Khi đến mô, động mạch nhỏ dần thành các mao mạch, mao mạch cung cấp dưỡng chất cho các mô đồng thời nhận lại các chất thải.. Ở mao động mạch, nước và dưỡng chất đi từ mao mạch đến khoảng
Trang 1Sinh lý trao đổi chất ở mao mạch
Tim bơm máu mang theo dưỡng chất theo các động mạch đến các mô Khi đến mô, động mạch nhỏ dần thành các mao mạch, mao mạch cung cấp dưỡng chất cho các mô đồng thời nhận lại các chất thải Ở mao động mạch, nước và dưỡng chất đi từ mao mạch đến khoảng gian bào (khoảng trống xung quanh các tế bào) rồi được đưa vào tế bào nhờ các cơ chế phức tạp Đến mao tĩnh mạch, nước và các chất thải (CO2, ure, creatinin) từ các tế bào ra khoảng gian bào rồi vào mao tĩnh mạch để theo dòng tuần hoàn đến phổi (CO2) hay thận (ure, creatinin) để thải ra ngoài cơ thể
Trang 2Trong lòng mao mạch có hai lực đối lập nhau có vai trò trong việc vận chuyển nước từ mao mạch đến gian bào và ngược lại Đó
là “áp lực thủy tĩnh” – gây nên do dòng máu tác động lên thành mao mạch và “áp lực keo” – do các protein trong huyết tương gây nên (trong đó Albumin chiếm 80%)
Áp lực thủy tĩnh (ALTT) có xu hướng đẩy nước từ lòng mạch
ra gian bào Áp lực keo (ALK) thì ngược lại, có xu hướng kéo nước
từ gian bào vào lòng mạch
Trang 3Bằng các máy đo người ta nhận thấy áp lực thủy tĩnh có xu hướng giảm dần từ mao động mạch sang mao tĩnh mạch, áp lực keo thì tương đối ổn định ở cả hai bên
Trang 4Điều này có thể lý giải bởi ở các động mạch, dòng máu có được lực đẩy từ tim nên áp lực máu lên thành mao động mạch cao hơn mao tĩnh mạch
Ở mao động mạch, ALTT > ALK nên nước có xu hướng bị đẩy từ lòng mạch ra gian bào Ở mao tĩnh mạch thì ngược lại, ALTT < ALK nên nước có xu hướng bị kéo từ gian bào vào lòng mạch Ngoài ra một phần nước cũng được kéo vào mạch bạch huyết
Trang 5Vì một lý do nào đó, ALTT tăng hay ALK giảm sẽ làm rối loạn sự vận chuyển nước giữa mao mạch và gian bào làm ứ đọng nước ở gian bào của mô gây nên hiện tượng phù Phù có thể xảy ra
ở tay, chân, mặt, phổi … Cơ chế gây phù chúng ta sẽ cùng tìm hiểu
kĩ thêm ở phần 2