1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

bai giang full luật hợp đồng

94 203 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 94
Dung lượng 129,13 KB
File đính kèm bai giang full.rar (127 KB)

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bộ luật dân sự 2015 đã bỏ từ “hoàn toàn”, chỉ còn từ “vì lợi ích” - Người có công việc được thực hiện không biết hoặc biết mà không phản đối Trong trường hợpnày, UBND thành phố biết mà k

Trang 1

LUẬT HỢP ĐỒNG

- Nắm vững thực tiễn áp dụng ở đời sống

o Thực tiễn xét xử

o Quan điểm của các học giả

- Trong những trường hợp so sánh với nước ngoài

- Quan điểm về những vấn đề pháp lý mà nghiên cứu

*) Kỹ năng làm việc nhóm trong nhóm thảo luận

*) Kỹ năng viết

*) Kỹ năng nói

*) Kỹ năng tự học

*) Kỹ năng đọc phân tích 1 bản án để hiểu bản án (án lệ) (Đọc những tài liệu về án khác)

3 bài tự luận: 1 bài kiểm tra tại lớp

*) BLDS 2005, 2015

*) Giáo trình HĐ và bồi thường thiệt hại HĐ

*) Bộ sách bình luận án: Luật nghĩa vụ dân sự và bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự (Luật hợp đồng ViệtNam, tập 1 và tập 2)

Bài 1 NGHĨA VỤ DÂN SỰ VÀ HỢP ĐỒNG

Nghĩa vụ Hợp đồng được điều chỉnh bởi các nguồn rất đa dạng

*) Nguồn VB

- Hiến pháp (không thực tế)

- Bộ luật

- Luật (Nhà ở, đất đai, HNGĐ)

- Pháp lệnh quản lý ngoại hối: giao dịch = VNĐ

Nghị định 163/2006: Bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự

Thông tư 01/2997, Nghị quyết hội đồng thẩ mphán

*) Nguồn thực tiễn

- Tập quán

- Thực tiễn xét xử (bản án)

Nguồn chủ yếu: BLDS, nguồn chứa đựng rất nhiều quy định

I Khái quát về nghĩa vụ dân sự

Điều 280, BLDS 2005: So với 2015, không thay đổi chỉ thay đổi từ Nghĩa vụ dân sự - Nghĩa vụ thuầ ntúy

để hiể urộng hơn

Trang 2

*) Nghĩa vụ: quan hệ giữa hai chủ thể (1 chủ thể được xem là có quyền, 1 bên là có nghĩa vụ)

*) Đây không phải là quan hệ bất kỳ mà là quan hệ mang tính ràng buộc pháp lý, phải làm điều gì đóV/d: A và B thỏa thuận : A sẽ cúng cha, B cúng mẹ  không ràng buộc pháp lý, mà là quan hệ đạo lý

*) Đối tượng của quan hệ:

II Các loại nghĩa vụ (dân sự)

Phân loại để nhận biết: Dựa vào chủ thể (chủ thể có nghiều người) hoặc nghĩa vụ riêng rẽ

*)Nghĩa vụ riêng rẽ: là nghĩa vụ mà nhiều người có nghĩa vụ, phần của từng người riêng biệt nhau

Ví dụ: A nợ B một khoản tiền, sau đó A chết, có 3 người thừa kế 3 người thừa kế này phải có nghĩa vụ trảcho B Theo luật dân sự, mỗi người chỉ chịu trong phần của họ mà thôi  nghĩa vụ riêng rẽ

Nghĩa vụ liên đới: Điều 298, khoản 1, BLDS: “Nghĩa vụ liên đới là nghĩa vụ do nhiều người cùng phải

thực hiện và bên có quyền có thể yêu cầu bất cứ ai trong số những người có nghĩa vụ phải thực hiện toàn

bộ nghĩa vụ”

Ví dụ: A và B cùng đi thuê nhà Theo Luật, A và B liên đới chịu trách nhiệm với bên cho thuê Đ/v nghĩa

vụ trả tiền thuê, là một nghĩa vụ, nhưng có 2 người liên đới chịu nghĩa vụ

Ý nghĩa của liên đới: tạo điều kiện cho người có quyền, cụ thể bên có quyền có thể lựa chọn bất kì ai đểbắt họ phải thực hiện toàn bộ nghĩa vụ

Chính vì vậy, người có quyền luôn tìm cách để cho rằng nghĩa vụ đó là nghĩa vụ liên đới

Vụ án: A mâu thuẫn với B Nhưng do A sợ B nên đã rủ thêm con của mình là C đi đánh B Khi gặp B, thì

A không đánh, mà C đánh Theo Luật, B được quyền yêu cầu đòi bồi thường thiệt hại Xuất hiện nghĩa vụbồi thường mà người có quyền là B B đã khởi kiện, nhưng sau đó thì C lại chết, không để lại di sản gì.Tòa án đã đình chỉ vụ án Tòa sơ thẩm đã coi đây chỉ là nghĩa vụ của C đối với B Tuy nhiên, theo tòa ántối cao, trong trường hợp này, A và C cùng gây thiệt hại cho B, nên theo luật, A và C liên đới chịu nghĩa

vụ bồi thường cho B  B hoàn tòan có thể yêu cầu A bồi thường toàn bộ

 Như vậy, khi liên đới, thì khối tài sản đảm bảo cho việc thực hiện đảm bảo cao hơn

Nghĩa vụ bổ sung:

Nghĩa vụ bổ sung là nghĩa vụ tồn tại bên cạnh nghĩa vụ chính, có chức năng thay thế hoặc đảm bảo cho nghĩa vụ chính khi nghĩa vụ chính không được thực hiện, thực hiện không đúng, không đầy đủ

Trang 3

Ví dụ: nghĩa vụ bảo lãnh tiền vay

Ví dụ: A cho B vay tiền Xuất hiện nghĩa vụ là B phải trả tiền cho A Bên cạnh đó, C lại đứng ra bảo lãnh

Từ hợp đồng bảo lãnh này, xuất hiện nghĩa vụ bảo lãnh của C đối với A Nghĩa vụ bảo lãnh gọi là nghĩa

vụ bổ sung cho nghĩa vụ hoàn trả

B Phân biệt nghĩa vụ dân sự căn cứ vào đối tượng

Mục II Phát sinh và chấm dứt nghĩa vụ dân sự

I Căn cứ phát sinh

- Điều 281, BLDS 2005 (Điều 275 BLDS 2015)

- Phân tích một số căn cứ

*) Hợp đồng: Hợp đồng là căn cứ làm phát sinh nghĩa vụ phổ biến nhất (v.d: hợp đồng gửi giữ xe, đi

uống café phát sinh các nghĩa vụ…) (Hợp đồng sẽ được nghiên cứu kĩ hơn ở bài sau)

*) Hành vi pháp lý đơn phương:

BLDS ghi nhận khái niệm hành vi pháp lý đơn phương, nhưng lại không cho biết hành vi pháp lýđơn phương là gì (đưa ra khái niệm nhưng không cho biết nội hàm) Đơn phương có nghĩa là xuất phát từmột chủ thể, nhưng tạo ra nghĩa vụ, nên tạo ra mối quan hệ pháp lý giữa 2 chủ thể Đó phải là thứ xuấtphát từ ý chí: ví dụ như việc A cam kết với người sử dụng lao động là sau khi đi học về A sẽ phục vụ chongười sử dụng lao động trong vòng 5 năm Cam kết đó chính là hành vi pháp lý xuất phát từ ý chí của A

và tạo ra nghĩa vụ trong mối quan hệ giữa A và B

Nghĩa vụ có thể phát sinh từ hành vi pháp lý đơn phương, nhưng không phải hành vi pháp lý đơnphương nào cũng tạo ra nghĩa vụ V/d: từ chối nhận di sản, chính là hành vi pháp lý đơn phương nhưngkhông tạo ra nghĩa vụ cho ai V/d: từ bỏ quyền sở hữu cũng là hành vi pháp lý đơn phương nhưng khôngtạo ra nghĩa vụ cho ai

Vậy khi nào một hành vi pháp lý đơn phương làm phát sinh nghĩa vụ? Trong một xã hội bìnhđẳng, một người không thể bằng ý chí của riêng mình tạo lập nghĩa vụ cho người khác  Hành vi pháp lýđơn phương không thể tạo lập nghĩa vụ cho người khác Hành vi pháp lý đơn phương chỉ có thể làm phátsinh nghĩa vụ cho chính người đó mà thôi V/d: người lao động đi học, viết cam kết sẽ phục vụ cho người

sử dụng lao động 5 năm  tạo lập nghĩa vụ cho chính người có hành vi pháp lý đơn phương Về bản chất,theo Điều 121 BLDS, thì hành vi pháp lý là một giao dịch dân sự, vì nó là một giao dịch dân sự, nên phảichịu sự điều chỉnh của các quy định chung về nghĩa vụ dân sự V/d: không được vi phạm điều cấm, khôngđược trái đạo đức xã hội…

*) Thực hiện công việc không có ủy quyền

Vụ án: UBND phường giao cho 1 cty A để san lấp biển Cty A đã san lấp biển, nhưng sau đó được biếtthẩm quyền san lấp biển không phải là của UBND phường mà thuộc UBND thành phố Vậy Cty A có thểy/c UBND thành phố trả tiền không?

Căn cứ pháp lý: Điều 594 BLDS 2005

+ Điều kiện áp dụng: Để áp dụng chế định thực hiện công việc không có ủy quyền, theo Điều 594 BLDS

- Có 1 công việc cần được thực hiện và có 1 người thực hiện công việc của người khác (Trong tìnhhuống trên thỏa mãn)

Trang 4

- Người thực hiện công việc này không có nghĩa vụ thực hiện, nhưng đã tự nguyện thực hiện(Trong trường hợp này A đã tự nguyện thực hiện, không bị ép buộc Tuy nhiên về khái niệmkhông có nghĩa vụ, có 2 cách hiểu khác nhau: cách hiểu 1, không có bất kì nghĩa vụ với ai cả;cách hiểu 2, không có nghĩa vụ với người có công việc được thực hiện Điều luật không rõ Tuynhiên, trong vụ án nêu trên, HĐTP đã áp dụng quy định về thực hiện công việc không có ủyquyền, như vậy, tòa án tối cao đã hiểu theo cách hiểu thứ hai.)

- Hoàn toàn vì lợi ích của người có công việc được thực hiện (Trong trường hợp này, A san lấp biểnhoàn toàn vì lợi ích của UBND thành phố hay không? Thế nào là “hoàn toàn vì lợi ích”? Nếu xéttheo văn bản, thì trong trường hợp này cty A không hoàn toàn vì lợi ích của UBND thành phố, vì

họ vẫn có lợi ích kiếm lời trong đó Tuy nhiên, tòa xử A thắng  Giữa thực tiễn xét xử và văn bản

có sự không thống nhất Thực chất, văn bản quy định quá khắt khe & án lệ của HĐTP là thuyết

phục Bộ luật dân sự 2015 đã bỏ từ “hoàn toàn”, chỉ còn từ “vì lợi ích”)

- Người có công việc được thực hiện không biết hoặc biết mà không phản đối (Trong trường hợpnày, UBND thành phố biết mà không phản đối, nên điều kiện này được thỏa mãn)

+ Hệ quả của việc áp dụng

 Khi các điều kiện của thực hiện công việc có ủy quyền được hội đủ, thì làm phát sinh quyền vànghĩa vụ giữa người có công việc và người đã thực hiện công việc

o Người có công việc được thực hiện phải có nghĩa vụ hoàn trả những chi phí mà ngườithực hiện công việc đã bỏ ra theo Điều 596 BLDS (Pháp luật đứng ra bảo vệ người thựchiện công việc)

o Về vấn đề trả thù lao, có 2 quan điểm: quan điểm 1, người thực hiện công việc khôngđược nghèo hơn, nhưng không được giàu thêm; quan điểm 2, không có lí do gì để khôngcho người ta thù lao nếu họ làm tốt Theo khoản 2, Điều 596 BLDS, “nếu công việc đãđược thực hiện chu đáo… thì phải trả thù lao”  Chế định này cho phép người thực hiệncông việc được hưởng thù lao, ngày nay được khai thác như một công cụ kinh doanhthương mại, và ngày càng phát triển trong pháp luật dân sự

*) Chiếm hữu, sử dụng, được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật

- Chiếm hữu không có căn cứ pháp luật (đã nghiên cứu)

- Khi chiếm hữu không có căn cứ pháp luật, thì làm phát sinh nghĩa vụ gì

+ Nghĩa vụ hoàn trả tài sản: Người chiếm hữu phải hoàn trả tài sản mà họ đang chiếm hữu Đối tượng củanghĩa vụ chính là tài sản đang bị chiếm giữ Điều 599 BLDS

+ Nghĩa vụ hoàn trả chi phí: trong quá trình chiếm hữu, người chiếm hữu có thể bỏ ra chi phí để bảo quảntài sản chiếm hữu v/d: chiếm hữu trâu, thì phải bỏ chi phí cho trâu ăn Theo Điều 603 BLDS: chủ sở hữu

có nghĩa vụ hoàn trả cho người chiếm hữu chi phí mà người chiếm hữu đã bỏ ra với điều kiện là chiếmhữu ngay tình Đ/v nghĩa vụ này, đối tượng của nó chính là hoàn trả chi phí, người có nghĩa vụ là chủ sởhữu

+ Nghĩa vụ hoàn trả hoa lợi, lợi tức phát sinh: v/d: trong thời gian chiếm hữu trâu, con trâu sinh con nghé.Điều 601 BLDS: nếu người chiếm hữu không ngay tình, thì phải hoàn trả cả hoa lợi lợi tức, khi đó, đốitượng của nghĩa vụ là hoa lợi, lợi tức phát sinh từ vật chiếm hữu

*) Gây thiệt hại do hành vi trái pháp luật (học kĩ ở phần dân sự 4)

*) Những trường hợp khác do Pháp luật quy định

Trang 5

II Căn cứ làm chấm dứt nghĩa vụ

- Điều 374 BLDS

Phân tích một số căn cứ

*) Nghĩa vụ được hoàn thành

*) Theo thỏa thuận của các bên:

*) Bên có quyền miễn thực hiện nghĩa vụ

*) Nghĩa vụ được thay thế bằng nghĩa vụ dân sự khác

V/d: A và B thống nhất là A bán cho B chiếc xe màu đỏ Nhưng sau đó 2 bên thống nhất là thay bằngchiếc xe màu xanh  nghĩa vụ phát sinh đ/v chiếc xe màu đỏ được thay thế bằng nghĩa vụ phát sinh đ/vchiếc xe màu xanh

*) Nghĩa vụ bù trừ

Giữa 2 bên đều là người có quyền, người có nghĩa vụ đ/v 2 quan hệ nghĩa vụ khác nhau 2 nghĩa vụ nàyphải là cùng loại, cùng bản chất v/d: Trong hợp đồng mua bán, người bán có nghĩa vụ giao hàng, ngườimua có nghĩa vụ trả tiền, đây là 2 nghĩa vụ không cùng loại, nên không thể bù trừ

Khi bù trừ, nghĩa vụ nhỏ chấm dứt hoàn toàn, nghĩa vụ lớn chấm dứt ở mức độ nghĩa vụ nhỏ V/d: bà Acho bà B vay 100 triệu  xuất hiện nghĩa vụ bà B phải trả cho bà A 100 triệu Đồng thời, trong thời điểmnày, A lại nhờ B thực hiện 1 dịch vụ, A phải trả B một khoản tiền là 70 triệu 2 nghĩa vụ này cùng loại.Khi 2 nghĩa vụ này đến hạn, thì nghĩa vụ nhỏ chấm dứt, còng nghĩa vụ lớn chấm dứt ở mức độ nghĩa vụnhỏ

Chú ý: phải chứng minh được rằng nghĩa vụ đã đến hạn thực hiện V/d: A phải chứng minh 100 triệu bằnghợp đồng vay, B phải chứng minh bằng hợp đồng dịch vụ

Trong thực tiễn xét xử không đương nhiên bù trừ Phải làm thủ tục phản tố Trong xét xử trọng tài, thì

không có khái niệm phản tố, mà là đơn kiện lại Phản tố và đơn kiện lại phải được tiến hành trong một vụkiện khác (đóng án phí, đóng phí trọng tài)

*) Bên có quyền và bên có nghĩa vụ hòa nhập làm một

v/d: Cty A nợ cty B 1 khoản tiền Sau đó 2 Cty này sáp nhập, thì nghĩa vụ này đương nhiên chấm dứt

*) Thời hiệu miễn trừ nghĩa vụ dân sự đã hết

Căn cứ làm chấm dứt nghĩa vụ dân sự ở đây là hết thời hiệu miễn trừ nghĩa vụ dân sự

NGHĨA VỤ DÂN SỰ VÀ HỢP ĐỒNG

(Tiếp)

II Căn cứ chấm dứt

*)

*) Thời hiệu miễn trừ nghĩa vụ dân sự đã hết

Căn cứ làm chấm dứt nghĩa vụ dân sự ở đây là hết thời hiệu miễn trừ nghĩa vụ dân sự

Trang 6

V/d: A yêu cầu B làm dịch vụ logistic để vận chuyển hàng cho mình Khi hàng vận chuyển tới thì bị hưhỏng Theo Luật, A được quyền yêu cầu B bồi thường Tức là B có nghĩa vụ bồi thường cho A Theo Luậtthương mại, A phải yêu cầu trong một khoảng thời gian nhất định Luật Thương mại đưa hệ quả, nếu Akhông tiến hành trong khoảng thời gian đó, thì B không còn trách nhiệm gì nữa

*) Bên có nghĩa vụ là cá nhân chết, pháp nhân, chủ thể chấm dứt tồn tại

Nghĩa vụ mang tính chất nhân thân Khi chủ thể có nghĩa vụ chấm dứt, thì nghĩa vụ chấm dứt theo V/d:một ca sĩ kí hợp đồng biểu diễn với trung tâm Ca sĩ có nghĩa vụ biểu diễn Nghĩa vụ biểu diễn này mangtính chất nhân thân Do đó, nếu ca sĩ này đột ngột mất, thì nghĩa vụ đó chấm dứt, vì nghĩa vụ này phải dochính cá nhân đó thực hiện

*) Bên có quyền là cá nhân chết mà quyền yêu cầu không thuộc di sản thừa kế, hoặc pháp nhân, chủ thể chấm dứt tồn tại mà quyền không được chuyển giao

Khi quyền không thuộc về di sản, thì nghĩa vụ cũng chấm dứt Ví dụ: A được B cấp dưỡng Nếu A chết thìquyền được cấp dưỡng không thuộc di sản của A Do đó, nghĩa vụ của B đối với A chấm dứt Khi A chếtthì nghĩa vụ của B chấm dứt (người thừa kế của A không thể kế thừa quyền của A.)

*) Vật đặc định là đối tượng của nghĩa vụ không còn và được thay thế bằng một nghĩa vụ khác

Đặt 2 điều kiện để nghĩa vụ chấm dứt: A thuê tài sản của B, vật đặc định như chiếc xe, con tàu Trong thờigian thuê, không may có sự kiện bất khả kháng, cuốn trôi chiếc xe đi Câu hỏi đặt ra, nghĩa vụ hoàn trảcủa A có chấm dứt hay không? Đối tượng cần hoàn trả không còn nữa Nếu đúng điều luật thì nghĩa vụkhông được chấm dứt Tuy nhiên, đây là một điều không ổn trong luật do bởi khi xảy ra sự kiện bất khảkháng, thì người có nghĩa vụ được miễn, nên nghĩa vụ được chấm dứt

Trong khi đó khi đọc Điều 386 BLDS 2005, khi vật đặc định không còn, thì nghĩa vụ giao vật chấm dứt Như vậy nghĩa vụ giao vật chấm dứt, nó có được thay thế bằng nghĩa vụ khác hay không thì tùy vào thỏathuận

MỤC III THỰC HIỆN NGHĨA VỤ DÂN SỰ

Trong thực tế, đây là những nguyên tắc bao trùm, nên dù Luật có quy định hay không cũng được áp dụng.V/d: A làm hỏng xe của B B đòi bồi thường: 1) tiền mà B bỏ ra sửa chữa xe; 2) B yêu cầu A bồi thườngtiền lương mà người lái xe được hưởng nhưng xe lại không sử dụng được; 3) B yêu cầu A phải bồi thườngkhoản tiền do xe hỏng nên B không thực hiện được hợp đồng với C, nên C phạt B

Liệu B có được yêu cầu A bồi thường 3 khoản tiền trên không? Theo Tòa án tối cao, thì B được quyền bồithường tiền sửa chữa xe, nhưng đ/v 2 khoản tiền còn lại thì phải xem xét: Xem xét xem B có thể điềukhiển người lái xe làm việc khác không (nếu có, thì việc khác đó đã bù đắp rồi); Xem xét xem nếu B có

Trang 7

xe khác để thực hiện nghĩa vụ với C không (nếu B có mà B không điều xe đi để thực hiện vơi C thì khôngđược bồi thường) Có nghĩa là B không được thụ động, mà B phải chủ động ứng xử trong chừng mực cóthể Đây là biểu hiện của sự thiện chí, chứ không phải là thấy có người chịu trách nhiệm rồi nên anh làmcho mọi việc trầm trọng đi, anh phải hạn chế tổn thất

Nguyên tắc giúp chúng ta điều chỉnh những vấn đề mà chưa có quy định cụ thể

*) Bộ luật dân sự đang có một nhược điểm, đó là trong phần chung đã có các nguyên tắc cơ bản, mà đã lànguyên tắc cơ bản thì áp dụng cho mọi lĩnh vực Nhưng đ/v từng chế định một, v/d như chế định mànghĩa vụ mà chúng ta đang nghiên cứu, BLDS có xu hướng đề ra những nguyên tắc riêng Như vậy, tồntại song song 2 nguyên tắc chung và nguyên tắc cụ thể Thực trạng này dẫn đến một số điểm tiêu cực.Nguyên tắc trong phần cụ thể, thường lại không đầy đủ bằng nguyên tắc chung Vậy nếu không có đầy

đủ, thì có quay lại nguyên tắc chung hay không? Về mặt lí luận, phải quay lại nguyên tắc chung Nhưngvới việc liệt kê nguyên tắc riêng này, dẫn đến một tâm lí là chỉ áp dụng nguyên tắc riêng, không khai thácnguyên tắc cơ bản Cách tốt nhất là củng cố nguyên tắc cơ bản và xóa bỏ nguyên tắc riêng trong từng chếđịnh Trong BLDS 2015, thì phần hạn chế này đã được khắc phục (V/d: Điều 283 BLDS 2005 đã khôngcòn tồn tại trong BLDS 2015)

II Một số quy định cụ thể

*) Địa điểm thực hiện

Điều 284 BLDS, khoản 1: “địa điểm thực hiện nghĩa vụ dân sự do các bên thỏa thuận”

V.d: thỏa thuận trả tiền, giao xe, giao vật ở địa điểm nào đó…

Tuy nhiên, trong thực tiễn, các bên quên không thỏa thuận về địa điểm, và cũng không thống nhất được

địa điểm Khi đó căn cứ khoản 2, Điều 284BLDS : Trong trường hợp không có thảo thuận thì địa điểm thực hiện nghĩa vụ dân sự được xác định như sau”

a) Nơi có bất động sản, nếu đối tượng của nghĩa vụ dân sự là bất động sản

b) Nơi cư trú hoặc trụ sở của bên có quyền, nếu đối tượng của nghĩa vụ dân sự không phải là bất động sản”

Điều 490, khoản 2: “địa điểm trả lại tài sản thuê là nơi cư trú hoặc trụ sở của bên cho thuê”.

Điều 474, khoản 3: “địa điểm trả nợ là nơi cư trú hoặc nơi đặt trụ sở của bên cho vay”

Quy định này có rất nhiều ý nghĩa trong thực tiễn, để xác định người có nghĩa vụ thực hiện đúng haykhông đúng nghĩa vụ của mình

Vụ án: A thuê container của B Trong một lần khai thác container thì xe của A bị tai nạn ở Khánh Hòa Agọi điện cho B đến để lấy container về B không đến lấy Hôm sau container biến mất Câu hỏi đặt ra là A

đã hoàn trả container cho B chưa? Nếu A đã hoàn trả container cho B rồi, thì B chịu rủi ro, còn nếu làchưa trả, thì A phải gánh chịu rủi ro

Theo Tòa án TPHCM, trong trường hợp này các bên không có thỏa thuận về địa điểm hoàn trả container,nên phải quay lại quy định của Luật Mà theo quy định của BLDS, Điều 284, thì phải trả lại nơi cư trúhoặc trụ sở của B  Trong trường hợp này A chưa hoàn thành nghĩa vụ hoàn trả Hiện nay, container mất,nên A phải gánh chịu rủi ro

Lưu ý:

Trang 8

+) Sự khác biệt giữa điều luật là có hay không có thỏa thuận Tuy nhiên, BLDS không đề cập đến việc khinào có thỏa thuận Do luật không nói về hình thức, nên có thể thực hiện bằng các hình thức khác nhau.Trong thực tiễn, cơ quan tài phán dựa vào các tình tiết để xác định xem các bên đã có thỏa thuận ngầmhay chưa Nếu các bên ứng xử giống nhau thì đó là đã có thỏa thuận

V/d: hợp đồng có thỏa thuận 1 bên phải cung cấp thông tin cho bên kia Trong hợp đồng không nói rõ,cung cấp ở đâu Nếu vận dụng đúng luật, thì bên thụ hưởng thông tin được quyền nhận thông tin tại trụ sởcủa mình Tuy nhiên, thực chất, trong quá trình triển khai hợp đồng này, các bên có thói quen gặp nhau ởquán café để trao đổi thông tin  Hội đồng trọng tài đánh giá đây là thỏa thuận ngầm

+) BLDS đã dự liệu trường hợp người có quyền thay đổi địa điểm, họ phải thông báo và chịu chi phí: V/d:Địa chỉ ở quận 4 mà thay đổi sang Quận 9 Lúc này người có quyền phải gánh chịu chi phí

+) BLDS chỉ đề cập đến việc người có quyền thay đổi địa chỉ, còn nếu người có nghĩa vụ thay đổi địa chỉthì sao? Trên thực tế, có tình huống xảy ra, người có nghĩa vụ thay đổi địa chỉ mà không thông báo chongười có quyền biết Luật không dự liệu được trường hợp này Hiện nay Tòa án đang gặp vướng mắc,không biết tống đạt ở đâu Còn nếu xử bằng Hội đồng trọng tài, nếu như bên có nghĩa vụ thay đổi địa chỉ

mà không thông báo, thì cứ gửi thông báo đến địa chỉ cũ, anh không nhận được là việc của anh Khôngnhận được, thì coi như xử vắng mặt (Nên chú ý nếu đã có thỏa thuận xử bằng trọng tài, thì phải tham dự,không sẽ gánh chịu thiệt thòi)

*) Thời điểm thực hiện nghĩa vụ

+) Theo thỏa thuận: Điều 285 BLDS, khoản 1: “thời hạn thực hiện nghĩa vụ dân sự do các bên thỏa thuận”

Trong hợp đồng, các bên thường thỏa thuận về thời điểm thực hiện hợp đồng

BLDS 2015 đã bổ sung một quy định tại Điều 278 BLDS 2015: …hoặc theo quyết định của cơ quan có thẩm quyền Đây là một điểm khá thú vị, phù hợp với thực tiễn

Ví dụ: A giao cho B cà phê Sau một thời gian, A và B thống nhất, A sẽ không nhận lại cà phê nữa, màchuyển thành tiền, B phải trả cho A khoản tiền tương ứng với giá trị cà phê Các bên không tranh chấp vớinhau về việc trả tiền, nhưng tranh chấp nhau về lãi chậm trả Để biết được lãi chậm trả có hay không, thìphải xác định được thời điểm trả là thời điểm nào Hợp đồng không có, luật ko quy định, vậy tính lãi ởthời điểm nào?

Khi đó, áp dụng quy định “được quyền yêu cầu ở bất kì thời điểm nào…”Khoản 2, Điều 285

BLDS 2005

Trang 9

Như vậy, trong thực tiễn, nên có chứng cứ về việc đòi nợ (v.d: ghi âm), nếu không sẽ không có chứng cứ

về thời điểm yêu cầu thanh toán Nếu không có chứng cứ, thì tính từ thời điểm khởi kiện Nên nếu muốnbảo vệ quyền lợi của mình, thì phải có chứng cứ

Khoản 1, người ta có được thực hiện trước thời hạn không? V.d: vay nợ ngân hàng ở mức lãi suất cao, đếnkhi lãi suất giảm xuống, khách hàng yêu cầu trả trước thời hạn ngân hàng không đồng ý

Quy định của BLDS 2005: thực hiện, thì phải được sự đồng ý BLDS 2015: thực hiện mà không phản đối là được

Như vậy, BLDS 2015 có 2 sự thay đổi: 1) hoặc theo quyết định của cơ quan có thẩm quyền; 2) thực hiện

mà không phản đối

*) Thực hiện nghĩa vụ thông qua người thứ ba

Thông thường, người có nghĩa vụ sẽ trực tiếp thực hiện nghĩa vụ của mình Tuy nhiên, pháp luật cho phép

là người có nghĩa vụ có thể thực hiện thông qua người thứ ba Vd: A nợ B một khoản tiền, A có thể nhờ Cmang tiền đến trả cho B

Điều 293 BLDS : khi được bên có quyền đồng ý, bên có nghĩa vụ có thể ủy quyền cho người thứ ba thay mình thực hiện nghĩa vụ dân sự nhưng vẫn phải chịu trách nhiệm với bên có quyền, nếu người thứ ba không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ dân sự.

V/d: Nếu A thuê B làm nhà thầu (A là chủ đầu tư) Nếu bỏ đi quy định “khi được bên có quyền đồng ý”

thì dễ xảy ra trường hợp B cho thầu phụ vào để làm

V/d: Nếu A nhờ B trả tiền cho C Nhưng B lấy tiền đi shoping, thì A vẫn phải chịu trách nhiệm đ/v bên cóquyền

MỤC IV THAY ĐỔI CHỦ THỂ TRONG QUAN HỆ NGHĨA VỤ DÂN SỰ

Trong một số trường hợp, một người có thể thế vào vị trí của người có quyền Đây là vấn đề chuyểnquyền yêu cầu

Thông thường, nghĩa vụ sinh ra và chấm dứt giữa những người có quyền và nghĩa vụ ban đầu Tuy nhiên,trong một số trường hợp, một trong 2 phía của quan hệ nghĩa vụ có thay đổi, chúng ta phải quan tâm đến

nó Về sự thay đổi, có thể là thay đổi về phía người có quyền, cũng có thể là sự thay đổi về phía người cónghĩa vụ

I Chuyển giao quyền yêu cầu (thay đổi bên có quyền)

Hai loại

- Chuyển giao quyền yêu cầu theo thỏa thuận

- Chuyển giao quyền yêu cầu theo pháp luật

A) Chuyển giao quyền yêu cầu theo thỏa thuận

+) Không cần sự đồng ý: Khoản 2 Điều 309 BLDS 2005: “việc chuyển giao quyền yêu cầu không cần có

sự đồng ý của bên có nghĩa vụ”

V/d: anh A trúng xổ số Giữa anh A và tổ chức xổ số đó có quan hệ nghĩa vụ trả tiền Nhưng anh A khôngmuốn lộ diện là người trúng xổ số, nên chuyển vé số sang cho chị B là người bán vé số Khi đó, chị B sẽ

là người đi đòi tiền tổ chức xổ số Quan hệ giữa anh A và chị B là chuyển giao quyền yêu cầu Khi anh A

Trang 10

bán quyền của mình cho chị bán vé số, thì nghĩa vụ của công ty xổ số không ảnh hưởng Chính vì vậy, khianh A chuyển quyền cho chị B, không cần sự đồng ý của công ty xổ số

+) Cấm chuyển giao: Trong một số trường hợp việc chuyển giao quyền yêu cầu không được phép (khoản

sự đây là nhầm lẫn về mặt lí luận Trong luật của nước ngoài, thì không có điều luật cấm chuyển nhượngnày BLDS 2015 cũng ko có gì thay đổi khi quy định về vấn đề này

+) Hình thức chuyển giao: Về hình thức, việc chuyển giao quyền yêu cầu được thể hiện bằng văn bản hoặc bằng lời nói (Điều 310 BLDS 2005)

Thực chất, quy định này là thừa Khi sửa đổi BLDS 2015, đã bỏ Điều 310 BLDS2005

Tuy nhiên, khi chuyển giao quyền yêu cầu thì phải thông báo cho người có nghĩa vụ biết Khi khôngthông báo, không làm vô hiệu việc chuyển giao quyền yêu cầu mà chỉ hạn chế sự ràng buộc với bên cónghĩa vụ (Điều 314) Việc chuyển giao trở thành không hiệu quả, do bởi: Nếu người có nghĩa vụ khôngbiết, thì họ vẫn thực hiện với người có quyền cũ; Nếu người có quyền mới xuất hiện, người có nghĩa vụkhông tin, thì người có nghĩa vụ không thực hiện nghĩa vụ với người có quyền mới

+) Khi chuyển giao quyền yêu cầu thì người nhận chuyển giao trở thành bên thế quyền Nếu nghĩa vụ đó

có biện pháp bảo đảm, thì các biện pháp bảo đảm được chuyển giao theo (Điều 313) Ví dụ: A vay tiềncủa B A phải trả tiền cho B C đứng ra bảo lãnh để A trả tiền cho B  Nghĩa vụ của A có biện pháp bảođảm là bảo lãnh Nếu B chuyển quyền yêu cầu này sang cho D, câu hỏi đặt ra là C có đứng ra bảo lãnhcho D không? Theo Luật, thì trong trường hợp này, biện pháp bảo đảm của C được chuyển giao theo.Chú ý: Biện pháp bảo đảm là một trong những trường hợp điển hình để chuyển giao cùng, chứ không phải

là trường hợp duy nhất được chuyển giao cùng

B) Chuyển giao quyền yêu cầu theo pháp luật

*) Khái niệm: Việc thay đổi người có quyền không theo thỏa thuận mà xuất phát từ một quy định củapháp luật

Việc chuyển giao này không phụ thuộc vào ý chí của các bên, mà là do luật áp đặt V.d: A xâm phạm tớitài sản của B B được quyền yêu cầu A bồi thường B mất đột ngột, theo luật những người thừa kế của Bđược quyền thay B đòi A. > như vậy, quyền yêu cầu đòi bồi thường của B đã được chuyển giao sang chongười thừa kế, không phụ thuộc vào ý chí của A cũng như B, mà là do luật định

II Chuyển giao nghĩa vụ (thay đổi bên có nghĩa vụ)

*) Khái niệm: Điều 315 BLDS

*) Cần sự ưng thuận của bên có quyền: Điều 315 BLDS

V/d: A vay tiền ngân hàng A có nghĩa vụ trả tiền cho ngân hàng Vì một lí do nào đó A thỏa thuận với B

để B thay A trả tiền cho ngân hàng Đây chính là chuyển giao nghĩa vụ từ A sang B.Khi nghĩa vụ được

Trang 11

chuyển từ A sang B, thì khả năng thực hiện đã thay đổi (v/d: A có biệt thự, xe hơi; còn B không có gìngoài xe máy)  Người có quyền có thể lo ngại, do vậy, muốn chuyển giao nghĩa vụ cần sự ưng thuận củabên có quyền

*) Hình thức: Bằng văn bản hay lời nói nếu không có quy định khác (Điều 316 BLDS)

*) Chấm dứt biện pháp bảo đảm: Điều 317 BLDS

V/d: anh A vay tiền ngân hàng Ngân hàng không tin tưởng anh A, bắt anh B bảo lãnh Nay anh A chuyểnnghĩa vụ trả tiền sang cho anh C Ngân hàng đồng ý do tin tưởng khả năng thực hiện của anh C Biệnpháp bảo lãnh của anh B không còn ý nghĩa nữa Tuy nhiên, cũng có trường hợp, ngân hàng vẫn yêu cầuanh B phải bảo lãnh, khi đó là theo thỏa thuận

*) Hoàn cảnh của người có nghĩa vụ ban đầu: Người có nghĩa vụ ban đầu có còn trách nhiệm không? Câutrả lời trong buổi thảo luận

B Chuyển giao nghĩa vụ theo pháp luật

*) Khái niệm: Trong thực tế, BLDS còn có quy định cho chuyển giao nghĩa vụ mà không có sự thỏa thuậngiữa các chủ thể

V/d: Người quá cố còn nợ, thì nợ chuyển sang cho người thừa kế

I Khái niệm quan hệ hợp đồng (Điều 388 BLDS)

A Quan hệ hợp đồng nhìn từ góc độ nội dung

*) Là một “thỏa thuận” nhưng không phải thỏa thuận nào cũng là hợp đồng:

v/d: anh A thỏa thuận với chị B sau giờ học đi uống cà phê  đây là thỏa thuận nhưng không phải hợpđồng Sau khi chị B đồng ý với anh A, sau đó lại bảo ko đi uống nữa  được

*) Thỏa thuận làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự

B Quan hệ hợp đồng nhìn từ góc độ chủ thể

*) Hợp đồng và hành vi pháp lý đơn phương có điểm chung: đều là giao dịch dân sự (Điều 121)

Hợp đồng phải là kết quả của sự thống nhất ý chí của hai hay nhiều người trở lên (“các bên”) Nếu chỉ là

kết quả của 1 chủ thể thì đó chỉ là hành vi pháp lý đơn phương

II Phân loại hợp đồng dân sự

Điều 406 BLDS

Trang 12

*) Phân loại hợp đồng theo BLDS

+) Chuyển quyền sở hữu/ chuyển quyền sử dụng

+) Phân loại trong nhóm chuyển quyền sở hữu/ sử dụng

III Nguyên tắc điều chỉnh hợp đồng

*) Quan hệ hợp đồng được điều chỉnh bởi một số nguyên tắc như thiện chí, trung thực… Trong cácnguyên tắc này có nguyên tắc tự do hợp đồng là quan trọng nhất

Điều 389 BLDS & Điều 412 BLDS

2 điều luật này không còn được giữ lại trong BLDS 2015  dồn về nguyên tắc cơ bản ở phần chung

*) Nguyên tắc tự do được thừa nhận ở BLDS (điều 4) Chưa có cơ sở để khẳng định nguyên tắc này cógiá trị “hiến định”

*) Với nguyên tắc này, các bên được tự do về nội dung, hình thức và đối tác tham gia hợp đồng

*) Nguyên tắc này có một số giới hạn: các bên không được vi phạm điều cấm (Điều 4) hay phải tuân thủpháp luật (Điều 11)

MỤC II GIAO KẾT HỢP ĐỒNG

I Sự hình thành của hợp đồng

Thông thường hợp đồng xuất phát từ một lời đề nghị Lời đề nghị đó được chấp nhận do đó hợp đồngđược hình thành Tuy nhiên, không phải đề nghị giao kết nào cũng hình thành hợp đồng, mà có nhữngđiều kiện nhất định

1 Đề nghị giao kết hợp đồng

*) Khoản 1, Điều 390 BLDS

*) Thay đổi trong BLDS 2015

Về nội dung, đề nghị giao kết hợp đồng phải là cái thể hiện ý chí của một bên muốn giao kết hợp đồng

Về chủ thể, Điều 390 BLDS theo hướng, lời đề nghị đó phải được gửi đến chủ thể được xác định cụ thể.Nếu thiếu 2 thành tố này thì chưa được coi là một lời đề nghị giao kết hợp đồng, mà chỉ là một đề nghịthông thường

Trang 13

V/d: một người đăng báo cho thuê nhà, nêu rõ địa điểm, nêu rõ tài sản cho thuê, nêu rõ giá Như vậy,người này muốn giao kết, nhưng nó chưa phải là một lời đề nghị giao kết hợp đồng, vì nó gửi đến côngchúng, chứ ko phải là một chủ thể được xác định

V/d: trong một cửa hàng điện thoại, treo giá điện thoại, loại điện thoại…  chưa phải là đề nghị giao kếthợp đồng

BLDS 2015 đã thay đổi, đây là một thay đổi rất quan trọng Tại Điều 386 BLDS 2015,

Tuy nhiên, quy định như thế này là tương đối rộng, cần phải có án lệ để quy định cụ thể

2 Chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng

Điều 396 BLDS 2005

Điều 396 Chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng

Chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng là sự trả lời của bên được đề nghị đối với bên đề nghị về việc chấp nhận toàn

bộ nội dung của đề nghị.

*) Nội dung chấp nhận: BLDS theo hướng, đã chấp nhận thì phải chấp nhận toàn bộ nội dung lời đề nghị

Do đó, nếu chấp nhận, mà ko chấp nhận toàn bộ, thì đó ko là chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng, mà nó

là một lời đề nghị mới lời đề nghị mới phụ thuộc vào sự đồng ý hay ko đồng ý của người đề nghị ban đầuV/d: A nhận vận chuyển hàng theo y/c của B để gửi cho C Theo hợp đồng v/c thì B phải trả tiền cho A,nhưng B gặp khó khăn trong việc thanh toán, và C can thiệp C có gửi cho A một đề xuất bằng văn bảnvới nội dung là C trả thay cho B, nhưng ko phải là mức B đang phải trả cho A (mức 100) mà là ở mứcthấp hơn (mức 70) -> Thư mà C gửi cho A là một lời đề nghị giao kết hợp đồng, mục đích là chấm dứtnghĩa vụ của B đ/v A và hình thành nghĩa vụ của C đối với A A gửi thư chấp nhận lời đề nghị của C,nhưng A không chấp nhận ở mức 70, mà A chỉ chấp nhận ở mức 80 Tất cả dừng lại ở đó Khi xảy ra tranhchấp, tòa phúc thẩm nhận định, giữa A và C chưa có hợp đồng, do A không chấp nhận toàn bộ  Chấpnhận của A là một lời đề nghị mới, mà đề nghị này chưa được C chấp nhận  chưa hình thành hợp đồng

*) Cách thức chấp nhận: BLDS chỉ nói, chấp nhận là trả lời Nhưng thế nào là trả lời thì BLDS lại ko cócâu trả lời Thông thường, trả lời có thể bằng hành động cụ thể (v/d: trong vụ bán đấu giá, sự trả lời bằng

sự gật đầu, bằng giơ tay), tuy nhiên sự im lặng của lời đề nghị có được coi là sự chấp nhận hay không?

Để hiểu rõ hơn về vai trò của im lặng, nghiên cứu 3 tình huống

Trang 14

Tình huống 1: A cho B thuê 1 tài sản với thời hạn 2 năm Trong hợp đồng các bên thỏa thuận trước khi kếtthúc hợp đồng một tháng, mỗi bên được quyền đề nghị kí hợp đồng mới với thời hạn, nội dung tương tự.Các bên cũng thỏa thuận, nếu bên nhận được không trả lời trong vòng 1 tuần, thì coi là chấp nhận  Cácbên đã thỏa thuận sự im lặng chính là sự chấp nhận.

Tình huống 2: A xây nhà cho B, tức là hợp đồng gia công Theo hợp đồng B phải trả cho A một khoảntiền Trong thời gian A xây nhà cho B, thì A đem lòng yêu con gái của B Sau đó, A kết hôn với con gáicủa B A gửi cho B một bức thư, trong đó có nội dung là B không phải trả cho A khoản tiền còn lại Mộtthời gian sau, quan hệ giữa A và con gái của B đổ bể A quay sang kiện đòi B trả tiền Bức thư của A gửicho B là một lời đề nghị giao kết hợp đồng, gửi cho B, mục đích chấm dứt nghĩa vụ cho B Tuy nhiên, B

im lặng Sự im lặng của B có phải là sự chấp nhận hay không?

Tình huống 3: A và B là vợ chồng A kí hợp đồng bán cho cô hàng xóm mảnh đất Trong hợp đồng nàykhông có sự hiện diện của B Cô hàng xóm nhận đất trồng cây, xây nhà Sau đó, đất tăng giá B mới nóirằng, hợp đồng này vô hiệu, do bảo đây là tài sản chung, mà tài sản chung phải cần có sự đồng ý của 2 vợchồng  Trong trường hợp này B biết nhưng im lặng Im lặng có được coi là đồng ý không?

Bản thân sự im lặng chưa giải quyết vấn đề gì cả

Đ//v tình huống 1, chúng ta đã có câu trả lời ở Điều 404 BLDS 2005, khoản 2

Đ/v tình huống 2, 3, hiện nay chưa có văn bản BLDS 2005 chưa có câu trả lời Trong thực tiễn xét xử,trong tình huống 2, xác định là có hợp đồng Còn đối với tình huống thứ 3, tòa án tối cao đang theo hướngbiết mà không phản đối thì coi như đồng ý

Về mặt lí luận, hướng của thực tiễn là thiết thực Trong tình huống 2, Im lặng + lời đề nghị hoàn toàn vìlợi ích của người được đề nghị = đồng ý Trong tình huống 3, Im lặng + biết mà không phản đối = đồng ý

BLDS 2015 khắc phục sự bất cập của BLDS 2005 Tại Điều 393 BLDS 2015, khoản 2,

2 Sự im lặng của bên được đề nghị không được coi là chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng, trừ trường hợp có thỏa thuận hoặc theo thói quen đã được xác lập giữa các bên.

Như vậy, quy định này chưa thỏa mãn được 2 tình huống 2, 3 vừa nêu, vẫn nên duy trì thực tiễn xét xử

3 Giao kết hợp đồng có điều kiện

Điều 125 BLDS 2005

Điều 125 Giao dịch dân sự có điều kiện

1 Trong trường hợp các bên có thỏa thuận về điều kiện phát sinh hoặc hủy bỏ giao dịch dân sự thì khi điều kiện đó xảy ra, giao dịch dân sự phát sinh hoặc hủy bỏ.

2 Trong trường hợp điều kiện làm phát sinh hoặc hủy bỏ giao dịch dân sự không thể xảy ra được do hành vi cố ý cản trở của một bên hoặc của người thứ ba thì coi như điều kiện đó đã xảy ra; nếu có sự tác động của một bên hoặc của người thứ ba cố ý thúc đẩy cho điều kiện để làm phát sinh hoặc huỷ bỏ giao dịch dân sự xảy ra thì coi như điều kiện đó không xảy ra.

Trang 15

Tình huống: A chuyên thiết kế chương trình máy tính B muốn khai thác chương trình máy tính của A 2bên đã thống nhất về giá, cũng như cách thức sử dụng chương trình Nhưng B vẫn còn cảm thấy chưachắc chắn, nên B đã thống nhất với A nội dung, việc triển khai chương trình còn phụ thuộc vào tính khảthi của chương trình máy tính trong môi trường của B Người đánh giá tính khả thi là công ty độc lập C Hợp đồng này cơ bản là thống nhất, nhưng vẫn bị treo ở 1 điều kiện Loại hợp đồng này rất thuận lợi, vìchỉ khi nào điều kiện nảy sinh, thì hợp đồng mới bắt đầu tồn tại

Trong thực tiễn xét xử, Tòa án đã vận dụng Điều 125 BLDS 2005 vào một hoàn cảnh rất phổ biến sau đâyTình huống: A được nhà nước cho thuê nhà Người thuê được quyền hợp thức hóa để trở thành chủ sởhữu Tuy nhiên, vào năm 2015, A có nhu cầu về tài chính, nên A bán cho B A & B kí với nhau hợp đồng.Trong trường hợp này, nếu kí hợp đồng mua bán, thì hợp đồng mua bán này vô hiệu Do trong năm 2015,thì A vẫn chưa phải là chủ sở hữu Các bên đưa nội dung vào hợp đồng: Khi nào A có chủ quyền, thì cácbên tiến hành hoàn tất thủ tục ra công chứng, chứng thực Đầu 2016, A có chủ quyền, nhưng A lại khôngmuốn bán nữa, vì khi đã có giấy chủ quyền thì giá tăng A nói rằng hợp đồng vô hiệu Trước 2015, thìnhững loại giao dịch như thế này là vô hiệu Tuy nhiên, cuối 2015, đầu 2016, Tòa án tối cao thay đổi án

lệ Tòa án tối cao nhận định rằng Hợp đồng mua bán 2015 chưa phải là hợp đồng mua bán mà là hợpđồng mua bán có điều kiện Cho nên đây không phải là hợp đồng mua bán, nên không thể tuyên vô hiệutrong giai đoạn này được Từ năm 2016, lúc A có chủ quyền, thì điều kiện nó đã phát sinh, thì hợp đồngmua bán đã phát sinh, khi đó, không thể vô hiệu vì thiếu chủ quyền, mà chỉ là vô hiệu vì thiếu côngchứng Bên nào không ra công chứng, thì bên đó phải chịu hậu quả

 Án lệ này đã giải quyết được rất nhiều vấn đề trong thực tiễn: công chứng cũng dễ hơn, luật sư tưvấn cũng dễ hơn

4 Thời điểm hợp đồng được giao kết

Việc xác định hợp đồng được giao kết có hệ quả rất quan trọng thứ nhất, về mặt nguyên tắc, thời điểmhợp đồng được giao kết chính là thời điểm hợp đồng bắt đầu có hiệu lực Thứ hai, biết được thời điểmhợp đồng giao kết, chúng ta sẽ biết được áp dụng luật nào

BLDS đã có một điều riêng về thời điểm giao kết hợp đồng tại Điều 404 BLDS 2005

*) Khoản 1, Điều 404 BLDS 2005: được áp dụng trong những trường hợp hợp đồng không được giao kết

trực tiếp và phải qua một quy trình

Tình huống: một tổ chức A mời B làm chuyên gia Tổ chức A đã gửi cho B một bức thư trong đó có nộidung dự thảo hợp đồng B nhận được bức thư và kí đồng ý Sau đó gửi lại cho A Một tuần sau A nhậnđược.Vậy hợp đồng được giao kết ở thời điểm nào, thời điểm B kí gửi đi, hay thời điểm A nhận lại Đ/vloại hợp đồng nêu trên có 2 trường phái

Trường phái 1: Trường phái phát hành Xem hợp đồng được giao kết khi B kí gửi đi Lí do, khi B gửichấp nhận đi, thì đã có lời đề nghị + lời chấp thuận = hợp đồng

Trường phái 2: Trường phái tiếp nhận Xem hợp đồng được giao kết khi A nhận được chấp nhận của B.Việt Nam theo thuyết tiếp nhận

*) Khoản 2, Điều 404 BLDS 2005: Điều luật đề cập đến thời điểm hợp đồng được giao kết, nhưng khoản

này, thì không có câu trả lời cho thời điểm hợp đồng giao kết Khoản 2, Điều 404 BLDS 2005 này phùhợp với Điều 396 BLDS hơn

Trang 16

Quan điểm của giảng viên: Hợp đồng coi như được giao kết vào cuối thời hạn giao kết Vì trong thời hạnnày, người ta có quyền thay đổi ý kiến.

Đây là nội dung được bổ sung trong BLDS 2015, Điều 400, khoản 2: 2 Trường hợp các bên có thỏa thuận im

lặng là sự trả lời chấp nhận giao kết hợp đồng trong một thời hạn thì thời điểm giao kết hợp đồng là thời điểm cuối cùng của thời hạn đó.

*) Khoản 3, Điều 404 BLDS 2005: Hợp đồng được giao kết bằng lời nói, có thể trực tiếp gặp nhau hoặc

qua điện thoại Tuy nhiên, khi nào được xem là các bên thống nhất với nhau về nội dung hợp đồng.V/d: A và B trao đổi với nhau qua điện thoại vào ngày ¼ Hai bên thống nhất là 2 bên bán cho nhau máy

vi tính, B thống nhất cho A về giá, các bên thống nhất 1 tuần sau sẽ giao máy Sau đó, B trả tiền qua tàikhoản 3 ngày sau, A và B gọi điện cho nhau, để trao đổi về địa điểm giao máy, các bên thống nhất sẽ giaomáy tại nhà A Vậy trong trường hợp nào các bên đã thống nhất với nhau bằng lời nói, nhưng thời điểmcác bên thống nhất với nhau ở thời điểm nào? Ngày ¼ hay 3 ngày sau?

Theo ý kiến giảng viên, hợp đồng đã được giao kết vào ngày ¼ Đúng là vào ngày 1/4 , các bên không nói

gì về địa điểm giao máy, tuy nhiên, địa điểm giao máy nếu không có thỏa thuận thì luật điều chỉnh Màtheo quy định của luật, đ/v động sản, thì giao vật tại nhà B Còn 3 ngày sau thì là các bên thay đổi địađiểm (thay đổi nội dung, chứ thực chất nội dung đã được thống nhất)

 Đ/v những nội dung mà luật có điều chỉnh trong trường hợp các bên không có thỏa thuận, thì coinhư các bên đã ngầm thống nhất với luật

*) Khoản 4, Điều 404 BLDS 2005: Giao kết hợp đồng bằng văn bản BLDS theo hướng thời điểm giao

kết hợp đồng là thời điểm bên sau cùng kí vào văn bản

Tình huống: A là công ty vận chuyển, thường mua bảo hiểm tại Cty B Đ/v một lần vận chuyển xe từTPHCM ra miền Bắc, thì A cũng tiến hành mua bảo hiểm nhưng trong một hoàn cảnh khá đặc biệt nhưsau: Khoảng 11 giờ, người của A đến đề xuất mua bảo hiểm Người của B giao phiếu bảo hiểm, rồi ngườicủa A điền thông tin, kí và chuyển sang cho người của B Người của B tiến hành kí đóng dấu Vài phútsau, trao lại một bản cho A Cũng ở thời gian đó, chiếc xe chở những chiếc xe máy bốc cháy Vấn đề mấuchốt đặt ra, cháy ở thời điểm nào, hợp đồng được giao kết ở thời điểm nào Nếu hợp đồng được giao kếttrước khi cháy, thì bên bảo hiểm phải chịu trách nhiệm Nếu hợp đồng được giao kết sau khi cháy, thì bênbảo hiểm không chịu trách nhiệm

Cháy ở thời điểm nào?  công an xác định

Giao kết hợp đồng ở thời điểm nào? A điền thông tin, kí đưa cho B thì đó là lời đề nghị giao kết hợp đồng.Người của B kí, đóng dấu, giao lại cho A Thì công đoạn kí là quan trọng nhất BLDS quy định thời điểm

kí, là thời điểm giao kết hợp đồng

Tuy nhiên, khoản 4, Điều 404 BLDS 2005, đòi hỏi dấu hiệu thời điểm cuối cùng là thời điểm kí Vậytrong trường hợp, v/d: vào bệnh viện, bệnh viện đóng con dấu xác nhận đã nộp tiền, nhưng không kí, thì

xử lí như thế nào?

 Chỉ nên coi kí là một trong những dấu hiệu của sự đồng ý Có thể có những dấu hiệu khác

BLDS 2015 : kí bằng văn bản hay bằng hình thức chấp nhận khác được thể hiện trên văn bản

Về mặt lí luận, chữ kí chức năng để làm gì: Chữ kí chỉ là một chức năng, hình thức của sự chấp nhận thôi

Trang 17

Chú ý: Phân biệt khoản 1, và Khoản 4, BLDS 404 BLDS 2005: khoản 1, khi 2 bên giao dịch có khoảngcách.; khoản 4: gặp nhau trực tiếp.

Tình huống: Mua qua điện thoại, xác lập bằng văn bản Xác định thời điểm giao kết? Đây là vấn đề quantrọng trong lao động, v/d: thử việc được một thời gian, nhưng sau đó, mới kí hợp đồng, thì thời điểm xáclập hợp đồng là thời điểm nào? -> Quan điểm của thầy: ý chí của các bên đã được thống nhất tại thờiđiểm giao kết bằng lời nói, còn hình thức văn bản chỉ để thể hiện lại thôi  Vấn đề này đã được tranhluận tại Quốc hội khi đưa vào dự thảo BLDS 2015 Hiện tại, BLDS 2015 đã đưa nội dung này vào:

4 Thời điểm giao kết hợp đồng bằng văn bản là thời điểm bên sau cùng ký vào văn bản hay bằng hình thức chấp nhận khác được thể hiện trên văn bản.

Trường hợp hợp đồng giao kết bằng lời nói và sau đó được xác lập bằng văn bản thì thời điểm giao kết hợp đồng được xác định theo khoản 3 Điều này.

Lưu ý: Trong giai đoạn giao kết hợp đồng, vấn đề thông tin rất quan trọng Cụ thể, trong thực tiễn xét xử

đã gặp phải những trường hợp, bên bán có 1 thông tin rất quan trọng liên quan đến tài sản nhưng ko thôngbáo cho bên mua V/d: nhà đất nằm trong lộ giới, bên bán biết nhưng bên mua không biết Hoặc bên bán

đã nhận được quyết định của UBND rằng nhà đất này nằm trong quy hoạch, sẽ bị thu hồi nhưng ko cóđền bù BLDS 2005 không có câu trả lời đ/v vấn đề này Tuy nhiên, tòa án tối cao đã dựa trên 2 quy định:

thiện chí và lừa dối BLDS 2015 đã có thay đổi về vấn đề này, Điều 387 BLDS 2015:

Điều 387 Thông tin trong giao kết hợp đồng

1 Trường hợp một bên có thông tin ảnh hưởng đến việc chấp nhận giao kết hợp đồng của bên kia thì phải thông báo cho bên kia biết.

2 Trường hợp một bên nhận được thông tin bí mật của bên kia trong quá trình giao kết hợp đồng thì có trách nhiệm bảo mật thông tin và không được sử dụng thông tin đó cho mục đích riêng của mình hoặc cho mục đích trái pháp luật khác.

3 Bên vi phạm quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều này mà gây thiệt hại thì phải bồi thường.

Thực tế có những trường hợp, không phải là bên bán biết mà bên mua biết

V/d: A ban đầu cho B thuê đất, khi B thuê đất thì B biết trong lòng đất có khoáng sản rất lớn B yêu cầumua đất của A A đồng ý bán, nhưng sau đó biết chuyện thì rất hối tiếc

V/d: Bà A có một bộ ảnh, bán cho anh B lần đầu bà A bán cho anh B một nửa số ảnh Lần sau, anh Bquay lại mua hết số còn lại Sau đó, thì bà A biết được rằng bức ảnh đó mình bán là của nhiếp ảnh gia nổitiếng chụp, giá trị rất lớn

Vậy bên mua nếu biết thông tin thì có phải tiết lộ hay không? Có 2 trường phái: trường phái 1, nếu bên mua cũng phải tiết lộ, thì làm gì có hợp đồng nữa; trường phái 2: nguyên tắc thiện chí

Còn theo quy định của Bộ Luật dân sự 2015 thì bên mua phải cung cấp

II Điều kiện có hiệu lực của hợp đồng

Lưu ý: Hợp đồng được giao kết chưa đủ để phát sinh hệ quả pháp lý mà các bên mong muốn Để có thểlàm phát sinh những hệ quả pháp lý mà các bên mong muốn, hợp đồng phải đáp ứng thêm các điều kiện,

Trang 18

đó là điều kiện có hiệu lực của hợp đồng Trong phần hợp đồng, BLDS không đặt ra điều kiện Nhưnghợp đồng là giao dịch dân sự, nên hợp đồng phải đáp ứng các điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự

Điều 122 Điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự

1 Giao dịch dân sự có hiệu lực khi có đủ các điều kiện sau đây:

a) Người tham gia giao dịch có năng lực hành vi dân sự;

b) Mục đích và nội dung của giao dịch không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội;

c) Người tham gia giao dịch hoàn toàn tự nguyện.

2 Hình thức giao dịch dân sự là điều kiện có hiệu lực của giao dịch trong trường hợp pháp luật có quy định.

1 Điều kiện liên quan đến hợp đồng

*) Về nội dung

Về nội dung, Điều 122 BLDS 2005 theo hướng, giao dịch phải có mục đích và nội dung không vi phạmđiều cấm, không trái đạo đức xã hội Đây là 2 điều kiện đồng thời phải chấp nhận

+) Điều cấm

Điều cấm đã được định nghĩa tại Điều 128 BLDS 2005

Điều 128 Giao dịch dân sự vô hiệu do vi phạm điều cấm của pháp luật, trái đạo đức xã hội

Giao dịch dân sự có mục đích và nội dung vi phạm điều cấm của pháp luật, trái đạo đức xã hội thì vô hiệu.

Điều cấm của pháp luật là những quy định của pháp luật không cho phép chủ thể thực hiện những hành vi nhất định.

Đạo đức xã hội là những chuẩn mực ứng xử chung giữa người với người trong đời sống xã hội, được cộng đồng thừa nhận và tôn trọng.

Về nội hàm của “điều cấm”: trong thực tiễn, đây là nội dung khá khó Nếu pháp luật nói rõ điều cấm, v/d:cấm giao dịch bằng ngoại tệ, thì còn dễ Còn những thứ không được liệt kê, thì có cấm hay không V/d:trong Luật đất đai không có liệt kê quyền của chủ đất trong việc cầm cố đất, thì việc cầm cố đất có bị cấmhay không? Về trường hợp “cầm cố” hiện tại vẫn là một điều chưa rõ

Về nguồn gốc của “điều cấm”: tiêu đề cho thấy đây là điều cấm của pháp luật Do vậy, những thứ không

là pháp luật, thì không phải là điều cấm V/d: Điều lệ Đảng không phải là pháp luật Tuy nhiên, khái

niệm pháp luật quá rộng Trong thực tiễn, có vụ án, ở Bình Định, tòa án đã dựa vào chỉ thị của UBND,

để tuyên hợp đồng vô hiệu Như vậy, điều này ko tốt cho một xã hội tự do Dễ dấn đến trường hợp, cáccấp không quản lý được, thì lại cấm  BLDS 2015 đã thay đổi hoàn toàn, BLDS 2015 đã không còn

dùng từ “điều cấm của pháp luật” mà chuyển thành “điều cấm của luật”.

Trang 19

Điều 117 BLDS 2015, khoản 1, điểm c: c) Mục đích và nội dung của giao dịch dân sự không vi phạm điều cấmcủa luật, không trái đạo đức xã hội

Điều 123, BLDS 2015: Giao dịch dân sự vô hiệu do vi phạm điều cấm của luật, trái đạo đức xã hội

Giao dịch dân sự có mục đích, nội dung vi phạm điều cấm của luật, trái đạo đức xã hội thì vô hiệu.

Điều cấm của luật là những quy định của luật không cho phép chủ thể thực hiện những hành vi nhất định.

Như vậy, hiện nay chỉ Quốc hội mới được cấm (Bàn đạp: Hiến pháp 2013, Điều 14: Quyền công dân,quyền con người chỉ bị hạn chế bởi luật …, tuy nhiên tự do hợp đồng có phải là quyền con người, quyềncông dân chưa?)

+) Về đạo đức xã hội: đạo đức xã hội rất khác điều luật Đạo đức là chuẩn mực của cuộc sống Chính vìvậy là khó Trong thực tiễn hiếm khi tòa án khai thác đạo đức xã hội Vì thứ nhất, điểu cấm của pháp luật

đã đủ rộng, thứ hai, chứng minh trái đạo đức xã hội là khó

Chuẩn mực xã hội thay đổi theo thời gian, nên đạo đức xã hội cũng đã thay đổi, nên phải tùy từng thời kì

để xem đạo đức xã hội

Tình huống: ở Pháp, quan hệ ngoài luồng khá phổ biến 1 người có vợ muốn duy trì quan hệ ngoài luồng,tặng nhân tình cho nhẫn kim cương Tặng cho này có mục đích là duy trì quan hệ ngoài luồng Mà luậtnói, mục đích không được trái đạo đức xã hội Nếu trường hợp người tặng cho bị chết, thì những ngườiđược thừa kế của người tặng cho có quyền yêu cầu tuyên vô hiệu, khi đó khối tặng cho đó chuyển thànhkhối di sản? Trong một thời gian, tòa án tối cao Pháp loại tặng cho đó là trái thuần phong mỹ tục, và nó

vô hiệu Tuy nhiên, từ những năm sau, tòa án tối cao Pháp lại thay đổi án lệ, cho rằng bản thân hành động

đó không bị vô hiệu

*) Khái niệm: hình thức của hợp đồng là cái thể hiện ra bên ngoài ý chí của các bên Điều 122, BLDS

2005 theo hướng tiếp cận: Hình thức là điều kiện có hiệu lực trong trường hợp pháp luật có quy định.Như vậy, nếu không có quy định của pháp luật, thì hợp đồng được tự do về hình thức

Ví dụ: Trong hợp đồng mua bán, BLDS không nói gì về hình thức của hợp đồng mua bán Do vậy, hợpđồng được tự do về hình thức

Sự thay đổi trong BLDS 2015: điều 117, khoản 2: 2 Hình thức của giao dịch dân sự là điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự trong trường hợp luật có quy định.

BLDS 2015, củng cố thêm điều này, và theo triết lí, cứ hạn chế tự do, là phải luật

Vậy có những loại hình thức bắt buộc nào trong Luật Việt Nam?

Trang 20

Điều 124, BLDS 2005:

Điều 124 Hình thức giao dịch dân sự

1 Giao dịch dân sự được thể hiện bằng lời nói, bằng văn bản hoặc bằng hành vi cụ thể.

Giao dịch dân sự thông qua phương tiện điện tử dưới hình thức thông điệp dữ liệu được coi là giao dịch bằng văn bản.

2 Trong trường hợp pháp luật quy định giao dịch dân sự phải được thể hiện bằng văn bản, phải có công chứng hoặc chứng thực, phải đăng ký hoặc xin phép thì phải tuân theo các quy định đó

Vậy các loại hình thức bắt buộc sau

Hợp đồng không bị vô hiệu trong trường hợp có vi phạm về hình thức, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

Điều 401 lại không đề cập đến hình thức bắt buộc là văn bản (Đ/v giao dịch, thì luật nói nếu luật yêu cầubằng văn bản thì phải tuân theo, còn đ/v hợp đồng thì luật lại ko quy định) THực ra, vai trò của văn bản

có 2 chức năng

- Chức năng 1: điều kiện có hiệu lực của hợp đồng V.d: theo luật trọng tài, thỏa thuận trọng tàiphải được lập bằng văn bản Luật trọng tài cũng nói luôn, nếu ko được lập bằng văn bản thì vôhiệu

- Chức năng 2: văn bản không có vai trò là điều kiện có hiệu lực, mà nó chỉ đóng vai trò là chứng

cứ Khi nó đóng vai trò là chứng cứ, thì khi thiếu văn bản, mà chứng minh được, thì vẫn ok

Ở Việt Nam, vai trò của văn bản chưa được rõ nét

Trang 21

Về mặt khoa học, nên theo hướng, nếu luật áp đặt hình thức văn bản, mà luật không nêu hậu quả khi viphạm, thì nên coi văn bản là chứng cứ, chứ không phải là điều kiện có hiệu lực của hợp đồng.

Trong thực tiễn xét xử, tòa án hiểu rằng, nếu luật áp đặt hình thức văn bản, thì đó là điều kiện có hiệu lựccủa hợp đồng, chứ không phải là chứng cứ

V/d: A đồng ý đặt cọc mua đất của B A ở TPHCM, B ở Phú Quốc Do 2 bên ở xa, nên các bên chưa lậphợp đồng đặt cọc bằng văn bản được Do đó, A đã chuyển khoản cho B Sau đó 2 bên có tranh chấp, tòa

án giải quyết vấn đề là có phạt cọc hay ko? Để giải quyết vấn đề này, thì phải xem thỏa thuận đặt cọc cóhiệu lực hay không Trong trường hợp này, theo BLDS điều 358, đặt cọc phải bằng văn bản, nhưng hệ quảcủa việc ko lập bằng văn bản là gì thì luật ko nói Tòa án TPHCM đã tuyên vô hiệu  tức là Tòa án đanghiểu, yêu cầu lập bằng văn bản là yêu cầu có điều kiện của hợp đồng, chứ không phải là chứng cứ

Điều này không phải là tốt đ/v pháp lý Ở Việt Nam, thực tiễn là tuyên vô hiệu hợp đồng rất nhiều Hợpđồng sinh ra là để được thực hiện, chứ không phải là để bị vô hiệu Rất nhiều giao dịch vô hiệu về hìnhthức ở Việt Nam Do quan niệm về hình thức ở Việt Nam chưa thực sự thuyết phục

BLDS 2015, Điều 119:

Điều 119 Hình thức giao dịch dân sự

1 Giao dịch dân sự được thể hiện bằng lời nói, bằng văn bản hoặc bằng hành vi cụ thể.

Giao dịch dân sự thông qua phương tiện điện tử dưới hình thức thông điệp dữ liệu theo quy định của pháp luật về giao dịch điện tử được coi là giao dịch bằng văn bản.

2 Trường hợp luật quy định giao dịch dân sự phải được thể hiện bằng văn bản có công chứng, chứng thực, đăng ký thì phải tuân theo quy định đó.

Khoản 2, Điều 119, BLDS 2015, chỉ đề cập đến văn bản có công chứng, chứng thực, chứ không còn đềcập đến văn bản thuần túy nữa  (Bỏ Điều 401 BLDS 2005, dồn vào quy định Điều 199 BLDS 2005) Đây là một quy định tiến bộ

Trong BLDS 2015, bỏ luôn những quy định áp đặt văn bản để đỡ gây nhầm lẫn

V.d: hợp đồng đặt cọc trong BLDS 2005 nói phải lập bằng văn bản, BLDS 2015, bỏ quy định này

+) Hình thức văn bản có công chứng, chứng thực

Khi Luật yêu cầu văn bản phải có công chứng, chứng thực, thì đó chính là yêu cầu về điều kiện có hiệulực của hợp đồng Hình thức công chứng hiện nay rất phổ biến Trong Luật nhà ở, Luật đất đai, thì hầunhư các giao dịch về nhà ở, đất đai, đều buộc phải công chứng (Theo luật cũ Việt Nam, chỉ có chứng thực

mà thôi Khi người Pháp vào đô hộ Việt Nam, thì kéo theo hình thức công chứng) Tuy nhiên, Luật củaPháp rất hiếm khi áp đặt hình thức bắt buộc là công chứng, công chứng ko là điều kiện có hiệu lực, nhưngnếu như 2 bên giao dịch muốn cho người khác biết thì công chứng, chứ chưa bao giờ Tòa án tuyên giaodịch vô hiệu vì thiếu công chứng Chỉ có rất ít trường hợp bắt buộc phải có công chứng

Còn ở VIệt Nam, rất nhiều thứ phải công chứng v/d: hợp đồng thuê nhà cũng phải công chứng Rất nhiềuhợp đồng thuê nhà bị tuyên vô hiệu vì thiếu công chứng

Mục đích công chứng để làm gì? Quản lý hay thu phí? Có hiệu quả hay không

Trang 22

+) Hình thức đăng kí

BLDS 2015 vẫn duy trì coi “đăng kí” là điều kiện có hiệu lực Điều 119, khoản 2, BLDS 2015:… trongtrường hợp Luật quy định phải đăng kí thì phải tuân theo…

Chức năng của đăng kí để làm gì? Đăng kí: thông báo với cơ quan nhà nước, cơ quan nhà nước ghi nhận

sự tồn tại Đăng kí để người khác biết thông tin Mục đích đăng kí thực chất chỉ là để công khai cho ngườikhác biết Giữa 2 bên trong giao dịch, có nhất thiết phải công khai không, công khai để làm gì? Chứcnăng của đăng kí không giải quyết nội bộ giữa các bên, mà để giải quyết với người ngoài Thật ra thiếuđăng kí thì sẽ không mất đi giá trị giữa 2 bên, mà chỉ làm thiếu đi giá trị đ/v người ngoài Nên đây khôngnên là điều kiện có hiệu lực, mà chỉ là điều kiện để người khác biết, điều kiện để đối kháng với ngườikhác

Hiện nay, Tòa án có 2 luồng quan điểm: thiếu đăng kí thì vô hiệu & thiếu đăng kí vẫn có hiệu lực

+) Hình thức xin phép

Xin phép để làm gì? Xin phép nó có là vấn đề hình thức hay không?

TH1: lập hợp đồng xây dựng mà chưa có giấy phép, đã có tòa án tuyên vô hiệu

TH2: người lao động nước ngoài lao động ở cty mà chưa có giấy phép, khi có tranh chấp, tòa án thườngxuyên tuyên vô hiệu

Thực chất là vô hiệu về hình thức hay vô hiệu về nội dung? Vi phạm điều cấm của pháp luật hay là do bởihình thức ko thỏa mãn BLDS xem nó vô hiệu là do hình thức Nó có phải chính xác hay không? Thựcchất, phải là vô hiệu về nội dung, về vấn đề được làm hay không được làm

BLDS 2015 đã tiếp thu quan điểm này, tại Điều 119, khoản 2, BLDS 2015 đã bỏ hình thức xin phép

2 Điều kiện liên quan đến chủ thể hợp đồng

BLDS 2015 đã thêm “năng lực pháp luật dân sự” và bổ sung “phù hợp với giao dịch dân sự được xác lập”

 phải dựa vào giao dịch cụ thể, chứ ko phải là giao dịch chung chung

V/d: đ/v người bị hạn chế năng lực hành vi, có những giao dịch hàng ngày, họ được làm

III HỢP ĐỒNG THIẾU ĐIỀU KIỆN CÓ HIỆU LỰC

BLDS áp đặt điều kiện có hiệu lực, do đó, về mặt ngôn từ, nếu thiếu thì giao dịch được coi là không cóhiệu lực Mà giao dịch không có hiệu lực là gì?

Trang 23

Điều 127 BLDS 2005, thiếu điều kiện có hiệu lực là vô hiệu Vô hiệu có nghĩa là không có giá trị gì cả

1 Những trường hợp vô hiệu

Hiện nay, BLDS liệt kê những trường hợp giao dịch được coi là vô hiệu

*) Vô hiệu do vi phạm điều cấm, trái đạo đức xã hội

Về điều cấm, Tòa án đã từng theo hướng vô hiệu trong những trường hợp sau, v.d

- Xác định đạo đức là khó, xác định trái đạo đức là khó

Trong thực tiễn xét xử, cũng đã có trường hợp tòa án tuyên giao dịch vô hiệu do trái đạo đức xã hội Tình huống: Trong gia đình nọ có 5 người thừa kế 4 người thừa kế thỏa thuận phân chia di sản 4 ngườinày để cho 1 người đứng tên Như vậy là định đoạt cả của người thứ 5 Tuy nhiên, VKS tối cao đã khángnghị, giao dịch này đã vi phạm nghiêm trọng đạo đức Tòa án tối cao đã chấp nhận ngay Thỏa thuận này

đã vi phạm nghiêm trọng đạo đức và tuyên vô hiệu VKS đã dựa vào tình tiết: không phải việc 4 người đichia tài sản của 5 người, mà là vì 4 người này đã cố tình tuyên bố với công chứng viên rằng gia đình mìnhchỉ có 4 người  trái đạo đức xã hội

*) Vô hiệu do giả tạo

+) Theo BLDS, nếu giao dịch có giả tạo thì giao dịch đó vô hiệu Tuy nhiên, giả tạo là gì thì BLDS lạikhông có câu trả lời Giả tạo có thể được hiểu là những cái không có thật, nhưng nó làm ra bên ngoài là

nó tồn tại Trong thực tiễn, giả tạo phổ biến trong 3 tình huống sau đây

TH1: các bên tạo ra 2 giao dịch, nhưng các bên thay đổi bản chất của giao dịch thật giao dịch bề ngoài vàgiao dịch thực tế bản chất ko giống nhau V/d: Chị A kí hợp đồng chuyển nhượng cho B quyền sử dụngđất Sau đó, gia đình chồng chị A phản đối, nên chị A và anh B lập hợp đồng thuê Nhưng thực chất, chị A

đã nhận hết tiền Anh B nhận đất, sử dụng đất, mà ko bao giờ trả tiền thuê Như vậy có 2 hợp đồng: hợpđồng bề ngoài là hợp đồng thuê, hợp đồng chuyển nhượng là hợp đồng thực tế

TH2: các bên không thay đổi bản chất của giao dịch, nhưng các bên thay đổi chủ thể của giao dịch V/d: A

ở Ban Mê Thuật, muốn mua nhà đất ở Khánh Hòa A gặp B có nhà đất ở Nha Trang A đi thăm nhà đất vàtrả tiền nhà đất cho B A &B đã tồn tại một giao dịch thực tế là giao dịch mua bán nhà Vì một lí do nào

đó, A không đứng tên trên hợp đồng công chứng, mà A nhờ C ở Khánh Hòa đứng tên Như vậy, có 2 giaodịch bản chất ko thay đổi, nhưng chủ thể của giao dịch thay đổi Giao dịch C & B là giao dịch giả tạo.TH3: các bên không thay đổi bản chất, ko thay đổi chủ thể, mà các bên thay đổi nội dung của giao dịch.V/d: A bán nhà cho B giá 1 tỷ đồng, ra công chứng, bảo rằng giá nhà 600 triệu Như vậy giao dịch thực tế

là giao dịch 1 tỷ đồng; giao dịch bề ngoài là giao dịch 600 triệu

+) Xử lí giả tạo như thế nào? Điều 129 BLDS 2005: giao dịch giả tạo vô hiệu Còn giao dịch bị che giấu,giao dịch có thật, có hiệu lực  tôn trọng ý chí của các bên Nên giao dịch bị che giấu vẫn có hiệu lực.Tuy nhiên, có thể giao dịch bị che giấu vẫn vô hiệu nếu nó vi phạm pháp luật

Trang 24

Giao dịch bị che giấu vô hiệu vì bản thân nó có vi phạm.

V/d: Trong TH1, tòa án không thừa nhận chuyển nhượng đất giữa chị A và anh B do bởi: chưa được côngchứng, chứng thực & đất này không phải là của chị A

Tiêu chí để Tòa án xác định tính có hiệu lực của giao dịch bị che giấu là dựa trên BLDS Tuy nhiên, nhưthế là chưa đủ Do bởi có rất nhiều văn bản đưa ra những trường hợp vô hiệu của giao dịch Ví dụ, Luậtphá sản, hay Luật doanh nghiệp cũng có nhiều trường hợp vô hiệu

BLDS 2015 đã sửa đổi, tại khoản 1, Điều 124:

Điều 124 Giao dịch dân sự vô hiệu do giả tạo

1 Khi các bên xác lập giao dịch dân sự một cách giả tạo nhằm che giấu một giao dịch dân sự khác thì giao dịch dân

sự giả tạo vô hiệu, còn giao dịch dân sự bị che giấu vẫn có hiệu lực, trừ trường hợp giao dịch đó cũng vô hiệu theo quy định của Bộ luật này hoặc luật khác có liên quan.

*) Vô hiệu do người xác lập giao dịch có vấn đề về nhận thức

Giao dịch thiếu yếu tố tự nguyện/ năng lực hành vi

+) BLDS 2015 đã bổ sung thêm một đối tượng nữa, đó là người có khó khăn về nhận thức làm chủ đượchành vi Người bị khó khăn về nhận thức làm chủ hành vi là một chủ thể mà nhận thức của người nàynằm giữa 2 chủ thể: người bị hạn chế năng lực hành vi và người bị mất năng lực hành vi dân sự

V/d: Một người không nói được, không viết được, nhưng nhận thức được Tuy nhiên, anh ta không diễnđạt được cái người ta muốn thể hiện ra bên ngoài

+) Điều 130 BLDS 2005: cứ rơi vào trường hợp này thì giao dịch vô hiệu

BLDS 2015 đã theo một cách tiếp cận mới, về nguyên tắc các giao dịch này vô hiệu, nhưng nếu giao dịchnày vẫn bình thường, vẫn có lợi, thì nó không vô hiệu

Khoản 2, Điều 125, BLDS 2015:

2 Giao dịch dân sự của người quy định tại khoản 1 Điều này không bị vô hiệu trong trường hợp sau đây:

a) Giao dịch dân sự của người chưa đủ sáu tuổi, người mất năng lực hành vi dân sự nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu hàng ngày của người đó;

b) Giao dịch dân sự chỉ làm phát sinh quyền hoặc chỉ miễn trừ nghĩa vụ cho người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự với người đã xác lập, thực hiện giao dịch với họ;

c) Giao dịch dân sự được người xác lập giao dịch thừa nhận hiệu lực sau khi đã thành niên hoặc sau khi khôi phục năng lực hành vi dân sự.

Trang 25

Tại sao không đưa vấn đề này vào năng lực hành vi? Nếu chuyển sang vấn đề về năng lực hành vi thì ủng

hộ loại giao dịch này Thực chất, quy định này chỉ mục đích là xử lí trong những trường hợp giao dịchnhư thế này thì xử lý như thế nào

*) Giao dịch do nhầm lẫn

Điều 131, BLDS 2005 đề cập đến giao dịch dân sự vô hiệu do nhầm lẫn

Điều 131 Giao dịch dân sự vô hiệu do bị nhầm lẫn

Khi một bên có lỗi vô ý làm cho bên kia nhầm lẫn về nội dung của giao dịch dân sự mà xác lập giao dịch thì bên bị nhầm lẫn có quyền yêu cầu bên kia thay đổi nội dung của giao dịch đó, nếu bên kia không chấp nhận thì bên bị nhầm lẫn có quyền yêu cầu Toà án tuyên bố giao dịch vô hiệu.

Trong trường hợp một bên do lỗi cố ý làm cho bên kia nhầm lẫn về nội dung của giao dịch thì được giải quyết theo quy định tại Điều 132 của Bộ luật này

Điều 126, BLDS 2015,

Điều 126 Giao dịch dân sự vô hiệu do bị nhầm lẫn

1 Trường hợp giao dịch dân sự được xác lập có sự nhầm lẫn làm cho một bên hoặc các bên không đạt được mục đích của việc xác lập giao dịch thì bên bị nhầm lẫn có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này.

2 Giao dịch dân sự được xác lập có sự nhầm lẫn không vô hiệu trong trường hợp mục đích xác lập giao dịch dân sự của các bên đã đạt được hoặc các bên có thể khắc phục ngay được sự nhầm lẫn làm cho mục đích của việc xác lập giao dịch dân sự vẫn đạt được.

Điều 126, BLDS 2015 đã khác hoàn toàn so với Điều 131, BLDS 2005 Lí do vì sao phải sửa?

Về nhầm lẫn, nguyên nhân dẫn đến nhầm lẫn: Nhầm lẫn do lỗi cố ý hay nhầm lẫn do lỗi vô ý của bên kia

Về nguyên nhân, BLDS 2005 theo hướng nhầm lẫn là do bên kia gây ra Thực tế cho thấy, có nhữngtrường hợp nhầm lẫn không bên nào gây cho bên nào, vì cả hai bên đều nhầm lẫn V/d: A bán cho B chiếc

xe Dream giá 27 triệu B chạy được một số ngày, thì bán cho C là 28 triệu Khi C sử dụng xe, thì công ankhám xét, thì phát hiện, chiếc xe này là đối tượng của vụ trộm Tòa tuyên hợp đồng giữa B và C vô hiệu

do nhầm lẫn B có nhầm lẫn, C cũng có nhầm lẫn, nhưng không ai có lỗi cố ý gây ra nhầm lẫn cho bênkia

Về đối tượng nhầm lẫn, BLDS 2005 theo hướng nhầm lẫn về nội dung, trong thực tiễn, người ta cònnhầm lẫn về chủ thể V/d: TH1: Bà A cho bà B vay tiền Trong đầu bà A có nghĩ rằng B vẫn đang cònquan hệ với C thực chất,, tại thời điểm A cho B vay, thì B và C đã li hôn (B&C không còn liên đới tráchnhiệm nữa) TH2: Bà A kí hợp đồng hợp tác với ông B để tạo ra trung tâm phẫu thuật thẩm mỹ Trong đầu

bà A nghĩ rằng ông B là người có chuyên môn về phẫu thuật thẩm mỹ

Trang 26

Theo BLDS 2005, nếu có nhầm lẫn, thì bên bị nhầm lẫn yêu cầu thay đổi, nhưng bên kia không chấp nhậnthay đổi (có thể thay đổi, nhưng không muốn thay đổi) Thực tế, có những trường hợp muốn thay đổi,nhưng không thể thay đổi. > nên BLDS 2005 vẫn còn bất cập

*) Giao dịch dân sự do lừa dối, đe dọa

Điều 132 BLDS 2005

Điều 132 Giao dịch dân sự vô hiệu do bị lừa dối, đe dọa

Khi một bên tham gia giao dịch dân sự do bị lừa dối hoặc bị đe dọa thì có quyền yêu cầu Toà án tuyên bố giao dịch dân sự đó là vô hiệu.

Lừa dối trong giao dịch là hành vi cố ý của một bên hoặc của người thứ ba nhằm làm cho bên kia hiểu sai lệch về chủ thể, tính chất của đối tượng hoặc nội dung của giao dịch dân sự nên đã xác lập giao dịch đó.

Đe dọa trong giao dịch là hành vi cố ý của một bên hoặc người thứ ba làm cho bên kia buộc phải thực hiện giao dịch nhằm tránh thiệt hại về tính mạng, sức khoẻ, danh dự, uy tín, nhân phẩm, tài sản của mình hoặc của cha, mẹ, vợ, chồng, con của mình.

+) Nếu có lừa dối thì vô hiệu Tuy nhiên, lừa dối là gì? Để có lừa dối, thì phải hội đủ một số thành tố sauđây Thứ nhất, phải có hành vi cố ý hay vô ý của một bên, hay người thứ ba Vấn đề đặt ra là thế nào làmột hành vi cố ý, thông thường, hành vi được hiểu là một hành động cụ thể, ví dụ: anh A sơn lại xe,nhưng lại nói là xe mới  Hành vi: sơn xe Vấn đề là, không hành động có được xem là hành vi haykhông V/d: Trong trường hợp, bên bán có thông tin nhưng không cung cấp cho bên mua Trong thực tiễnxét xử, Tòa án theo hướng không cung cấp thông tin mà mình biết là lừa dối  Hành vi bao gồm hànhđộng & không hành động

+) Phải chứng minh được hành vi cố ý đó tác động đến nhận thức của một bên, làm cho người ta hiểu sailệch về hợp đồng Nếu có hành vi cố ý, mà không làm người ta hiểu sai lệch về hợp đồng, thì cũng là cố

ý

Vụ án: A bán cho B một bầy cừu Trong bầy cừu này, tuyệt đại đa số là cừu cụt đuôi Sau khi nhận cừu,bên mua mới nhận thấy, phần lớn những con cừu cụt đuôi là do bị cắt B quay sang bảo A là lừa dối Chắc chắn cừu cụt đuôi là do cố ý Vấn đề đặt ra là bên mua có hiểu sai lệch về hợp đồng hay không? Tòa

án tối cao đã nhận định, khi bên mua mua với giá trên thị trường với giá cừu cụt đuôi thuần chủng Nhưvậy, ý chí của bên mua là muốn cừu cụt đuôi thuần chủng Do đó có lừa dối

Trang 27

Căn cứ làm chấm dứt nghĩa vụ dân sự ở đây là hết thời hiệu miễn trừ nghĩa vụ dân sự

V/d: A yêu cầu B làm dịch vụ logistic để vận chuyển hàng cho mình Khi hàng vận chuyển tới thì bị hưhỏng Theo Luật, A được quyền yêu cầu B bồi thường Tức là B có nghĩa vụ bồi thường cho A Theo Luậtthương mại, A phải yêu cầu trong một khoảng thời gian nhất định Luật Thương mại đưa hệ quả, nếu Akhông tiến hành trong khoảng thời gian đó, thì B không còn trách nhiệm gì nữa

*) Bên có nghĩa vụ là cá nhân chết, pháp nhân, chủ thể chấm dứt tồn tại

Nghĩa vụ mang tính chất nhân thân Khi chủ thể có nghĩa vụ chấm dứt, thì nghĩa vụ chấm dứt theo V/d:một ca sĩ kí hợp đồng biểu diễn với trung tâm Ca sĩ có nghĩa vụ biểu diễn Nghĩa vụ biểu diễn này mangtính chất nhân thân Do đó, nếu ca sĩ này đột ngột mất, thì nghĩa vụ đó chấm dứt, vì nghĩa vụ này phải dochính cá nhân đó thực hiện

*) Bên có quyền là cá nhân chết mà quyền yêu cầu không thuộc di sản thừa kế, hoặc pháp nhân, chủ thể chấm dứt tồn tại mà quyền không được chuyển giao

Khi quyền không thuộc về di sản, thì nghĩa vụ cũng chấm dứt Ví dụ: A được B cấp dưỡng Nếu A chết thìquyền được cấp dưỡng không thuộc di sản của A Do đó, nghĩa vụ của B đối với A chấm dứt Khi A chếtthì nghĩa vụ của B chấm dứt (người thừa kế của A không thể kế thừa quyền của A.)

*) Vật đặc định là đối tượng của nghĩa vụ không còn và được thay thế bằng một nghĩa vụ khác

Đặt 2 điều kiện để nghĩa vụ chấm dứt: A thuê tài sản của B, vật đặc định như chiếc xe, con tàu Trong thờigian thuê, không may có sự kiện bất khả kháng, cuốn trôi chiếc xe đi Câu hỏi đặt ra, nghĩa vụ hoàn trảcủa A có chấm dứt hay không? Đối tượng cần hoàn trả không còn nữa Nếu đúng điều luật thì nghĩa vụkhông được chấm dứt Tuy nhiên, đây là một điều không ổn trong luật do bởi khi xảy ra sự kiện bất khảkháng, thì người có nghĩa vụ được miễn, nên nghĩa vụ được chấm dứt

Trong khi đó khi đọc Điều 386 BLDS 2005, khi vật đặc định không còn, thì nghĩa vụ giao vật chấm dứt Như vậy nghĩa vụ giao vật chấm dứt, nó có được thay thế bằng nghĩa vụ khác hay không thì tùy vào thỏathuận

MỤC III THỰC HIỆN NGHĨA VỤ DÂN SỰ

Trong thực tế, đây là những nguyên tắc bao trùm, nên dù Luật có quy định hay không cũng được áp dụng.V/d: A làm hỏng xe của B B đòi bồi thường: 1) tiền mà B bỏ ra sửa chữa xe; 2) B yêu cầu A bồi thườngtiền lương mà người lái xe được hưởng nhưng xe lại không sử dụng được; 3) B yêu cầu A phải bồi thườngkhoản tiền do xe hỏng nên B không thực hiện được hợp đồng với C, nên C phạt B

Trang 28

Liệu B có được yêu cầu A bồi thường 3 khoản tiền trên không? Theo Tòa án tối cao, thì B được quyền bồithường tiền sửa chữa xe, nhưng đ/v 2 khoản tiền còn lại thì phải xem xét: Xem xét xem B có thể điềukhiển người lái xe làm việc khác không (nếu có, thì việc khác đó đã bù đắp rồi); Xem xét xem nếu B có

xe khác để thực hiện nghĩa vụ với C không (nếu B có mà B không điều xe đi để thực hiện vơi C thì khôngđược bồi thường) Có nghĩa là B không được thụ động, mà B phải chủ động ứng xử trong chừng mực cóthể Đây là biểu hiện của sự thiện chí, chứ không phải là thấy có người chịu trách nhiệm rồi nên anh làmcho mọi việc trầm trọng đi, anh phải hạn chế tổn thất

Nguyên tắc giúp chúng ta điều chỉnh những vấn đề mà chưa có quy định cụ thể

*) Bộ luật dân sự đang có một nhược điểm, đó là trong phần chung đã có các nguyên tắc cơ bản, mà đã lànguyên tắc cơ bản thì áp dụng cho mọi lĩnh vực Nhưng đ/v từng chế định một, v/d như chế định mànghĩa vụ mà chúng ta đang nghiên cứu, BLDS có xu hướng đề ra những nguyên tắc riêng Như vậy, tồntại song song 2 nguyên tắc chung và nguyên tắc cụ thể Thực trạng này dẫn đến một số điểm tiêu cực.Nguyên tắc trong phần cụ thể, thường lại không đầy đủ bằng nguyên tắc chung Vậy nếu không có đầy

đủ, thì có quay lại nguyên tắc chung hay không? Về mặt lí luận, phải quay lại nguyên tắc chung Nhưngvới việc liệt kê nguyên tắc riêng này, dẫn đến một tâm lí là chỉ áp dụng nguyên tắc riêng, không khai thácnguyên tắc cơ bản Cách tốt nhất là củng cố nguyên tắc cơ bản và xóa bỏ nguyên tắc riêng trong từng chếđịnh Trong BLDS 2015, thì phần hạn chế này đã được khắc phục (V/d: Điều 283 BLDS 2005 đã khôngcòn tồn tại trong BLDS 2015)

II Một số quy định cụ thể

*) Địa điểm thực hiện

Điều 284 BLDS, khoản 1: “địa điểm thực hiện nghĩa vụ dân sự do các bên thỏa thuận”

V.d: thỏa thuận trả tiền, giao xe, giao vật ở địa điểm nào đó…

Tuy nhiên, trong thực tiễn, các bên quên không thỏa thuận về địa điểm, và cũng không thống nhất được

địa điểm Khi đó căn cứ khoản 2, Điều 284BLDS : Trong trường hợp không có thảo thuận thì địa điểm thực hiện nghĩa vụ dân sự được xác định như sau”

c) Nơi có bất động sản, nếu đối tượng của nghĩa vụ dân sự là bất động sản

d) Nơi cư trú hoặc trụ sở của bên có quyền, nếu đối tượng của nghĩa vụ dân sự không phải là bất động sản”

Điều 490, khoản 2: “địa điểm trả lại tài sản thuê là nơi cư trú hoặc trụ sở của bên cho thuê”.

Điều 474, khoản 3: “địa điểm trả nợ là nơi cư trú hoặc nơi đặt trụ sở của bên cho vay”

Quy định này có rất nhiều ý nghĩa trong thực tiễn, để xác định người có nghĩa vụ thực hiện đúng haykhông đúng nghĩa vụ của mình

Vụ án: A thuê container của B Trong một lần khai thác container thì xe của A bị tai nạn ở Khánh Hòa Agọi điện cho B đến để lấy container về B không đến lấy Hôm sau container biến mất Câu hỏi đặt ra là A

đã hoàn trả container cho B chưa? Nếu A đã hoàn trả container cho B rồi, thì B chịu rủi ro, còn nếu làchưa trả, thì A phải gánh chịu rủi ro

Theo Tòa án TPHCM, trong trường hợp này các bên không có thỏa thuận về địa điểm hoàn trả container,nên phải quay lại quy định của Luật Mà theo quy định của BLDS, Điều 284, thì phải trả lại nơi cư trúhoặc trụ sở của B  Trong trường hợp này A chưa hoàn thành nghĩa vụ hoàn trả Hiện nay, container mất,nên A phải gánh chịu rủi ro

Trang 29

Lưu ý:

+) Sự khác biệt giữa điều luật là có hay không có thỏa thuận Tuy nhiên, BLDS không đề cập đến việc khinào có thỏa thuận Do luật không nói về hình thức, nên có thể thực hiện bằng các hình thức khác nhau.Trong thực tiễn, cơ quan tài phán dựa vào các tình tiết để xác định xem các bên đã có thỏa thuận ngầmhay chưa Nếu các bên ứng xử giống nhau thì đó là đã có thỏa thuận

V/d: hợp đồng có thỏa thuận 1 bên phải cung cấp thông tin cho bên kia Trong hợp đồng không nói rõ,cung cấp ở đâu Nếu vận dụng đúng luật, thì bên thụ hưởng thông tin được quyền nhận thông tin tại trụ sởcủa mình Tuy nhiên, thực chất, trong quá trình triển khai hợp đồng này, các bên có thói quen gặp nhau ởquán café để trao đổi thông tin  Hội đồng trọng tài đánh giá đây là thỏa thuận ngầm

+) BLDS đã dự liệu trường hợp người có quyền thay đổi địa điểm, họ phải thông báo và chịu chi phí: V/d:Địa chỉ ở quận 4 mà thay đổi sang Quận 9 Lúc này người có quyền phải gánh chịu chi phí

+) BLDS chỉ đề cập đến việc người có quyền thay đổi địa chỉ, còn nếu người có nghĩa vụ thay đổi địa chỉthì sao? Trên thực tế, có tình huống xảy ra, người có nghĩa vụ thay đổi địa chỉ mà không thông báo chongười có quyền biết Luật không dự liệu được trường hợp này Hiện nay Tòa án đang gặp vướng mắc,không biết tống đạt ở đâu Còn nếu xử bằng Hội đồng trọng tài, nếu như bên có nghĩa vụ thay đổi địa chỉ

mà không thông báo, thì cứ gửi thông báo đến địa chỉ cũ, anh không nhận được là việc của anh Khôngnhận được, thì coi như xử vắng mặt (Nên chú ý nếu đã có thỏa thuận xử bằng trọng tài, thì phải tham dự,không sẽ gánh chịu thiệt thòi)

*) Thời điểm thực hiện nghĩa vụ

+) Theo thỏa thuận: Điều 285 BLDS, khoản 1: “thời hạn thực hiện nghĩa vụ dân sự do các bên thỏa thuận”

Trong hợp đồng, các bên thường thỏa thuận về thời điểm thực hiện hợp đồng

BLDS 2015 đã bổ sung một quy định tại Điều 278 BLDS 2015: …hoặc theo quyết định của cơ quan có thẩm quyền Đây là một điểm khá thú vị, phù hợp với thực tiễn

Ví dụ: A giao cho B cà phê Sau một thời gian, A và B thống nhất, A sẽ không nhận lại cà phê nữa, màchuyển thành tiền, B phải trả cho A khoản tiền tương ứng với giá trị cà phê Các bên không tranh chấp vớinhau về việc trả tiền, nhưng tranh chấp nhau về lãi chậm trả Để biết được lãi chậm trả có hay không, thìphải xác định được thời điểm trả là thời điểm nào Hợp đồng không có, luật ko quy định, vậy tính lãi ởthời điểm nào?

Trang 30

Khi đó, áp dụng quy định “được quyền yêu cầu ở bất kì thời điểm nào…”Khoản 2, Điều 285

BLDS 2005

Như vậy, trong thực tiễn, nên có chứng cứ về việc đòi nợ (v.d: ghi âm), nếu không sẽ không có chứng cứ

về thời điểm yêu cầu thanh toán Nếu không có chứng cứ, thì tính từ thời điểm khởi kiện Nên nếu muốnbảo vệ quyền lợi của mình, thì phải có chứng cứ

Khoản 1, người ta có được thực hiện trước thời hạn không? V.d: vay nợ ngân hàng ở mức lãi suất cao, đếnkhi lãi suất giảm xuống, khách hàng yêu cầu trả trước thời hạn ngân hàng không đồng ý

Quy định của BLDS 2005: thực hiện, thì phải được sự đồng ý BLDS 2015: thực hiện mà không phản đối là được

Như vậy, BLDS 2015 có 2 sự thay đổi: 1) hoặc theo quyết định của cơ quan có thẩm quyền; 2) thực hiện

mà không phản đối

*) Thực hiện nghĩa vụ thông qua người thứ ba

Thông thường, người có nghĩa vụ sẽ trực tiếp thực hiện nghĩa vụ của mình Tuy nhiên, pháp luật cho phép

là người có nghĩa vụ có thể thực hiện thông qua người thứ ba Vd: A nợ B một khoản tiền, A có thể nhờ Cmang tiền đến trả cho B

Điều 293 BLDS : khi được bên có quyền đồng ý, bên có nghĩa vụ có thể ủy quyền cho người thứ ba thay mình thực hiện nghĩa vụ dân sự nhưng vẫn phải chịu trách nhiệm với bên có quyền, nếu người thứ ba không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ dân sự.

V/d: Nếu A thuê B làm nhà thầu (A là chủ đầu tư) Nếu bỏ đi quy định “khi được bên có quyền đồng ý”

thì dễ xảy ra trường hợp B cho thầu phụ vào để làm

V/d: Nếu A nhờ B trả tiền cho C Nhưng B lấy tiền đi shoping, thì A vẫn phải chịu trách nhiệm đ/v bên cóquyền

MỤC IV THAY ĐỔI CHỦ THỂ TRONG QUAN HỆ NGHĨA VỤ DÂN SỰ

Trong một số trường hợp, một người có thể thế vào vị trí của người có quyền Đây là vấn đề chuyểnquyền yêu cầu

Thông thường, nghĩa vụ sinh ra và chấm dứt giữa những người có quyền và nghĩa vụ ban đầu Tuy nhiên,trong một số trường hợp, một trong 2 phía của quan hệ nghĩa vụ có thay đổi, chúng ta phải quan tâm đến

nó Về sự thay đổi, có thể là thay đổi về phía người có quyền, cũng có thể là sự thay đổi về phía người cónghĩa vụ

I Chuyển giao quyền yêu cầu (thay đổi bên có quyền)

Hai loại

- Chuyển giao quyền yêu cầu theo thỏa thuận

- Chuyển giao quyền yêu cầu theo pháp luật

A) Chuyển giao quyền yêu cầu theo thỏa thuận

+) Không cần sự đồng ý: Khoản 2 Điều 309 BLDS 2005: “việc chuyển giao quyền yêu cầu không cần có

sự đồng ý của bên có nghĩa vụ”

Trang 31

V/d: anh A trúng xổ số Giữa anh A và tổ chức xổ số đó có quan hệ nghĩa vụ trả tiền Nhưng anh A khôngmuốn lộ diện là người trúng xổ số, nên chuyển vé số sang cho chị B là người bán vé số Khi đó, chị B sẽ

là người đi đòi tiền tổ chức xổ số Quan hệ giữa anh A và chị B là chuyển giao quyền yêu cầu Khi anh Abán quyền của mình cho chị bán vé số, thì nghĩa vụ của công ty xổ số không ảnh hưởng Chính vì vậy, khianh A chuyển quyền cho chị B, không cần sự đồng ý của công ty xổ số

+) Cấm chuyển giao: Trong một số trường hợp việc chuyển giao quyền yêu cầu không được phép (khoản

sự đây là nhầm lẫn về mặt lí luận Trong luật của nước ngoài, thì không có điều luật cấm chuyển nhượngnày BLDS 2015 cũng ko có gì thay đổi khi quy định về vấn đề này

+) Hình thức chuyển giao: Về hình thức, việc chuyển giao quyền yêu cầu được thể hiện bằng văn bản hoặc bằng lời nói (Điều 310 BLDS 2005)

Thực chất, quy định này là thừa Khi sửa đổi BLDS 2015, đã bỏ Điều 310 BLDS2005

Tuy nhiên, khi chuyển giao quyền yêu cầu thì phải thông báo cho người có nghĩa vụ biết Khi khôngthông báo, không làm vô hiệu việc chuyển giao quyền yêu cầu mà chỉ hạn chế sự ràng buộc với bên cónghĩa vụ (Điều 314) Việc chuyển giao trở thành không hiệu quả, do bởi: Nếu người có nghĩa vụ khôngbiết, thì họ vẫn thực hiện với người có quyền cũ; Nếu người có quyền mới xuất hiện, người có nghĩa vụkhông tin, thì người có nghĩa vụ không thực hiện nghĩa vụ với người có quyền mới

+) Khi chuyển giao quyền yêu cầu thì người nhận chuyển giao trở thành bên thế quyền Nếu nghĩa vụ đó

có biện pháp bảo đảm, thì các biện pháp bảo đảm được chuyển giao theo (Điều 313) Ví dụ: A vay tiềncủa B A phải trả tiền cho B C đứng ra bảo lãnh để A trả tiền cho B  Nghĩa vụ của A có biện pháp bảođảm là bảo lãnh Nếu B chuyển quyền yêu cầu này sang cho D, câu hỏi đặt ra là C có đứng ra bảo lãnhcho D không? Theo Luật, thì trong trường hợp này, biện pháp bảo đảm của C được chuyển giao theo.Chú ý: Biện pháp bảo đảm là một trong những trường hợp điển hình để chuyển giao cùng, chứ không phải

là trường hợp duy nhất được chuyển giao cùng

B) Chuyển giao quyền yêu cầu theo pháp luật

*) Khái niệm: Việc thay đổi người có quyền không theo thỏa thuận mà xuất phát từ một quy định củapháp luật

Việc chuyển giao này không phụ thuộc vào ý chí của các bên, mà là do luật áp đặt V.d: A xâm phạm tớitài sản của B B được quyền yêu cầu A bồi thường B mất đột ngột, theo luật những người thừa kế của Bđược quyền thay B đòi A. > như vậy, quyền yêu cầu đòi bồi thường của B đã được chuyển giao sang chongười thừa kế, không phụ thuộc vào ý chí của A cũng như B, mà là do luật định

II Chuyển giao nghĩa vụ (thay đổi bên có nghĩa vụ)

*) Khái niệm: Điều 315 BLDS

Trang 32

*) Cần sự ưng thuận của bên có quyền: Điều 315 BLDS

V/d: A vay tiền ngân hàng A có nghĩa vụ trả tiền cho ngân hàng Vì một lí do nào đó A thỏa thuận với B

để B thay A trả tiền cho ngân hàng Đây chính là chuyển giao nghĩa vụ từ A sang B.Khi nghĩa vụ đượcchuyển từ A sang B, thì khả năng thực hiện đã thay đổi (v/d: A có biệt thự, xe hơi; còn B không có gìngoài xe máy)  Người có quyền có thể lo ngại, do vậy, muốn chuyển giao nghĩa vụ cần sự ưng thuận củabên có quyền

*) Hình thức: Bằng văn bản hay lời nói nếu không có quy định khác (Điều 316 BLDS)

*) Chấm dứt biện pháp bảo đảm: Điều 317 BLDS

V/d: anh A vay tiền ngân hàng Ngân hàng không tin tưởng anh A, bắt anh B bảo lãnh Nay anh A chuyểnnghĩa vụ trả tiền sang cho anh C Ngân hàng đồng ý do tin tưởng khả năng thực hiện của anh C Biệnpháp bảo lãnh của anh B không còn ý nghĩa nữa Tuy nhiên, cũng có trường hợp, ngân hàng vẫn yêu cầuanh B phải bảo lãnh, khi đó là theo thỏa thuận

*) Hoàn cảnh của người có nghĩa vụ ban đầu: Người có nghĩa vụ ban đầu có còn trách nhiệm không? Câutrả lời trong buổi thảo luận

B Chuyển giao nghĩa vụ theo pháp luật

*) Khái niệm: Trong thực tế, BLDS còn có quy định cho chuyển giao nghĩa vụ mà không có sự thỏa thuậngiữa các chủ thể

V/d: Người quá cố còn nợ, thì nợ chuyển sang cho người thừa kế

Ngày 13/3/2016

BÀI 2

NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ HỢP ĐỒNG

MỤC I KHÁI QUÁT VỀ HỢP ĐỒNG

I Khái niệm quan hệ hợp đồng (Điều 388 BLDS)

A Quan hệ hợp đồng nhìn từ góc độ nội dung

*) Là một “thỏa thuận” nhưng không phải thỏa thuận nào cũng là hợp đồng:

v/d: anh A thỏa thuận với chị B sau giờ học đi uống cà phê  đây là thỏa thuận nhưng không phải hợpđồng Sau khi chị B đồng ý với anh A, sau đó lại bảo ko đi uống nữa  được

*) Thỏa thuận làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự

B Quan hệ hợp đồng nhìn từ góc độ chủ thể

*) Hợp đồng và hành vi pháp lý đơn phương có điểm chung: đều là giao dịch dân sự (Điều 121)

Hợp đồng phải là kết quả của sự thống nhất ý chí của hai hay nhiều người trở lên (“các bên”) Nếu chỉ là

kết quả của 1 chủ thể thì đó chỉ là hành vi pháp lý đơn phương

II Phân loại hợp đồng dân sự

Điều 406 BLDS

Trang 33

*) Phân loại hợp đồng theo BLDS

+) Chuyển quyền sở hữu/ chuyển quyền sử dụng

+) Phân loại trong nhóm chuyển quyền sở hữu/ sử dụng

III Nguyên tắc điều chỉnh hợp đồng

*) Quan hệ hợp đồng được điều chỉnh bởi một số nguyên tắc như thiện chí, trung thực… Trong cácnguyên tắc này có nguyên tắc tự do hợp đồng là quan trọng nhất

Điều 389 BLDS & Điều 412 BLDS

2 điều luật này không còn được giữ lại trong BLDS 2015  dồn về nguyên tắc cơ bản ở phần chung

*) Nguyên tắc tự do được thừa nhận ở BLDS (điều 4) Chưa có cơ sở để khẳng định nguyên tắc này cógiá trị “hiến định”

*) Với nguyên tắc này, các bên được tự do về nội dung, hình thức và đối tác tham gia hợp đồng

*) Nguyên tắc này có một số giới hạn: các bên không được vi phạm điều cấm (Điều 4) hay phải tuân thủpháp luật (Điều 11)

MỤC II GIAO KẾT HỢP ĐỒNG

I Sự hình thành của hợp đồng

Thông thường hợp đồng xuất phát từ một lời đề nghị Lời đề nghị đó được chấp nhận do đó hợp đồngđược hình thành Tuy nhiên, không phải đề nghị giao kết nào cũng hình thành hợp đồng, mà có nhữngđiều kiện nhất định

1 Đề nghị giao kết hợp đồng

*) Khoản 1, Điều 390 BLDS

*) Thay đổi trong BLDS 2015

Về nội dung, đề nghị giao kết hợp đồng phải là cái thể hiện ý chí của một bên muốn giao kết hợp đồng

Về chủ thể, Điều 390 BLDS theo hướng, lời đề nghị đó phải được gửi đến chủ thể được xác định cụ thể.Nếu thiếu 2 thành tố này thì chưa được coi là một lời đề nghị giao kết hợp đồng, mà chỉ là một đề nghịthông thường

Trang 34

V/d: một người đăng báo cho thuê nhà, nêu rõ địa điểm, nêu rõ tài sản cho thuê, nêu rõ giá Như vậy,người này muốn giao kết, nhưng nó chưa phải là một lời đề nghị giao kết hợp đồng, vì nó gửi đến côngchúng, chứ ko phải là một chủ thể được xác định

V/d: trong một cửa hàng điện thoại, treo giá điện thoại, loại điện thoại…  chưa phải là đề nghị giao kếthợp đồng

BLDS 2015 đã thay đổi, đây là một thay đổi rất quan trọng Tại Điều 386 BLDS 2015,

Tuy nhiên, quy định như thế này là tương đối rộng, cần phải có án lệ để quy định cụ thể

2 Chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng

Điều 396 BLDS 2005

Điều 396 Chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng

Chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng là sự trả lời của bên được đề nghị đối với bên đề nghị về việc chấp nhận toàn

bộ nội dung của đề nghị.

*) Nội dung chấp nhận: BLDS theo hướng, đã chấp nhận thì phải chấp nhận toàn bộ nội dung lời đề nghị

Do đó, nếu chấp nhận, mà ko chấp nhận toàn bộ, thì đó ko là chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng, mà nó

là một lời đề nghị mới lời đề nghị mới phụ thuộc vào sự đồng ý hay ko đồng ý của người đề nghị ban đầuV/d: A nhận vận chuyển hàng theo y/c của B để gửi cho C Theo hợp đồng v/c thì B phải trả tiền cho A,nhưng B gặp khó khăn trong việc thanh toán, và C can thiệp C có gửi cho A một đề xuất bằng văn bảnvới nội dung là C trả thay cho B, nhưng ko phải là mức B đang phải trả cho A (mức 100) mà là ở mứcthấp hơn (mức 70) -> Thư mà C gửi cho A là một lời đề nghị giao kết hợp đồng, mục đích là chấm dứtnghĩa vụ của B đ/v A và hình thành nghĩa vụ của C đối với A A gửi thư chấp nhận lời đề nghị của C,nhưng A không chấp nhận ở mức 70, mà A chỉ chấp nhận ở mức 80 Tất cả dừng lại ở đó Khi xảy ra tranhchấp, tòa phúc thẩm nhận định, giữa A và C chưa có hợp đồng, do A không chấp nhận toàn bộ  Chấpnhận của A là một lời đề nghị mới, mà đề nghị này chưa được C chấp nhận  chưa hình thành hợp đồng

*) Cách thức chấp nhận: BLDS chỉ nói, chấp nhận là trả lời Nhưng thế nào là trả lời thì BLDS lại ko cócâu trả lời Thông thường, trả lời có thể bằng hành động cụ thể (v/d: trong vụ bán đấu giá, sự trả lời bằng

sự gật đầu, bằng giơ tay), tuy nhiên sự im lặng của lời đề nghị có được coi là sự chấp nhận hay không?

Để hiểu rõ hơn về vai trò của im lặng, nghiên cứu 3 tình huống

Trang 35

Tình huống 1: A cho B thuê 1 tài sản với thời hạn 2 năm Trong hợp đồng các bên thỏa thuận trước khi kếtthúc hợp đồng một tháng, mỗi bên được quyền đề nghị kí hợp đồng mới với thời hạn, nội dung tương tự.Các bên cũng thỏa thuận, nếu bên nhận được không trả lời trong vòng 1 tuần, thì coi là chấp nhận  Cácbên đã thỏa thuận sự im lặng chính là sự chấp nhận.

Tình huống 2: A xây nhà cho B, tức là hợp đồng gia công Theo hợp đồng B phải trả cho A một khoảntiền Trong thời gian A xây nhà cho B, thì A đem lòng yêu con gái của B Sau đó, A kết hôn với con gáicủa B A gửi cho B một bức thư, trong đó có nội dung là B không phải trả cho A khoản tiền còn lại Mộtthời gian sau, quan hệ giữa A và con gái của B đổ bể A quay sang kiện đòi B trả tiền Bức thư của A gửicho B là một lời đề nghị giao kết hợp đồng, gửi cho B, mục đích chấm dứt nghĩa vụ cho B Tuy nhiên, B

im lặng Sự im lặng của B có phải là sự chấp nhận hay không?

Tình huống 3: A và B là vợ chồng A kí hợp đồng bán cho cô hàng xóm mảnh đất Trong hợp đồng nàykhông có sự hiện diện của B Cô hàng xóm nhận đất trồng cây, xây nhà Sau đó, đất tăng giá B mới nóirằng, hợp đồng này vô hiệu, do bảo đây là tài sản chung, mà tài sản chung phải cần có sự đồng ý của 2 vợchồng  Trong trường hợp này B biết nhưng im lặng Im lặng có được coi là đồng ý không?

Bản thân sự im lặng chưa giải quyết vấn đề gì cả

Đ//v tình huống 1, chúng ta đã có câu trả lời ở Điều 404 BLDS 2005, khoản 2

Đ/v tình huống 2, 3, hiện nay chưa có văn bản BLDS 2005 chưa có câu trả lời Trong thực tiễn xét xử,trong tình huống 2, xác định là có hợp đồng Còn đối với tình huống thứ 3, tòa án tối cao đang theo hướngbiết mà không phản đối thì coi như đồng ý

Về mặt lí luận, hướng của thực tiễn là thiết thực Trong tình huống 2, Im lặng + lời đề nghị hoàn toàn vìlợi ích của người được đề nghị = đồng ý Trong tình huống 3, Im lặng + biết mà không phản đối = đồng ý

BLDS 2015 khắc phục sự bất cập của BLDS 2005 Tại Điều 393 BLDS 2015, khoản 2,

2 Sự im lặng của bên được đề nghị không được coi là chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng, trừ trường hợp có thỏa thuận hoặc theo thói quen đã được xác lập giữa các bên.

Như vậy, quy định này chưa thỏa mãn được 2 tình huống 2, 3 vừa nêu, vẫn nên duy trì thực tiễn xét xử

3 Giao kết hợp đồng có điều kiện

Điều 125 BLDS 2005

Điều 125 Giao dịch dân sự có điều kiện

1 Trong trường hợp các bên có thỏa thuận về điều kiện phát sinh hoặc hủy bỏ giao dịch dân sự thì khi điều kiện đó xảy ra, giao dịch dân sự phát sinh hoặc hủy bỏ.

2 Trong trường hợp điều kiện làm phát sinh hoặc hủy bỏ giao dịch dân sự không thể xảy ra được do hành vi cố ý cản trở của một bên hoặc của người thứ ba thì coi như điều kiện đó đã xảy ra; nếu có sự tác động của một bên hoặc của người thứ ba cố ý thúc đẩy cho điều kiện để làm phát sinh hoặc huỷ bỏ giao dịch dân sự xảy ra thì coi như điều kiện đó không xảy ra.

Trang 36

Tình huống: A chuyên thiết kế chương trình máy tính B muốn khai thác chương trình máy tính của A 2bên đã thống nhất về giá, cũng như cách thức sử dụng chương trình Nhưng B vẫn còn cảm thấy chưachắc chắn, nên B đã thống nhất với A nội dung, việc triển khai chương trình còn phụ thuộc vào tính khảthi của chương trình máy tính trong môi trường của B Người đánh giá tính khả thi là công ty độc lập C Hợp đồng này cơ bản là thống nhất, nhưng vẫn bị treo ở 1 điều kiện Loại hợp đồng này rất thuận lợi, vìchỉ khi nào điều kiện nảy sinh, thì hợp đồng mới bắt đầu tồn tại

Trong thực tiễn xét xử, Tòa án đã vận dụng Điều 125 BLDS 2005 vào một hoàn cảnh rất phổ biến sau đâyTình huống: A được nhà nước cho thuê nhà Người thuê được quyền hợp thức hóa để trở thành chủ sởhữu Tuy nhiên, vào năm 2015, A có nhu cầu về tài chính, nên A bán cho B A & B kí với nhau hợp đồng.Trong trường hợp này, nếu kí hợp đồng mua bán, thì hợp đồng mua bán này vô hiệu Do trong năm 2015,thì A vẫn chưa phải là chủ sở hữu Các bên đưa nội dung vào hợp đồng: Khi nào A có chủ quyền, thì cácbên tiến hành hoàn tất thủ tục ra công chứng, chứng thực Đầu 2016, A có chủ quyền, nhưng A lại khôngmuốn bán nữa, vì khi đã có giấy chủ quyền thì giá tăng A nói rằng hợp đồng vô hiệu Trước 2015, thìnhững loại giao dịch như thế này là vô hiệu Tuy nhiên, cuối 2015, đầu 2016, Tòa án tối cao thay đổi án

lệ Tòa án tối cao nhận định rằng Hợp đồng mua bán 2015 chưa phải là hợp đồng mua bán mà là hợpđồng mua bán có điều kiện Cho nên đây không phải là hợp đồng mua bán, nên không thể tuyên vô hiệutrong giai đoạn này được Từ năm 2016, lúc A có chủ quyền, thì điều kiện nó đã phát sinh, thì hợp đồngmua bán đã phát sinh, khi đó, không thể vô hiệu vì thiếu chủ quyền, mà chỉ là vô hiệu vì thiếu côngchứng Bên nào không ra công chứng, thì bên đó phải chịu hậu quả

 Án lệ này đã giải quyết được rất nhiều vấn đề trong thực tiễn: công chứng cũng dễ hơn, luật sư tưvấn cũng dễ hơn

4 Thời điểm hợp đồng được giao kết

Việc xác định hợp đồng được giao kết có hệ quả rất quan trọng thứ nhất, về mặt nguyên tắc, thời điểmhợp đồng được giao kết chính là thời điểm hợp đồng bắt đầu có hiệu lực Thứ hai, biết được thời điểmhợp đồng giao kết, chúng ta sẽ biết được áp dụng luật nào

BLDS đã có một điều riêng về thời điểm giao kết hợp đồng tại Điều 404 BLDS 2005

*) Khoản 1, Điều 404 BLDS 2005: được áp dụng trong những trường hợp hợp đồng không được giao kết

trực tiếp và phải qua một quy trình

Tình huống: một tổ chức A mời B làm chuyên gia Tổ chức A đã gửi cho B một bức thư trong đó có nộidung dự thảo hợp đồng B nhận được bức thư và kí đồng ý Sau đó gửi lại cho A Một tuần sau A nhậnđược.Vậy hợp đồng được giao kết ở thời điểm nào, thời điểm B kí gửi đi, hay thời điểm A nhận lại Đ/vloại hợp đồng nêu trên có 2 trường phái

Trường phái 1: Trường phái phát hành Xem hợp đồng được giao kết khi B kí gửi đi Lí do, khi B gửichấp nhận đi, thì đã có lời đề nghị + lời chấp thuận = hợp đồng

Trường phái 2: Trường phái tiếp nhận Xem hợp đồng được giao kết khi A nhận được chấp nhận của B.Việt Nam theo thuyết tiếp nhận

*) Khoản 2, Điều 404 BLDS 2005: Điều luật đề cập đến thời điểm hợp đồng được giao kết, nhưng khoản

này, thì không có câu trả lời cho thời điểm hợp đồng giao kết Khoản 2, Điều 404 BLDS 2005 này phùhợp với Điều 396 BLDS hơn

Trang 37

Quan điểm của giảng viên: Hợp đồng coi như được giao kết vào cuối thời hạn giao kết Vì trong thời hạnnày, người ta có quyền thay đổi ý kiến.

Đây là nội dung được bổ sung trong BLDS 2015, Điều 400, khoản 2: 2 Trường hợp các bên có thỏa thuận im

lặng là sự trả lời chấp nhận giao kết hợp đồng trong một thời hạn thì thời điểm giao kết hợp đồng là thời điểm cuối cùng của thời hạn đó.

*) Khoản 3, Điều 404 BLDS 2005: Hợp đồng được giao kết bằng lời nói, có thể trực tiếp gặp nhau hoặc

qua điện thoại Tuy nhiên, khi nào được xem là các bên thống nhất với nhau về nội dung hợp đồng.V/d: A và B trao đổi với nhau qua điện thoại vào ngày ¼ Hai bên thống nhất là 2 bên bán cho nhau máy

vi tính, B thống nhất cho A về giá, các bên thống nhất 1 tuần sau sẽ giao máy Sau đó, B trả tiền qua tàikhoản 3 ngày sau, A và B gọi điện cho nhau, để trao đổi về địa điểm giao máy, các bên thống nhất sẽ giaomáy tại nhà A Vậy trong trường hợp nào các bên đã thống nhất với nhau bằng lời nói, nhưng thời điểmcác bên thống nhất với nhau ở thời điểm nào? Ngày ¼ hay 3 ngày sau?

Theo ý kiến giảng viên, hợp đồng đã được giao kết vào ngày ¼ Đúng là vào ngày 1/4 , các bên không nói

gì về địa điểm giao máy, tuy nhiên, địa điểm giao máy nếu không có thỏa thuận thì luật điều chỉnh Màtheo quy định của luật, đ/v động sản, thì giao vật tại nhà B Còn 3 ngày sau thì là các bên thay đổi địađiểm (thay đổi nội dung, chứ thực chất nội dung đã được thống nhất)

 Đ/v những nội dung mà luật có điều chỉnh trong trường hợp các bên không có thỏa thuận, thì coinhư các bên đã ngầm thống nhất với luật

*) Khoản 4, Điều 404 BLDS 2005: Giao kết hợp đồng bằng văn bản BLDS theo hướng thời điểm giao

kết hợp đồng là thời điểm bên sau cùng kí vào văn bản

Tình huống: A là công ty vận chuyển, thường mua bảo hiểm tại Cty B Đ/v một lần vận chuyển xe từTPHCM ra miền Bắc, thì A cũng tiến hành mua bảo hiểm nhưng trong một hoàn cảnh khá đặc biệt nhưsau: Khoảng 11 giờ, người của A đến đề xuất mua bảo hiểm Người của B giao phiếu bảo hiểm, rồi ngườicủa A điền thông tin, kí và chuyển sang cho người của B Người của B tiến hành kí đóng dấu Vài phútsau, trao lại một bản cho A Cũng ở thời gian đó, chiếc xe chở những chiếc xe máy bốc cháy Vấn đề mấuchốt đặt ra, cháy ở thời điểm nào, hợp đồng được giao kết ở thời điểm nào Nếu hợp đồng được giao kếttrước khi cháy, thì bên bảo hiểm phải chịu trách nhiệm Nếu hợp đồng được giao kết sau khi cháy, thì bênbảo hiểm không chịu trách nhiệm

Cháy ở thời điểm nào?  công an xác định

Giao kết hợp đồng ở thời điểm nào? A điền thông tin, kí đưa cho B thì đó là lời đề nghị giao kết hợp đồng.Người của B kí, đóng dấu, giao lại cho A Thì công đoạn kí là quan trọng nhất BLDS quy định thời điểm

kí, là thời điểm giao kết hợp đồng

Tuy nhiên, khoản 4, Điều 404 BLDS 2005, đòi hỏi dấu hiệu thời điểm cuối cùng là thời điểm kí Vậytrong trường hợp, v/d: vào bệnh viện, bệnh viện đóng con dấu xác nhận đã nộp tiền, nhưng không kí, thì

xử lí như thế nào?

 Chỉ nên coi kí là một trong những dấu hiệu của sự đồng ý Có thể có những dấu hiệu khác

BLDS 2015 : kí bằng văn bản hay bằng hình thức chấp nhận khác được thể hiện trên văn bản

Về mặt lí luận, chữ kí chức năng để làm gì: Chữ kí chỉ là một chức năng, hình thức của sự chấp nhận thôi

Trang 38

Chú ý: Phân biệt khoản 1, và Khoản 4, BLDS 404 BLDS 2005: khoản 1, khi 2 bên giao dịch có khoảngcách.; khoản 4: gặp nhau trực tiếp.

Tình huống: Mua qua điện thoại, xác lập bằng văn bản Xác định thời điểm giao kết? Đây là vấn đề quantrọng trong lao động, v/d: thử việc được một thời gian, nhưng sau đó, mới kí hợp đồng, thì thời điểm xáclập hợp đồng là thời điểm nào? -> Quan điểm của thầy: ý chí của các bên đã được thống nhất tại thờiđiểm giao kết bằng lời nói, còn hình thức văn bản chỉ để thể hiện lại thôi  Vấn đề này đã được tranhluận tại Quốc hội khi đưa vào dự thảo BLDS 2015 Hiện tại, BLDS 2015 đã đưa nội dung này vào:

4 Thời điểm giao kết hợp đồng bằng văn bản là thời điểm bên sau cùng ký vào văn bản hay bằng hình thức chấp nhận khác được thể hiện trên văn bản.

Trường hợp hợp đồng giao kết bằng lời nói và sau đó được xác lập bằng văn bản thì thời điểm giao kết hợp đồng được xác định theo khoản 3 Điều này.

Lưu ý: Trong giai đoạn giao kết hợp đồng, vấn đề thông tin rất quan trọng Cụ thể, trong thực tiễn xét xử

đã gặp phải những trường hợp, bên bán có 1 thông tin rất quan trọng liên quan đến tài sản nhưng ko thôngbáo cho bên mua V/d: nhà đất nằm trong lộ giới, bên bán biết nhưng bên mua không biết Hoặc bên bán

đã nhận được quyết định của UBND rằng nhà đất này nằm trong quy hoạch, sẽ bị thu hồi nhưng ko cóđền bù BLDS 2005 không có câu trả lời đ/v vấn đề này Tuy nhiên, tòa án tối cao đã dựa trên 2 quy định:

thiện chí và lừa dối BLDS 2015 đã có thay đổi về vấn đề này, Điều 387 BLDS 2015:

Điều 387 Thông tin trong giao kết hợp đồng

1 Trường hợp một bên có thông tin ảnh hưởng đến việc chấp nhận giao kết hợp đồng của bên kia thì phải thông báo cho bên kia biết.

2 Trường hợp một bên nhận được thông tin bí mật của bên kia trong quá trình giao kết hợp đồng thì có trách nhiệm bảo mật thông tin và không được sử dụng thông tin đó cho mục đích riêng của mình hoặc cho mục đích trái pháp luật khác.

3 Bên vi phạm quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều này mà gây thiệt hại thì phải bồi thường.

Thực tế có những trường hợp, không phải là bên bán biết mà bên mua biết

V/d: A ban đầu cho B thuê đất, khi B thuê đất thì B biết trong lòng đất có khoáng sản rất lớn B yêu cầumua đất của A A đồng ý bán, nhưng sau đó biết chuyện thì rất hối tiếc

V/d: Bà A có một bộ ảnh, bán cho anh B lần đầu bà A bán cho anh B một nửa số ảnh Lần sau, anh Bquay lại mua hết số còn lại Sau đó, thì bà A biết được rằng bức ảnh đó mình bán là của nhiếp ảnh gia nổitiếng chụp, giá trị rất lớn

Vậy bên mua nếu biết thông tin thì có phải tiết lộ hay không? Có 2 trường phái: trường phái 1, nếu bên mua cũng phải tiết lộ, thì làm gì có hợp đồng nữa; trường phái 2: nguyên tắc thiện chí

Còn theo quy định của Bộ Luật dân sự 2015 thì bên mua phải cung cấp

II Điều kiện có hiệu lực của hợp đồng

Lưu ý: Hợp đồng được giao kết chưa đủ để phát sinh hệ quả pháp lý mà các bên mong muốn Để có thểlàm phát sinh những hệ quả pháp lý mà các bên mong muốn, hợp đồng phải đáp ứng thêm các điều kiện,

Trang 39

đó là điều kiện có hiệu lực của hợp đồng Trong phần hợp đồng, BLDS không đặt ra điều kiện Nhưnghợp đồng là giao dịch dân sự, nên hợp đồng phải đáp ứng các điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự

Điều 122 Điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự

1 Giao dịch dân sự có hiệu lực khi có đủ các điều kiện sau đây:

a) Người tham gia giao dịch có năng lực hành vi dân sự;

b) Mục đích và nội dung của giao dịch không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội;

c) Người tham gia giao dịch hoàn toàn tự nguyện.

2 Hình thức giao dịch dân sự là điều kiện có hiệu lực của giao dịch trong trường hợp pháp luật có quy định.

1 Điều kiện liên quan đến hợp đồng

*) Về nội dung

Về nội dung, Điều 122 BLDS 2005 theo hướng, giao dịch phải có mục đích và nội dung không vi phạmđiều cấm, không trái đạo đức xã hội Đây là 2 điều kiện đồng thời phải chấp nhận

+) Điều cấm

Điều cấm đã được định nghĩa tại Điều 128 BLDS 2005

Điều 128 Giao dịch dân sự vô hiệu do vi phạm điều cấm của pháp luật, trái đạo đức xã hội

Giao dịch dân sự có mục đích và nội dung vi phạm điều cấm của pháp luật, trái đạo đức xã hội thì vô hiệu.

Điều cấm của pháp luật là những quy định của pháp luật không cho phép chủ thể thực hiện những hành vi nhất định.

Đạo đức xã hội là những chuẩn mực ứng xử chung giữa người với người trong đời sống xã hội, được cộng đồng thừa nhận và tôn trọng.

Về nội hàm của “điều cấm”: trong thực tiễn, đây là nội dung khá khó Nếu pháp luật nói rõ điều cấm, v/d:cấm giao dịch bằng ngoại tệ, thì còn dễ Còn những thứ không được liệt kê, thì có cấm hay không V/d:trong Luật đất đai không có liệt kê quyền của chủ đất trong việc cầm cố đất, thì việc cầm cố đất có bị cấmhay không? Về trường hợp “cầm cố” hiện tại vẫn là một điều chưa rõ

Về nguồn gốc của “điều cấm”: tiêu đề cho thấy đây là điều cấm của pháp luật Do vậy, những thứ không

là pháp luật, thì không phải là điều cấm V/d: Điều lệ Đảng không phải là pháp luật Tuy nhiên, khái

niệm pháp luật quá rộng Trong thực tiễn, có vụ án, ở Bình Định, tòa án đã dựa vào chỉ thị của UBND,

để tuyên hợp đồng vô hiệu Như vậy, điều này ko tốt cho một xã hội tự do Dễ dấn đến trường hợp, cáccấp không quản lý được, thì lại cấm  BLDS 2015 đã thay đổi hoàn toàn, BLDS 2015 đã không còn

dùng từ “điều cấm của pháp luật” mà chuyển thành “điều cấm của luật”.

Trang 40

Điều 117 BLDS 2015, khoản 1, điểm c: c) Mục đích và nội dung của giao dịch dân sự không vi phạm điều cấmcủa luật, không trái đạo đức xã hội

Điều 123, BLDS 2015: Giao dịch dân sự vô hiệu do vi phạm điều cấm của luật, trái đạo đức xã hội

Giao dịch dân sự có mục đích, nội dung vi phạm điều cấm của luật, trái đạo đức xã hội thì vô hiệu.

Điều cấm của luật là những quy định của luật không cho phép chủ thể thực hiện những hành vi nhất định.

Như vậy, hiện nay chỉ Quốc hội mới được cấm (Bàn đạp: Hiến pháp 2013, Điều 14: Quyền công dân,quyền con người chỉ bị hạn chế bởi luật …, tuy nhiên tự do hợp đồng có phải là quyền con người, quyềncông dân chưa?)

+) Về đạo đức xã hội: đạo đức xã hội rất khác điều luật Đạo đức là chuẩn mực của cuộc sống Chính vìvậy là khó Trong thực tiễn hiếm khi tòa án khai thác đạo đức xã hội Vì thứ nhất, điểu cấm của pháp luật

đã đủ rộng, thứ hai, chứng minh trái đạo đức xã hội là khó

Chuẩn mực xã hội thay đổi theo thời gian, nên đạo đức xã hội cũng đã thay đổi, nên phải tùy từng thời kì

để xem đạo đức xã hội

Tình huống: ở Pháp, quan hệ ngoài luồng khá phổ biến 1 người có vợ muốn duy trì quan hệ ngoài luồng,tặng nhân tình cho nhẫn kim cương Tặng cho này có mục đích là duy trì quan hệ ngoài luồng Mà luậtnói, mục đích không được trái đạo đức xã hội Nếu trường hợp người tặng cho bị chết, thì những ngườiđược thừa kế của người tặng cho có quyền yêu cầu tuyên vô hiệu, khi đó khối tặng cho đó chuyển thànhkhối di sản? Trong một thời gian, tòa án tối cao Pháp loại tặng cho đó là trái thuần phong mỹ tục, và nó

vô hiệu Tuy nhiên, từ những năm sau, tòa án tối cao Pháp lại thay đổi án lệ, cho rằng bản thân hành động

đó không bị vô hiệu

Ngày 15/3/2016

Điều kiện có hiệu lực của hợp đồng

Về hình thức

*) Khái niệm: hình thức của hợp đồng là cái thể hiện ra bên ngoài ý chí của các bên Điều 122, BLDS

2005 theo hướng tiếp cận: Hình thức là điều kiện có hiệu lực trong trường hợp pháp luật có quy định.Như vậy, nếu không có quy định của pháp luật, thì hợp đồng được tự do về hình thức

Ví dụ: Trong hợp đồng mua bán, BLDS không nói gì về hình thức của hợp đồng mua bán Do vậy, hợpđồng được tự do về hình thức

Sự thay đổi trong BLDS 2015: điều 117, khoản 2: 2 Hình thức của giao dịch dân sự là điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự trong trường hợp luật có quy định.

BLDS 2015, củng cố thêm điều này, và theo triết lí, cứ hạn chế tự do, là phải luật

Vậy có những loại hình thức bắt buộc nào trong Luật Việt Nam?

Điều 124, BLDS 2005:

Điều 124 Hình thức giao dịch dân sự

Ngày đăng: 29/09/2017, 23:07

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w