1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

NGHIÊN CỨU VỀ BỆNH RĂNG MIỆNG

22 309 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 22
Dung lượng 51,52 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Dự phòng, giáo dục sức khoẻ răng miệng Giáo dục sức khoẻ RM là một nghệ thuật truyên bá các kiến thức tổngquát về nguyên nhân, triệu chứng, biến chứng, cách điều trị, dự phòngcác bệnh ră

Trang 1

I. Một số khái niệm được sử dụng trong nghiên cứu

1. Bệnh răng miệng

Định nghĩa về bệnh răng miệng của chuyên ngành RHM là các bệnh

về tổ chức cứng ở răng, tổ chức quanh răng và niêm mạc miệng, trong

đó hai bệnh thương gặp là sâu răng và viêm lợi.[1]

2. Bệnh sâu răng

Sau năm 1975 người ta là sáng tỏ hơn căn nguyên về bệnh sâu răng

và giải thích bằng sơ đồ WHITE thay thế bằng một vòng tròn của sơ đồ KEY (chất đường) bằng vòng tròn chất nên (Substrate) nhấn mạnh vai trò của nước bọt (chất trung hoà - Buffers) [2] và pH của dòng chảy môi trường xung quanh răng Người ta cũng thấy rõ hơn tác dụng của Fluor khi gặp Hydroxyapatite của răng kết hợp thành Fluoroapatit rắn chắc, chống lại được sự phân huỷ của axít tạo thành tổn thương sâu răng

Trang 2

Người ta có thể tóm lược cơ chế sinh bệnh học sâu răng bằng hai quá trình huỷ khoáng và tái khoáng Mỗi quá trình đều do một số yếu tố thúc đẩy Nếu quá trình huỷ khoáng lớn hơn quá trình tái khoáng thì sẽ xuất hiện sâu răng:

Sâu răng = Huỷ khoáng > Tái khoáng (cơ chế hoá học và vật lý sinh học)

- Fluor có ở bề mặt men răng

- Tram bít hố rãnh

- Độ Ca NPO4 quanh răng

- pH >5,5

3. Viêm lợi

Trang 3

Viêm lợi xuất hiện sớm nhất chỉ sau 7 ngày có mảng bám vi khuẩn

mà không được lấy đi và chỉ tổn thương duy nhất ở tổ chức lợi Ở thời

kỳ này, bệnh vẫn có thể phục hồi, nhưng nếu không điều trị sẽ dẫn đến tình trạng nặng hơn Sự khích thích vi khuẩn ở mảng bám răng là

nguyên nhân gây ra viêm lợi Khi viêm lợi, sẽ có biến đổi giải phẫu như

bờ viền lợi tròn, tấy đỏ và phù nề, mềm Nhóm vi khuẩn thường kết hợp với viêm lợi xoắn khuẩn Actinomyces (Gram dương, hình sợi) và

Eikenella (Gram âm, hình que) [3], [4]

Viêm lợi hoại tử cấp tính đặc trưng bởi sự hoại tử của gai lợi, chảy máu tự phát Có mùi hôi Người ta cho rẳng đây là bệnh có liên quan tới stress Bệnh này thường có tỷ lệ thấp ở các nước phát triển và cao hơn ở các nước chậm phát triển và trẻ e nghèo đói Tuy nhiên viêm lợi không phải là thể báo trước của viêm quanh răng Viêm lợi mạn có thể tồn tại trong một thời gian dài mà không gây ra viêm quanh răng Ngươc lại có nhiều tác nhân để viêm lợi trở thành viêm quanh răng, đó là các tác nhângây kết hợp với vi khuẩn và phản ứng gây bất thường ở vật chủ

- Viêm quanh răng là thời kỳ tiến triển nặng hơn của bệnh quanh răng: lợi, xương và các tổ chức khác giữ răng sẽ bị pháhuỷ Răng có thể bị rụng hoặc lung lay hoặc thay đổi vị trí ở thời kỳ này đòi hỏi những sự điều trị kết hợp với giữ cho khỏi mất răng [5]

4. Chăm sóc răng miệng

5. Dự phòng, giáo dục sức khoẻ răng miệng

Giáo dục sức khoẻ RM là một nghệ thuật truyên bá các kiến thức tổngquát về nguyên nhân, triệu chứng, biến chứng, cách điều trị, dự phòngcác bệnh răng miệng đến quần chúng, thay đổi tư tưởng và tập quan

cũ nhằm cải thiện tốt sức khoẻ RM cho cộng đồng

Giáo dục sức khoẻ răng miệng là một biện pháo mà mọi người được hưởng đồng đều thông qua báo chí, truyền thanh, truyền hình…

Trang 4

không phân biệt tầng lớp xã hội, kinh tế, văn hoá… Đây là một biện pháp dự phòng chủ động (nhân dân chủ động tham gia) nên cần có thời gian để người dân có thể thay đổi tập quán cũ đồng thời trước khigiáo dục cần phải chú trọng đến tập quán, phong tục, tín ngưỡng có thể làm cản trở việc từ bỏ thói quen cũ hoặc chấp nhận một thói quen mới, khả năng kinh tế, khả năng nhận thức, khả năng đáp ứng y tế đốivới cộng đồng.

http://yhvn.vn/wiki/du-phong-benh-rang-mieng

II. Bệnh răng miệng vấn đề sức khoẻ toàn cầu

1. Tình hình bệnh răng miệng ở thế giới và Đông Nam Á

Bệnh RM là bệnh thường gặp ở tất cả các nước trên thế giới Trước đây bệnh RHM phổ biến ở các nước phát triển và chế độ ăn nhiều

đường, đạm Nhưng khoảng 20 năm gần đây có sự đảo ngược về tình trạng sâu răng giữa hai nhóm quốc gia Những nước nghèo tỷ lệ sâu răngngày càng tăng do không được Fluo hoá nước uống, thiếu dự giáo dục nha khoa, chế độ ăn đường không đúng Những nước giàu tỷ lệ sâu răng giảm do nhà nước coi trọng chương trình Fluo hoá nước uống, thuốc chải răng có Fluo, trám bít hố rãnh, coi giáo dục nha khoa là quốc sách

và trong thập kỷ gần đây các nước này đã dành 5 – 11% ngân sách y tế cho phòng bệnh [6]

Trong những năm 1946 – 1975, hầu hết các nước phát triển, chỉ số sâu mất trám (SMT) của trẻ lứa tuổi 12 nằm trong khoảng 7,4 – 10,7 có nghĩa rằng trung bình mỗi trẻ em sâu từ 7,4 – 10,7 răng, từ 1979 – 1982 chỉ số SMT của trẻ lứa tuổi 12 đã giảm hẳn xuống còn 1,7 – 3,0 Ở

Singapo năm 1960 trẻ 12 tuổi có chỉ số SMT > 4 và hiện nay còn < 0,5 [7].Tại các trường phổ thông Italia: ở lứa tuổi 6 tuổi tỷ lệ sâu răng chiếm52,9% lứa tuổi 12 tỷ lệ sâu răng vĩnh viễn chiếm 52% và lứa tuổi 15 cố tới 68,8% bị sâu răng vĩnh viễn.Tại Thái Lan, năm 2000 tỷ lệ sâu răng ở

Trang 5

lứa tuổi 12 là 58 – 80% Nhìn chung ở các nước này bệnh răng miệng đều có xu hướng tăng rõ rệt so với các nước phát triển ở thời điểm

những năm 1960 – 1970 Tình hình sâu răng ở các nước đang phát triển

ở mức thấp hơn nhiều (SMT lứa tuổi 12 từ 0,2 – 2,6) những từ những năm 1970 trở đi chỉ số này lại tăng lên nhanh (từ 1,0 – 6,3) [8]

Theo Who, năm 1978 bình quân trên thế giới có 80% trẻ em dưới 12 tuổi và 100% trẻ em 14 tuổi bị viêm lợi mạn [9]

Theo nghiên cứu của các tác giả ở châu Âu, châu Mỹ, châu Á đều chothấy tỷ lệ trẻ em bị bệnh sâu răng và viêm quanh răng cao ở mức trên 90% Trẻ em bị bệnh quanh răng có tỷ lệ mắc cao, nhiều nơi trên 90% trẻ em mắc bệnh này Tuy nhiên bệnh quanh răng trẻ em thường được biểu hiện là viêm lợi, tỷ lệ viêm lợi khác nhau theo tuổi [10], [11]

Tại các nước tiên tiến thì tỷ lệ trẻ mắc bệnh viêm lợi rất cao:

- Năm 1981 tại Phần Lan viêm lợi ở trẻ em là:

Trang 6

Campuchia là 4,9, ở Philippin là 5,5, ở Việt Nam là 0,8) [12],[13], [14].

Theo Who từ năm 1992 các nước trong khu vực Đông Nam Á có trên 90% dân số bị sâu răng và viêm lợi, chỉ số sâu răng mất trám lứa tuổi 12

ở mức cao từ 0,5 – 5,5% Theo Songpaisan ở Thái Lan tỷ lệ viêm lợi ở lứa tuổi 12 là 95% [15], [16]

2. Tình hình bệnh răng miệng ở Việt Nam

Việt Nam là một nước đang phát triển, điều kiện kinh tế còn khó khăn, trang thiết bị và cán bộ răng hàm mặt còn thiếu, tỷ lệ mắc bệnh sâu răng, viêm lợi cao, có chiều hướng gia tăng nhất là vùng nông thôn, những nơi chương trình nha học đường hoạt động chưa hiệu quả Theo kết quả điểu tra dịch tễ trên thế giới, ở Việt Nam tỷ lệ mắc bệnh sâu răngchiếm 50-90% dân số [17], [18]

Qua điều tra lần 1 năm 1990, cho thấy tỷ lệ sâu răng tuổi 12 ở Miền bắc là 43,33%, chỉ số SRMT là 1,15; miền Nam là 76,33%, chỉ số

SRMT là 2,93; trên toàn quốc tỷ lệ sâu răng là 55,7%, chỉ số SRMT là 1,82 [19]

Tại Việt Nam có nhiều nghiên cứu về bệnh quanh răng và đưa ra nhậnxét bệnh quanh răng là phổ biến, tỷ lệ mắc cao Theo điều tra năm 1990, trẻ 12 tuổi ở Miền nam có 6,3% chảy máu lợi, 91,3% có cao răng,

98,33% trẻ em 12 tuổi toàn quốc bị viêm lợi [20], [21]

Năm 2001, Viện RHM Hà Nội phối hợp với Đại học Nha khoa

Adelaide (Australia) tổ chức điều tra sức khỏe răng miệng quy mô toàn quốc, kết quả là học sinh từ 6-8 tuổi sâu răng là 84,9%, lứa tuổi 9-11 sâurăng vĩnh viễn là 54,6% Cũng theo thống kê năm 2001, ở lứa tuổi 6-8 thì tỷ lệ sâu răng sữa ở nông thôn cao hơn thành thị với tỷ lệ 85,1% và 84,4%, đọ tuổi từ 9-11 ở nông thôn và thành thị là 57,6% và 51,8% [22]

Trang 7

Năm 2004, Lê Ngọc Tuyến, Nguyễn Quốc Trung, Trần Thị Lan Anh

đã công bố kết quả điều tra răng miệng của học sinh tiểu học tại Hà Nội

có 80,95% các em sâu răng sữa, 30,95% các em bị sâu răng vĩnh viễn [23]

Theo nghiên cứu của Nguyễn Văn Thành năm 2005 tại thị xã Hưng Yên thì tỷ lệ sâu răng sữa của học sinh 6 tuổi là 87,74%, chỉ số SMT (sâu mắttrám) là 3,72, tỷ lệ sâu răng vĩnh viễn là 10,43%, chỉ số SMT là 0,12 [24]

III Chăm sóc, phòng bệnh răng miệng và dự phòng chứng bệnh sâu răng

1.Trên thế giới

Bệnh răng miệng là một vấn đề ngày càng phổ biến tại nhiều quốc giatrên thế giới Đặc biệt là bệnh sâu răng và viêm lợi chiếm tỷ lệ rất cao, khoảng 90% dấn số, bệnh gặp ở mọi lứa tuổi, mọi tầng lớp trong xã hội [25]

Trước đây bệnh sâu răng rất phổ biến ở những nước phát triển do chế

độ ăn nhiều chất đạm, đường Nhưng khoảng 20 năm trở lại đây, có sự thay đổi về tình trạng sâu răng ở hai nhóm quốc gia Ở những nước nghèo tỷ lệ sâu răng ngày càng tăng do không được fluor hóa nước

uống, thiếu sự giáo dục chăm sóc răng miệng và có sự thay đổi về hành

vi sinh hoạt ăn uống (đặc biệt là ăn nhiều bánh kẹo và uống nhiều nước ngọt) Những nước giàu, tỷ lệ sâu răng ngày càng giảm do được Nhà nước coi trọng chương trình fluor hóa nước uống, kem đánh răng có fluor, trám bít hố rãnh và coi trọng giáo dục nha khoa Trong vài thập kỷ gần đây, các nước đã dành 5 – 11% ngân sách của y tế cho phòng bệnh răng miệng [25], [26], [27]

Tỷ lệ bệnh sâu răng cao nhất là ở Châu Á và Châu Mỹ Latin và tỉ lệ thấp ở Châu Phi Từ 1908, Liên đoàn Nha khoa Quốc tế (FDI) đã quan tâm đếndự phòng sâu răng và tìm kiếm các biện pháp phòng ngừa Tại các hội nghị của FDI năm 1951, 1960 và 1966 đều kết luận việc fluor

Trang 8

hoá nước uống là biện pháp phòng bệnh có hiệu quả và ít tốn kém nhất Tuy nhiên vào những năm 60 -70 ngành Nha khoa của hầu hết các nước đều tập trung vào chữa, phục hồi sâu răng và viêm quanh răng, công việc tốn kém, ít hiệu quả Vì vậy năm 1958, WHO đã thành lập Ủy ban nghiên cứu về fluor và chăm sóc răng miệng [28].

Theo báo cáo của WHO năm 1978 hàng năm Mỹ tốn 100 triệu giờ công lao động, 9 tỷ USD cho việc chữa răng, phí tổn điều trị hơn 10 USD cho một răng ở trẻ em Chi phí cho điều trị răng một năm ở Anh là

180 triệu bảng Anh, còn ở Pháp là 8 tỷ france và 25 triệu giờ công lao động [29]

Sau đó các nước phát triển tập trung vào phòng bệnh, coi như một chính sách lớn của Nhà nước và của ngành Y tế Kết quả là 20 năm trở lại đây, tỷ lệ sâu răng ở các nước Bắc Âu, Anh, Mỹ… đã giảm đi một nửa Đây là một thành tựu lớn từ đó WHO đã kêu gọi các nước chậm phát triển đẩy mạnh công tác phòng bệnh RM như các nước phát triển đãlàm [28] Như vậy vai trò của công tác chăm sóc răng miệng tại cộng đồng rất lớn

Tại Australia 50% thời gian của bác sỹ nha khoa là làm công tác

phòng bệnh [30] Kem đánh răng có fluor là biện pháp cá nhân hàng đầu, fluor hoá nước là biện pháp cộng đồng tốt nhất, có tác dụng ở mọi giai đoạn của sâu răng Cả hai biện pháp trên là nguyên nhân chính làm giảm tỷ lệ sâu răng ở Australia [31]

Năm 1984 WHO đã đưa ra các biện pháp dự phòng sâu răng và viêm quanh răng như sau :

+ Dự phòng SR: fluor hoá nước uống, đưa fluor vào muối, súc miệng bằng dung dịch fluor cho trẻ em, dùng kem đánh răng có fluor, trám bít

hố rãnh răng, chế độ ăn dự phòng, hướng dẫn vệ sinh RM, phát hiện sớm

và điều trị dự phòng

+ Dự phòng bệnh quanh răng: Làm sạch mảng bám răng là biện pháp can thiệp phòng chống bệnh quanh răng Đánh răng là việc làm quan

Trang 9

trọng để làm sạch mảng bám răng Với biện pháp dự phòng SR bằng fluor là làm tăng sức đề kháng của răng nhờ fluor Người ta đồng ý là việc sử dụng rộng rãi các dạng fluor đã làm giảm sâu răng rõ rệt ở Mỹ

và nhiều quốc gia khác Fluor hoá nước uống cộng đồng giữ vai trò quantrọng do hiệu quả lâm sàng và kinh tế của nó Các chất bổ xung trong chế độ ăn và fluor hoá nước uống trong trường học là các hình thức sử dụng fluor ở những nơi fluor hoá nước uống không thực hiện được Fluor hoá muối ăn đang trở nên phổ biến hơn ở một số nước như ở Mỹ, các nước Tâu âu

Hiện nay fluor được công nhận là có hiệu quả đối với mọi lứa tuổi và ngày càng trở nên quan trọng trong cộng đồng và đối với các lứa tuổi

Bệnh sâu răng giảm theo nhiều hướng khác nhau Nghiên cứu trên trẻ

12 tuổi ở Hà Lan, sự giảm sâu răng được tóm tắt như sau: “Chỉ số

SMT/R trung bình giảm đều đặn từ 8 vào năm 1965 xuống còn 1 vào năm 1993”, cho thấy mức fluor trong nước là yếu tố chính quyết định tỷ

lệ sâu răng [32], [33]

Những năm 1996 và 1998 chỉ số Sâu-Mất -Trám/mặt răng ở răng vĩnhviễn (SMT/MR) của trẻ lứa tuổi 12 có điều kiện kinh tế xã hội cao ở ĐanMạch rất thấp: giữa 0,4 và 0,1 Ở trẻ em có điều kiện kinh tế xã hội thấp,SMT/MR giữa 1,6 và 2,0, nhưng gần đây nhất, năm 2002 chỉ còn 0,6 [34], [35]

Ở Tây Âu thành phần “Trám” nhiều hơn thành phần “Sâu” và “Mất”

Ở các nước công nghiệp phát triển, với mức sâu răng rất thấp, khó nhận diện được những thay đổi trong tỷ lệ sâu răng [36]

Nhưng việc sử dụng fluor để phòng SR như thế nào là thích hợp cũng cần phải đặt ra Hơn hai thập niên qua, tỷ lệ toàn bộ và tỷ lệ mắc mới bệnh sâu răng giảm ở các nước phát triển, phần lớn là do sử dụng fluor rộng rãi Song song với tỷ lệ sâu răng giảm là tỷ lệ răng nhiễm fluor tăng Các nghiên cứu về nhiễm fluor được thực hiện trong những vùng

có và không có fluor hoá, đã nhận dạng được 4 yếu tố nguy cơ chính gâynhiễm fluor là: sử dụng nước uống có fluor, viên fluor, kem đánh răng có

Trang 10

fluor, và sữa đóng hộp có fluor trước 8 tuổi Hiện nay, tại Singapore 100% dân số được fluor hoá nước uống và giáo dục nha khoa, 100% họcsinh tiểu học và trung học cơ sở được chăm sóc sức khoẻ RM thường xuyên tại trường trong chương trình NHĐ [37].

Thụy điển là một trong những nước có hệ thống chăm sóc sức khỏe răng miệng cho người dân tốt nhất Họ đã nâng cao nhận thức về tầm quan trọng của sức khỏe răng miệng cũng như giáo dục cho người dân ý thức chăm sóc răng miệng ngay từ khi còn nhỏ Nội dung của hệ thống chăm sóc răng miệng ở Thụy Điển được thực hiện trên 2 mạng lưới Thứnhất, mạng lưới dự phòng răng miệng: là nội dung quan trọng nhất nhằmhạn chế tối đa bệnh răng miệng xảy ra, các dịch vụ dự phòng sức khỏe răng miệng có mục đích loại trừ hoặc giảm thiểu bệnh răng miệng trong cộng đồng Thứ hai, mạng lưới điều trị bệnh răng miệng: Giảm đau; ngăn chặn nhiễm trùng và chuyển tuyến khi cần thiết; cấp cứu chấn thương hàm mặt…Việc khám răng được thực hiện định kỳ 6 tháng/lần

3. Ở Việt Nam

Phòng ngừa kiểm soát bệnh răng miệng cũng chính là phòng ngừa kiểm soát mảng bám cho cá nhân hay cho cộng đồng tức là ngăn chặn mảng bám trên nướu thành mảng bám dưới nướu, duy trì sức khỏe mô răng miệng Ăn các thực phẩm nhiều bột đường hay ăn nhiều lần trong ngày làm gia tăng lượng mảng bám [38], [39] Trong những năm gần đây, do đời sống được nâng cao, người dân sử dụng nhiều đường, nước ngọt, công tác phòng bệnh chưa tốt nên tỷ lệ sâu răng cao Do đó làm tốtcông tác phòng bệnh để giảm tỷ lệ bệnh răng miệng là rất cần thiết Việt Nam chưa có điều kiện để fluo hóa nước sinh hoạt toàn quốc (cả nước duy nhất chỉ có thành phố Hồ Chí Minh) và có tới 80% dân số sống ở nông thôn, miền núi không có nước máy Theo nghiên cứu của Viện rănghàm mặt thì lượng fluo trong nước tự nhiên thấp [40], [41], vì vậy cần cho học sinh súc miệng fluo tại trường

Giáo dục chăm sóc răng miệng mới chỉ được đưa vào chương trình sách giáo khoa của học sinh tiểu học Giáo dục chăm sóc sức khoẻ răng miệng chưa được chú trọng trong toàn dân nên hiểu biết về tự chăm sóc

Trang 11

răng miệng, cách đánh răng đúng, thức ăn nào tốt hoặc có hại cho răng,

sự cần thiết phải đi khám răng định kỳ… của người dân còn hạn chế.Hiện nay tỷ lệ bệnh răng miệng cao nhưng chưa được mua sắm trang thiết bị (thường là đắt và phải nhập ngoại), thiếu cán bộ chuyên khoa Sovới tỷ lệ bác sĩ răng hàm mặt trên dân số thì nước ta thiếu cán bộ nghiêmtrọng, cứ 1 bác sĩ nha khoa phục vụ cho 25.000 – 30.000 dân Trong khi

đó tỷ lệ này trên thế giới và khu vực là 2.000 – 5.000, thấp hơn 10 lần sovới thế giới [42] Bên cạnh đó, sự phân bố cán bộ răng hàm mặt lại

không đồng đều

Hiện nay tại một số trường tiểu học đã áp dụng kỹ thuật ART, đang là một kỹ thuật chữa răng đơn giản, ít tốn kém và hiệu quả cao, thích hợp điều trị cho trẻ từ 6 – 9 tuổi, cho phép áp dụng rộng rãi từ thành thị đến nông thôn Hiện nay phương pháp này đã được áp dụng nhanh chóng ở các tỉnh thành phía Nam trong chương trình NHĐ [43], [44], [45] Kỹ thuật này nên được áp dụng rộng rãi trong cộng đồng, nhất là chương trình NHĐ trong cả nước

III. Một số nghiên cứu trên thế giới và Việt Nam

1. Trên thế giới

Trong lịch sử, các bệnh vềrăng miệng đã được xem một cách riêng biệt với những phần còn lại của cơ thể Tuy nhiên, trong những năm gần đây những nỗ lực đã được thực hiện để nhận ra sức khỏe răng miệng nhưmột phần của sức khỏe tổng thể [46 ] Hơn nữa, răng miệng có rất nhiềuchức năng liên quan đến cuộc sống hàng ngày như nghiền nhỏ thức ăn, quan hệ xã hội và sự xuất hiện Sức khỏe răng miệng kém có như vậy tiềm năng của cản trở chất lượng cuộc sống Lượng thức ăn giảm do đau miệng hay tình trạng răng miệng kém có thể gây ra tăng trưởng kém

ở trẻ em [47] và có thể làm trầm trọng thêm tình trạng dinh dưỡng Đau cũng có thể có một tác động tiêu cực đến khả năng tham gia vào các quan hệ xã hội và trẻ em có thể không có được đầy đủ lợi ích của giáo dục của họ nếu bị đau và khó chịu Trong khi tình trạng răng miệng kém

ở trẻ em có ảnh hưởng tiêu cực đến sự phát triển lời nói, nó cũng có thể

Ngày đăng: 07/09/2017, 10:36

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

những năm 1960 – 1970. Tình hình sâu răng ở các nước đang phát triển ở mức thấp hơn nhiều (SMT lứa tuổi 12 từ 0,2 – 2,6) những từ những  năm 1970 trở đi chỉ số này lại tăng lên nhanh (từ 1,0 – 6,3) [8]. - NGHIÊN CỨU VỀ BỆNH RĂNG MIỆNG
nh ững năm 1960 – 1970. Tình hình sâu răng ở các nước đang phát triển ở mức thấp hơn nhiều (SMT lứa tuổi 12 từ 0,2 – 2,6) những từ những năm 1970 trở đi chỉ số này lại tăng lên nhanh (từ 1,0 – 6,3) [8] (Trang 5)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w