1. Trang chủ
  2. » Văn bán pháp quy

Giao kết hợp đồng dân sự theo quy định của pháp luật hiện hành – Một số vấn đề lý luận và thực tiễn ppsx

20 802 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 20
Dung lượng 212 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trang 1

A LỜI MỞ ĐẦU

Trước khi vào vấn đề, chúng ta sẽ cùng trả lời câu hỏi này nhé! Đã bao giờ bạn đặt câu hỏi xung quanh một hành vi xảy ra trong cuộc sống thường ngày của mình ví như việc bạn thỏa thuận với ai đó để trao đổi với họ một vật ngang giá hay đơn giản là thỏa thuận để mua một chiếc áo chưa? Nếu như bạn đã từng làm một việc tương tự như vậy thì tại sao bạn không tự hỏi mình đã tham gia vào những quan hệ pháp lý gì? Tại sao bạn lại có thể thỏa thuận được với người khác? Khi thỏa thuận với họ bạn được làm và không được làm những gì? Khi bạn làm trái những gì mà pháp luật và xã hội cho phép thì bạn có trách nhiệm gì không? Và bạn đã bảo vệ quyền lợi chính đáng của mình như thế nào? Tôi cam đoan rằng trong số các bạn chỉ một số rất ít đặt ra câu hỏi cho mình như vậy Trong một xã hội ngày càng phát triển thì người ta phải tham gia vào nhiều quan hệ hơn, phức tạp hơn, nhiều khi và rất thường xuyên bạn là người trực tiếp tham gia vào các quan hệ đó mà đặc biệt và phổ biến nhất là những quan hệ giao dịch dân sự Vậy thì tại sao chúng ta không tìm

hiểu vấn đề này thông qua việc nghiên cứu đề tài: “Giao kết hợp đồng dân sự theo quy định của pháp luật hiện hành – Một số vấn đề lý luận và thực tiễn ” để tự trả

lời câu hỏi cho mình nhỉ ?!

B GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ

I LÝ LUẬN VỀ GIAO KẾT HỢP ĐỒNG DÂN SỰ THEO QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH

1 Nguyên tắc giao kết hợp đồng dân sự

Giao kết hợp đồng dân sự là việc các bên bày tỏ ý chí của mình theo những nguyên tắc nhất định để qua đó xác lập quyền và nghĩa vụ dân sự Xuất phát từ nguyên tắc cơ bản của Bộ luật Dân sự, quyền tự do thỏa thuận, cam kết của các chủ thể phù hợp với các quy định của pháp luật trong việc xác lập quyền và nghĩa vụ được pháp luật đảm bảo Xét bản chất hợp đồng, thì vấn đề lợi ích cần đạt được là

Trang 2

động lực nội tại thúc đẩy các bên thiết lập quan hệ Trong giao lưu dân sự, các bên hoàn toàn tự nguyện, không bên nào được áp đặt, cấm đoán, cưỡng ép, đe dọa, ngăn cản bên nào và luôn phải tôn trọng đạo đức, truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việc giao kết hợp đồng dân sự đã được Bộ luật Dân sự 2005 quy định cụ thể tại Điều 389 như sau:

“1 Tự do giao kết hợp đồng nhưng không được trái pháp luật, đạo đức xã

hội;

2 Tự nguyện, bình đẳng, thiện chí, hợp tác, trung thực và ngay thẳng.”

Có thể thấy, điều luật trên đã cho thấy sự hoàn thiện của pháp luật dân sự và hợp đồng ở nước ta Đó là việc khẳng định quyền tự do hợp đồng của chủ thể

1.1 Nguyên tắc tự do giao kết hợp đồng, nhưng không được trái với pháp luật, đạo đức xã hội

Quyền tự do hợp đồng luôn thể hiện một phần quan trọng trong quyền tự chủ để tạo ra một phạm vi tự do hoạt động của mỗi người Trong phạm vi này mỗi người đều có thể xác lập, thực hiện các quan hệ theo ý muốn và mục đích của mình Trong phạm vi quyền tự do hợp đồng thì chỉ quyết định của cá nhân mới có hiệu lực Cơ sở khách quan đảm bảo cho quyền tự do giao kết hợp đồng là tiền đề pháp lý, tiền đề vật chất mà pháp luật thừa nhận dựa trên điều kiện kinh tế xã hội hiện tại Tự do giao kết hợp đồng thể hiện ở sự tự do ý chí của các chủ thể khi đàm phán, ký kết hợp đồng Theo đó, việc giao kết hợp đồng giữa các chủ thể với nhau phải do chính các chủ thể đó quyết định, bất kỳ một cá nhân, tổ chức nào hay Nhà nước cũng không được can thiệp một cách trái pháp luật vào quá trình đó Các bên có quyền quyết định tham gia hay không tham gia, có quyền thay đổi, tạm thời hoãn, chấm dứt, hủy bỏ hợp đồng xuất phát từ lợi ích của xã hội hay của chính mình

Ai cũng có thể hiểu rằng để có thể tự do khi giao kết hợp đồng, người tham gia giao kết hợp đồng phải có quyền sở hữu với đối tượng trao đổi Không có tài sản thì không thể tự do giao kết hợp đồng và quyền tự do giao kết hợp đồng kia chỉ là sự

Trang 3

ghi nhận về hình thức, mà trong đó nội dung vật chất quyết định cho sự tồn tại của hình thức chưa được bảo đảm

Bởi việc ký kết và thực hiện hợp đồng không phải chỉ liên quan đến lợi ích của những chủ thể tham gia ký kết hợp đồng, mà nó còn ảnh hưởng đến lợi ích chung của xã hội, của cộng đồng và thuần phong mỹ tục của xã hội Vì vậy, mặc dù các chủ thể được tự do giao kết hợp đồng, nhưng pháp luật cũng yêu cầu những hành vi của họ không được trái với pháp luật và đạo đức xã hội Nghĩa là các bên không được giao kết hợp đồng mà đối tượng của nó là tài sản bị pháp luật cấm giao dịch Đối với những tài sản pháp luật cho phép giao dịch nhưng phải có điều kiện nhất định, thì khi giao kết hợp đồng các bên phải tuân thủ những điều kiện đó

Có thể nói, nguyên tắc này đã phản ánh được quyền lợi tuyệt đối của chủ thể khi giao kết hợp đồng, nhưng quyền lợi đó bị ràng buộc bởi quy định của pháp luật và đạo đức xã hội Hợp đồng giao kết phải có mục đích, nội dung không được trái với đạo đức xã hội Đối với những hợp đồng có mục đích trái với những chuẩn mực ứng xử chung giữa người với người trong đời sống xã hội, được cộng đồng thừa nhận và tôn trọng; đi ngược lại với lợi ích chung của xã hội, gây thiệt hại cho lợi ích hợp pháp của người khác,… đều bị coi là trái đạo đức xã hội Những hợp đồng có nội dung như vậy, theo quy định tại Điều 127 Bộ luật Dân sự đều vô hiệu

Sự tồn tại đa lợi ích trong xã hội và xu hướng lấn át của chúng đòi hỏi pháp luật phải tạo ra được một giới hạn phát triển hợp lý cho các lợi ích đó, tạo ra được sự hài hóa cho các lợi ích đang tồn tại trong một mối liên hệ chung Sự đấu tranh và thống nhất giữa các lợi ích chính là động lực cho sự phát triển kinh tế – xã hội Điều này đòi hỏi tạo ra phạm vi giới hạn cho quyền tự do giao kết hợp đồng phù hợp với yêu cầu của xã hội, với đòi hỏi của pháp luật

1.2 Nguyên tắc tự nguyên, bình đẳng, thiện chí, hợp tác, trung thực và ngay thẳng

Đây là nguyên tắc được xác định rên cơ sở pháp lý của hợp đồng Bảo đảm nguyến tắc khi giao kết hợp đồng cũng là bảo đảm hiệu lực của hợp đồng trên thực

Trang 4

tế Điểm c, khoản 1, Điều 122 Bộ luật Dân sự quy định về điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự: “Người tham gia giao dịch hoàn toàn tự nguyện” Như vậy một hợp đồng được hình thành trên cơ sở ý chí của chủ thể và ý chí đó hoàn toàn tự nguyện,

về nguyên tắc, bất cứ một vi phạm nào về sự tự nguyện cũng có thể dẫn đến hậu quả giao dịch sẽ bị vô hiệu

Tự nguyện là sự thể hiện thống nhất giữa ý chí và hành động của các chủ thể khi giao kết hợp đồng Điều này có nghĩa là ý chí được biểu lộ ra bên ngoài bằng lời nói, cử chỉ, hành động cụ thể, là ý chí thực sự của bên giao kết hợp đồng Vi phạm nguyên tắc tự nguyện trong luật dân sự nước ta xác định có thể do bị nhầm lẫn, bị lừa dối, đe dọa buộc phải giao kết hợp đồng; hoặc trong trường hợp người có năng lực hành vi dân sự nhưng lại giao kết hợp đồng đúng vào thời điểm mất năng lực hành vi

Tự nguyện ở đây còn biểu hiện ở chỗ các chủ thể hoàn toàn tự quyết định có tham gia hay không tham gia vào giao dịch dân sự Họ có quyền lựa chọn nội dung, hình thức của hợp đồng phù hợp với điều kiện hoàn cảnh, trừ trường hợp mà nội dung và hình thức do pháp luật quy định bắt buộc phải tuân theo khi giao kết hợp đồng Mọi lý do dẫn đến việc biểu lộ ý chí ra bên ngoài cho người khác nhận biết không đúng với ý chí của họ đều bị coi là không hoàn toàn tự nguyện Khi giao kết hợp đồng vi phạm sự tự nguyện có thể dẫn đến việc tòa án xét lại hợp đồng và tuyên bố hợp đồng bị vô hiệu

Nguyên tắc giao kết hợp đồng phải bình đẳng cũng là nguyên tắc cơ bản của luật dân sự Bình đẳng nghĩa là các chủ thể khi tham gia vào quan hệ hợp đồng đều có địa vị pháp lý như nhau mà không bên nào được lấy lý do có sự khác biệt về dân tộc, giới tính, thành phần xã hội, hoàn cảnh kinh tế, tín ngưỡng, tôn giáo, trình độ văn hóa, nghề nghiệp để đối xử không bình đẳng với bên kia Sự bình đẳng pháp lý giữa các chủ thể trong quan hệ trao đổi; không ngoài yếu tố có tính chất quyết định chi phối; đó là quyền sở hữu với tài sản của mình, qua các nội dung chiếm hữu, sử

Trang 5

dụng, định đoạt Với tư cách là chủ sở hữu tài sản thì giữa họ phải bình đẳng “Dùng

vật ngang giá đổi lấy vật ngang giá” Nội dung của nguyên tắc bình đẳng trong giao

kết hợp đồng thể hiện: Khi thỏa thuận các bên được bình đẳng đưa ra các điều kiện, những nội dung phù hợp với lợi ích của mình để đạt được mục đích đặt ra Sự hưởng quyền và thực hiện nghĩa vụ là tương ứng trong phạm vi mà các bên thỏa thuận Điều này rất có ý nghĩa trong giao kết hợp đồng bởi một khi giữa các bên tham gia hợp đồng không có sự bình đẳng về địa vị pháp lý thì sự tự nguyện giao kết hợp đồng cũng dễ bị vi phạm

Thiện chí, hợp tác là việc các bên khi tham gia hợp đồng không chỉ quan tâm, chăm lo đến quyền, lợi ích hợp pháp của mình mà còn phải tôn trọng, quan tâm đến lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng, quyền, lợi ích hợp pháp của người khác, giúp đỡ tạo điều kiện cho nhau thực hiện quyền và nghĩa vụ dân sự Nguyên tắc này đảm bảo được bản chất pháp lý của hợp đồng là sự “thỏa thuận” giữa các bên Sự giao lưu ý chí đi đến thống nhất đòi hỏi thái độ thiện chí, hợp tác từ cả hai phía Sự thiện chí, hợp tác có ý nghĩa trong việc nhanh chóng thiết lập quan hệ hợp đồng với nội dung công bằng, hợp lý hơn và xét đến cùng nó cũng là hậu quả tất yếu trong việc đáp ứng thỏa mãn nhu cầu của con người

Trung thực, ngay thẳng là không bên nào được lừa dối bên nào, không được lợi dụng lòng tin của người khác để trục lợi; nếu một bên cho rằng bên kia không trung thực thì phải có chứng cứ Việc thực hiện nguyên tắc này nhằm mục đích bảo đảm hiệu lực của hợp đồng đã giao kết Hậu quả của sự không trung thực, ngay thẳng là sự gian dối, lừa lọc khi giao kết hợp đồng làm thiệt hại quyền lợi một bên Những nguyên tắc cơ bản giao kết hợp đồng được ghi nhận trong Bộ luật Dân sự nhằm tạo ra sự an toàn pháp lý cho các bên tham gia giao kết hợp đồng,hướng dẫn xử sự của chủ thể trong quá trình giao kết, bảo đảm thiết lập quan hệ hợp đồng hợp pháp

Trang 6

2 Chủ thể giao kết hợp đồng dân sự

Trong hoạt động giao kết hợp đồng, các chủ thể phải đảm bảo các điều kiện có hiệu lực của giao dịch theo quy định (Điều 122 BLDS 2005)

Điều kiện thứ nhất là: “Người tham gia giao dịch phải có năng lực hành vi dân sự” Pháp luật đã khẳng định quyền bình đẳng của công dân trước pháp luật,

trong đó khả năng của cá nhân được hưởng quyền công dân và phải thực hiện những nghĩa vụ dân sự là như nhau Khả năng có quyền dân sự, nghĩa vụ dân sự chính là năng lực pháp luật dân sự của cá nhân và năng lực pháp luật dân sự là bình đẳng đối với mọi công dân Năng lực hành vi dân sự của mỗi cá nhân phụ thuộc vào khả năng nhận thức của cá nhân và căn cứ vào khả năng nhận thức để phân biệt mức độ năng lực hành vi

Điều kiện thứ hai là mục đích hay nội dung của hợp đồng không được trái với

pháp luật, đạo đức xã hội

Quyền tự do ý chí được pháp luật tôn trọng, đảm bảo thực hiện ngoại trừ trường hợp liên quan đến lợi ích chung của xã hội, đó cũng là điều kiện thứ yếu cần được đảm bảo khi giao kết hợp đồng Mục đích của giao dịch dân sự được xác định là lợi ích hợp pháp mà các bên mong muốn đạt được khi lập giao dịch Nội dung của giao dịch không trái pk và đạo đức xã hội cũng không ngoài nguyên tắc cơ bản của luật dân sự Khi nhìn nhận toàn diện vấn đề thì những mục đích riêng mà các bên đặt ra trong quan hệ hợp đồng, không chỉ tác động đến lợi ích của mỗi cá nhân đó Mà ở những mức độ khác nhau đều ảnh hưởng đến từng lĩnh vực của đời sống xã hội

Điều kiện thứ ba được ghi nhận đó là: Người tham gia giao dịch hoàn toàn tự

nguyện

Điều kiện này cũng không ngoài việc đảm bảo bản chất pháp lý của hợp đồng Trong quan hệ hợp đồng, yếu tố tự nguyện của chủ thể là tuyệt đối, mọi biểu hiện trái với sự tự nguyện do bị nhầm lẫn, bị lừa dối, bị đe dọa, hay ở trạng thái mất năng lực hành vi dân sự đều có thể dẫn đến hậu quả hợp đồng vô hiệu Tựu chung lại, sự

Trang 7

tự nguyện của chủ thể giao kết hợp đồng là điều kiện không thể thiếu để đảm bảo cho hợp đồng đã giao kết có hiệu lực pháp luật

Điều kiện thứ tư: Hình thức của giao dịch phù hợp với quy định của pháp luật.

Hình thức của hợp đồng là phương thức biểu hiện nội dung của hợp đồng Hình thức chính là căn cứ bảo đảm cho các bên phải thực hiện đúng những cam kết của mình Hình thức hợp đồng đặc biệt có ý nghĩa trong hoạt động tố tụng dân sự, nó được xem là chứng cử để có thể xác định việc các bên giao kết hợp đồng Về nguyên tắc thì các bên có thể tự nguyện thỏa thuận về hình thức của hợp đồng Tuy nhiên, trong một số trường hợp nhất định, pháp luật bắt buộc hợp đồng phải được giao kết theo quy định của pháp luật Như vậy, việc giao kết hợp đồng đảm bảo điều kiện hình thức phù hợp với quy định của pháp luật là cơ sở đánh giá hợp đồng có hiệu lực pháp luật

3 Trình tự giao kết hợp đồng dân sự

Trình tự giao kết hợp đồng là quá trình mà trong đó các bên chủ thể bày tỏ ý chí với nhau bằng cách trao đổi ý kiến để đi đến thỏa thuận trong việc cùng nhau làm xác lập những quyền và nghĩa vụ dân sự đối với nhau Thực chất, đó là quá trình mà hai bên “mặc cả” về những điều khoản trong nội dung của hợp đồng Quá trình này diễn ra thông qua hai giai đoạn:

3.1 Đề nghị giao kết hợp đồng

Hoạt động đầu tiên khi một người muốn thiết lập một hợp đồng dân sự thì ý muốn đó phải thể hiện ra bên ngoài thông qua một hành vi nhất định Chỉ có như vậy, phía đối tác mới có thể nhận biết được ý muốn của họ và từ đó mới có thể đi đến việc giao kết hợp đồng Đề nghị giao kết hợp đồng là việc một bên bày tỏ ý chí của mình muốn giao kết hợp đồng với một người cụ thể và chịu sự ràng buộc về đề nghị này đối với bên đã được xác định cụ thể đó

Việc đề nghị giao kết hợp đồng được thực hiện bằng nhiều cách khác nhau Người đề nghị có thể trực tiếp (đối mặt) với người được đề nghị để trao đổi, thỏa thuận hoặc có thể thông qua điện thoại, internet,… Trong những trường hợp này,

Trang 8

thời hạn trả lời là một khoảng thời gian do hai bên thỏa thuận ấn định Ngoài ra, đề nghị giao kết còn có thể được thực hiện bằng việc chuyển công văn, giấy tờ qua đường bưu điện Trong những trường hợp này, thời hạn trả lời là khoảng thời gian

do hai bên ấn định

Thời điểm mà đề nghị giao kết hợp đồng có hiệu lực do bên đề nghị ấn định Trong trường hợp bên đề nghị không ấn định thì đề nghị giao kết hợp đồng bắt đầu có hiệu lực kể từ khi bên được đề nghị nhận được đề nghị đó Bên được đề nghị được coi là đã nhận được đề nghị giao kết hợp đồng khi đề nghị được chuyển đến trụ sở, nếu là pháp nhân Khi đề nghị được đưa vào hệ thống thông tin chính thức của bên được đề nghị hoặc khi bên được đề nghị biết được đề nghị giao kết hợp đồng thông qua các phương thức khác cũng được coi là đã nhận được đề nghị

3.2 Thay đổi, hủy bỏ, chấm dứt đề nghị giao kết hợp đồng

Để bảo đảm quyền lợi cho người được đề nghị, theo quy định tại khoản 2

Điều 390 Bộ luật Dân sự: “Trong trường hợp đề nghị giao kết hợp đồng có nêu rõ

thời hạn trả lời, nếu bên đề nghị lại giao kết hợp đồng với người thứ ba trong thời hạn chờ bên được đề nghị trả lời thì phải bổi thường thiệt hại cho bên đề nghị mà không được giao kết hợp đồng nếu có thiệt hại phát sinh”.

Như vậy, lời đề nghị mặc dù chưa phải là một hợp đồng nhưng ít nhiều đã có tính chất ràng buộc đối với người được đề nghị Tuy nhiên, bên đề nghị vẫn có thể thay đổi hoặc rút lại đề nghị trong các trường hợp sau:

- Bên được đề nghị chưa nhận lời đề nghị;

- Bên đề nghị có nêu rõ điều kiện được thay đổi hoặc rút lại đề nghị và điều kiện đó đã đến

Khi bên được đề nghị đã chấp nhận giao kết hợp đồng, nhưng có nêu điều kiện hoặc sửa đổi đề nghị, thì cũng coi như bên được đề nghị đưa ra đề nghị mới Người được đề nghị có thể chấp nhận toàn bộ nội dung đề nghị, cũng có thể chỉ chấp nhận một phần trong nội dung đó hoặc cũng có thể chỉ chấp nhận việc giao kết hợp đồng nhưng không đồng ý với nội dung mà bên đề nghị đã đưa ra Nghĩa là

Trang 9

trong những trường hợp này, người được đề nghị muốn sửa đổi hoặc thay đổi nội dung mà người đề nghị đã đưa ra Vì vậy, họ sẽ trở thành người đề nghị mới và người đã đề nghị trước đó lại trở thành người được đề nghị Người đề nghị mới cũng chịu sự ràng buộc của mình về những nội dung đã đề nghị Sự hoán vị này có thể xảy ra nhiều lần cho đến khi nào các bên thống nhất thỏa thuận được với nhau toàn bộ nội dung của hợp đồng thì sẽ đi đến chính thức giao kết hợp đồng

Bên đề nghị cũng có quyền hủy bỏ đề nghị trong đề nghị giao kết hợp đồng Tuy nhiện, bên đề nghị đó phải thông báo cho bên được đề nghị Thông báo này chỉ có hiệu lực khi bên được đề nghị nhận được thông báo trước khi bên được đề nghị trả lời chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng

Đề nghị giao kết hợp đồng hợp đồng được coi là chấm dứt khi có một trong những trường hợp sau đây ( Điều 394 Bộ luật Dân sự):

- Bên nhận được đề nghị không chấp nhận;

- Hết thời hạn trả lời chấp nhận;

- Khi thông báo về việc thay đổi hoặc rút lai đề nghị có hiệu lức Bên được đề nghị giao kết hợp đồng có thể thay đổi hoặc rút lại thông báo đề nghị giao kết hợp đồng, song thông báo thay đổi, rút lại đề nghị giao kết hợp đồng đó phải đến trước hoặc cùng với thời điểm thông báo trả lời chấp nhận giao kết hợp đồng Khi đó đề nghị giao kết hợp đồng được coi là chấm dứt;

- Khi thông báo về việc hủy bỏ đề nghị có hiệu lực;

- Theo thỏa thuận của bên đề nghị và bên nhận được đề nghị trong thời hạn chờ bên được đề nghị trả lời

3.3 Chấp nhận giao kết hợp đồng

Là việc bên được đề nghị nhận toàn bộ lời đề nghị và đồng ý tiến hành việc giao kết hợp đồng với người đã đề nghị Về nguyên tắc, bên được đề nghị phải trả lời ngay về việc có chấp nhận giao kết hợp đồng hay không Khi bên được đề nghị giao kết hợp đồng chấp nhận đề nghị thì hợp đồng đó coi như đã được giao kết Trong những trường hợp cần phải có thời gian để bên đề nghị cân nhắc, suy nghĩ mà

Trang 10

các bên đã ấn định thời hạn trả lời thì bên được đề nghị phải trả lời trong thời hạn đó Nếu sau thời hạn nói trên, bên được đề nghị mới trả lời về việc chấp nhận giao kết hợp đồng thì lời chấp nhận đó được coi như một lời đề nghị mới của bên chậm trả lời

Nếu việc trả lời được chuyển qua bưu điện thì ngày gửi đi theo dấu bưu điện được coi là thời điểm trả lời Căn cứ vào thời điểm đó để bên đã đề nghị xác định việc trả lời có chậm hay không so với thời hạn đã ấn định

Bên được đề nghị giao kết hợp đồng có thể rút lại thông báo chấp nhận giao kết hợp đồng nếu như thông báo rút lại thông báo chấp nhận đó đến trước hoặc cùng với thời điểm bên đề nghị nhận được trả lời chấp nhận giao kết hợp đồng

Đối với trường hợp sau khi bên được đề nghị giao kết hợp đồng trả lời chấp nhận giao kết hợp đồng mà bên đề nghị chết hoặc mất năng lực hành vi dân sự thì đề nghị giao kết hợp đồng của bên đề nghị đã chết hoặc mất năng lực hành vi dân sự vẫn được coi là có giá trị Ngược lại, đối với những trường hợp mà sau khi giao kết hợp đồng, bên được đề nghị giao kết hợp đồng chết hoặc mất năng lực hành vi dân sự thì chấp nhận giao kết hợp đồng của bên được đề nghị đã chết hoặc mất năng lực hành vi dân sự cũng được coi là có giá trị

4 Thời điểm giao kết hợp đồng dân sự

Việc xác định thời điểm giao kết hợp đồng có ý nghĩa quan trọng đối với các bên tham gia giao kết hợp đồng Bởi thông thường, nếu các bên không có sự thỏa thuận khác thì thời điểm giao kết hợp đồng cũng là thời điểm phát sinh hiệu lực hợp đồng Kể từ thời điểm đó hợp đồng có hiệu lực bắt buộc đối với các bên Có nghĩa khi xác định được thời điểm giao kết hợp đồng là xác định được thời điểm phát sinh quyền và nghĩa vụ dân sự cảu các bên trong hợp đồng, nếu các bên tham gia giao kết hợp đồng không có thỏa thuận khác hoặc pháp luật không có quy định khác

Về nguyên tắc hợp đồng được giao kết vào thời điểm bên ddeeef nghị nhận được trả lời chấp nhận đề nghị hoặc khi các bên thỏa thuận xong nội dung chủ yếu của hợp đồng Ở đây pháp luật cũng dự liệu trường hợp chấp nhận đề nghị bằng sự

Ngày đăng: 10/08/2014, 18:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w