Các khái niệm có liên quan đến đề tài “ Một số giải pháp bảo hộngành sản xuất ô tô trong nước khi gia nhập hiệp hội Asean 2015 “ , giúp ta hiểuhơn về thực trạng về sự bảo hộ của Nhà nước
Trang 1ĐỀ ÁN MÔN HỌC
ĐỀ TÀI:MỘT SỐ BIỆN PHÁP BẢO HỘ NGÀNH SẢN XUẤT Ô TÔ TRONG NƯỚC KHI GIA NHẬP CỘNG ĐỒNG KINH TẾ ASEAN 2015
GVHD : SVTH : MSSV :
ĐÁNH GIÁ ĐỀ TÀI SINH VIÊN.
Giảng viên hướng dẫn:
TP HỒ CHÍ MINH
Trang 2
ĐIỂM:
TP HCM, ngày….tháng….năm 2014
Giảng Viên Hướng Dẫn
Trang 31.1.2 Vai trò của bảo hộ : 2
1.1.3 Đặc điểm của bảo hộ : 3
1.2 Các biện pháp để thực hiện bảo hộ : 3
1.2.1 Chính sách thuế quan : 3
1.2.2 Hàng rào phi thuế quan : 4
1.3 Cộng đồng kinh tế Asean 2015 : 9
1.3.1 Khát quát chung về Asean : 9
1.3.2 Nội dung chính của Cộng đồng Asean : 9
1.3.2.1 Mục tiêu tổng quát : 9
1.3.2.2 Mục tiêu kinh tế : 9
1.3.2.3 Định hướng Asean 2015 : 10
1.3.2.4 Định hướng ngành công nghiệp ô tô khi gia nhập Asean 2015 : 10
1.4 Một số các khái niệm khác được đề cập đến trong Chương 2 và Chương 3 .12 1.4.1 Tỷ lệ nội địa hoá sản phẩm : 12
1.4.2 Công nghiệp hỗ trợ: 12
1.4.3 Doanh nghiệp đầu tư nước ngoài (FDI): 12
1.4.4 Chuyển giao công nghệ : 13
1.4.5 Tiếp thu công nghệ và bí quyết quản lí : 14
1.4.6 Tăng số lượng việc làm và đào tạo nhân công : 14
1.4.7 Tham gia mạng lưới sản xuất toàn cầu : 15
1.4.8 Cơ sở hạ tầng giao thông : 15
CHƯƠNG 2 : PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG VỀ TÌNH HÌNH BẢO HỘ NGÀNH SẢN XUẤT Ô TÔ TRONG NƯỚC 16
2.1 Đánh giá tình hình nhập khẩu ô tô của Việt Nam trong thời gian qua : 16
2.2 Đánh giá hoạt động sản xuất ô tô của Việt Nam trong thời gian qua : 18
2.3 Đánh giá về hoạt động sản xuất ô tô trong các nước thành viên khối Asean ( chủ yếu là Thái Lan , Malaysia , Indonesia ) 19
2.4 Đánh giá chính sách bảo hộ sản xuất ô tô của Việt Nam trong thời gian qua: 20
2.4.1 Thực trạng và tính hiệu quả của chính sách bảo hộ tại Việt Nam 21
2.4.2 So sánh với các chính sách phát triển ô tô tại các nước trong khu vực Asean 23
2.4.3 Nghịch lí về chính sách đánh thuế xe ô tô hiện giờ của nhà nước Việt Nam và nhu cầu tiêu dùng của người dân trong nước : 25
2.4.4 Nhược điểm của các chính sách mà Việt Nam đang áp dụng để bảo hộ ngành sản xuất ô tô trong nước : 26
CHƯƠNG 3 : GIẢI PHÁP NÂNG CAO TÍNH BẢO HỘ NGÀNH SẢN XUẤT Ô TÔ TRONG NƯỚC : 29
Trang 43.1 Những mặt lợi thế và khó khăn cho hoạt động sản xuất ô tô trong nước khi cộng đồng Asean 2015 chính thức được ra đời : 293.2 Mục tiêu và định hướng của Việt Nam cho hoạt động sản xuất ô tô trong tương lai : 343.3 Một số biện pháp cụ thể để nâng cao tính hiệu quả của các chính sách bảo hộ hiện tại của Nhà nước đối với ngành sản xuất ô tô hiện tại : 343.3.1 Áp dụng hàng rào phi thuế quan : 343.3.2 Cải thiện sản xuất ô tô trong nước : 383.3.2.1 Nâng cao công nghiệp hỗ trợ cho các cơ sở lắp ráp , nâng cao tỷ lệ nội địa hoá sản phẩm : 383.3.2.2 Chính sách thuế hợp lí : 43
Trang 5DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 2.1 : Số lượng ô tô nguyên chiếc nhập khẩu từ đầu năm đến tháng10/2014 ………15Biểu đồ 2.2 : Số lượng ô tô nhập khẩu theo tháng năm 2014 ………….16
Trang 6LỜI MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài :
Trong xã hội ngày càng hiện đại , nền kinh tế của đất nước đang trên đà vậnchuyển Một trong những ngành công nghiệp chủ đạo góp phần nâng cao vị thếkinh tế của đất nước không thể không kể đến ngành công nghiệp sản xuất ô tô ,ngành chi phối đến yếu tố vận chuyển , một trong những yếu tố quan trọng trong sựphát triển của các doanh nghiệp Nhưng ngành sản xuất ô tô vẫn là một trongnhững ngành công nghiệp non trẻ của đất nước ta và còn phụ thuộc nhiều vào cácdoanh nghiệp ô tô nước ngoài Do vậy , để ngành sản xuất ô tô trong nước có thểphát triển lớn mạnh thì chính sách bảo hộ của Nhà nước đối với ngành là vô cùngquan trọng
Nhu cầu tiêu thụ xe ô tô của người dân trong nước ngày càng cao , có thểthấy rõ ràng thông qua số liệu của Tổng cục Hải Quan , chỉ trong vòng 5 năm qua,các doanh nghiệp nhập khẩu đã nhập tới 5.758 ô tô nguyên chiếc các loại với kimngạch là 135,5 triệu USD , tăng 170% về lượng và 190% về giá trị so với cùng kìnăm 2013 trong khi năm 2009 đạt mức 8.000 chiếc Những con số đó thể hiện nhucầu của người dân về xe ô tô là rất lớn nên tại sao ngành sản xuất ô tô trong nướcvẫn không có bước đột phá để phát triển ?
Trong điều kiện hội nhập hiện nay , đặc biệt là trong năm 2015 sẽ có Cộngđồng Asean ra đời nên việc các nước có ngành công nghiệp sản xuất ô tô phát triểnnhư Thái Lan hay Malaysia sẽ có thuận lợi khi được nhập vào Việt Nam ở mức thuếnhập khẩu là 0% khi đến năm 2018 Vậy nên nếu Việt Nam nếu không có cácchính sách bảo hộ hợp lí , chặt chẽ và đúng lúc thì ngành sản xuất ô tô trong nướcliệu có khả năng cạnh tranh với các dòng xe nhập khẩu từ các nước trong cộng đồngAsean trong tương lai
Bên cạnh đó , dù Việt Nam đã có những chính sách bảo hộ hiện tại đối vớingành sản xuất ô tô nhưng có đem lại hiệu quả như mong muốn ? Trong 10 năm ,ngành ô tô Việt Nam vẫn chưa thực sự phát triển khi các linh kiện , phụ tùng để sảnxuất ra một chiếc ô tô trong nước chiếm tới 70% là phải nhập khẩu từ nước ngoài ,
Trang 7tỷ lệ nội địa hoá sản phẩm còn thấp dẫn đến giá thành cao hơn xe lắp ráp ở Thái Lan20% trên một chiếc
Ngoài ra các doanh nghiệp sản xuất ô tô có yếu tố nước ngoài sẽ có thêmnhiều sự lựa chọn thị trường một khi Cộng đồng Asean 2015 ra đời , họ sẽ ưu tiênchọn các thị trường vốn đã có được nền tảng sản xuất nhất định như Thái Lan ,Malaysia hay Indonesia chứ không chọn Việt Nam Đó là một bất lợi khác nữa củanền kinh tế Việt Nam nói chung và ngành công nghiệp sản xuất ô tô nói riêng khi
đó là một ngành công nghiệp chủ chốt của một quốc gia nhưng còn trên đà pháttriển
Nhận thấy được điều đó nên em đã quyết định chọn đề tài “ Một số biện pháp bảo hộ ngành sản xuất ô tô trong nước khi gia nhập cộng đồng kinh tế Asean 2015 “
2 Mục tiêu nghiên cứu :
- Đánh giá chung hoạt động sản xuất ô tô trong nước hiện nay cũng như tình
hình nhập khẩu ô tô trong nước
- Phân tích , đánh giá thực trạng các chính sách bảo hộ ngành sản xuất ô tô trongnước hiện nay , nêu ra những mặt tích cực để tiếp tục phát huy và những bất cập củacác chính sách để khắc phục
- Đề ra các giải pháp để nâng cao tính bảo hộ của các chính sách bảo hộ sảnxuất ô tô trong nước
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu :
- Đối tượng nghiên cứu là các chính sách bảo hộ sản xuất ô tô trong nước ,
đặc biệt là định hướng các chính sách đó khi cộng đồng kinh tế Asean 2015 ra đời
- Phạm vi nghiên cứu : các chính sách bảo hộ trong nước Việt Nam đối vớingành sản xuất ô tô
Trang 84 Kết cấu của báo cáo :
Ngoài phần mở đầu và kết luận , báo cáo được kết cấu làm ba chương :
Chương 1 : Cơ sở lí thuyết về bảo hộ
Chương 2 : Phân tích thực trạng về bảo hộ sản xuất ô tô trong nước hiện nay Chương 3 : Một số giải pháp nâng cao tính bảo hộ sản xuất ô tô trong nước
Trang 9LỜI CẢM ƠN
Trong quátrình thực hiện đề tài, do thời gian và kinh nghiệm còn hạn chế,nguồn tài liệu còn eo hẹp nên đề tài không tránh khỏi những thiếu sót Vì vậy, emrất mong nhận được ý kiến đóng góp của Thầy
Em xin chân thành cảm ơn Thầy đã nhiệt tình hướng dẫn , đóng góp ý kiến vàđưa ra những cách thức dễ hiểu để em hoàn thành bài báo cáo này của mình
Trang 10CHƯƠNG 1 : CƠ SỞ LÍ THYẾT VỀ BẢO HỘ
- Trong phần này sẽ cho chúng ta hiểu về các khái niệm sẽ được đề cập ở cácchương tiếp theo Các khái niệm có liên quan đến đề tài “ Một số giải pháp bảo hộngành sản xuất ô tô trong nước khi gia nhập hiệp hội Asean 2015 “ , giúp ta hiểuhơn về thực trạng về sự bảo hộ của Nhà nước là gì và từ đó đưa ra các giải pháp đểnâng cao tính bảo hộ cho các doanh nghiệp trong nước , đảm bảo sự ổn định pháttriển kinh tế mà vẫn tận dụng được nguồn lợi khi gia nhập Asean 2015 sắp tới
1.1 Một số khái niệm bảo hộ sản xuất trong nước :
- Theo Từ điển thương mại quốc tế ( Walter Goode ) , “Bảo hộ là mức độcác nhà sản xuất nội địa và các sản phẩm của họ được bảo vệ khỏi sự cạnh tranh củathị trường quốc tế “ Biện pháp cơ bản để đạt được điều này là thuế quan , trợ cấp,các hạn chế xuất khẩu tự nguyện và các biện pháp phi thuế quan Những trườnghợp phức tạp hơn có thể bao hàm các lĩnh vực văn hoá , môi trường và các mốiquan tâm khác
- Tóm lại , Chính sách bảo hộ nói chung trong thương mại quốc tế(Protectionism) là việc chính phủ áp dụng các biện pháp rào cản thuế quan và phithuế quan cùng những rào cản thương mại khác nhằm bảo vệ nền sản xuất trongnước , đẩy mạnh việc sản xuất và xuất khẩu ra nước ngoài
Trang 11- Theo quan điểm cá nhân , em cho rằng bảo hộ sản xuất trong nước làChính phủ hay Nhà nước sẽ có áp dụng phương thức là áp đặt thuế hay các hàng ràophi thuế quan hoặc sẽ gây những khó khăn đối với việc tiêu thụ sản phẩm nhậpkhẩu để kích thích và khuyến sản xuất , tiêu thụ sản phẩm đó trong nước
1.1.2 Vai trò của bảo hộ :
- Đảm bảo ngành cần được bảo hộ sẽ phát triển tốt trong nước và đủ sức
cạnh tranh với các thị trường bên ngoài
- Hạn chế tối đa việc nhập khẩu sản phẩm hay hàng hoá cần được bảo hộ ,khuyến khích các nhà đầu tư trong nước phát triển và tăng quy mô sản xuất
- Khuyến khích người dân tiêu dùng hàng hoá trong nước để các doanhnghiệp trong nước sản xuất và đầu tư nhiều
- Đề phòng và tránh việc nguy cơ đất nước sẽ không có khả năng phát triển
1 ngành công nghiệp hay 1 loại hàng hoá nào đó , ảnh hưởng đến sự phát triển kinh
tế của một đất nước , đặc biệt là trong thời điểm hội nhập hiện nay , hàng hoá nhậpkhẩu sẽ được hưởng thuế suất ưu đãi từ các hiệp định thương mại được kí kết
- Bảo vệ các đơn vị , các doanh nghiệp , các nhà sản xuất trong nước trướccác sản phẩm nhập khẩu cùng loại từ nước ngoài Hướng đến một đất nước có đầy
đủ các ngành công nghiệp , các hàng hoá sản phẩm được sản xuất trong nước , tránhtình trạng bị phụ thuộc vào các doanh nghiệp nước ngoài xuất khẩu
- Giải quyết việc làm trong nước , giảm thiểu tình trạng thất nghiệp , trongmột số trường hợp đó là sự trả đũa của các quốc gia với nhau
1.1.3 Đặc điểm của bảo hộ :
- Các chính sách bảo hộ thường được áp dụng đối với các ngành công
nghiệp còn non trẻ của một đất nước , là các ngành mà trong nước mới đi trên đàphát triển còn các nước trong khu vực hay thế giới đã phát triển rất nhiều
Trang 12- Việc bảo hộ sẽ cấp thiết hơn khi đất nước bưới vào quá trình hội nhập kinh
- Việc bảo hộ đối với một ngành công nghiệp của một đất nước không thểthực hiện kéo dài mãi mãi trong thời điểm hiện nay , khi hội nhập , không một quốcgia nào có thể đồng ý mãi với việc hàng hoá của họ khi xuất khẩu vào lại lôn bị mứcthuế quá cao với lí do là để bảo hộ sản xuất của nước nhập khẩu Vì vậy việc bảo
đó cao hơn giá của mặt hàng cùng loại được sản xuất trong nước Việc làm đó đểbảo hộ và đảm bảo khi có hàng hoá nhập khẩu thì hàng hoá trong nước vẫn có chỗđứng , sản phẩm vẫn có thể bán được , doanh nghiệp vẫn hoạt động sản xuất bìnhthường được , không ảnh hưởng đến kinh tế của đất nước
Trang 131.2.2 Hàng rào phi thuế quan :
- Là những biện pháp phi thuế quan mang tính cản trở đối với thương mại
mà không dựa trên cơ sở pháp lí, khoa học hoặc bình đẳng Hàng rào phi thuế quanthường được áp dụng đối với hàng nhập khẩu Hình thức của hàng rào phi thuế quanrất phong phú, gồm: Các biện pháp hạn chế định lượng, các biện pháp tương đươngthuế quan, các rào cản kỹ thuật, các biện pháp liên quan đến đầu tư nước ngoài, cácbiện pháp quản lý hành chính, các biện pháp bảo vệ thương mại tạm thời
- Hệ thống tiêu chuẩn kỹ thuật: Đây là hệ thống bảo hộ bằng rào cản kỹthuật hiệu quả nhất thế giới hiện nay và phù hợp với xu thế chung của thương mạithế giới, nên ngày càng có nhiều quốc gia trên thế giới áp dụng, trong đó có EU Tại
EU, đây là biện pháp bảo hộ phi thuế quan chủ yếu và phổ biến nhất cho các hànghóa nhập khẩu từ các nước khác Hệ thống này được cụ thể hóa qua 5 tiêu chuẩncủa sản phẩm bao gồm: tiêu chuẩn chất lượng, tiêu chuẩn vệ sinh thực phẩm, tiêuchuẩn an toàn cho người sử dụng, tiêu chuẩn bảo vệ môi trường và tiêu chuẩn về laođộng Với nhiều nước xuất khẩu là nước đang phát triển, các tiêu chuẩn về bảo vệmôi trường và tiêu chuẩn về lao động là những tiêu chuẩn rất khó vượt qua được
- Biện pháp hạn chế định lượng là một trong những hàng rào phi thuế màhàng hóa và DN Việt Nam sẽ gặp phải khi thâm nhập vào thị trường quốc tế Đây làbiện pháp nhằm trực tiếp giới hạn khối lượng hoặc giá trị hàng hóa nhập khẩu vàomột quốc gia, do đó có tính chất bảo hộ rất cao Các biện pháp bao gồm:
Thứ nhất : cấm nhập khẩu Các nước trên thế giới chỉ được sử dụng
biện pháp này vì mục tiêu bảo vệ đạo đức công cộng, sức khỏe conngười, tài nguyên thiên nhiên, an ninh quốc phòng Vì thế, nhữnghàng hóa thuộc danh mục cấm nhập khẩu của các quốc gia thường là
vũ khí, đạn dược nhưng nhìn chung hàng xuất khẩu của Việt Nam ít
bị hạn chế bởi biện pháp này do quy định của các nước nhập khẩu kháphù hợp
Trang 14 Thứ hai : hạn ngạch nhập khẩu Các nước thường đặt ra mức nhập
khẩu cho một số loại hàng hoá trong một thời kì nhất định Trong xuhướng tự do thương mại hoá , đến nay hạn ngạch vẫn được áp dụngphổ biến trong hai lĩnh vực mà Việt Nam có thế mạnh xuất khẩu là dệtmay và nông sản
Thứ 3 : sử dụng giấy phép Theo chế độ này hàng hoá muốn thâm
nhập vào lãnh thổ của một nước phải xin giấy phép nhập khẩu của cơquan chức năng
- Biện pháp chống bán phá giá : Một sản phẩm bị coi là bán phá giá nếu giáxuất khẩu thấp hơn mức giá của sản phẩm tương tự tại nước xuất khẩu Các nướcđược phép đánh thuế chống bán phá giá với các sản phẩm bán phá giá khi điều trađược hàng nhập khẩu đã được bán phá giá vào thị trường nước mình đồng thờichứng minh được việc bán phá giá này gây thiệt hại cho ngành sản xuất sản phẩmtương tự ở trong nước
- Quy định về hành vi bán phá giá của Việt Nam với hoàng hoá nhập khẩu:Trước hết, có thể khẳng định rằng, những nội dung cơ bản của pháp luật hiện hànhViệt Nam đối với việc xác định hành vi bán phá giá hàng hóa nhập khẩu vào ViệtNam về cơ bản là phù hợp với những quy định của ADA và pháp luật chống bànphá giá của nhiều nước trên thế giới Đặc biệt, là đối với các quy định của Hiệp địnhChống bán phá giá của WTO thì pháp luật Việt Nam về chống bán phá giá đã đảmbảo tuân thủ đúng các quy định của Hiệp định này, không có quy định trái hoặc mâuthuẫn Điều này được khẳng định bởi chính ý kiến của đại diên bên phía Việt Namtrong quá trình đàm phán vào WTO Đồng thời cũng được ghi nhận trong Báo cáocủa Ban Công tác: “Theo quan điểm của Việt Nam, pháp luât mới về các Biện phápchống bán phá giá và chống trợ cấp của Việt Nam tuân thủ hoàn toàn với Hiệp định
về Trợ cấp và Các biện pháp đối kháng và Hiệp định Chống bán phá giá của WTO”.Pháp luật Việt Nam về chống bán phá giá hàng hóa nhập khẩu vào Việt Nam không
có sự phân biệt đối xử khi tính giá thông thường giữa nước có nền kinh tế thi trườngvới nước không có nền kinh tế phi thị trường Theo ADA và pháp luật chống bán
Trang 15phá giá của nhiều nước khác như Hoa Kỳ, EU, malayxia, Ấn Độ ….ngoài các cáchtính giá thông thường như PLCBPG năm 2004 đã quy định, thì ADA và pháp luậtcác nước này còn cho phép cơ quan có thẩm quyền của nước nhập khẩu có quyền
bỏ qua các cách thức tính giá thông thường nêu trên và tự mình xác định cácc thức
mà mình cho là phù hợp nếu nước có sản phẩm bị điều tra chống bán phá giá lànước có nền kinh tế phi thị trường Thông thường trong trường hợp này sau khi kếtluận nước có sản phẩm đang bị điều tra là nước có nền kinh tế phi thị trường thì cơquan có thẩm quyền của nước nhập khẩu có thể không sử dụng giá bán sản phẩmtường tự tại thị trường nội địa của nước xuất khẩu mà chọn một nước thứ bat haythế Theo đó, giá trị thông thường được xác định dựa trên giá bán sản phẩm tương
tự này tại thị trường nước thứ ba Nước thứ ba thay thế được chọn để xác định giátrị thông thường phải là nước có nền sản xuất sản phẩm tương đồng với nước xuấtkhẩu sản phẩm bị điều tra để bảo đảm mức độ tương đồng giữa hai thị trường (thịtrường của nước thứ ba thay thế và thị trường của nước xuất khẩu có sản phẩm bịđiều tra) về chi phí sản xuất, chi phí quản lý, lợi nhuận hợp lý nhằm đảm bảo sựcông bằng cho các bên liên quan Tuy nhiên, thực tiễn các vụ kiện chống bán phágiá nhằm vào các nước có nền kinh tế bị coi là nền kinh tế phi thị trường đều chứng
tỏ việc xác định giá thông thường theo cách này đã không đảm bảo công bằng Thực
tế Việt Nam đã hứng chịu chịu nhiều thiệt hại khi bị sử dụng cách tính này khi bịkiện bán phá giá ở thị trường nước ngoài Ví dụ: trong vụ kiện chống bán phá giá cátra và cá ba sa của Việt Nam vào thị trường Mỹ năm 2002 Tuy nhiên, bên cạnh đóthì pháp luật hiện hành Việt Nam về việc xác định hành vi bán phá giá hàng hóanhập khẩu vào Việt Nam vẫn còn tồn tại một số hạn chế nhất định so với quy địnhpháp luật chống bán phá giá của nhiều nước trên thế giới, đặc biệt là so với Hiệpđịnh ADA, thể hiện:
Thứ nhất: Các vấn đề như: thế nào là “điều kiện thương mại thông
thường”, thế nào là “hàng hóa tương tự được bán trên thị trường nộiđịa của nước hoặc vùng lãnh thổ xuất khẩu với số lượng, khốilượng hoặc trị giá của hàng hóa không đáng kể” hay thế nào là “ giá
Trang 16thành hợp lý” không được PLCBPG năm 2004 quy định Ngay cảNghị định số 90/2005 hướng dẫn thi hành Pháp lệnh cũng không cóquy định hướng dẫn Điều này sẽ gây ra khó khăn cho cơ quan điềutra trong việc xác định hành vi bán phá giá hàng hóa nhập khẩu vàoViệt Nam nói chung và việc xác định giá thông thường nói riêng.Trong khi đó, pháp luật của Hoa Kỳ và pháp luật nhiều nước trênthế giới và quy định của ADA đều xác định cụ thể những vấn đềnày Ví dụ, khi quy định về “điều kiện thương mại thông thường”,ADA tiếp cận từ mặt trái của nó, tức là chỉ đưa ra các trường hợpkhông được coi là trong điều kiện thương mại thông thường tạiĐiều 2.2.1 như sau: “ Việc bán các sản phẩm tương tự tại thị trườngnội địa của nước xuất khẩu hoặc bán sang một nước thứ ba với giáthấp hơn chi phí sản xuất theo đơn vị sản phẩm (bao gồm chi phí cốđịnh và chi phí biến đổi) cộng với các chi phí quản trị, chi phí bánhàng và các chi phí chung có thể được coi là giá không theo cácđiều kiện thương mại thông thường và có thể không được xem xéttới trong quá trình xác định giá trị thông thường của sản phẩm chỉkhi các cơ quan có thẩm quyền quyết định rằng việc bán hàng đóđược thực hiện trong một khoảng thời gian kéo dài với một khốilượng đáng kể và được bán với mức giá không đủ để bù đắp chi phítrong một khoảng thời gian hợp lý” Thực chất đây chính là trườnghợp việc mua bán được thực hiện mà trong đó người bán chịu lỗvốn, tức là bán với mức giá không đủ đề bù đắp chi phí sản xuất rađơn vị hàng hóa.
Thứ hai : pháp luật hiện hành Việt Nam không có quy định về
nguyên tắc so sánh giữa giá thông thường với giá xuất khẩu để tínhbiên độ bán phá giá Về mặt lí luận và thực tiễn cho thấy , muốnxác định được hành vi bán phá giá với biên độ bán phá giá đượcxác định cụ thể làm căn cứ để áp dụng biện pháp chống bán phá giá
Trang 17thì cơ quan điều tra chống bán phá giá của nước nhập khẩu phải xácđịnh được giá thông thường , xác định được giá xuất khẩu , sau đóthực hiện các điều chỉnh cần thiết với giá thông thường và giá xuấtkhẩu để đưa chúng về mức tại khâu xuất xưởng Cuối cùng tiếnhành so sánh giã thông thường với giá xuất khẩu được điểu chỉnh ,qua đó mới tính toán được biên độ phá giá cụ thể Tuy nhiên , quytrình tính toán biên độ phá giá như trên đã không được Pháp LuậtChống Bán Giá năm 2004 quy định đầy đủ Nghị định số 90/2005thì có đề cập đến quy trình này tại Điều 25 , Điều 26 và Điều 27nhưng nguyên tắc trong việc so sánh giá thông thường và giá xuấtkhẩu như thế nào thì không được quy định Hạn chế này có thể dẫnđến sự tuỳ tiện trong việc so sánh giữa giá thông thường với giáxuất khẩu khi tính toán biên độ phá giá của cơ quan điều tra chốngbán phá giá , dẫn đến kết quả của các cuộc điều tra chống bán phágiá sẽ có nhiều sai lệch
- Tỷ lệ nội địa hoá bắt buộc : một cách thức ngăn cản hàng hóa nhập khẩu,theo đó một quốc gia quy định một mặt hàng nào đó phải đạt một tỷ lệ nội địa hóamới được tiêu thụ tại quốc gia đó
- Trợ cấp : đây là một trong những căn cứ mà nước tiêu thụ hay còn gọi lànước nhập khẩu sẽ lấy để làm khó và đánh một loại thuế đặc biệt lên sản phẩm đượcchứng minh là có sự trợ giúp của Nhà nước của nước xuất khẩu trong quá trình sảnxuất Ví dụ điển hình trường hợp Cá Ba Sa của Việt Nam Liên qua đến cơ chế thịtrường
1.3 Cộng đồng kinh tế Asean 2015 :
1.3.1 Khát quát chung về Asean :
- Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) được thành lập ngày 8tháng 8 năm 1967 trên cơ sở Tuyên bố Băng-cốc, với 5 nước thành viên ban đầu là
Trang 18In-đô-nê-xi-a, Ma-lay-xi-a, Phi-líp-pin, Xin-ga-po và Thái Lan Sau 40 năm tồn tại
và phát triển với nhiều thăng trầm, ASEAN ngày nay đã trở thành một tổ chức hợptác khu vực liên Chính phủ bao gồm cả 10 quốc gia Đông Nam Á (thêm 5 nước làBrunei, Cămpuchia, Lào, Mianma và Việt Nam), là một thực thể chính trị kinh tếquan trọng ở Châu Á - Thái Bình Dương và là đối tác không thể thiếu trong chínhsách khu vực của các nước lớn và các trung tâm quan trọng trên thế giới Hiện nay,ASEAN đang chuyển sang giai đoạn phát triển mới với mục tiêu bao trùm là hìnhthành Cộng đồng ASEAN vào năm 2015 và hoạt động dựa trên cơ sở pháp lý làHiến chương ASEAN
1.3.2 Nội dung chính của Cộng đồng Asean :
1.3.2.1 Mục tiêu tổng quát :
- Xây dựng Hiệp hội thành một tổ chức hợp tác liên Chính phủ liên kết sâurộng hơn và ràng buộc hơn trên cơ sở pháp lý là Hiến chương ASEAN; nhưngkhông phải là một tổ chức siêu quốc gia và không khép kín mà vẫn mở rộng hợp tácvới bên ngoài Cộng đồng ASEAN sẽ được hình thành dựa trên 3 trụ cột là Cộngđồng Chính trị-An ninh, Cộng đồng Kinh tế và Cộng đồng Văn hóa-Xã hội Quan
hệ đối ngoại của ASEAN cũng như mục tiêu thu hẹp khoảng cách phát triển trongASEAN được lồng ghép vào nội dung của từng trụ cột Cộng đồng ASEAN
1.3.2.2 Mục tiêu kinh tế :
- Tạo ra một thị trường chung duy nhất và cơ sở sản xuất thống nhất, trong
đó có sự lưu chuyển tự do của hàng hóa, dịch vụ, đầu tư, vốn và lao động có taynghề; từ đó nâng cao tính cạnh tranh và thúc đẩy sự thịnh vượng chung cho cả khuvực; tạo sự hấp dẫn với đầu tư – kinh doanh từ bên ngoài
- Đến năm 2015, ASEAN sẽ trở thành : một thị trường duy nhất và một cơ
sở sản xuất thống nhất, trong đó có sự lưu chuyển tự do của hàng hóa, dịch vụ, đầu
tư, vốn và lao động có tay nghề ; Một khu vực kinh tế có sức cạnh tranh cao Mộtkhu vực phát triển kinh tế đồng đều, nhất là thực hiện có hiệu quả Sáng kiến liên kết
Trang 19ASEAN Một khu vực ASEAN hội nhập đầy đủ vào nền kinh tế toàn cầu Đồngthời, ASEAN nhất trí đề ra cơ chế thực hiện và lộ trình chiến lược thực hiện kếhoạch tổng thể ASEAN cũng nhất trí xác định 12 lĩnh vực ưu tiên đẩy nhanh liênkết với lộ trình hoàn thành đến năm 2010, đó là: Hàng nông sản ; Ô tô ; Điện tử ;Nghề cá ; Các sản phẩm từ cao su ; Dệt may ; Các sản phẩm từ gỗ ; Vận tải hàngkhông ; Thương mại điện tử ASEAN ; Chăm sóc sức khoẻ ; Du lịch ; Logistics.
1.3.2.3 Định hướng Asean 2015 :
- Là ASEAN sẽ chuyển hóa dần từ một Hiệp hội khá lỏng lẻo thành một tổ
chức hợp tác liên Chính phủ có mức độ ràng buộc pháp lý cao hơn và liên kết sâurộng hơn, nhưng không trở thành một tổ chức siêu quốc gia; sẽ trở thành một thựcthể chính trị-kinh tế gắn kết hơn, một cộng đồng “thống nhất trong đa dạng”; tiếptục là một tổ chức hợp tác khu vực mở và có vai trò quan trọng ở Châu Á-Thái BìnhDương Liên kết ASEAN sẽ sâu rộng hơn, nhưng mức độ liên kết sẽ không đồngđều trong ba lĩnh vực chính trị-an ninh, kinh tế và văn hóa-xã hội, do sự đa dạngkhá lớn giữa các nước thành viên, nhất là về khoảng cách phát triển, chế độ chính trị
- xã hội cũng như những tính toán chiến lược và lợi ích quốc gia
1.3.2.4 Định hướng ngành công nghiệp ô tô khi gia nhập Asean 2015 :
Sau đây là những cam kết và những định hướng khi Việt Nam gia nhập cộngđồng kinh tế Asean 2105 :
- Gỡ bỏ các chính sách thuế đối với các nước thành viên trong cộng
đồng kinh tế Asean 2015 đối với mặt hàng ô tô vì họ cũng sẽ gỡ bỏcác hàng rào thuế đối với nước ta về một số ngành hàng khác
- Đến năm 2018 phải giảm thuế nhập khẩu xe ô tô về mức 0% như
đúng cam kết khi gia nhập cộng đồng kinh tế Asean 2015
- Nâng cao chất lượng ô tô trong nước thông qua việc nâng cao tỷ lệ
nội địa hoá sản phẩm lắp ráp trong nước , năng suất lao động , nângcao trình độ sản xuất , nâng cao áp dụng khoa học kĩ thuật vào sản
Trang 20xuất , tiếp thu chuyển giao công nghệ từ các doanh nghiệp nướcngoài , …
- Xây dựng lại chính sách thuế đối với mặt hàng ô tô để kích thích
tiêu dùng sản phẩm trong nước và làm động lực giúp doanh nghiệpsản xuất nhiều hơn …
- Đầu tư chính thức ngành công nghiệp hỗ trợ phục vụ cho ngành sản
xuất ô tô , hạn chế nhập khẩu phụ kiện , linh kiện , thiết bị máy vìđiều đó đẩy giá thành cao hơn , giảm tính cạnh tranh so với xe ô tônhập khẩu
- Phát triển , khai thác tối đa nhu cầu trong nước thông qua việc xây
dựng cơ sở hạ tầng hoàn chỉnh để tăng nhu cầu sử dụng xe ô tôtrong nước , gián tiếp giúp đỡ các doanh nghiệp sản xuất lắp ráp ô
tô trong nước bán được xe Từ đó tổng thể sẽ giúp phát triển ngànhcông nghiệp ô tô của đất nước
- Vận dụng các hàng rào phi thuế quan một cách khéo léo trong thời
gian đầu khi gia nhập cộng đồng Asean 2015 để các doanh nghiệpvẫn có thể yên tâm sản xuất
1.4 Một số các khái niệm khác được đề cập đến trong Chương 2 và Chương 3 1.4.1 Tỷ lệ nội địa hoá sản phẩm :
- Tỷ lệ nội địa hoá là tỷ lệ sử dụng các nguyên liệu và phụ tùng công nghiệpsản xuất trong nước so với việc phải đi nhập khẩu từ bên ngoài
- Nâng cao tỷ lệ hóa là điều tốt , vì sẽ giúp tạo việc làm cho lao động trongnước và phát triển ngành công nghiệp phụ trợ hay còn gọi là công nghiệp hỗ trợ ,đặc biệt trong các ngành công nghiệp sản xuất
Trang 211.4.2 Công nghiệp hỗ trợ:
- Công nghiệp hỗ trợ (CNHT) là các ngành công nghiệp sản xuất nguyên vật
liệu, phụ kiện, phụ tùng linh kiện, bán thành phẩm để cung cấp cho ngành côngnghiệp sản xuất, chế biến, lắp ráp các sản phẩm hoàn chỉnh là tư liệu sản xuất hoặcsản phẩm tiêu dùng
- Việc phát triển công nghiệp hỗ trợ được xem là một trong những chínhsách ưu tiên hàng đầu của Việt Nam nhằm thúc đẩy sự phát triển của ngành côngnghiệp, góp phần đẩy nhanh quá trình công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước Tuynhiên, thực trạng ngành công nghiệp hỗ trợ Việt Nam còn yếu và cần những chínhsách phù hợp để phát triển
1.4.3 Doanh nghiệp đầu tư nước ngoài (FDI):
- Đầu tư trực tiếp nước ngoài ( Foreign Direct Investment , viết tắt là FDI )
là hình thức đầu tư dài hạn của cá nhân hay công ty nước này vào nước khác bằngcách thiết lập cơ sở sản xuất , kinh doanh Cá nhân hay công ty nước ngoài đó sẽnắm quyền quản lí cơ sở sản xuất kinh doanh này
- Tổ chức Thương mại Thế giới đưa ra định nghĩa như sau về FDI : Đầu tưtrực tiếp nước ngoài (FDI) xảy ra khi một nhà đầu tư từ một nước (nước chủ đầu tư)
có được một tài sản ở một nước khác (nước thu hút đầu tư) cùng với quyền quản lýtài sản đó Phương diện quản lý là thứ để phân biệt FDI với các công cụ tài chínhkhác Trong phần lớn trường hợp, cả nhà đầu tư lẫn tài sản mà người đó quản lý ởnước ngoài là các cơ sở kinh doanh Trong những trường hợp đó, nhà đầu tư thườnghay đựoc gọi là "công ty mẹ" và các tài sản được gọi là "công ty con" hay "chinhánh công ty"
1.4.4 Chuyển giao công nghệ :
- Chuyển giao quyền sở hữu công nghệ: là việc chủ sở hữu công nghệ
chuyển giao toàn bộ quyền chiếm hữu, quyền sử dụng, quyền định đoạt công nghệ
Trang 22cho tổ chức, cá nhân khác Trường hợp công nghệ là đối tượng được bảo hộ quyền
sở hữu công nghiệp thì việc chuyển giao quyền sở hữu công nghệ phải được thựchiện cùng với việc chuyển giao quyền sở hữu công nghiệp theo quy định của phápluật về sở hữu trí tuệ
- Chuyển giao quyền sử dụng công nghệ: tổ chức, cá nhân cho phép tổ chức,
cá nhân khác sử dụng công nghệ của mình
Phạm vi chuyển giao quyền sử dụng công nghệ do các bên thỏa thuận bao gồm:
+ Độc quyền hoặc không độc quyền sử dụng công nghệ;
+ Được chuyển giao lại hoặc không được chuyển giao lại quyền sử dụngcông nghệ cho bên thứ ba;
+ Các quyền khác liên quan đến công nghệ được chuyển giao
Trường hợp công nghệ là đối tượng được bảo hộ quyền sở hữu công nghiệpthì việc chuyển giao quyền sử dụng công nghệ phải được thực hiện cùng với việcchuyển giao quyền sở hữu công nghiệp theo quy định của pháp luật về sở hữu trítuệ
1.4.5 Tiếp thu công nghệ và bí quyết quản lí :
- Trong một số trường hợp, vốn cho tăng trưởng dù thiếu vẫn có thể huy
động được phần nào bằng "chính sách thắt lưng buộc bụng" Tuy nhiên, công nghệ
và bí quyết quản lý thì không thể có được bằng chính sách đó Thu hút FDI từ cáccông ty đa quốc gia sẽ giúp một nước có cơ hội tiếp thu công nghệ và bí quyết quản
Trang 23những khoản chi phí lớn Tuy nhiên, việc phổ biến các công nghệ và bí quyết quản
lý đó ra cả nước thu hút đầu tư còn phụ thuộc rất nhiều vào năng lực tiếp thu của đấtnước
1.4.6 Tăng số lượng việc làm và đào tạo nhân công :
- Vì một trong những mục đích của FDI là khai thác các điều kiện để đạtđược chi phí sản xuất thấp, nên doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài sẽ thuêmướn nhiều lao động địa phương Thu nhập của một bộ phận dân cư địa phươngđược cải thiện sẽ đóng góp tích cực vào tăng trưởng kinh tế của địa phương Trongquá trình thuê mướn đó, đào tạo các kỹ năng nghề nghiệp, mà trong nhiều trườnghợp là mới mẻ và tiến bộ ở các nước đang phát triển thu hút FDI, sẽ được doanhnghiệp cung cấp Điều này tạo ra một đội ngũ lao động có kỹ năng cho nước thu hútFDI Không chỉ có lao động thông thường, mà cả các nhà chuyên môn địa phươngcũng có cơ hội làm việc và được bồi dưỡng nghiệp vụ ở các doanh nghiệp có vốnđầu tư nước ngoài
1.4.7 Tham gia mạng lưới sản xuất toàn cầu :
- Khi thu hút FDI từ các công ty đa quốc gia, không chỉ doanh nghiệp cóvốn đầu tư của công ty đa quốc gia, mà ngay cả các doanh nghiệp khác trong nước
có quan hệ làm ăn với doanh nghiệp đó cũng sẽ tham gia quá trình phân công laođộng khu vực Chính vì vậy, nước thu hút đầu tư sẽ có cơ hội tham gia mạng lướisản xuất toàn cầu thuận lợi cho đẩy mạnh xuất khẩu
1.4.8 Cơ sở hạ tầng giao thông :
- Cơ sở hạ tầng có thể được hiểu là hệ thống giao thông vận tải – đường bộ,đường song , đường biển , đường sắt , đường hàng không , đường ống ; hệ thốngliên lạc viễn thông , hệ thống cung cấp năng lượng , nước , v v Hệ thống cơ sở hạ
Trang 24tầng hiện đại có một tầm quan trọng quan trọng đặc biệt đối với sự phát triển củamọi nền kinh tế , vì nó đảm bảo vận tải nhanh chóng với chi phí thấp , đảm bảo cácquan hệ liên lạc thông suốt kịp thời , cung cấp đủ điện nước cho toàn bộ hoạt độngcủa nền kinh tế đất nước Chính vì vậy , các quốc gia phát triển ngay từ đầu đã ưutiên xây dựng cơ sở hạ tầng hiện đại trong một thời gian ngắn 20-30 năm làm bướckhởi đầu cho sự phát triển kinh tế của đất nước
Trang 25CHƯƠNG 2 : PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG VỀ TÌNH HÌNH BẢO HỘ
NGÀNH SẢN XUẤT Ô TÔ TRONG NƯỚC 2.1 Đánh giá tình hình nhập khẩu ô tô của Việt Nam trong thời gian qua :
- Tính từ đầu năm đến hết tháng 10, số lượng ô tô nguyên chiếc nhập khẩuđạt khoảng 51.000 chiếc với tổng trị giá 1,12 tỉ USD; tăng 76,1% về lượng và tăng93% về giá trị so với cùng kỳ năm 2013 Theo số liệu của Tổng cục thống kê, ướctính trong tháng 10/2014, Việt Nam nhập khẩu khoảng 380 triệu USD ô tô; trong đó
ô tô nguyên chiếc đạt 7000 chiếc; trị giá 150 triệu USD Theo thống kê, tháng9/2014, Việt Nam nhập khẩu khoảng 7.000 ô tô nguyên chiếc với tổng trị giá 160triệu USD Hàn Quốc tiếp tục là thị trường chính cung cấp ô tô nguyên chiếc choViệt Nam , tiếp theo là Thái Lan , Trung Quốc …
Số lượng ô tô nguyên chiếc nhập khẩu từ đầu năm đến tháng 10/2014
(Nguồn : Tổng cục thống kê )
Trang 27Số lượng ô tô nhập khẩu theo tháng năm 2014
(Nguồn: Tổng cục Hải quan)
- Tính từ đầu năm đến hết tháng 10, số lượng ô tô nguyên chiếc nhập khẩu
đạt khoảng 51.000 chiếc với tổng trị giá 1,12 tỉ USD; tăng 76,1% về lượng và tăng93% về giá trị so với cùng kỳ năm 2013 Tính chung 10 tháng năm 2014, giá trị ô tônguyên chiếc nhập khẩu đóng góp khoảng 0,92% vào tổng kim ngạch nhập khẩucủa cả nước
- Với tốc độ tăng trưởng mạnh mẽ như hiện nay, dự kiến kim ngạch nhậpkhẩu ô tô sẽ cán đích tăng gấp đôi năm ngoái Chỉ tính đến tháng 10/2014, kimngạch nhập khẩu ôtô cũng đã vượt rất xa tổng kim ngạch của cả năm 2013, cụ thể là51.000 chiếc so với 34.500 chiếc và 1,12 tỷ USD so với 709 triệu USD năm 2013
- Do thuế nhập khẩu dành cho một số loại xe hơi nguyên chiếc giảm về 50%
từ đầu năm 2014 Nhân cơ hội này, một số nước được hưởng ưu đãi thuế suất nàynhư Thái Lan, Hàn Quốc, Nhật Bản… đã nhanh tay tăng số lượng xe nhập khẩu vàoViệt Nam
Trang 28- Với các dòng xe sang trước đây , Việt Nam chủ yếu nhập khẩu từ Đức ,Anh, Pháp Nhưng gần đây , trong năm 2013 lại nổi lên xe nhập khẩu từ HànQuốc , Thái Lan , Trung Quốc , Nhật Bản … Đây chính là các quốc gia có cơ hộihưởng thuế suất ưu đãi dành cho khu vực Asean và một số quốc gia đã kí kết hiệpđịnh thương mại với các nước trong khối Asean
Như vậy, mặc dù thuộc nhóm hàng cần hạn chế nhập khẩu, song số lượng ô tô nguyên chiếc nhập khẩu về Việt Nam liên tục tăng cao trong những tháng vừa qua Đây tiếp tục là một thách thức lớn đối với các nhà sản xuất xe nội địa khi người Việt Nam có thu nhập đã tăng lên nhưng xu hướng tiêu dùng
đồ ngoại vẫn chiếm ưu thế , thị trường trong nước cần phải có nguồn cầu lớn
đủ để kích thích các doanh nghiệp sản xuất nội địa gia tăng sản xuất Khi thuế nhập khẩu xe ô tô giảm về mức 50% khiến cho giá một số mẫu xe nhập khẩu chỉ bằng giá của xe lắp ráp trong nước Nếu tiếp tục giảm thuế theo lộ trình đến năm 2018 về 0% theo đúng cam kết Asean 2015 thì sẽ tạo ra áp lực lớn cho
xe lắp ráp trong nước phải tìm cách giảm giá thấp hơn để cạnh tranh bằng mọi cách , nếu không sẽ phải thay đổi phương thức hoặc chuyển sang nhập khẩu
2.2 Đánh giá hoạt động sản xuất ô tô của Việt Nam trong thời gian qua :
- Khoảng chừng 10 năm qua, ngoài việc tăng nhanh về số lượng các doanhnghiệp hoạt động trong lĩnh vực ô tô và nỗ lực tăng doanh số bán hàng thì sự đầu tưchiều sâu (về công nghệ, cải tiến mẫu mã, chất lượng, tăng tỷ lệ nội địa hóa, giatăng giá trị) để tăng sức cạnh tranh… vẫn còn là khoảng trống mênh mông
- Chưa tạo được sự hợp tác, liên kết và chuyên môn hoá giữa các doanhnghiệp trong việc sản xuất, lắp ráp ô-tô và sản xuất phụ tùng linh kiện Và cũngchưa hình thành được hệ thống các nhà cung cấp nguyên vật liệu và sản xuất linhkiện quy mô lớn
- Có quá ít các doanh nghiệp hiện nay không đầu tư vào việc sản xuất linhkiện , phụ tùng , các thiết bị lắp ráp , các chi tiết để hình thành nên được một chiếc
Trang 29tư nhưng nếu các doanh nghiệp cứ có suy nghĩ nhứ vậy thì chẳng bao giờ Việt Nam
có được ngành công nghiệp hỗ trợ
- Ngành công nghiệp ô-tô cũng khẳng định sớm việc tỷ lệ nội địa hóa,nhưng thực sự ngành sản xuất này vẫn chưa đạt được tiêu chí đề ra Tỷ lệ nội địahóa vẫn thấp so với mục tiêu đề ra là 40% vào năm 2005 và 60% vào năm 2010 đốivới loại xe thông dụng như xe tải, xe khách, xe con Nhưng hiện nay tỷ lệ nội địahoá chỉ gần con số 30% vào thời điểm hiện nay
- Quy mô sản xuất nhỏ lẻ , không có sự tập trung gắn kết trong khi yêu tốphát triển tập trung cần có ở ngành công nghiệp sản xuất ô tô ở bất cứ đâu Vì nógiúp ngành có sự phát triển đồng đều và nhất quán
2.3 Đánh giá về hoạt động sản xuất ô tô trong các nước thành viên khối Asean ( chủ yếu là Thái Lan , Malaysia , Indonesia )
- Indonesia đang nổi lên như trung tâm ôtô mới của Đông Nam Á, bên cạnhThái Lan Sự phát triển thần tốc của quốc gia này là bài học kinh nghiệm cho nhữngnước có tham vọng tham gia vào chuỗi sản phẩm toàn cầu mang nhiều giá trị nhưôtô Trong đó có Việt Nam Những so sánh dưới đây dựa trên số liệu của báo cáocủa hãng IHS và thực tế thị trường Năm 2012, Indonesia xuất xưởng 1 triệu xe Đaphần là tiêu thụ nội địa Xuất khẩu chiếm tỷ trọng nhỏ Có tới 95% xe hơi ở đấtnước vạn đảo là xe Nhật Trong đó Toyota chiếm 36,7% thị phần (năm 2012)
- Thái Lan là thị trường ôtô lớn nhất ở Đông Nam Á, đồng thời là trung tâmsản xuất xe toàn cầu cho nhiều hãng, bao gồm cả Honda và và Ford Trong đó,Toyota là nhà sản xuất xe hơi lớn nhất, với 850.000 xe vào năm 2013, khoảng445.000 bán trong nước, số còn lại xuất khẩu Từ đầu năm ngoái, hãng đã đặt kếhoạch tăng sản lượng thêm 200.000 xe trong vòng 3-4 năm tới
- Tổng sản lượng ngành công nghiệp lên 1,25 triệu xe, trong đó 250.000 xedành cho xuất khẩu vào năm 2020 Năm ngoái, Malaysia sản xuất khoảng 570.000
xe và xuất khẩu 20.000 chiếc Con số này là mơ ước của Việt Nam, nhưng thua xaThái Lan, với hơn 2 triệu ôtô sản xuất trong năm 2013, trong khi Indonesia đã vượt