1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Tiểu luận tự do kinh doanh

20 175 5

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 20
Dung lượng 25,53 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Và kinh doanh, theo định nghĩa của bách khoa toàn thư mở Wikipedia tiếng Việt: “Kinh doanh Business là hoạt động của cá nhân hoặc tổ chức nhằm mục đính lợi nhuận qua một loạt các hoạt độ

Trang 1

MỤC LỤC

Trang

MỞ ĐẦU……… 2

1, Quyền tự do kinh doanh

……… 3

2, Pháp luật hiện hành đối với quyền tự do kinh doanh

……… 5

3, Đánh giá về quyền tự do kinh doanh của doanh nghiệp hiện nay

…… 9

3.1, Quyền tự do kinh doanh những ngành, nghề mà luật

không

cấm ……… 9 3.2, Những vấn đề khác về tự do kinh doanh của doanh

nghiệp……… 12

KẾT LUẬN……… 15

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO……… 16

Trang 2

MỞ ĐẦU

Việt Nam chính thức trở thành thành viên của Tổ chức kinh

tế thế giới WTO vào ngày 11/01/2017, đánh dấu một bước ngoặt lịch sử, mở ra một nền kinh tế thị trường mới cho đất nước Kể từ đó, tự do kinh doanh và cạnh tranh lành mạnh giữa các chủ thể kinh tế ngày càng được đảm bảo, tạo nên một luồng nhận thức mới của xã hội về pháp luật, về quyền tự

do kinh doanh

Với sự quan tâm của Đảng, nhà nước, các cơ quan chính quyền cùng với các chủ thể kinh doanh thương mại, vấn đề bảo vệ quyền tự do kinh doanh đang ngày càng được coi

trọng Nhận thức được tầm quan trọng của tự do kinh doanh

và cạnh tranh lành mạnh mang lại cho sự phát triển nền kinh

tế quốc dân, nhà nước ta cũng đã kịp thời ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh những vấn đề về tự do kinh doanh để phù hợp với kinh tế thị trường trong nước Tuy nhiên, ở thế kỷ XXI, khi mà thời kỳ khoa học công nghệ đã dần như thống trị xã hội, thời đại công nghệ số lên ngôi, cùng với đó, kinh tế cũng có những bước phát triển, chuyển biến một cách linh hoạt và nhanh chóng Do đó, việc tồn động những quy định không còn phù hợp với thời thế, hoặc, việc chưa kịp thời có một điều khoản điều chỉnh một vấn đề đã kinh tế đã hiện hữu trong thị trường Đó là những điều đang được cả Đảng, nhà nước và toàn xã hội hết sức quan tâm Trước tình hình như vậy, tôi chọn đề tài “Quyền tự do kinh

Trang 3

doanh” để làm rõ những quy định của pháp luật về vấn đề này

Trang 4

NỘI DUNG

1, Quyền tự do kinh doanh.

Muốn hiểu được khái niệm và nội dung của quyền tự do kinh doanh, trước hết ta cần nắm rõ kinh doanh là gì và các hoạt động của kinh doanh Không chỉ trong nền kinh tế thị trường, kinh doanh mới tồn tại, ngay từ thời cổ đại lịch sử đã ghi nhận hình thức kinh doanh đầu tiên của loài người là việc trao đổi ngang giá hoặc trao đổi có bù qua lại giữa những món đồ mang tính cấp thiết cho cuộc sống của họ Và rồi, khi của cải ngày càng dư thừa, sự dư thừa vượt qua cả nhu cầu tất yếu cần cho cuộc sống, họ bắt đầu nghĩ đến bán chúng để thu về một khoản lợi nhuận, đó cũng là lý do cho sự ra đời của tiền

tệ để nó có một vai trò chủ chốt như hiện nay Trở lại với vấn

đề kinh doanh trong những thời kỳ lịch sử, con người lúc bấy giờ càng ngày càng phát triển, họ không chỉ bán những hàng hóa ở nơi mình sinh sống, họ còn tiến ra những vùng lân cận

và những quốc gia khác Con đường tơ lụa là một minh chứng

cho thấy sự hoàng kim một thời của buôn bán hàng hóa quốc

tế trong lịch sử ngày xưa Về sau, việc mua bán, mua đi bán lại và các hoạt động khác sinh có thể sinh ra lợi nhận, người

ta gọi đó là “kinh doanh” Cùng với sự phát triển của kinh tế,

về sau những khái niệm không còn được hiểu một các sơ khai như thời ký đầu, hàng hóa không còn chỉ được hiểu gói gọn là những của cải thặng dư, kinh doanh không còn chỉ là việc trao đổi, mua bán giản đơn Theo đó:

Hàng hóa là sản phẩm của lao động có thể thỏa mãn nhu cầu nào đó của con người, tuy nhiên, sản phẩm lao động chỉ

Trang 5

trở thành hàng hóa thông qua quá trình trao đổi buôn bán Khoản 2 Điều 3 Luật thương mại Việt Nam quy định hàng hóa

bao gồm: “Tất cả các loại động sản, kể cả động sản hình

thành trong tương lai” (điểm a) và “Những vật gắn liền với đất đai” (điểm b).

Và kinh doanh, theo định nghĩa của bách khoa toàn thư mở

Wikipedia tiếng Việt: “Kinh doanh (Business) là hoạt động của

cá nhân hoặc tổ chức nhằm mục đính lợi nhuận qua một loạt các hoạt động như: Quản trị, Tiếp thị, Tài chính, Kế toán, Sản xuất, …” Tuy nhiên, dưới góc nhìn kinh tế, ta có thể định nghĩa

khái niệm kinh doanh như sau: Là tổng thể các hình thức, phương thức và biện pháp nhằm tổ chức các hoạt động kinh

tế, phản ánh mối quan hệ giữa người với người trong quá trình sản xuất, phân phối, trao đổi, tiêu dùng của cải vật chất xã hội, nhằm mục đích thu về một giá trị lớn hơn giá trị ban đầu

đã bỏ ra Pháp luật Việt Nam hiện hành không có một định nghĩa về kinh doanh là gì, tuy nhiên, Luật doanh nghiệp 2005

nay đã hết hiệu lực tại khoản 2 Điều 4 có định nghĩa: “kinh

doanh là việc thực hiện liên tục một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch cụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi” Hiện nay, tại khoản 1 Điều 3 luật thương mại 2005

có quy định: “hoạt động thương mại là hoạt động nhằm mục

đích sinh lợi, bao gồm mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động khác nhằm mục đích sinh lợi khác.” Như vậy có thể thấy, dù cho có quy định

như thế nào đi nữa thì kinh doanh và hoạt động kinh doanh đều có mục đích chung là tạo ra lợi nhuận

Trang 6

Vậy quyền tự do kinh doanh là gì? Tự do ở đây có thể được hiểu là một sự không bó buộc, tự do là được tự lựa chọn Tuy nhiên, để đảm bảo trật tự cộng đồng chung, tự do không được mang tính chất tuyệt đối Quyền tự do kinh doanh là một bộ phận hợp thành các quyền tự do của công dân được nhà nước

và pháp luật công nhận, là quyền của con người

+ Dưới góc độ quyền chủ thể thì quyền tự do kinh doanh được hiểu là khả năng hành động một cách có ý thức của cá nhân, tổ chức trong quá trình hoạt động tổ chức kinh doanh + Xem xét dưới góc độ một chế định pháp luật thì quyền tự

do kinh doanh là hệ thống các quy phạm pháp luật do nhà nước ban hành và đảm bảo nhằm tạo điều kiện cho các cá nhân hay tổ chức quyền được tự do kinh doanh

Quyền tự do kinh doanh được thể hiện thông qua các nội dung như Quyền tự do thành lập doanh nghiệp, quyền tự do trong hợp đồng kinh doanh, quyền tự do cạnh tranh lành

mạnh, quyền tự do định đoạt trong việc giải quyết tranh chấp kinh tế, quyền được bảo đảm sở hữu đối với tài sản,…

2, Pháp luật hiện hành đối với quyền tự do kinh doanh Quyền tự do kinh doanh của công dân được hiến pháp ghi

nhận tại Điều 33: “Mọi người có quyền tự do kinh doanh trong

những ngành nghề mà pháp luật không cấm” Luật doanh

nghiệp 2014, Điều 7 khoản 1 cũng quy định: “tự do kinh

doanh trong những ngành, nghề mà luật không cấm” Tương

tự, khoản 1 ĐIều 5 luật đầu tư năm 2014: “Nhà đầu tư được

quyền thực hiện hoạt động đầu tư kinh doanh trong các

ngành, nghề mà Luật này không cấm” Đây là một quyền

Trang 7

công dân, là quyền mang tính chất tương đối, tự do nhưng phải tự do trong một không khổ nhất định Việc kinh doanh là

tự do nhưng vẫn phải không trái pháp luật, không vi phạm đạo đức xã hội Những ngành nghề mà pháp luật cấm, thì không được phép kinh doanh Hiện nay, pháp luật quy định cụ thể các ngành nghề cấm đầu tư kinh doanh và các ngành nghề kinh doanh có điều kiện Cụ thể, tại khoản Điều 6 Luật đầu tư 2014 quy định các ngành nghề sau đây thuộc đối

tượng cấm đầu tư kinh doanh:

“1 Cấm các hoạt động đầu tư kinh doanh sau đây:

a) Kinh doanh các chất ma túy theo quy định tại Phụ lục 1 của Luật này;

b) Kinh doanh các loại hóa chất, khoáng vật quy định tại Phụ lục 2 của Luật này;

c) Kinh doanh mẫu vật các loại thực vật, động vật hoang dã theo quy định tại Phụ lục 1 của Công ước về buôn bán quốc tế các loài thực vật, động vật hoang dã nguy cấp; mẫu vật các loại động vật, thực vật hoang dã nguy cấp, quý hiếm Nhóm I

có nguồn gốc từ tự nhiên theo quy định tại Phụ lục 3 của Luật này;

d) Kinh doanh mại dâm;

đ) Mua, bán người, mô, bộ phận cơ thể người;

e) Hoạt động kinh doanh liên quan đến sinh sản vô tính trên người.”

Trang 8

Như đã đề cập đến một số nội dung của quyền này ở trên, một số các quy định của pháp luật về những quyền trong quyền tự do kinh doanh

+ Quyền tự do thành lập doanh nghiệp

Quyền tự do thành lập doanh nghiệp và đăng kí kinh doanh

là nội dung cơ bản của quyền tự do kinh doanh, là tiền đề để thực hiện các quyền khác thuộc nội dung của quyền tự do kinh doanh Có rất nhiều văn bản luật có điều khoản quy định

về quyền này

Khoản 1 Điều 18 quy định mọi tổ chức, cá nhân có quyền

thành lập và quản lý doanh nghiệp tại Việt Nam theo quy định của luật doanh nghiệp, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 18 Theo đó, một số các cá nhân chưa thành niên, không

có, mất hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự, người bị truy cứu trách nhiệm hình sự, chấp hành hình phạt tù, quyết định

xử phạt hành chính hoặc đang bị cấm hành nghề kinh doanh;

cá nhân là cán bộ, công chức, viên chức, là sĩ quan, hạ sũ quan, quân nhân, công nhân viên chức quốc phòng thuộc Quân đội nhân dân, Công an nhân dân,… thì không có quyền tham gia thành lập và quản lý doanh nghiệp tư; Các tổ chức là

cơ quan nhà nước, đơn vị vũ trang không được sử dụng tài sản nhà nước lập doanh nghiệp kinh doanh thu lợi riêng cho cơ quan, đơn vị mình

+ Quyền tự do trong hợp đồng

Với bản chất là kinh doanh mua bán trao đổi hàng hóa, hợp đồng là một yếu tố cơ bản của kinh doanh Do đó, quyền tự

do trong hợp đồng cũng là một phần trong nội dung của

Trang 9

quyền tự do kinh doanh Có nhiều loại hợp đồng trong lĩnh vực kinh doanh: hợp đồng mua bán , hợp đồng trao đổi, hợp đồng chuyển nhượng, hợp đồng thuê khoán, hợp đồng dịch vụ,… Quyền tự do trong hợp đồng được thể hiện dưới một số quy định của pháp luật như sau:

Xuất phát từ bản chất thỏa thuận của hợp đồng, khoản 1

Điều 398 cho phép: “các bên trong hợp đồng có quyền thỏa

thuận về nội dung trong hợp đồng”, như vậy pháp luật tôn

trọng quyền tự do thỏa thuận về nội dung hợp đồng của các bên tham gia, không có sự bó buộc nội dung phải theo bất cứ một khuôn mẫu nào Tuy nhiên, cũng phải tuân theo một ý chí

là không có một điều khoản vi phạm pháp luật, trái với điều cấm xã hội, nếu vi phạm điều này, hợp đồng sẽ bị vô hiệu Các bên trong hợp đồng cũng được quyền lựa chọn hình thức của hợp đồng Pháp luật Việt Nam hiện cho phép hợp đồng được thể hiện dưới các hình thức lời nói, văn bản hoặc hành vi

cụ thể Hình thức hợp đồng được quy định tại khoản 1 điều

119 Bộ luật dân sự về hình thức giao dịch dân sự, tại khoản 1 điều 24 luật thương mại 2005 về hình thức hợp đồng mua bán hàng hóa Tuy nhiên, trong một số trường hợp, vì tính chất đặc thù của đối tượng trong hợp đồng, hợp đồng phải được lập thành văn bản, được công chứng, chứng thực hoặc đăng

ký theo quy định của pháp luật Một số ví dụ như hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế, hợp đồng có đối tượng là bất

động sản (vật gắn liền với đất)

Trang 10

Ngoài ra các bên còn có quyền tự do lựa chọn địa điểm, thời điểm giao kết hợp đồng và các vấn đề khác mà pháp luật không cấm

+ Quyền tự do cạnh tranh lành mạnh

Dưới góc độ kinh tế học, cạnh tranh được hiểu là sự ganh đua giữa các chủ thể kinh doanh trên thị trường nhằm giành giật khách hàng và cạnh trnah chỉ xuất hiện và tồn tại trong điều kiện của cơ chế thị trường Có thể nhận thấy, cạnh tranh

là một phần không nhỏ thúc đẩy sự phát triển của các chủ thể cạnh tranh trong kinh doanh thương mại, điều đó dẫn tới sự phát triểu mặt bằng chung của nền kinh tế thị trường Từ ưu điểm đó, nhà nước luôn khuyến khích các chủ thể kinh doanh cạnh tranh lành mạnh và song đó, có các quy phạm pháp luật, chế tài xử lý nghiệm minh các hành vi vi phạm cạnh tranh bao gồm hành vi hạn chế cạnh tranh và hành vi cạnh tranh không lành mạnh theo pháp luật cạnh tranh Do đó, quyền tự do cạnh tranh lành mạnh của doanh nghiệp được nhà nước và pháp luật đảm bảo

+ Quyền tự do định đoạt trong việc giải quyết tranh chấp kinh tế

Về quyền định đoạt trong việc giải quyết tranh chấp kinh tế, trước hết, phải nói đến là việc tự do lựa chọn hình thức giải quyết tranh chấp Đối với các tranh chấp trong thương mại, Luật thương mại Việt Nam tại Điều 317 có đưa ra các hình thức giải quyết tranh chấp:

“1 Thương lượng giữa các bên.

Trang 11

2 Hòa giải giữa các bên do một cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân được các bên thỏa thuận chọn làm trung gian hòa giải.

3 Giải quyết tại trọng tài hoặc tòa án.”

Quyền tự do định đoạt trong việc giải quyết tranh chấp kinh

tế còn thể hiện ở quyền tự do trong lựa chọn cơ quan giải quyết tranh chấp Hiện nay, pháp luật Việt Nam thừa nhận 2

cơ quan có thẩm quyền giải quyết tranh chấp về kinh doanh thương mại đó là tòa án và trọng tài Theo đó, tại điều 30, 31

Bộ luật tố tụng dân sự 2015 quy định những tranh chấp, yêu cầu về kinh doanh, thương mại thuộc thẩm quyền giải quyết của tòa án Và tại Điều 2 luật trọng tài thương mại 2010 cũng quy định các tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của trọng tài Ở đây, không phải có sự chồng chéo của quy định pháp luật về cơ quan có thẩm quyền giải quyết, mà pháp luật quy định 2 hệ thống cơ quan đều có thẩm quyền giải quyết đối với các tranh chấp liên quan đến kinh doanh, thương mại với những ưu nhược điểm riêng, tạo điều kiện cho các bên có thể căn cứ vào đó mà lựa chọn cơ quan giải quyết phù hợp theo yêu cầu, ý chí và nguyện vọng của mình

+ Quyền được đảm bảo sở hữu đối với tài sản

Pháp luật tôn trọng quyền sở hữu đối với tài sản của nhà đầu

tư, pháp luật cũng là công cụ giúp cho quyền được đảm bảo

sở hữu tài sản được thực thi nghiêm ngặt Một số các điều khoản có thể nói đến như:

Điều 9 Luật đầu tư 2014 quy định về đảm bảo quyền sở hữu tài sản của nhà đầu tư như sau:

Trang 12

“1 Tài sản hợp pháp của nhà đầu tư không bị quốc hữu hóa hoặc bị tịch thu bằng biện pháp hành chính.

2 Trường hợp Nhà nước trưng mua, trưng dụng tài sản vì lý

do quốc phòng, an ninh hoặc vì lợi ích quốc gia, tình trạng khẩn cấp, phòng, chống thiên tai thì nhà đầu tư được thanh toán, bồi thường theo quy định của pháp luật về trưng mua, trưng dụng tài sản và quy định khác của pháp luật có liên quan.”

Luật doanh nghiệp cũng quy định khá chi tiết về vấn đề đảm bảo sở hữu tài sản của doanh nghiệp và chủ sở hữu doanh nghiệp Tại khoản 2 điều 5, nhà nước công nhận và bảo hộ quyền sở hữu tài sản, vốn đầu tư, thu nhập, các quyền và lợi ích hợp pháp khác của doanh nghiệp và chỉ sở hữu Tài sản và vốn đầu tư hợp pháp của doanh nghiệp và chủ sở hữu doanh nghiệp không bị quốc hữu hóa, không bị tịch thu bằng biện pháp hành chính Trường hợp thật cần thiết vì lý do quốc

phòng, an ninh hoặc vì lợi ích quốc gia, tình trạng khẩn cấp, phòng, chống thiên tai, Nhà nước trưng mua hoặc trưng dụng

có bồi thường tài sản của doanh nghiệp; trường hợp trưng mua thì doanh nghiệp được thanh toán, trường hợp trưng dụng thì doanh nghiệp được bồi thường theo giá thị trường tại thời điểm trưng mua hoặc trưng dụng (Khoản 3 Điều 5 luật doanh nghiệp 2014) Tại Điều 7 Luật doanh nghiệp hiện hành

cũng quy định doanh nghiệp có quyền: “Chiếm hữu, sử dụng,

định đoạt tài sản của doanh nghiệp” (khoản 8) và có quyền

“từ chối yêu cầu cung cấp nguồn lực không theo quy định của pháp luật” (khoản 9).

Trang 13

3, Đánh giá về quyền tự do kinh doanh của doanh

nghiệp hiện nay.

3.1, Quyền tự do kinh doanh những ngành nghề

không cấm.

Để cụ thể hoá Hiến pháp 2013: “Mọi người có quyền tự do

kinh doanh trong những ngành nghề mà pháp luật không cấm” Tại khoản 1 điều 7 Luật doanh nghiệp năm 2014 quy

định doanh nghiệp “Tự do kinh doanh trong những ngành,

nghề mà luật không cấm” Vậy pháp luật đã thực sự có những

quy định “mở” cho doanh nghiệp được tự do kinh doanh

những ngành nghề mà luật không cấm?

Luật doanh nghiệp năm 2014 là đã bãi bỏ quy định liên quan đến nghĩa vụ của doanh nghiệp về hoạt đồng đúng ngành nghề kinh doanh có trong đăng ký kinh doanh Cụ thể theo khoản 1, điều 9 luật doanh nghiệp năm 2005 đã hết hiệu lực,

doanh nghiệp có nghĩa vụ “Hoạt động kinh doanh theo đúng

ngành, nghề đã ghi trong Giấy chứng nhận đăng ký kinh

doanh; bảo đảm điều kiện kinh doanh theo quy định của pháp luật khi kinh doanh ngành, nghề kinh doanh có điều kiện” Tuy

nhiên tại luật doanh nghiệp năm 2014 tại điều 8 quy định về

nghĩa vụ của luật doanh nghiệp đã không quy định doanh nghiệp chỉ được phép hoạt động Hoạt động kinh doanh theo đúng ngành, nghề đã ghi trong Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh Có thể thấy đây là điểm mới cơ bản mà luật doanh

nghiệp 2014 đã cởi trói cho doanh nghiệp trong vấn đề tự do kinh doanh những ngành, nghề mà luật không cấm

Ngày đăng: 20/09/2017, 18:31

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w