1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Tiểu luận luật hợp đồng chủ đề các biện pháp đảm bảo trong luật hợp đồng UEL 2018

36 115 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 36
Dung lượng 359,54 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài tiểu luận điểm giữa kì môn luật hợp đồng UEL 2018. Với chủ đề các biện pháp đảm bảo hợp đồng, được tổng hợp từ nhiều nguồn, chủ yếu là từ bọ luật hợp đồng sửa đổi năm 2015. Bài tiểu luận gồm nhiều mục, chủ yếu liên quan đến kiến thức luật kinh tế.

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - LUẬT

Môn: Luật hợp đồng

CÁC BIỆN PHÁP ĐẢM BẢO TRONG

BỘ LUẬT DÂN SỰ VIỆT NAM

Trang 2

MỤC LỤC

I Khái niệm và đặc điểm của các biện pháp đảm bảo 3

1.1 Khái niệm 3

1.2 Đặc điểm 3

II Các biện pháp đảm bảo trong Bộ luật Dân sự Việt Nam 4

2.1 Các biện pháp đảm bảo trog Bộ luật Dân sự 4

2.1.1 Ký quỹ 6

2.1.2 Ký cược 7

2.1.3 Cầm giữ tài sản 9

2.1.4 Cầm cố tài sản 11

2.1.5 Thế chấp tài sản 12

2.1.6 Đ t cọc ặt cọc 13

2.1.7 Bảo lưu quyền sở hữu 15

2.1.8 Bảo lãnh 16

2.1.9 Tín chấp 17

2.2 Các chủ thể trong quan hệ bảo đảm 19

2.2.1 Bên bảo đảm 19

2.2.2 Bên nhận bảo đảm 19

2.3 Hình thức bảo đảm trong Bộ Luật Dân Sự Việt Nam 19

2.4 Nghĩa vụ được đảm bảo trong Bộ Luật Dân Sự Việt Nam 22

2.4.1 Nghĩa vụ chuyển giao quyền 22

2.4.2 Nghĩa vụ chuyển giao tài sản 22

2.4.3 Nghĩa vụ trả tiền hoặc giấy tờ có giá 24

2.4.4 Nghĩa vụ thực hiện công việc khác 26

2.5 Xử lý tài sản đảm bảo 29

2.5.1 Các trường hợp xử lý tài sản bảo đảm 29

2.5.2 Các phương thức xử lý tài sản cầm cố, thế chấp 30

2.5.3 Thủ tục xử lý tài sản bảo đảm 32

2.6 Phạm vi nghĩa vụ đảm bảo 35

III Tài liệu tham khảo 36

Trang 3

I Khái niệm và đặc điểm của các biện pháp đảm bảo

1.1 Khái niệm

Biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự là biện pháp trong đó một bên sửdụng tài sản thuộc quyền sở hữu của mình hoặc sử dụng uy tín của mình (gọi là bên bảođảm) để bảo đảm cho việc thực hiện nghĩa vụ dân sự của chủ thể mình hoặc của chủ thểkhác (gọi là bên bảo đảm)

1.2 Đặc điểm

Bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự cho phép các chủ thể trong giao dịch dân sự đặt

ra các biện pháp để đảm bảo cho một nghĩa vụ dân sự chính được thực hiện, đồng thờixác định và bảo đảm quyền, nghĩa vụ của các bên trong các biện pháp đó

Hiểu theo một cách khác, bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự là việc thỏa thuận giữacác bên nhằm qua đó đặt ra các biện pháp tác động mang tính chất dự phòng để bảo đảmcho việc thực hiện nghĩa vụ, đồng thời ngăn ngừa và khắc phục những hậu quả xấu doviệc không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ gây ra

Phụ thuộc vào nội dung, tính chất của từng quan hệ nghĩa vụ mà mỗi biện pháp bảođảm mang một đặc điểm riêng biệt Tuy nhiên, tất cả các biện pháp bảo đảm đều có cácđặc điểm chung sau đây:

Các biện pháp bảo đảm mang tính chất bổ sung cho nghĩa vụ chính.

Sự phụ thuộc thể hiện ở chỗ: khi có quan hệ nghĩa vụ chính thì các bên mới cùngnhau thiết lập một biện pháp bảo đảm Nghĩa là việc bảo đảm thực hiện nghĩa vụ khôngtồn tại một cách độc lập

Các biện pháp bảo đảm đều có mục đích nâng cao trách nhiệm của các bên trong quan hệ nghĩa vụ dân sự.

Thông thường, khi đặt ra biện pháp bảo đảm, các bên hướng tới mục đích nâng caotrách nhiệm thực hiện nghĩa vụ của người có nghĩa vụ Ngoài ra, trong nhiều trường hợp,

Trang 4

các bên còn hướng tới mục đích nâng cao trách nhiệm trong giao kết hợp đồng của cả haibên.

Đối tượng của các biện pháp bảo đảm là những lợi ích vật chất

Lợi ích vật chất là đối tượng của các biện pháp bảo đảm thường là một tài sản Cácđối tượng này phải có đủ các yếu tố mà pháp luật đã yêu cầu đối với một đối tượng củanghĩa vụ dân sự nói chung

Phạm vi bảo đảm của các biện pháp bảo đảm không được vượt quá phạm vi nghĩa vụ đã được xác định trong nội dung của quan hệ nghĩa vụ chính.

Khoản 1, điều 293 BLDS 2015 quy định: “Nghĩa vụ có thể được bảo đảm một phần

hoặc toàn bộ theo thỏa thuận hoặc theo quy định của pháp luật; nếu không có thỏa thuận

và pháp luật không quy định phạm vi bảo đảm thì nghĩa vụ coi như được bảo đảm toàn

bộ, kể cả nghĩa vụ trả lãi, tiền phạt và bồi thường thiệt hại.”

Các biện pháp bảo đảm nghĩa vụ chỉ được áp dụng khi có sự vi phạm nghĩa vụ

Cho dù các bên đã đặt lại ra một biện pháp bảo đảm bên cạnh một nghĩa vụ chínhnhưng vẫn không cần phải áp dụng biện pháp bảo đảm đó nếu nghĩa vụ chính đã đượcthực hiện một cách đầy đủ

Các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ được xác lập từ sự thỏa thuận giữa các bên.

Các bên tự thỏa thuận về việc lựa chọn biện pháp bảo đảm nào để bảo đảm việc thựchiện nghĩa vụ, đồng thời cách thức và toàn bộ nội dung của một biện pháp bảo đảm đều làkết quả của sự thỏa thuận giữa các bên

II Các biện pháp đảm bảo trong Bộ luật Dân sự Việt Nam

2.1 Các biện pháp đảm bảo trog Bộ luật Dân sự

Trang 5

Các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ được sử dụng từ khá lâu trong đời sốngthực tiễn nhưng chủ yếu phát huy tác dụng trong lĩnh vực tín dụng ngân hàng Từ thựctiễn này, hiện tại ở Việt Nam tồn tại song song hai hệ thống các quy định về giao dịchbảo đảm, hệ thống các quy định về giao dịch bảo đảm nói chung áp dụng với tất cả cácgiao dịch dân sự và hệ thống các biện pháp bảo đảm áp dụng tại các tổ chức tín dụng.Trong đó tập hợp các quy định của Bộ luật dân sự (BLDS) về giao dịch bảo đảm giữ vaitrò làm nền tảng cơ bản, trên cơ sở này, với những đặc thù riêng của lĩnh vực ngân hàng,

có các quy định riêng cho lĩnh vực này

Các quan điểm cơ bản khi xây dựng BLDS 2015 cũng được cụ thể hóa rõ nét trongcác quy định về các BPBĐ, trong đó nổi bật quan điểm: “Tạo cơ chế pháp lý hữu hiệu đểcông nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền dân sự của các cá nhân, pháp nhân, đặcbiệt là trong việc bảo vệ quyền, lợi ích của bên yếu thế, bên thiện chí trong quan hệ dânsự; hạn chế đến mức tối đa sự can thiệp của cơ quan công quyền vào việc xác lập, thayđổi, chấm dứt các quan hệ dân sự, tạo điều kiện thuận lợi để thúc đẩy sản xuất, kinhdoanh, sử dụng có hiệu quả mọi nguồn lực xã hội, bảo đảm sự thông thoáng, ổn địnhtrong giao dịch dân sự” BLDS 2015 là luật chung của hệ thống pháp luật dân sự Vì vậy,các quy định về các BPBĐ trong BLDS 2015 cũng là những quy định chung của phápluật về các BPBĐ Pháp luật về các BPBĐ được hiểu là bao gồm tất cả các quy định vềBPBĐ trong hệ thống pháp luật, có thể được quy định trong rất nhiều lĩnh vực như phápluật về đất đai (thế chấp quyền sử dụng đất), trong pháp luật về nhà ở (thế chấp nhà ở),trong pháp luật về hàng không (thế chấp tàu bay), pháp luật về hàng hải (thế chấp tàubiển) v.v…, trong đó các quy định về BPBĐ trong BLDS 2015 là các quy định chung vàtrong mỗi lĩnh vực pháp luật chuyên ngành có thể có các quy định riêng khác với các quyđịnh chung, nhưng không được trái với các nguyên tắc cơ bản trong BLDS 2015

Có thể khẳng định, BLDS 2015 đã thể hiện sâu sắc quyền tự do thỏa thuận của cácbên trong việc xác lập, thực hiện, sửa đổi, bổ sung và chấm dứt BPBĐ, kể cả khi xác địnhthứ tự ưu tiên thanh toán trong trường hợp xử lý tài sản bảo đảm Các bên được thỏathuận lựa chọn BPBĐ phù hợp, thỏa thuận về loại tài sản hiện có hoặc hình thành trong

Trang 6

tương lai dùng để bảo đảm, phạm vi bảo đảm lớn hơn, bằng hoặc nhỏ hơn giá trị củanghĩa vụ được bảo đảm; thỏa thuận về phương thức xử lý tài sản bảo đảm

2.1.1 Ký quỹ

Ký quỹ là một trong những biện pháp bảo đảm việc thực hiện nghĩa vụ dân sự, bồi

thường thiệt hại cho bên có quyền khi bên bảo đảm không thực hiện hoặc thực hiện

không đúng nghĩa vụ Được quy định tại điều 360 Bộ luật dân sự 2005 về ký quỹ như

sau: “1 Ký quỹ là việc bên có nghĩa vụ gửi một khoản tiền hoặc kim khí quí, đá quí hoặcgiấy tờ có giá khác vào tài khoản phong toả tại một ngân hàng để bảo đảm việc thực hiệnnghĩa vụ dân sự.”

Với biện pháp ký quỹ 2 bên có thể mở một tài khoản tại ngân hàng nhưng khôngđược dùng tài khoản khi chưa chấm dứt hợp đồng Mặc dù vẫn là chủ của tài khoản đónhưng bên có nghĩa vụ không được thực hiện bất kỳ một giao dịch rút tiền nào từ tàikhoản đó bởi số tài khoản ký quỹ đó được xác định để bảo đảm việc thực hiện nghĩa vụtrước bên có quyền

Tài sản dùng để ký quỹ cũng tương tự như tài sản dùng để đặt cọc, ký cược đó làtiền, kim khí quý, đá quý, giấy tờ có giá được bằng tiền Khác với cầm cố tài sản đối với

ký quỹ, quyền tài sản không thể được dùng để ký quỹ

Trong khi đặt cọc và ký cược thì tài sản bảo đảm được giao cho bên nhận bảo đảmcòn đối với ký quỹ, tài sản không được giao cho bên nhận bảo đảm Việc ký quỹ có thểđược thực hiện trước khi xác định được bên có quyền Hướng dẫn về giao dịch bảo đảm

ký quỹ, Điều 34 Nghị định 163/2006/NĐ-CP quy định: Tài sản ký quỹ theo quy định tại

khoản 1 Điều 360 Bộ luật Dân sự được gửi vào tài khoản phong toả tại ngân hàng thươngmại để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự Bên ký quỹ có thể thực hiện việc ký quỹ tàisản một lần hoặc nhiều lần tùy theo thỏa thuận của các bên hoặc pháp luật quy định

Trang 7

Theo Nghị định 83/2010/NĐ-CP về đăng ký giao dịch bảo đảm, điều 3 liệt kê các

giao dịch bảo đảm yêu cầu phải đăng ký không liệt kê biện pháp bảo đảm ký quỹ, vì vậy

ký quỹ là giao dịch bảo đảm không bắt buộc phải đăng ký nếu không có yêu cầu của cácbên, vẫn có hiệu lực nếu các bên tuân thủ đúng các quy định của pháp luật

Mục đích: Trong ký quỹ bên bảo đảm là bên có nghĩa vụ cam kết bảo đảm thựchiện nghĩa vụ dân sự, bên nhận bảo đảm là bên có quyền được ngân hàng thanh toán bồithường thiệt hại khi bên bảo đảm không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụcủa mình

Hậu quả pháp lý : Điều 37 Nghị định 163/2006/NĐ-CP quy định về nghĩa vụ của

bên ký quỹ như sau:

“Nghĩa vụ của bên ký quỹ

1 Thực hiện ký quỹ tại ngân hàng mà bên có quyền được ngân hàng thanh toán,bồi thường thiệt hại chỉ định hoặc chấp nhận

2 Nộp đủ tài sản ký quỹ theo đúng thoả thuận với bên có quyền được ngân hàngthanh toán, bồi thường thiệt hại

3 Thoả thuận với ngân hàng nơi ký quỹ về điều kiện thanh toán theo đúng cam kếtvới bên có quyền được ngân hàng thanh toán, bồi thường thiệt hại.”

2.1.2 Ký cược

Ký cược là một trong những biện pháp bảo đảm nghĩa vụ dân sự khoản 1 Điều

359, Bộ luật dân sự 2005 quy định: “ký cược là việc bên thuê tài sản là động sản giao

cho bên thuê một khoản tiền hoặc kim khí quí, đá quý hoặc vật có giá trị khác (sau đâygọi là tài sản ký cược) trong một thời hạn để bảo đảm việc trả lại tài sản thuê”

Nội dung: Biện pháp này được áp dụng để đảm bảo cho việc trả lại tài sản tronghợp đồng thuê tài sản Tài sản thuê có tính chất của động sản, có sự chuyển giao từ bên

Trang 8

cho thuê sang bên thuê Ký cược cũng mang đặc tính có khả năng thanh khoản cao như:tiền, kim khí quý, đá quý, các tài sản có giá trị khác Giá trị của tài sản ký cược ít nhấtphải tương đương với giá trị tài sản thuê, vì nó bao gồm cả giá trị tài sản thuê và khoảntiền thuê để bồi thường cho bên thuê nếu tài sản thuê không được trả lại Do vậy, nhữngbiện pháp này cũng chủ yếu được áp dụng đối với những hợp đồng thuê tài sản có giá trịnhỏ, hay việc sử dụng tài sản dễ bị hư hỏng.

Mục đích: Ký cược có mục đích nhằm đảm bảo

 Bên nhận ký cược lấy tiền thuê tài sản;

 Bên ký cược lấy lại toàn bộ tài sản hay một phần giá trị tài sản cho thuê trongtrường hợp tài sản cho thuê không còn hoặc trong trường hợp bên thuê không trảlại tài sản thuê

Vì vậy khi ký cược, hai bên phải thoả thuận về thời hạn khi nào bên thuê phải giaolại tài sản Thời hạn ký cược là thời hạn cho thuê tài sản Về hình thức ký cược, Bộ luậtdân sự 2005 không quy định phải được thành lập văn bản, do đó việc ký cược không nhấtthiết phải được thành lập văn bản mà có thể thoả thuận bằng miệng cũng có giá trị pháp

lý Tuy nhiên, cần lưu ý rằng, đối với trường hợp tài sản có đăng ký quyền sở hữu thì vănbản ký cược là chứng cứ để bên cho thuê tài sản thực hiện đăng ký chuyển quyền sở hữutài sản ký cược từ bên thuê sang bên cho thuê

Hậu quả pháp lý đối với ký cược: Nếu đến hạn bên thuê trả lại tài sản thuê theođúng thoả thuận thì tài sản kí cược được trả lại cho bên thuê sau khi trừ tiền thuê; nếu đếnhạn bên thuê không trả lại tải sản thuê thì tài sản ký cược thuộc sở hữu của bên cho thuê.Khi đó bên thuê phải có nghĩa vụ tiến hành các thủ tục pháp lý cần thiết để sang tên,chuyển quyền sở hữu tài sản ký cược Với hậu quả pháp lý như trên ta sẽ thấy rằng trongviệc xử lý tài sản ký cược có các trường hợp sau:

 Bên thuê trả lại tài sản thuê Khi bên thuê trả lại tài sản thì bên cho thuê phải trả lạitài sản ký cược, nhưng được trừ tiền thuê chưa trả Để thực hiện được việc trả lại

Trang 9

tài sản ký cược và tài sản thuê thì bên thuê phải có nghĩa vụ giữ gìn tài sản thuê và

sử dụng đúng mục đích đã thuê, đúng công dụng của tài sản đã thuê, và bên chothuê (bên nhận ký cược) có nghĩa vụ bảo quản, giữ gìn tài sản ký cược; khôngđược khai thác, sử dụng tài sản đó, không được xác lập giao dịch đối với tài sản kýcược, trừ trường hợp bên ký cược đồng ý Nếu bên ký cược không đồng ý cho bênnhận ký cược sử dụng tài sản ký cược thì bên ký cược có quyền yêu cầu bên nhận

ký cược ngừng việc sử dụng tài sản ký cược, nêu do sử dụng tài sản ký cược cónguy cơ bị mất giá trị hoặc giảm sút giá trị

 Bên thuê cố tình không trả lại tài sản thuê Trường hợp bên thuê cố tình không trảlại tài sản thuê thì bên cho thuê có thể yêu cầu toà án buộc bên thuê phải trả lại tàisản thuê và việc trả tài sản thuê và tài sản ký cược được thực hiện cùng lúc

 Tài sản thuê không còn để trả lại vì lý do mất mát hay tiêu huỷ hoặc bị mất khôngphải do lỗi cố ý của bên thuê Trường hợp này tài sản ký cược thuộc về bên chothuê và khi đó chấm dứt nghĩa vụ của bên thuê đối với bên cho thuê Nếu tài sảnthuê hoặc tài sản ký cược có sự thay đổi về giá trị theo bất cứ hướng nào thì cácbên không có yêu cầu thanh toán chênh lệnh

2.1.3 Cầm giữ tài sản

Theo quy định tại Điều 346 BLDS 2015 “Cầm giữ tài sản là việc bên có quyền

(sau đây gọi là bên cầm giữ) đang nắm giữ hợp pháp tài sản là đối tượng của hợp đồngsong vụ được chiếm giữ tài sản trong trường hợp bên có nghĩa vụ không thực hiện hoặcthực hiện không đúng nghĩa vụ” Tuy nhiên, cũng cần lưu ý rằng, tài sản cầm giữ phải cómối “liên quan mật thiết” với nghĩa vụ cần được bảo đảm bằng việc cầm giữ Cầm giữ tàisản về bản chất là một biện pháp gây sức ép với mục đích tự bảo vệ

Tính chất bảo đảm của biện pháp này nằm ở việc nắm giữ tài sản (là nắm giữ tàisản chứ không phải là nắm giữ quyền sở hữu tài sản) Do đó, việc xác lập biện pháp cầmgiữ được tiến hành một cách hết sức đơn giản cả trong luật Việt Nam lẫn ở trong luậtPháp, chỉ bằng việc nắm giữ tài sản (không giao tài sản cho bên có nghĩa vụ) Đây là

Trang 10

trường hợp duy nhất theo quy định của luật Việt Nam hiện hành mà biện pháp bảo đảmkhông được xác lập trên cơ sở thoả thuận của các bên (hay hợp đồng) mà được xác lậpbằng các quy định của pháp luật

Việc cầm giữ tài sản tạo ra cho bên có quyền một số quyền đi kèm với các nghĩa

vụ nhất định Ví dụ như các quyền yêu cầu bên có nghĩa vụ phải thực hiện đầy đủ nghĩa

vụ phát sinh từ hợp đồng song vụ, yêu cầu bên có nghĩa vụ phải thanh toán chi phí cầnthiết cho việc bảo quản, giữ gìn tài sản cầm giữ… Tuy nhiên, bên cầm giữ không cóquyền yêu cầu xử lý tài sản cầm giữ để thực hiện quyền của mình Đây chính là điểm làmnên sự khác biệt của cầm giữ so với các biện pháp bảo đảm khác Bên cầm giữ chỉ cóquyền nắm giữ tài sản (không giao tài sản), cũng cần nhấn mạng lần nữa rằng cầm giữ vềmặt vật chất đối với tài sản Điều này cũng có nghĩa rằng tính chất bảo đảm còn tồn tạichừng nào tài sản còn nằm trong tay của bên cầm giữ

Có ý kiến cho rằng cầm giữ tài sản không phải là biện pháp bảo đảm mà là hậuquả pháp lý do pháp luật quy định khi xảy ra vi phạm trong một số hợp đồng nhất định, ví

dụ: hợp đồng gửi giữ tài sản, dịch vụ Do đó, chế định này không xuất hiện ở điều 318 BLDS 2005 tại phần các biện pháp bảo đảm, mà chuyển vào phần thực hiện hợp đồng để

áp dụng cho các trường hợp pháp luật có quy định về cầm giữ tài sản

Đây là các biện pháp còn có ý kiến khác nhau, do đó, cần tiếp tục nghiên cứu để làm

rõ hơn các nội dung cần điều chỉnh Tuy nhiên, Cầm giữ có thể được coi là một biện phápđảm bảo thực hiện nghĩa vụ dân sự vì: Mục đích của cầm giữ tài sản nhằm để đảm bảothực hiện nghĩa vụ (gây thiệt hại cho bên có quyền, một trong những biện pháp có thểgóp phần hạn chế thiệt hại, ngăn chặn rủi ro cho bên có quyền, tạo điều kiện cho bên cóquyền bảo vệ quyền lợi của mình):

 Đối tượng của cầm giữ là là những lợi ích vật chất

 Phạm vi bảo đảm không vượt quá phạm vi nghĩa vụ đã được xác định trong nộidung của quan hệ nghĩa vụ chính

 Chỉ áp dụng khi có sự vi phạm nghĩa vụ

Trang 11

2.1.4 Cầm cố tài sản

Cầm cố tài sản là một biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự, cụ thể là biệnpháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trả nợ của khách hàng vay vốn

Theo quy định tại điều 326 của Bộ luật dân sự 2005 thì: “Cầm cố tài sản là việc

một bên (sau đây gọi là bên cầm cố) giao tài sản thuộc quyền sở hữu của mình cho bênkia (sau đây gọi là bên nhận cầm cố) để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự”

Như vậy cầm cố tài sản là một giao dịch dân sự, theo đó bên cầm cố là bên cónghĩa vụ hoặc là người thứ ba, phải giao cho bên nhận cầm cố là bên có quyền một hoặcmột số tài sản để đảm bảo việc thực hiện nghĩa vụ của bên có nghĩa vụ với bên có quyền

Cầm cố tài sản để bảo đảm tiền vay trong hoạt động cho vay vốn là giao dịch dân

sự được giao kết giữa một bên là tổ chức tín dụng cho vay với chủ thể khác Trong đó,bên nhận cầm cố chính là tổ chức tín dụng cho vay Bên cầm cố tài sản bảo đảm tiền vaythông thường là bên vay, trong trường hợp này thì bên cầm cố đồng thời là bên có nghĩa

vụ Ngoài ra, có nhiều trường hợp, bên cầm cố tài sản bảo đảm tiền vay là bên thứ ba,trong trường hợp này thì bên cầm cố là người giao tài sản thuộc sở hữu của mình cho bêncho vay để đảm bảo việc trả nợ của người khác cho bên cho vay

Bất kể tài sản nào cũng có thể dùng để bảo đảm tiền vay nhưng phải thuộc sở hữucủa bên cầm cố Như vậy, tài sản cầm cố là tài sản của bên vay nếu bên vay đồng thời làbên cầm cố hoặc thuộc sở hữu của bên thứ ba nếu người thứ ba là người cầm cố để bảođảm việc thực hiện nghĩa vụ của người khác Ngoài ra, tài sản cầm cố còn có thể là vậnđơn, thẻ tiết kiệm, giấy tờ có giá

Theo điều 327 Bộ luật dân sự 2005 quy định: “Việc cầm cố tài sản phải được lập

thành văn bản, có thể lập thành văn bản riêng ghi trong hợp đồng chính”

Theo quy định trên thì mọi trường hợp về cầm cố tài sản đều phải xác lập bằnghình thức văn bản, việc cầm cố có thể lập thành một văn bản riêng hoặc được xác định

Trang 12

trực tiếp trong nội dung của hợp đồng tín dụng.Cầm cố tài sản có hiệu lực kể từ thời điểmchuyển giao tài sản cho bên nhận cầm cố Thời hạn cầm cố tài sản thường được các bênthỏa thuận căn cứ vào thời hạn vay của hợp đồng tín dụng được đảm bảo bằng biện phápcầm cố đó Trong trường hợp không có thỏa thuận thì thời hạn cầm cố tính từ thời điểmtài sản cầm cố được chuyển giao cho bên nhận cầm cố cho đến khi nghĩa vụ trả nợ vayđược hoàn thành hoặc biện pháp cầm cố được chấm dứt theo các căn cứ khác.

2.1.5 Thế chấp tài sản

Thế chấp tài sản là việc một bên (sau đây gọi là bên thế chấp) dùng tài sản thuộc

sở hữu của mình để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ và không giao tài sản cho bên kia (sau

đây gọi là bên nhận thế chấp) Tài sản thế chấp do bên thế chấp giữ Các bên có thể thỏa

thuận giao cho người thứ ba giữ tài sản thế chấp

Hiệu lực của thế chấp tài sản khi hợp đồng thế chấp tài sản có hiệu lực từ thờiđiểm giao kết, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác, thế chấp tàisản phát sinh hiệu lực đối kháng với người thứ ba kể từ thời điểm đăng ký

Nghĩa vụ của bên thế chấp về việc giao giấy tờ liên quan đến tài sản thế chấp trongtrường hợp các bên có thỏa thuận, trừ trường hợp luật có quy định khác Bảo quản, giữgìn tài sản thế chấp Áp dụng các biện pháp cần thiết để khắc phục, kể cả phải ngừng việckhai thác công dụng tài sản thế chấp nếu do việc khai thác đó mà tài sản thế chấp có nguy

cơ mất giá trị hoặc giảm sút giá trị Khi tài sản thế chấp bị hư hỏng thì trong một thờigian hợp lý bên thế chấp phải sửa chữa hoặc thay thế bằng tài sản khác có giá trị tươngđương, trừ trường hợp có thoả thuận khác Cung cấp thông tin về thực trạng tài sản thếchấp cho bên nhận thế chấp Giao tài sản thế chấp cho bên nhận thế chấp để xử lý khi

thuộc một trong các trường hợp xử lý tài sản bảo đảm quy định tại Điều 299 của Bộ luật Dân sự Thông báo cho bên nhận thế chấp về các quyền của người thứ ba đối với tài sản

thế chấp, nếu có; trường hợp không thông báo thì bên nhận thế chấp có quyền huỷ hợpđồng thế chấp tài sản và yêu cầu bồi thường thiệt hại hoặc duy trì hợp đồng và chấp nhận

Trang 13

quyền của người thứ ba đối với tài sản thế chấp Không được bán, thay thế, trao đổi, tặng

cho tài sản thế chấp, trừ trường hợp quy định tại khoản 4 và khoản 5 Điều 321 của Bộ luật Dân sự.

Quyền của bên thế chấp được khai thác công dụng, hưởng hoa lợi, lợi tức từ tàisản thế chấp, trừ trường hợp hoa lợi, lợi tức cũng là tài sản thế chấp theo thoả thuận Đầu

tư để làm tăng giá trị của tài sản thế chấp Nhận lại tài sản thế chấp do người thứ ba giữ

và giấy tờ liên quan đến tài sản thế chấp do bên nhận thế chấp giữ khi nghĩa vụ được bảođảm bằng thế chấp chấm dứt hoặc được thay thế bằng biện pháp bảo đảm khác Đượcbán, thay thế, trao đổi tài sản thế chấp, nếu tài sản đó là hàng hoá luân chuyển trong quátrình sản xuất, kinh doanh Được bán, trao đổi, tặng cho tài sản thế chấp không phải làhàng hóa luân chuyển trong quá trình sản xuất, kinh doanh, nếu được bên nhận thế chấpđồng ý hoặc theo quy định của luật Được cho thuê, cho mượn tài sản thế chấp nhưngphải thông báo cho bên thuê, bên mượn biết về việc tài sản cho thuê, cho mượn đangđược dùng để thế chấp và phải thông báo cho bên nhận thế chấp biết

2.1.6 Đặt cọc

Đặt cọc là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó một bên giao cho bên kia một

khoản tiền hoặc một tài sản có giá trị khác trong một thời hạn nhất định để bảo đảm choviệc giao kết hoặc thực hiện hợp đồng dân sự

Tài sản mà một bên giao cho bên kia chỉ được coi là tài sản đặt cọc nếu trong vănbản đặt cọc đã xác định là tài sản đặt cọc Các trường hợp khác đều được coi là tiền trảtrước, ứng trước

Mục đích nói chung của đặt cọc là “đảm bảo giao kết hoặc thực hiện hợp đồng dânsự” Tuy nhiên, trong từng trường hợp, cần phải xác định rõ mục đích của việc đặt cọc đó

là để đảm bảo việc giao kết hợp đồng hay đảm bảo việc thực hiện hợp đồng hay đảm bảocho cả hai

Trang 14

Trong trường hợp việc đặt cọc có mục đích là đảm bảo cho việc giao kết hợpđồng, bên đặt cọc từ chối việc giao kết hợp đồng dân sự thì tài sản đặt cọc thuộc về bênnhận đặt cọc; nếu bên nhận đặt cọc từ chối việc giao kết hợp đồng dân sự thì phải trả chobên đặt cọc tài sản đặt cọc và một khoản tiền tương đương giá trị tài sản đặt cọc, trừtrường hợp có thoả thuận khác.

Trong trường hợp việc đặt cọc có mục đích vừa đảm bảo việc giao kết hợp đồng,vừa đảm bảo việc thực hiện hợp đồng thì khi hợp đồng dân sự được giao kết, thực hiệnthì tài sản đặt cọc được trả lại cho bên đặt cọc hoặc được trừ để thực hiện nghĩa vụ trảtiền; nếu bên đặt cọc từ chối việc giao kết hoặc không thực hiện hợp đồng dân sự thì tàisản đặt cọc thuộc về bên nhận đặt cọc; nếu bên nhận đặt cọc từ chối việc giao kết hoặckhông thực hiện hợp đồng dân sự thì phải trả cho bên đặt cọc tài sản đặt cọc và mộtkhoản tiền tương đương giá trị tài sản đặt cọc, trừ trường hợp có thỏa thuận khác

Khác với quy định của Bộ luật dân sự 2015 về đặt cọc, Bộ luật dân sự 2005 đã quyđịnh thỏa thuận đặt cọc phải được lập thành văn bản Thỏa thuận đặt cọc có thể được thểhiện bằng một văn bản riêng nhưng cũng có thể được thể hiện bằng một điều khoản tronghợp đồng chính thức Đối với đặt cọc nhằm giao kết hợp đồng thì việc đặt cọc phải đượcthể hiện bằng văn bản riêng vì tại thời điểm giao kết thỏa thuận đặt cọc thì hợp đồng chưađược hình thành Bên cạnh đó, pháp luật cũng không quy định thỏa thuận đặt cọc bắtbuộc phải công chứng, chứng thực mà tùy vào sự thỏa thuận của các bên

Như vậy, nếu hai bên chủ thể thỏa thuận đặt cọc vào thời điểm Bộ luật dân sự năm

2005 điều chỉnh thì thỏa thuận phải được lập thành văn bản, đối với thỏa thuận bằngmiệng thì sẽ không có giá trị pháp lý Còn tại thời điểm Bộ luật dân sự năm 2015 điềuchỉnh thì thỏa thuận đặt cọc có thể xác lập bằng bất cứ hình thức nào, đây cũng là điểmmới mang tính chất tích cực đối với pháp luật Việt Nam Giao dịch dân sự được hìnhthành dựa trên sự thỏa thuận, thiện chí, tin tưởng lẫn nhau nên pháp luật ngày càng hướngtới sự tự do trong các cơ chế thỏa thuận, tuy nhiên vẫn phải đảm bảo không vi phạm điềucấm của luật, không trái đạo đức xã hội

Trang 15

2.1.7 Bảo lưu quyền sở hữu

Bảo lưu quyền sở hữu là một trong số 9 biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ

theo quy định của BLDS 2015 (Điều 292) và được mô tả cụ thể tại khoản 1 Điều 331 BLDS 2015:

“Trong hợp đồng mua bán, quyền sở hữu tài sản có thể được bên bán bảo lưu chođến khi nghĩa vụ thanh toán được thực hiện đầy đủ” Bảo lưu quyền sở hữu không phải làmột vấn đề mới trong BLDS 2015, nội dung pháp lý này đã được quy định trong BLDS

2005 nhưng với tư cách là một điều khoản trong hợp đồng mua bán tài sản và tính chất

“bảo đảm” của biện pháp này gần như rất ít được biết đến trong thực tiễn, có lẽ vì thế nênviệc sử dụng điều khoản này để dự phòng cho việc không thực hiện nghĩa vụ của bên cónghĩa vụ khá hạn chế trên thực tế Nguyên nhân của tình trạng này một phần có lẽ là do vịtrí được thiết kế của quy định này trong BLDS 2005, bảo lưu quyền sở hữu được quy

định với tư cách là một nội dung của hợp đồng mua bán tài sản (Điều 461 BLDS 2005).

Như vậy, trong bối cảnh áp dụng BLDS 2005, bảo lưu quyền sở hữu mặc dù được quyđịnh như một điều khoản đặc biệt của hợp đồng mua bán tài sản, tuy nhiên trên thực tế lại

có bản chất của một biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ, cách thiết kế này giống nhưcách thiết kế của BLDS Pháp luật

Quyền và nghĩa vụ của các bên:

Điều 332 BLDS 2015 có quy định về quyền đòi lại tài sản của bên bán Bên bán

cũng đồng thời là bên bảo lưu quyền sở hữu Do đó, trong trường hợp bên mua khônghoàn thành nghĩa vụ trả tiền thì bên bán có quyền đòi lại tài sản Tức là hết thời hạn trảchậm, trả dần mà bên mua không trả được hết hoặc cố tình không trả nốt tiền thì bên bán

có quyền đòi lại tài sản và hoàn trả số tiền mà bên mua đã trả trước đó tuy nhiên ác khoảnhao mòn giá trị tài sản do đã sử dụng bên mua phải chịu Trong trường hợp bên mua làmmất, hư hỏng tài sản thì bên bán có quyền yêu cầu bên mua bồi thường thiệt hại

Trang 16

Tương ứng với quyền đòi lại của bên bán thì bên mua có nghĩa vụ chị rủi ro về tàisản trong thời hạn bảo lưu quyền sở hữu (trừ trường hợp có thỏa thuận khác) Tức là trênthực tế tài sản đã nằm trong tay bên mua nên bên mua có quyền sử dụng tài sản theo ý chícủa họ mà không cần thông báo cho bên bán, vì vậy khi có rủi ro xảy ra thì bên mua phảichịu rủi ro khi mất hoặc hư hỏng tài sản và vẫn phải trả hết số tiền còn lại cho bên bán.Ngoài ra, bên mua cũng có quyền sử dụng và hưởng hoa lợi, lợi tức từ tài sản trong thờihạn bảo lưu quyền sở hữu Cac quy định về quyền và nghĩa vụ của bên mua tài sản có

biện pháp bảo lưu quyền sở hữu được quy định tại Điều 333.

Các căn cứ chấm dứt bảo lưu quyền sở hữu được quy định tại Điều 334 BLDS:

 Thông thường khi bên mua thanh toán đầy đủ tiền mua thì có quyền sở hữu đốivới tài sản mua, khi đó biện pháp bảo lưu quyền sở hữu cũng chấm dứt

 Trong trường hợp bên mua không hoàn thành hoặc cố tình không thực hiện nghĩa

vụ trả chậm thì bên bán sẽ xử lí tài sản bảo đảm và khi đó bảo lưu quyền sở hữucũng chấm dứt

 Ngoài ra nếu các bên có thỏa thuận chấm dứt nghĩa vụ trả nợ như bên bán xóa nợcho bên mua số tiền chưa thanh toán còn lại thì biện pháp bảo đảm cũng chấm dứt

2.1.8 Bảo lãnh

Bảo lãnh là biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dự phòng do các bên tự thỏa

thuận trên cơ sở bình đẳng để bảo đảm lợi ích của bên có quyền Khác với bảo đảm cầm

cố, thế chấp, ở đây biện pháp bảo lãnh xuất hiện thêm một chủ thể mới đó là chủ thể thứ

ba có quyền và nghĩa vụ do pháp luật quy định

Theo quy định tại điều 335 BLDS 2015

“…Bảo lãnh là việc người thứ ba (sau đây gọi là bên bảo lãnh) cam kết với bên cóquyền (sau đây gọi là bên nhận bảo lãnh) sẽ thực hiện nghĩa vụ thay cho bên có nghĩa vụ

Trang 17

(sau đây gọi là bên được bảo lãnh), nếu khi đến thời hạn thực hiện nghĩa vụ mà bên đượcbảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ.

Các bên có thể thỏa thuận về việc bên bảo lãnh chỉ phải thực hiện nghĩa vụ thaycho bên được bảo lãnh trong trường hợp bên được bảo lãnh không có khả năng

Biện pháp bảo lãnh được phát sinh trên cơ sở thỏa thuận của các bên Trên thực tếthì vấn đề bảo lãnh được nhắc đến nhiều trong bảo lãnh ngân hàng

Hợp đồng bảo lãnh có thể được xem là hợp đồng phụ với mục đích để bảo đảmthực hiện nghĩa vụ cho hợp đồng chính, thông thường thì hợp đồng phụ này sẽ được lậpsau hợp đồng chính Ví dụ như: A vay tiền ngân hàng M hai tỷ đồng A không có tài sảnthế chấp B là người bảo lãnh cho A vay số tiền hai tỷ đồng đó Nếu A không trả được nợthì B sẽ trả nợ cho ngân hàng thay cho A

Đối với biện pháp bảo lãnh thì đối tượng chủ yếu là những lợi ích vật chất

Bảo lãnh chỉ là biện pháp dự phòng nếu như hai bên ký kết hợp đồng hoặc thựchiện giao dịch dân sự không thực hiện đúng nghĩa vụ, quyền trong hợp đồng mà hai bên

đã thỏa thuận

Phạm vi bảo lãnh cũng giống như các biện pháp như cầm cố, thế chấp… là bảolãnh một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ Bảo lãnh ở đây là một biện pháp mà người tiếnhành bảo lãnh không mong nhận được một khoản lợi ích nào cả mà chỉ dựa trên việc giúplẫn đỡ nhau Biện pháp bảo lãnh nhằm giúp đỡ cho hai bên có thể ký kết hợp đồng mà khi

đó một trong hai bên chưa có đủ khả năng để trả nợ Tuy nhiên vấn đề này tiềm ẩn nhiềurủi ro, vì vậy khi mà một bên nhận đứng ra bảo lãnh thì cần phải hiểu rõ bên mà mình sẽbảo lãnh có đủ năng lực tài chính để thanh toán sau khi vay không Tránh trường hợp bênbảo lãnh bị thiệt hại thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh

2.1.9 Tín chấp

Trang 18

Tín chấp là một trong những biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự được

quy định trong Bộ luật dân sự năm 2005 Sự góp mặt của các tổ chức chính trị – xã hội,

sự tham gia của các tổ chức tín dụng mà cụ thể là Ngân hàng chính sách xã hội và những

hộ gia đình nghèo là dấu hiệu rõ nhất để nhận biết biện pháp bảo đảm này Ngày nay, tínchấp là biện pháp bảo đảm được dùng khá phổ biến bởi lợi ích kinh tế – chính trị – xã hội

mà nó mang lại Bài làm sau đây sẽ phân tích, làm rõ một số vấn đề về quy định bảo đảmbằng tín chấp của tổ chức chính trị – xã hội trong Bộ luật dân sự năm 2005

Việc cho vay có bảo đảm bằng tín chấp phải được lập thành văn bản có ghi rõ sốtiền vay, mục đích vay, thời hạn vay, lãi suất, quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của ngườivay, ngân hàng, tổ chức tín dụng cho vay và tổ chức bảo đảm

Hình thức của việc cho vay có bảo đảm bằng tín chấp phải được lập thành văn bản

có ghi rõ số tiền vay, mục đích, thời hạn vay, quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợpđồng Hợp đồng cho vay phải có xác nhận của tổ chức chính trị - xã hội về điều kiện,hoàn cảnh của cá nhân, hộ gia điình nghèo khi vay vốn tại tổ chức tín dụng đó:

Theo quy định tại Nghị định số 163/2006/NĐ - CP được sửa đổi bổ sung bởi Nghị định số 11/2012/NĐ- CP, trong hợp đồng này, tổ chức chính trị - xã hội có nghĩa

Mục đích của việc cho vay vốn có sử dụng biện pháp bảo đảm bằng tín chấp của

tổ chức chính trị - xã hội đã thể hiện bản chất của Nhà Nước xã hội chủ nghĩa của dân, dodân và vì dân:

 Thứ nhất: Trên thực tế, nhiều địa phương thực hiện việc bảo đảm bằng tín chấpmột cách dàn trải, đại trà Với số vốn mà Ngân hàng chính sách xã hội thông báo

Ngày đăng: 23/05/2019, 16:26

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w