1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Thể loại kiến trúc bền vững

16 255 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 16
Dung lượng 1,67 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Việc dùng từ “xanh” liên quan đến xu hướng phát triển của môi trường và không đề cập đến mái chỉ đơn thuần là màu xanh như lợp ngói xanh hay phủ tấm lợp màu xanh Những mái nhà có nhiều c

Trang 1

ể loại:Kiến trúc bền vững

Trang 2

Mục lục

1.1 am khảo 1

2 Mái xanh 2 2.1 Hình ảnh 2

2.2 Chú thích 3

2.3 am khảo 3

2.4 Xem thêm 3

2.5 Liên kết ngoài 3

3 Nhà tự cấp năng lượng 4 3.1 Chú thích 4

4 Phát triển bền vững 5 4.1 Định nghĩa 5

4.2 Lịch sử 5

4.3 Mục Tiêu Phát triển Bền Vững(PTBV) 6

4.4 Nguyên Tắc PTBV 6

4.5 Tình Hình ực Hiện PTBV Trên ế giới 6

4.6 Tình Hình ực Hiện PTBV Ở Việt Nam 7

4.7 Các vấn đề, lĩnh vực liên quan 7

4.8 Chương trình Nghị sự 21 7

4.9 am khảo 8

4.10 Liên kết ngoài 8

5 Xây dựng tự nhiên 9 5.1 Nguyên liệu 9

5.2 Kỹ thuật 9

5.2.1 Gạch sống 9

5.2.2 Đất trộn rơm 10

5.2.3 Khúc gỗ 10

5.2.4 Bao đất 10

5.2.5 Đất nện 10

5.2.6 Stucco 10

i

Trang 3

ii MỤC LỤC

5.2.7 Đá 10

5.2.8 Khối rơm 10

5.2.9 Khung gỗ 11

5.3 Xem thêm 11

5.4 am khảo 11

5.5 Nguồn, người đóng góp, và giấy phép cho văn bản và hình ảnh 12

5.5.1 Văn bản 12

5.5.2 Hình ảnh 12

5.5.3 Giấy phép nội dung 13

Trang 4

Chương 1

Kiến trúc nội thất

Kiến trúc nội thất là kiến trúc không gian bên trong

một công trình Khái niệm này có phần hơi tương đồng

với khái niệmthiết kế nội thất

Tuy nhiên 2 khái niệm này thường gắn liền với 2 cách

dùng khác nhau " Kiến trúc nội thất” chỉ những kiến

trúc, không gian " iết kế nội thất” thì thường chỉ

công việc liên quan đến kiến trúc nội thất

TạiMỹ, để trở thành một kiến trúc sư làm kiến trúc nội

thất thì phải hoàn thành một số tiêu chí đặt ra để trở

thành một kiến trúc sư có chứng chỉ hành nghề

ỞViệt Namkiến trúc nội thất đã phát triển được một

thời gian khá dài, điều kiện sống phát triển kèm theo

nhu cầu làm đẹp choNội thất,ngoại thấtnhà cửa tăng

mạnh

Kiến trúc nội thất đã chia ra nhiều trường phái khác

nhau, mỗi trường phái lại mang đậm nét khác biệt quốc

gia hoặc vùng lãnh thổ Như kiến trúc nội thấtchâu

âu, kiến trúc nội thấtPháp, (cái này hiểu là phong cách

thiết kế hay kiểu kiến trúc)

Hiểu theo cách đơn giản nhất, kiến trúc nội thất là thiết

kế kiến trúc xây dựng có tính đến phương án bố trí nội

thất và trang trí nội thất có liên quan đến kết cấu trần,

tường, sàn

Một số Viện đào tạo kiến trúc nội thất:

Đại học Monash,Melbourne,Úc

Trường iết kế Harrington

Đại học Kansas State

Đại học Công nghệ Lawrence

Đại học iết kế Massey, Wellington, New

Zealand

Viện Nghệ thuật Maryland

Đại học Marywood

Viện Nghệ thuật và iết kế Milwaukee

Đại học Ohio

Trường iết kế Rhode Island

Viện Công nghệ Rochester

Trường Santa Monica

Viện Nghệ thuật Chicago

Đại học California tại Berkeley

Đại học California tại Davis

Đại học Idaho

Đại học Louisville

Đại học Nevada, Las Vegas

Đại học North Carolina tại Greensboro

Đại học Oregon

Đại học Công nghệ Sydney

Đại học Wisconsin-Madison

Đại học Woodbury

Đại học New South Wales,Úc

Đại học VictoriatạiWellington,New Zealand

1.1 Tham khảo

1

Trang 5

Chương 2

Mái xanh

Mái cỏ truyền thống có thể thấy tai nhiều nơi ở Quần đảo Faroe

Mái xanh của tòa nhà City Hall tại Chicago , Illinois

Mái xanh là mái của một công trình được bao phủ một

phần hoặc toàn bộ bởi thực vật và môi trường phát triển

của lớp thực vật đó Mái xanh được trồng trên lớp màng

chống thấm, ngoài ra cũng có thể bao gồm các lớp bổ

sung khác như lớp ngăn rễ xâm thực, lớp thoát nước và

hệ thống tưới tiêu (Việc dùng từ “xanh” liên quan đến

xu hướng phát triển của môi trường và không đề cập

đến mái chỉ đơn thuần là màu xanh như lợp ngói xanh

hay phủ tấm lợp màu xanh)

Những mái nhà có nhiều cây trồng trong chậu tạo

thành khu vườn trên cao, nói chung không được coi

là mái xanh thực sự, mặc dù đây là vấn đề đang được

tranh luận Hồ trên mái là một hình thức mái xanh được

sử dụng để xử lý nước thải sinh hoạt

Mái xanh còn được gọi là “mái sống”, mái xanh phục

vụ cho những mục đích khác nhau tùy theo công trình, chẳng hạn như hấp thụ nước mưa, tạo sự cách nhiệt, tạo ra một môi trường sống cho động vật hoang dã, góp phần làm giảm nhiệt độ không khí đô thị và chống hiệu ứngđảo nhiệt đô thị Có hai loại mái xanh: một loại là mái tăng cường, dày hơn và có thể gồm nhiều loại thực vật hơn, nhưng nặng hơn và đòi hỏi bảo dưỡng nhiều hơn; thứ hai là mái bao phủ, được phủ lên một lớp mỏng thực vật và nhẹ hơn so với mái tăng cường

2.1 Hình ảnh

học California, chỉ trồng những loài cây chọn lọc nhất trên mái.[1]

Manhaan

Newfoundland

2

Trang 6

2.3 THAM KHẢO 3

những căn nhà ở nông trạiHeidal,Na Uy

Mountain Equipment Co-op,Toronto,Canada

la Vendée, bảo tàng ở miền Tây nướcPháp

Iceland

xanh tại tòa nhà kho bạcAthens

trình xây dựng tạiSan Francisco

2.2 Chú thích

[1] California (magazine of the University of California

Alumni Association), Sept/Oct 2008, cover and pp

52-53

2.3 Tham khảo 2.4 Xem thêm

• Miller-Klein, Jan Gardening for Butterflies, Bees

and other beneficial insectsISBN 978-0-9555288-0-4 has large section on green and brown roofs and brownfields, including how to make your own, with contributions from several UK practitioners

• Scholz-Barth, Katrin “Harvesting $ from

Green Roofs: Green Roofs Present a Unique Business Opportunity with Tangible Benefits for

Developers.” Urban land 64.6 (2005): 83-7.

• Roland Appl, Reimer Meier, Wolfgang

Ansel: Green Roofs - Bringing Nature Back

to Town Publisher: International Green Roof

Association IGRA, ISBN 978-3-9812978-1-2,

http://www.greenroofworld.com/bestellform/ bestellformular.php?lang=EN

2.5 Liên kết ngoài

Mái xanhtạiDMOZ

Trang 7

Chương 3

Nhà tự cấp năng lượng

Nhà tự cấp năng lượng hay nhà năng lượng bằng

không là tòa nhà tiêu thụ năng lượng thực bằng không,

nghĩa là tổng lượng năng lượng được sử dụng bởi tòa

nhà này tính trong một năm xấp xỉ bằng lượngnăng

lượng tái tạođược tạo ra ở tòa nhà này Do đó toà nhà

như thế này không làm tăng lượng khí nhà kính trong

khí quyển Tòa nhà có tiêu thụ năng lượng không tái

tạo và sản xuất các loạikhí nhà kính, nhưng tại thời

điểm khác giảm tiêu thụ năng lượng và sản lượng khí

nhà kính ở nơi khác với giá trị tương đương

Hầu hết các tòa nhà không năng lượng ròng nhận được

một nửa hoặc nhiều hơn năng lượng từđiện lưới, và trả

lại cùng một giá trị tại các thời điểm khác Các tòa nhà

sản xuất dư thừa năng lượng trong năm nay có thể được

gọi là “tòa nhà năng lượng dương” và các tòa nhà tiêu

thụ năng lượng nhiều hơn một chút so với năng lượng

sản xuất được gọi là “tòa nhà gần như không tiêu thụ

năng lượng” hay “ngôi nhà năng lượng cực thấp”

Các tòa nhà truyền thống tiêu thụ 40% tổng số năng

lượngnhiên liệu hóa thạchtrongLiên minh châu Âu

vàHoa Kỳvà là đối tượng đóng góp đáng kể của các

khí nhà kính[1][2] Nguyên tắc tiêu thụ năng lượng thực

bằng không được xem như là một phương tiện để giảm

lượngkhí thải các bonvà giảm sự phụ thuộc vào nhiên

liệu hóa thạch và mặc dù không có năng lượng tòa nhà

vẫn còn chưa phổ biến, ngay cả ở các nước phát triển,

chúng lại đang ngày càng đạt được tầm quan trọng và

phổ biến

Hầu hết các tòa tiêu thụ năng lượng bằng không sử

dụng lưới điện để lưu trữ năng lượng, nhưng một số độc

lập với lưới điện Năng lượng thường được thu tại chỗ

thông qua một sự kết hợp của công nghệ sản xuất năng

lượng nhưnăng lượng mặt trờivànăng lượng gió, trong

khi làm giảm việc sử dụng tổng thể của năng lượng với

HVAC, chiếu sáng công nghệ có hiệu quả cao Mục tiêu

năng lượng bằng không đang trở thành thực tế hơn như

các chi phí thay thế các công nghệ năng lượng giảm và

chi phí nhiên liệu hóa thạch truyền thống tăng

3.1 Chú thích

[1] Baden, S., et al., “Hurdling Financial Barriers to

Lower Energy Buildings: Experiences from the USA

and Europe on Financial Incentives and Monetizing Building Energy Savings in Private Investment Decisions.”Proceedings of 2006 ACEEE Summer Study

on Energy Efficiency in Buildings, American Council for

an Energy Efficient Economy, Washington DC, August 2006

[2] US Department of Energy.Annual Energy Review 2006

ngày 27 tháng 6 năm 2007 Truy cập ngày 27 tháng 4 năm 2008

4

Trang 8

Chương 4

Phát triển bền vững

Phát triển bền vững là mộtkhái niệmmới nhằm định

nghĩa một sựphát triểnvề mọi mặt trong xã hộihiện tại

mà vẫn phải bảo đảm sự tiếp tục phát triển trongtương

laixa Khái niệm này hiện đang là mục tiêu hướng tới

nhiều quốc gia trên thế giới, mỗi quốc gia sẽ dựa theo

đặc thùkinh tế,xã hội,chính trị,địa lý,văn hóa… riêng

để hoạch định chiến lược phù hợp nhất với quốc gia đó

4.1 Định nghĩa

uật ngữ “phát triển bền vững” xuất hiện lần đầu tiên

vào năm1980trong ấn phẩm Chiến lược bảo tồn ế

giới (công bố bởi Hiệp hội Bảo tồn iên nhiên và Tài

nguyên iên nhiên ốc tế -IUCN) với nội dung rất

đơn giản: “Sự phát triển của nhân loại không thể chỉ

chú trọng tới phát triển kinh tế mà còn phải tôn trọng

những nhu cầu tất yếu của xã hội và sự tác động đến

môi trường sinh thái học”

Khái niệm này được phổ biến rộng rãi vào năm1987

nhờ Báo cáo Brundtland (còn gọi là Báo cáo Our

Common Future) của Ủy ban Môi trường và Phát triển

ế giới - WCED (nay làỦy ban Brundtland) Báo cáo

này ghi rõ: Phát triển bền vững là “sự phát triển có thể

đáp ứng được những nhu cầu hiện tại mà không ảnh

hưởng, tổn hại đến những khả năng đáp ứng nhu cầu

của các thế hệ tương lai…”1 Nói cách khác, phát triển

bền vững phải bảo đảm có sự phát triển kinh tế hiệu

quả, xã hội công bằng và môi trường được bảo vệ, gìn

giữ Để đạt được điều này, tất cả các thành phần kinh

tế - xã hội, nhà cầm quyền, các tổ chức xã hội… phải

bắt tay nhau thực hiện nhằm mục đích dung hòa 3 lĩnh

vực chính:kinh tế-xã hội-môi trường

1Hai khái niệm gắn liền với quan điểm trên:

• Khái niệm “nhu cầu”…

• Khái niệm của sự giới hạn mà tình trạng

hiện tại củakhoa học kỹ thuậtvà sự tổ

chức xã hội áp đặt lên khả năng đáp ứng

của môi trường nhằm thỏa mãn nhu cầu

hiện tại và tương lai

Sau đó, năm 1992, tạiRio de Janeiro, các đại biểu tham gia Hội nghị về Môi trường và Phát triển củaLiên hiệp quốcđã xác nhận lại khái niệm này, và đã gửi đi một thông điệp rõ ràng tới tất cả các cấp của cácchính phủ

về sự cấp bách trong việc đẩy mạnh sự hòa hợp kinh

tế, phát triển xã hội cùng với bảo vệ môi trường Năm 2002, Hội nghị thượng đỉnh ế giới về Phát triển bền vững (còn gọi là Hội nghị Rio +10 hay

Hội nghị thượng đỉnh Johannesburg) nhóm họp tại

Johannesburg,Cộng hòa Nam Phivới sự tham gia của các nhà lãnh đạo cũng như các chuyên gia về kinh tế,

xã hội và môi trường của gần 200quốc giađã tổng kết lại kế hoạch hành động về phát triển bền vững 10 năm qua và đưa ra các quyết sách liên quan tới các vấn đề

vềnước,năng lượng,sức khỏe,nông nghiệpvàsự đa dạng sinh thái

eo Tổ chức ngân hàng phát triển châu Á (ADB):

“Phát triển bền vững là một loại hình phát triển mới, lồng ghép quá trình sản xuất với bảo tồn tài nguyên và nâng cao chất lượng môi trường Phát triển bền vững cần phải đáp ứng các nhu cầu của thế hệ hiện tại mà không phương hại đến khả năng của chúng ta đáp ứng các nhu cầu của thế hệ trong tương lai”

4.2 Lịch sử

áng 4năm1968: Tổ chứce Club of Rome được sáng lập, đây là mộttổ chức phi chính phủhỗ trợ cho việc nghiên cứu "Những vấn đề của thế giới" - một cụm

từ được đặt ra nhằm diễn tả những vấn đềchính trị,

văn hóa,xã hội,môi trườngvàcông nghệtrên toàn cầu với tầm nhìn lâu dài Tổ chức này đã tập hợp những

nhà khoa học, nhà nghiên cứu, nhà kinh doanh cũng như cácnhà lãnh đạocủa các quốc gia trên thế giới (bao gồm cảTổng thống Liên Xô Mikhail Sergeyevich GorbachyovvàRigoberta Menchú Tum) Trong nhiều năm, e Club of Rome đã công bố một số lượng lớn các báo cáo, bao gồm cả bản báo cáoe Limits to Growth

(Giới hạn của sự tăng trưởng) - được xuất bản năm 1972

đề cập tới hậu quả của việc tăng dân số quá nhanh, sự hữu hạn của các nguồntài nguyên…

áng 6năm1972: Hội nghị củaLiên Hợp ốcvề con 5

Trang 9

6 CHƯƠNG 4 PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG

người và môi trường được tổ chức tạiStockholm,ụy

Điểnđược đánh giá là hành động đầu tiên đánh dấu sự

nỗ lực chung của toàn thể nhân loại nhằm giải quyết

các vấn đề về môi trường Một trong những kết quả của

hội nghị lịch sử này là sự thông qua bản tuyên bố về

nguyên tắc và kế hoạch hành động chống ô nhiễm môi

trường Ngoài ra, Chương trình Môi trường của Liên

Hợp ốc cũng được thành lập

Năm1984:Đại hội đồng Liên hiệp quốcđã ủy nhiệm

cho bàGro Harlem Brundtland, khi đó làủ tướng

Na Uy, quyền thành lập và làm chủ tịch Ủy ban Môi

trường và Phát triển ế giới (World Commission on

Environment and Development - WCED), nay còn được

biết đến với tên Ủy ban Brundtland Tới nay, ủy ban

này đã được ghi nhận có những công hiến rất giá trị

cho việc đẩy mạnh sự phát triển bền vững

Năm1987: Hoạt động của Ủy ban Môi trường và Phát

triển ế giới trở nên nóng bỏng khi xuất bản báo cáo

có tựa đề “Tương lai của chúng ta” (tựatiếng Anh: Our

Common Futur và tiếng Pháplà Notre avenir à tous,

ngoài ra còn thường được gọi làBáo cáo Brundtland)

Bản báo cáo này lần đầu tiên công bố chính thức thuật

ngữ “phát triển bền vững”, sự định nghĩa cũng như một

cái nhìn mới về cách hoạch định các chiến lược phát

triển lâu dài

Năm1989: Sự phát hành và tầm quan trọng của Our

Common Futur đã được đưa ra bàn bạc tạiĐại hội đồng

Liên hiệp quốcvà đã dẫn đến sự ra đời của Nghị quyết

44/228 - tiền đề cho việc tổ chức Hội nghị về Môi trường

và Phát triển của Liên hiệp quốc

Năm 1992: Rio de Janeiro, Brasil là nơi đăng cai tổ

chức Hội nghị thượng đỉnh về Trái Đất, tên chính

thức là Hội nghị về Môi trường và Phát triển của Liên

hiệp quốc (UNCED) Tại đây, các đại biểu tham gia đã

thống nhất những nguyên tắc cơ bản và phát động một

chương trình hành động vì sự phát triển bền vững có

tênChương trình Nghị sự 21(Agenda 21) Với sự tham

gia của đại diện hơn 200 nước trên thế giới cùng một số

lượng lớn các tổ chức phi chính phủ, hội nghị đã đưa ra

bảnTuyên ngôn Riovề môi trường và phát triển cũng

như thông qua một số văn kiện như hiệp định về sự

đa dạng sinh học, bộ khung của hiệp định về sựbiến

đổi khí hậu, tuyên bố về nguyên tắc quản lý, bảo tồn

rừng…

Năm2002: Hội nghị thượng đỉnh ế giới về Phát triển

bền vững nhóm họp tại Johannesburg, Nam Phi là dịp

cho các bên tham gia nhìn lại những việc đã làm 10

năm qua theo phương hướng mà Tuyên ngôn Rio và

Chương trình Nghị sự 21 đã vạch ra, tiếp tục tiến hành

với một số mục tiêu được ưu tiên Những mục tiêu này

bao gồm xóa nghèo đói, phát triển những sản phẩm

tái sinh hoặc thân thiện với môi trường nhằm thay

thế các sản phẩm gây ô nhiễm, bảo vệ và quản lý các

nguồntài nguyên thiên nhiên Hội nghị cũng đề cập

tới chủ đềtoàn cầu hóagắn với các vấn đề liên quan

tới sức khỏe và phát triển Các đại diện của các quốc

gia tham gia hội nghị cũng cam kết phát triển chiến lược về phát triển bền vững tại mỗi quốc gia trước năm

2005 Việt Nam cũng đã cam kết và bắt tay vào hành động vớiDự án VIE/01/021“Hỗ trợ xây dựng và thực hiệnChương trình Nghị sự 21 của Việt Nam" bắt đầu vào tháng 11/2001 và kết thúc vào tháng 12/2005 nhằm tạo tiền đề cho việc thực hiệnVietnam Agenda 21

4.3 Mục Tiêu Phát triển Bền Vững(PTBV)

Mục tiêu của PTBV là đạt được sự đầy đủ về vật chất,

sự giàu có về tinh thần và văn hóa, sự bình dẳng của cá công dân và sự đồng thuận của xã hội, sự hài hòa giữa con người và tự nhiên:

• PTBV về kinh tế.

• PTBV về xã hội.

• PTBV về môi trường.

4.4 Nguyên Tắc PTBV

Nguyên tắc PTBV đưa ra nhằm phục vụ cho việc xác định quyền và nghĩa vụ của các tổ chức, cá nhân đối với cộng đồng Các quy định nhằm đảm bảo thực hiện đúng các nguyên tắc PTBV:

• Nguyên tắc về sự ủy thác của nhân dân.

• Nguyên tắc bình đẳng giữa các thế hệ.

• Nguyên tắc phòng ngừa.

• Nguyên tắc phân quyền và ủy quyền.

• Nguyên tắc bình đẳng trong nội bộ thế hệ.

• Nguyên tắc người gây ô nhiễm phải trả tiền.

• Nguyên tắc người sử dụng phải trả tiền.

4.5 Tình Hình Thực Hiện PTBV Trên Thế giới

- Nghèo đói:

• ế giới hiện này còn 1.2 tỷ người có mức thu nhập

dưới 1 dola/ngày (24% dân số thế giới), 2.8 tỷ người dưới 2 dola/ngày (51 %)

• Hơn 1 tỷ người ở các nước kém phát triển không

có nước sạch và phương tiện vệ sinh

Trang 10

4.7 CÁC VẤN ĐỀ, LĨNH VỰC LIÊN QUAN 7

• Mục tiêu toàn cầu: Trong giai đoạn 1990-2015

giảm một nửa số người có thu nhập 1dola/ngày

- ất học:

• 2/3 dân số mù chữ là nữ.

• ế giới vẫn còn 113 triệu trẻ em không được đi

học

-Sức khỏe:

• Mỗi năm có 11 triệu trẻ em dưới 5 tuổi bị chết.

• 1/3 số người chết ở các nước đang phát triển là do

nghèo đói

• Mỗi năm có 3 triệu người chết vì HIV/AIDS, trong

đó có 0.5 triệu là trẻ em, mỗi ngày có 8000 người,

10s có một người chết

4.6 Tình Hình Thực Hiện PTBV Ở

Việt Nam

Năm 1990: ành lập Cục môi trường

Năm 2003: Bộ Tài nguyên và Môi trường

Năm 1991: Chiến lược bảo vệ môi trường quốc gia giai

đoạn 1991-2000

Năm 1993: Luật bảo vệ môi trường Sửa đổi 2005

Năm 1998: Nghị quyết của Bộ chính trị về bảo vệ môi

trường trong thời kỳ CNH, HĐH

Năm 8/2000: Chính phủ quyết định soạn thảo Chương

trình nghị sự 21 quốc gia

Năm 2003: Chiến lược quốc gia về bảo vệ môi trường

Năm 8/2004: Định hướng chiến lược về phát triển bền

vững (Chương trình nghị sự 21 quốc gia)

- Kinh tế:

• Kinh tế tăng trưởng nhanh và theo chiều rộng.

Tiềm lực kinh tế còn yếu

Bảng tỷ lệ đóng góp vào GDP của các yếu tố.

• Số nợ hiện nay của Việt Nam so với các nước khác

chưa thuộc loại cao và chưa tới giới hạn nguy

hiểm Song số nợ đó đang tăng lên nhanh chóng

và sẽ có nguy cơ đe doạ tính bền vững của sự phát

triển trong tương lai, nhất là khi vốn vay chưa

được sử dụng có hiệu quả

• Mô hình tiêu dùng: Sao chép lối sống tiêu thụ của

các nước phát triển, trong đó có nhiều điều không

có lợi cho việc tiết kiệm tài nguyên và phát triển

bền vững Khai thác cạn kiệt tài nguyên quý hiếm nhằm đáp ứng nhu cầu xa xỉ của một số người đang diễn ra phổ biến

- Xã hội:

• Đầu tư của Nhà nước cho các lĩnh vực xã hội ngày

càng tăng

• Một hệ thống luật pháp đã được ban hành đáp ứng

được đòi hỏi của thực tiễn và phù hợp hơn với yêu cầu

• Đời sống nhân dân ở cả thành thị và nông thôn đã

được cải thiện

• Các chỉ tiêu xã hội được cải thiện hơn rất nhiều.

Chỉ số phát triển con người (HDI) của Việt Nam

đã tăng từ 0,611 năm 1992 lên 0,682 năm 1999 Xếp hạng HDI trong số 162 nước, Việt Nam đứng thứ

120 năm 1992; thứ 101 năm 1999 và thứ 109 trên

175 nước vào năm 2003

• Về chỉ số phát triển giới (GDI), năm 2003 Việt Nam

được xếp thứ 89 trong tổng số 144 nước Phụ nữ chiếm 26% tổng số đại biểu ốc hội, là một trong

15 nước có tỷ lệ nữ cao nhất trong cơ quan quyền lực của Nhà nước

- Môi trường:

• Xét về độ an toàn của môi trường, Việt Nam đứng

cuối bảng trong số 8 nước ASEAN, và xếp thứ 98 trên tổng số 117 nước đang phát triển

• Việt Nam đã có nhiều nỗ lực nhằm khắc phục

những hậu quả môi trường do chiến tranh để lại Nhiều chính sách quan trọng về quản lý, sử dụng tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường đã được xây dựng và thực hiện trong những năm gần đây

• Nội dung bảo vệ môi trường đã được đưa vào giảng

dạy ở tất cả các cấp học trong hệ thống giáo dục quốc dân

“Để đảm bảo có một tương lai an toàn hơn, phồn vinh hơn, úng ta ỉ có một con đường là giải quyết một cá cân đối các vấn đề về môi trường và phát triển cùng một lúc.”

4.7 Các vấn đề, lĩnh vực liên quan 4.8 Chương trình Nghị sự 21

Ngày đăng: 06/09/2017, 12:22

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w