước, ý thức xã hội cósau và do tồn tại xã hội quyết định

Vật chất quyết định nội dung của ý thức

Vật chất quyết định sự biến đổi của ý thức: vật chất thay đổi thì ýthức cũng thay đổi Tồn tại xã hội thay đổi thì sớm muộn ý thức xã hộicũng thay đổi theo

+ Thứ hai, ý thức có tính độc lập tương đối và có thể tác động trởlại vật chất

Mặc dù ý thức do vật chất quyết định nhưng nó không phụ thuộchoàn toàn vào vật chất mà do có tính năng động, sáng tạo nên ý thức có

Trang 23

thể tác động trở lại vật chất, góp phần cải biến thế giới khách quan thôngqua hoạt động thực tiễn của con người theo hai hướng:

Tích cực: ý thức phản ánh đúng hiện thực khách quan có tác dụngthúc đẩy, tạo điều kiện hoạt động thực tiễn của con người trong quá trìnhcải tạo thế giới vật chất

Tiêu cực: ý thức phản ánh không đúng hiện thực khách quan cóthể kìm hãm hoạt động thực tiễn của con người trong quá trình cải tạothế giới vật chất

* Nội dung quan điểm khách quan (yêu cầu):

- Thứ nhất, trong nhận thức và hoạt động thực tiễn phải xuất phát

từ chính sự vật, chính những điều kiện, những hoàn cảnh thực tế, đặcbiệt là từ điều kiện vật chất; phản ánh sự vật trung thành như bản thân nóvốn có, tôn trọng sự thật không được lấy ý chí chủ quan áp đặt cho sựvật

- Thứ hai, xuất phát từ thực tế, tôn trọng và hành động theo quyluật khách quan

Căn cứ vào những điều kiện cụ thể của cơ quan, đơn vị để từ đó đề

ra kế hoạch, mục đích, chủ trương cho hoạt động thực tiễn của bản thân

Những quy luật không phụ thuộc vào ý muốn chủ quan của conngười, những hành động không phù hợp với quy luật sẽ phải trả giá do

đó phải hành động theo quy luật Vd chặt phá rừng quá mức thì lũ lụt giatăng

- Thứ ba, tránh rơi vào “chủ nghĩa khách quan” tức là tuyệt đối hoáđiều kiện vật chất, ỷ lại, trông chờ vào điều kiện vật chất, không chịu cốgắng, tích cực, chủ động vượt khó, vươn lên

Ngày đăng: 30/11/2016, 12:54

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w