Lí do chọn đề tài Theo đánh giá của Bộ GD-ĐT, việc học tiếng Việt lớp 1 Công nghệ giáo dục không chỉ giúp HS nắm chắc tri thức cơ bản về tiếng Việt và hình thành đồng thời các kĩ năng ng
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Theo đánh giá của Bộ GD-ĐT, việc học tiếng Việt lớp 1 Công nghệ giáo dục không chỉ giúp HS nắm chắc tri thức cơ bản về tiếng Việt và hình thành đồng thời các kĩ năng nghe - nói - đọc - viết một cách vững chắc mà
HS luôn được tham gia các hoạt động học tập một cách chủ động, tự tin; thông qua việc làm, các thao tác học, các em tự tìm ra và chiếm lĩnh tri thức, được phát huy khả năng tư duy và năng lực tối ưu của mình Đồng thời quá trình dạy học theo phương pháp Công nghệ giáo dục không chỉ giúp GV nâng cao trình độ và năng lực nghiệp vụ sư phạm mà cách tổ chức dạy học theo quy trình công nghệ giúp GV đổi mới phương pháp một cách triệt để
Một điểm khác với phương pháp dạy trước đây, khi áp dụng phương pháp dạy học Tiếng Việt lớp 1- CGD, Giáo viên không phải cầm tay học sinh tập viết, mà mỗi học sinh tự tư duy bài giảng Quy trình dạy của giáo viên sẽ được tiến hành theo bốn bước đó là: nhận diện ngữ âm, tập viết, đọc
và viết chính tả
Chương trình đã phát huy được khả năng tư duy của học sinh, giúp học sinh nắm chắc được cấu tạo ngữ âm của tiếng nên đều đọc được và đọc tốt Qua thời gian nghỉ hè học sinh không quên chữ Học sinh có thể nắm chắc luật chính tả và kĩ năng nghe để viết chính tả tốt
Từ những lí do trên tôi xây dựng đề tài “Phương pháp dạy học phần
âm môn Tiếng Việt lớp 1- Công nghệ giáo dục ”.
2 Mục tiêu nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu về phương pháp dạy học phần âm môn Tiếng Việt lớp 1 theo công nghệ giáo dục và làm sáng tỏ hơn cách thức triển khai khi dạy học phần âm môn Tiếng Việt nhằm giúp các em nắm chắc được kiến thức ban đầu về Tiếng Việt
3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu của đề tài: phương pháp dạy học phần âm môn
Tiếng Việt lớp 1 theo Công nghệ giáo dục
- Phạm vi nghiên cứu của đề tài: Phần âm môn Tiếng Việt 1 Công
nghệ giáo dục
4 Giả thuyết khoa học
Trong DH tiếng Việt 1 Công nghệ giáo dục, nếu GV vận dụng tốt phương pháp dạy học phần âm sẽ giúp cho HS:
- Nhớ lâu các âm vị Tiếng Việt, hình thành kĩ năng cơ bản ban đầu cho
HS trong quá trình học tập
- Rèn luyện tính chủ động, sáng tạo
- Thông qua đó giúp nâng cao hơn chất lượng HS yếu kém nói riêng và của HS nói chung
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục tiêu nghiên cứu trên, đề tài có nhiệm vụ làm rõ những vấn đề sau:
Trang 2- Trình bày các định hướng sư phạm và căn cứ để đề ra phương pháp dạy học phần âm
- Đưa ra một số giái pháp bổ trợ cho việc giảng dạy của giáo viên
6 Phương pháp nghiên cứu
Xuất phát từ đặc điểm của đề tài chúng tôi sử dụng một số PP sau: PP nghiên cứu khoa học giáo dục và PP thực nghiệm sư phạm,
7 Những đóng góp của đề tài
- Về mặt lí luận: Góp phần làm sáng tỏ nội dung “phương pháp dạy học phần âm môn tiếng Việt lớp 1 – Công nghệ giáo dục”.
- Về mặt thực tiễn: Xây dựng được một số phương pháp nhằm dạy tốt
phần âm và nâng cao chất lượng môn Tiếng Việt cho HS
8 Cấu trúc của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, thực nghiệm sư phạm Đề tài có 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lí luận
Chương 2: Thực trạng
Chương 3: Một số phương pháp dạy học phần âm môn tiếng Việt 1
Công nghệ giáo dục
Chương 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN
1 Phương pháp dạy học
Phương pháp dạy học là cách thức hành động có trình tự, phối hợp tương tác với nhau của giáo viên và của học sinh nhằm đạt được mục đích dạy học
Phương pháp dạy học bao gồm phương pháp dạy và phương pháp học với sự tương tác lẫn nhau, trong đó phương pháp dạy đóng vai trò chủ đạo, còn phương pháp học có tính chất độc lập tương đối, chịu sự chi phối của phương pháp dạy, song nó cũng ảnh hưởng trở lại phương pháp dạy Phương pháp dạy học là tổ hợp những biện pháp với tư cách là những thành phần cấu trúc của nó, song việc phân như vậy cũng chỉ có tính chất tương đối Chẳng hạn giảng giải là phương pháp dạy học trong tiết học lĩnh hội tri thức mới nhưng lại là một biện pháp của phương pháp công tác trong phòng thí nghiệm Điều đó có nghĩa là trong những điều kiện nhất định, chúng có thể chuyển hoá lẫn nhau
2 Tiểu kết chương 1
Trong chương này, chúng tôi đã trình bày khái niệm: phương pháp dạy học làm cơ sở để đề xuất một số phương pháp dạy học phần âm môn tiếng Việt lớp 1 công nghệ giáo dục
Trang 3Chương 2 MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC PHẦN ÂM MÔN
TIẾNG VIỆT 1 CÔNG NGHỆ GIÁO DỤC
1 Thực trạng
1.1 Cơ sở thực tiễn
Trong các môn học thì môn Tiếng Việt lớp 1 chiếm một vị trí vô cùng quan trọng trong bậc tiểu học vì Tiếng Việt là con đường dẫn các em đến với một số kiến thức cơ bản về tự nhiên, xã hội…Tiếng Việt còn là phương tiện giao tiếp giúp cho học sinh nắm vững tiếng mẹ đẻ và tiến đến
để học tốt các môn học khác Dạy Tiếng việt lớp 1, phần học âm là hình thành những cơ bản ban đầu về đọc, viết định hướng cho các em việc nghe -nói trên cơ sở vốn tiếng Việt các em đã có Vì vậy mỗi giáo viên được phân công dạy lớp 1 cần: giảng dạy thật tốt môn Tiếng Việt 1 - CGD và thực hiện tốt các hình thức dạy học, nhằm gây hứng thú trong học tập cho học sinh, giúp các em nắm chắc kiến thức bài học ngay tại lớp, tiếp thu bài giảng một cách nhanh nhất và hiệu quả nhất Học sinh học xong chương trình Tiếng việt 1- CNGD thì 100% các em đều phải đọc thông, viết thạo và nắm chắc luật chính tả trong tiếng Việt
2 Thuận lợi và khó khăn
2.1 Thuận lợi
Học sinh trong lớp đa phần các em được thông qua chương trình mầm non
Do đặc thù địa phương nên các em được tham gia sinh hoạt trong giáo
Sứ nên rất mạnh dạn trong giao tiếp
Một số phụ huyng rất quan tâm đến vấn đề học tập của con em khi tiếp cận chương trình tiếng Việt mới
Giáo viên và học sinh được sự quan tâm giúp đỡ từ phía ban giám hiệu nhà trường
2.2 Khó khăn
Do năm đầu tiên thực hiện chương trình mới nên giáo viên cũng còn nhiều vướng mắc trong quá trình giảng dạy
Học sinh vẫn bị ảnh hưởng bởi phụ huynh theo cách học cũ nên giáo viên khó sửa sai cho học sinh theo chương trình mới
Giáo viên đôi khi vẫn đi theo lối mòn của phương pháp cũ
3 Môn Tiếng Việt lớp 1 Công nghệ giáo dục
3.1 Mục tiêu dạy học môn Tiếng Việt lớp 1 Công nghệ giáo dục
Mục tiêu của chương trình là giúp các em nắm chắc được các âm vị Tiếng Việt, vần, các luật chính tả để qua đấy học sinh đọc thông viết thạo và hạn chế lỗi chính tả
3.2 Nội dung môn Tiếng Việt lớp 1 công nghệ giáo dục
Môn tiếng Việt lớp 1 Công nghệ giáo dục được phân thành 3 phần Bài 1: Tiếng
Trang 4Bài 2: Âm
Bài 3: Vần
Bài 4: Nguyên âm đôi
3.4 Phương pháp dạy học môn Tiếng Việt lớp 1 Công nghệ giáo dục
a Phương pháp mẫu:
-Lập mẫu, sử dụng mẫu
-Làm mẫu tổ chức học sinh làm theo mẫu đã có
b Phương pháp làm việc:
- Tổ chức việc học của trẻ em thông qua những việc làm cụ thể và những thao tác chuẩn xác do các em tự làm lấy
4 Những căn cứ để đề ra một số phương pháp dạy học phần âm môn tiếng Việt 1 công nghệ giáo dục
- Căn cứ vào đặc điểm của môn Tiếng Việt lớp 1 công nghệ giáo dục: Tiếng Việt mang tính thực tiễn cao, gần gũi với cuộc sống thường ngày của các em
- Căn cứ vào nhu cầu của thực tiễn: Khi DH Tiếng Việt đa phần giáo viên vẫn cố gắng làm giúp cho những học sinh còn yếu và chậm tuy nhiên theo công nghệ giáo dục thì cần để cho các em chủ động, tích cực nắm bắt tri thức
5 Những định hướng để đề ra một số phương pháp dạy học phần âm môn tiếng Việt công nghệ giáo dục
- Rèn luyện tính tích cực của HS trước hết phải đáp ứng được mục đích của việc dạy học môn Tiếng Việt ở tiểu học
- Khai thác chương trình và SGK hiện hành để rèn luyện tính tích cực của HS
6 Một số phương pháp dạy học phần âm môn tiếng Việt lớp 1 – Công nghệ giáo dục
6.1 Phương pháp mẫu
6.1.1 Lập mẫu, sử dụng mẫu
Lập mẫu là quá trình T tổ chức cho HS chiếm lĩnh khái niệm trên một vật liệu xác định
Ví dụ: Với mẫu /ba/ - phân biệt nguyên âm, phụ âm
- Trong tiết học này việc lập mẫu rất quan trọng vì nó hình thành mẫu ban đầu, phân biệt nguyên âm phụ âm và cũng là bài học ảnh hưởng xuyên suốt đối với quá trình dạy phần âm
- Đối với tiết ngọc này T cần làm chuẩn xác và đúng theo quy trình 4 việc
Việc 1: chiếm lĩnh
- T phát âm thật chuẩn tiếng /ba/ là đã tạo ra một sản phẩm hay nói cách khác
là một mẫu
Trang 5- HS phân tích tiếng /ba/ bằng cách sử dụng bộ máy phát âm, có tay hỗ trợ + nói to /ba/ - hai tay vỗ vào nhau
+ tách ra: /b/ - tay trái ngửa ra
/a/ - tay phải ngửa ra
+ nhập lại: /ba/ - hai tay vỗ vào nhau
- Học sinh được kiểm nghiệm việc nhận biết nguyên âm hay phụ âm thông qua luồng hơi Vậy qua bài học này học sinh nhận biết được:
+ Nguyên âm có luồng hơi đi ra tự do, phụ âm có luồng hơi bị cản Từ đây sẽ hình thành sẵn một mẫu về cách phân biệt nguyên âm và phụ âm cho HS về sau
Việc 2: Viết
- Đây là phần quy ước cách dùng chữ thay âm
- Chúng ta phải đi lần lượt theo từng bước
Dùng vật thay thế, dùng mô hình thay thế và cuối cùng là dùng chữ để ghi
âm
Việc 3: Đọc
- Đọc là thao tác ngược với viết, từ chữ trở về âm
- Trước hết, T cho HS đọc chữ mình viết ra Viết xong chữ nào đọc lại chữ đấy
- Phải cho HS làm quen ngay từ đầu với 4 mức độ âm thanh
- Nếu học sinh nào chưa đọc trơn được thì bắt đầu bằng tiếng thanh ngang sau đấy ráp dấu thanh
Việc 4: Viết chính tả
Cần thực hiện theo đúng quy trình viết chính tả ngay từ đầu
+ bước 1: nhắc lại tiếng
+ bước 2: Phân tích tiếng
+ bước 3: viết
+ bước 4: đọc lại
Tóm lại, trong tiết lập mẫu là làm theo đúng Quy trình 4 việc, thực
thi chuẩn xác từng thao tác, làm ra sản phẩn chuẩn xác, xứng đáng là mẫu chuẩn mực cho tất cả các tiết học của bài.
6.1.2 Làm mẫu, tổ chức cho học sinh làm theo mẫu đã có
Dùng mẫu là luyện tập với vật liệu khác trên cùng một chất liệu với công đoạn Lập mẫu Để thực hiện quy trình này, T phải sử dụng phương pháp Mẫu T phải xuất phát từ Mẫu, phân tích Mẫu và vận dụng Mẫu Mỗi mẫu cơ bản trên tương ứng với quy trình của một tiết Lập mẫu Dựa trên quy trình của tiết Lập mẫu đó có thể xây dựng nhiều tiết Dùng mẫu
( Quy trình giống quy trình tiết lập mẫu) Tuy nhiên cần chú ý :
+ Mục đích của tiết dùng mẫu là:
- Vận dụng quy trình từ tiết lập mẫu
- Luyện tập với vật liệu khác trên cùng một chất liệu với tiết lập mẫu
+Yêu cầu giáo viên trong tiết dùng mẫu:
Trang 6- Nắm chắc quy trình từ tiết lập mẫu.
- Chủ động linh hoạt trong quá trình tổ chức tiết học sao chu phù hợp với học sinh lớp mình
Ví dụ: Bài Âm /e/ là tiết dùng mẫu
Việc 1: Chiếm lĩnh ngữ âm
Mục đích: HS phát âm tiếng chứa âm mới, nhận ra âm mới là nguyên âm hay
phụ âm, vẽ được mô hình phân tích tiếng có âm mới
1.1.Giới thiệu âm mới
- GV đưa ra tiếng chứa âm mới /đe/ và yêu cầu HS phát âm lại theo 4 mức
độ T- N- N- T
1.2.Phân tích tiếng
- GV yêu cầu HS phân tích tiếng /đe/ ( kết hợp vỗ tay) để biết phần đầu là
âm /đ/ và phần vần là âm / e/
- GV cho HS phát âm lại âm /e/, nhận xét luồng hơi đi ra như thế nào?
- HS nhận xét luồng hơi đi ra tự do nên /e/ là nguyên âm
- Cho HS nhắc lại: /e/ là nguyên âm theo 4 mức độ T- N- N- T
1.3Vẽ mô hình
- GV vẽ và yêu cầu HS vẽ mô hình hai phần tiếng /đe/, đọc /đe/
- GV yêu cầu HS viết âm /đ/ vào phần đầu của mô hình và nhắc lại /đ/ là phụ âm
- HS chỉ tay vào phần vần âm /e/ chưa biết chữ còn bỏ trống đọc /e/ là nguyên âm
Việc 2: Học viết chữ ghi âm
Mục đích: HS nắm được cấu tạo chữ e in thường và chữ e viết
thường HS nắm được quy trình và viết được chữ e viết thường cỡ nhỡ, viết
được các tiếng có âm /e/
2.1. Giới thiệu cách ghi âm bằng chữ in thường.
GV giới thiệu chữ e in thường ( dùng chữ mẫu hoặc viết mẫu lên bảng,
mô tả cấu tạo chữ e để HS nhận biết khi đọc bài.)
2.2. Hướng dẫn viết chữ e viết thường.
- GV đưa ra chữ mẫu hoặc viết mẫu, hướng dẫn chấm điểm tọa độ
và quy trình viết
-HS luyện viết vào bảng con chữ e viết thường
2.3. Viết tiếng có âm vừa học.
- GV yêu cầu HS đưa tiếng /đe/ vào mô hình, thay các phụ âm đầu d,
ch, c, b để tạo tiếng mới mỗi lần thay đều phân tích kết hợp với tay.( HS ghi vào bảng)
Trang 7- GV yêu cầu HS thay dấu thanh vào tiếng /đe/ tạo tiếng mới mỗi lần thay đều phân tích kết hợp với tay ( HS ghi vào bảng)
* Chú ý: GV hương dẫn học sinh các nét nối và vị trí đánh dấu thanh
của
tiếng.
d/Hướng dẫn viết vở Em tập viết.
- GV hướng dẫn cách tô chữ e và khoảng cách giữa các chữ theo điểm
chấm tọa độ trong vở, nét nối giữa các con chữ b,e, khoảng cách giữa các tiếng trong một từ “ da dẻ”.
-GV kiểm soát quá trình viết của học sinh và chấm bài
Việc 3: Đọc
Mục đích: HS đọc trôi chảy từ mô hình tiếng đến âm, tiếng từ, câu
trong bài
a/ Đọc trên bảng
- Phần này giáo viên linh động chọn âm, tiếng luyện tùy vào đối tượng trong lớp mình
- Đọc từ dễ đến khó, từ tiếng có thanh ngang đến các tiếng có dấu thanh (đe,đè, đé, đẻ, đẽ, đẹ), rồi đến ( bè, dẻ, chè)
b/ Đọc trong sách giáo khoa (Đọc từ trên xuống, từ trái sang phải)
* Chú ý: sử dụng nhiều hình thức đọc ( nhóm, cá nhân, cả lớp), các mức
độ đọc ( T- N- N- T)
Việc 4: Viết chính tả:
Mục đích: HS viết đúng chính tả các chữ ghi tiếng chè,be bé, e dè…
a/ Viết bảng con/ viết nháp
- GV đọc cho HS nghe viết từng tiếng vào bảng con hoặc nháp
- HS phát âm lại, phân tích rồi viết, viết xong lại đọc lại
b/ Viết vào vở chính tả
GV thực hiên đúng theo quy trình mẫu:
+ Bước 1: Phát âm lại( đồng thanh)
+ Bước 2: Phân tích( bằng thao tác tay)
+ Bước 3: Viết
+ Bước 4: Đọc lại
6.2 Phương pháp làm việc:
- Tổ chức việc học của trẻ em thông qua những việc làm cụ thể và những thao tác chuẩn xác do các em tự làm lấy
Trong một tiết học thì người thầy giao việc chỉ cần nói một lần, làm
Trang 8mẫu một lần nhưng học sinh nhắc lại nhiều lần , làm đi làm lại nhiều lần.
Ví dụ:
Ngay từ tiết học đầu tiên, người thầy yêu cầu học sinh vẽ mô hình tách tiếng thành hai phần thì đầu tiên người thầy nói quy trình cách vẽ, vẽ mẫu 1 lần và cho học sinh thực hiện vẽ nhiều lần
Đặc biệt với công nghệ giáo dục thì người thầy sẽ không cầm tay từng học sinh để viết mà các em phải tự chiếm lĩnh, tự làm và mục đích cuối cùng là phải tự viết được
Trong phương pháp làm việc thì người thầy cũng phải lưu ý những mức độ để đánh giá học sinh đó là làm được, làm đúng, làm nhanh và làm đẹp
Đối với phương pháp làm việc còn yêu cầu người thầy phải vận dụng một cách linh hoạt đối với tình hình thực tế học sinh
Ví dụ: Khi dạy bài âm tr
Do đặc thù địa phương nên các em hay nhầm lẫn tr/ ch vì vậy trong quá trình học người thầy cần giúp học sinh làm thao tác phân tích để phát hiện sự khác biệt về ngữ âm để từ đó phân biệt được
Chẳng hạn khi học sinh phát âm tr/ch người thầy cần nhắc kỹ cách phát âm như vị trí đặt lưỡi từ việc học sinh tự làm sẽ nhớ lâu hơn
Nói tóm lại Muốn thực hiện tốt phương pháp này thì đầu tiên người thầy cần nắm chắc 4 việc cơ bản của một tiết học và luôn luôn phải thực hiện tuần tự theo 4 việc này, không được nhảy cóc và không để bị chi phối bởi thời gian Nói tóm lại người thầy cần thực hiện đúng và đủ để tạo nếp cho học sinh theo quy trình 4 việc
7 Tiểu kết chương 2
Trong chương 2 chúng tôi đã trình bày được 2 phương pháp cơ bản để dạy tốt phàn âm môn tiếng Việt lớp 1 công nghệ giáo dục Ở chương này yêu cầu người thầy cần thực hiện chuẩn xác các mục đích yêu cầu của tài liệu dạy học và đặc biệt người thầy cần áp dụng linh hoạt và đúng với thực tế học sinh
Chương 3 THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM
1 Mục đích thực nghiệm
Vận dụng một số phương pháp dạy học phần âm nhằm: Khẳng định bước đầu tính khả thi, tính hiệu quả của đề tài
2 Tổ chức và nội dung thực nghiệm
Địa điểm thực nghiệm: Trường tiểu học Lạc Lâm, huyện Đơn Dương Đối tượng: Lớp 1B (thực nghiệm và đối chứng)
3 Tổ chức thực nghiệm
Trang 9Chúng tôi dựa vào 2 phương pháp đã nêu ở chương 2 chúng tôi thực hiện kiểm chứng và trực tiếp giảng dạy kiểm chứng sư phạm
4 Đánh giá kết quả thực nghiệm
4.1 Đánh giá định tính
Qua kết quả của bài kiểm tra cho thấy, đa số HS học sinh nắm được các
âm đã học
Khả năng vận dụng: Các em đã biết cách thực hiện theo hiệu lệnh của giáo viên về cách lập mẫu và dùng mẫu
Tuy nhiên HS vẫn còn mắc một số lỗi sau:
HS vẫn còn lúng túng trong cách tiếp cận cách học mới
HS vẫn còn nhầm lẫn trong việc nhận dạng một số âm ghép như ch/ tr/ ng/ gh
4.2 Đánh giá định lượng
Kết quả làm bài kiểm tra của học sinh
Bảng 1 Thống kê điểm bài kiểm tra
Chất lượng giữa kì I
Điểm trung bình của bài kiểm tra – kiểm chứng: X = 7,8
* Đánh giá kết quả kiểm tra
Không có HS đạt điểm yếu và kém, tỉ lệ HS làm bài đạt điểm khá giỏi
là đa số chiếm 81,3 %, còn lại là 18,7 % đạt điểm trung bình
* Nhận xét chung
- Một số khó khăn:
Do tâm lý nên còn ảnh hưởng đến kết quả làm kiểm tra của HS
Vẫn tồn tại một số HS nhận biết chậm và chưa hình thành được cách thức làm việc thành thạo
- Hướng khắc phục:
GV cần bao quát lớp tốt hơn để toàn bộ
Yêu cầu của GV phải chú ý tính vừa sức, phù hợp, phân bậc hợp lý đối với từng đối tượng HS khác nhau
5 Tiểu kết chương 3
Quá trình thực nghiệm cùng những kết quả rút ra sau thực nghiệm cho thấy: Mục đích thực nghiệm đã hoàn thành, tính khả thi và hiệu quả của các phương pháp đã được khẳng định
Thực hiện tốt phương pháp này kết hợp với cách linh hoạt trong tổ chức dạy học sẽ góp phần nâng cao chất lượng dạy học phần âm cho học sinh
Trang 10KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ
1 Kết luận
Mục tiêu của giáo dục TH là giúp HS hình thành những cơ sở ban đầu cho sự phát triển đúng đắn và lâu dài về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản để HS tiếp tục học lên trung học cơ sở
Đề tài “Một số phương pháp dạy học phần âm môn tiếng Việt 1 công nghệ giáo dục” đã trình bày một số khái niệm về phương pháp dạy học, … từ đó
vận dụng xây dựng một số phương pháp để dạy học phần âm môn tiếng Việt lớp
1 công nghệ.giáo dục
Để kiểm tra tính khả thi của đề tài, tôi đã tiến hành thực nghiệm sư phạm Các biện pháp có tính khả thi thể hiện qua thực nghiệm sư phạm
Đề tài này còn là tài liệu tham khảo cho GV, phụ huynh và HS trong dạy
và học Tiếng Việt 1 công nghệ giáo dục
Từ những kết quả trên cho phép xác nhận rằng: Giả thuyết khoa học của đề tài là chấp nhận được, có tính hiệu quả và mục đích nghiên cứu đã hoàn thành
2 Khuyến nghị
Về phía nhà trường, cần mở thêm nhiều chuyên đề cho giáo viên học tập kinh nghiệm và nâng cao tay nghề
Về phía giáo viên, nên phát huy tốt hơn vai trò của học sinh trong các tiết học Đặc biệt giáo viên cần học tập không ngừng, tiếp cận với các phương pháp mới để nâng cao hiệu quả trong giảng dạy
Trong quá trình thực hiện đề tài, không thể tránh khỏi sự thiếu sót, rất kính mong sự góp ý chân thành của quý thầy cô
Lạc Lâm, tháng 11 năm 2015
Người viết đề tài
Trần Ngọc Kiên Trinh