Việc dùng từ “xanh” liên quan đến xu hướng phát triển của môi trường và không đề cập đến mái chỉ đơn thuần là màu xanh như lợp ngói xanh hay phủ tấm lợp màu xanh Những mái nhà có nhiều c
Trang 1ể loại:Kiến trúc bền vững
Trang 2Mục lục
1.1 am khảo 1
2 Mái xanh 2 2.1 Hình ảnh 2
2.2 Chú thích 3
2.3 am khảo 3
2.4 Xem thêm 3
2.5 Liên kết ngoài 3
3 Nhà tự cấp năng lượng 4 3.1 Chú thích 4
4 Phát triển bền vững 5 4.1 Định nghĩa 5
4.2 Lịch sử 5
4.3 Mục Tiêu Phát triển Bền Vững(PTBV) 6
4.4 Nguyên Tắc PTBV 6
4.5 Tình Hình ực Hiện PTBV Trên ế giới 6
4.6 Tình Hình ực Hiện PTBV Ở Việt Nam 7
4.7 Các vấn đề, lĩnh vực liên quan 7
4.8 Chương trình Nghị sự 21 7
4.9 am khảo 8
4.10 Liên kết ngoài 8
5 Xây dựng tự nhiên 9 5.1 Nguyên liệu 9
5.2 Kỹ thuật 9
5.2.1 Gạch sống 9
5.2.2 Đất trộn rơm 10
5.2.3 Khúc gỗ 10
5.2.4 Bao đất 10
5.2.5 Đất nện 10
5.2.6 Stucco 10
i
Trang 3ii MỤC LỤC
5.2.7 Đá 10
5.2.8 Khối rơm 10
5.2.9 Khung gỗ 11
5.3 Xem thêm 11
5.4 am khảo 11
5.5 Nguồn, người đóng góp, và giấy phép cho văn bản và hình ảnh 12
5.5.1 Văn bản 12
5.5.2 Hình ảnh 12
5.5.3 Giấy phép nội dung 13
Trang 4Chương 1
Kiến trúc nội thất
Kiến trúc nội thất là kiến trúc không gian bên trong
một công trình Khái niệm này có phần hơi tương đồng
với khái niệmthiết kế nội thất
Tuy nhiên 2 khái niệm này thường gắn liền với 2 cách
dùng khác nhau " Kiến trúc nội thất” chỉ những kiến
trúc, không gian " iết kế nội thất” thì thường chỉ
công việc liên quan đến kiến trúc nội thất
TạiMỹ, để trở thành một kiến trúc sư làm kiến trúc nội
thất thì phải hoàn thành một số tiêu chí đặt ra để trở
thành một kiến trúc sư có chứng chỉ hành nghề
ỞViệt Namkiến trúc nội thất đã phát triển được một
thời gian khá dài, điều kiện sống phát triển kèm theo
nhu cầu làm đẹp choNội thất,ngoại thấtnhà cửa tăng
mạnh
Kiến trúc nội thất đã chia ra nhiều trường phái khác
nhau, mỗi trường phái lại mang đậm nét khác biệt quốc
gia hoặc vùng lãnh thổ Như kiến trúc nội thấtchâu
âu, kiến trúc nội thấtPháp, (cái này hiểu là phong cách
thiết kế hay kiểu kiến trúc)
Hiểu theo cách đơn giản nhất, kiến trúc nội thất là thiết
kế kiến trúc xây dựng có tính đến phương án bố trí nội
thất và trang trí nội thất có liên quan đến kết cấu trần,
tường, sàn
Một số Viện đào tạo kiến trúc nội thất:
• Đại học Monash,Melbourne,Úc
• Trường iết kế Harrington
• Đại học Kansas State
• Đại học Công nghệ Lawrence
• Đại học iết kế Massey, Wellington, New
Zealand
• Viện Nghệ thuật Maryland
• Đại học Marywood
• Viện Nghệ thuật và iết kế Milwaukee
• Đại học Ohio
• Trường iết kế Rhode Island
• Viện Công nghệ Rochester
• Trường Santa Monica
• Viện Nghệ thuật Chicago
• Đại học California tại Berkeley
• Đại học California tại Davis
• Đại học Idaho
• Đại học Louisville
• Đại học Nevada, Las Vegas
• Đại học North Carolina tại Greensboro
• Đại học Oregon
• Đại học Công nghệ Sydney
• Đại học Wisconsin-Madison
• Đại học Woodbury
• Đại học New South Wales,Úc
• Đại học VictoriatạiWellington,New Zealand
1.1 Tham khảo
1
Trang 5Chương 2
Mái xanh
Mái cỏ truyền thống có thể thấy tai nhiều nơi ở Quần đảo Faroe
Mái xanh của tòa nhà City Hall tại Chicago , Illinois
Mái xanh là mái của một công trình được bao phủ một
phần hoặc toàn bộ bởi thực vật và môi trường phát triển
của lớp thực vật đó Mái xanh được trồng trên lớp màng
chống thấm, ngoài ra cũng có thể bao gồm các lớp bổ
sung khác như lớp ngăn rễ xâm thực, lớp thoát nước và
hệ thống tưới tiêu (Việc dùng từ “xanh” liên quan đến
xu hướng phát triển của môi trường và không đề cập
đến mái chỉ đơn thuần là màu xanh như lợp ngói xanh
hay phủ tấm lợp màu xanh)
Những mái nhà có nhiều cây trồng trong chậu tạo
thành khu vườn trên cao, nói chung không được coi
là mái xanh thực sự, mặc dù đây là vấn đề đang được
tranh luận Hồ trên mái là một hình thức mái xanh được
sử dụng để xử lý nước thải sinh hoạt
Mái xanh còn được gọi là “mái sống”, mái xanh phục
vụ cho những mục đích khác nhau tùy theo công trình, chẳng hạn như hấp thụ nước mưa, tạo sự cách nhiệt, tạo ra một môi trường sống cho động vật hoang dã, góp phần làm giảm nhiệt độ không khí đô thị và chống hiệu ứngđảo nhiệt đô thị Có hai loại mái xanh: một loại là mái tăng cường, dày hơn và có thể gồm nhiều loại thực vật hơn, nhưng nặng hơn và đòi hỏi bảo dưỡng nhiều hơn; thứ hai là mái bao phủ, được phủ lên một lớp mỏng thực vật và nhẹ hơn so với mái tăng cường
2.1 Hình ảnh
học California, chỉ trồng những loài cây chọn lọc nhất trên mái.[1]
Manhaan
Newfoundland
2
Trang 62.3 THAM KHẢO 3
những căn nhà ở nông trạiHeidal,Na Uy
Mountain Equipment Co-op,Toronto,Canada
la Vendée, bảo tàng ở miền Tây nướcPháp
Iceland
xanh tại tòa nhà kho bạcAthens
trình xây dựng tạiSan Francisco
2.2 Chú thích
[1] California (magazine of the University of California
Alumni Association), Sept/Oct 2008, cover and pp
52-53
2.3 Tham khảo 2.4 Xem thêm
• Miller-Klein, Jan Gardening for Butterflies, Bees
and other beneficial insectsISBN 978-0-9555288-0-4 has large section on green and brown roofs and brownfields, including how to make your own, with contributions from several UK practitioners
• Scholz-Barth, Katrin “Harvesting $ from
Green Roofs: Green Roofs Present a Unique Business Opportunity with Tangible Benefits for
Developers.” Urban land 64.6 (2005): 83-7.
• Roland Appl, Reimer Meier, Wolfgang
Ansel: Green Roofs - Bringing Nature Back
to Town Publisher: International Green Roof
Association IGRA, ISBN 978-3-9812978-1-2,
http://www.greenroofworld.com/bestellform/ bestellformular.php?lang=EN
2.5 Liên kết ngoài
• Mái xanhtạiDMOZ
Trang 7Chương 3
Nhà tự cấp năng lượng
Nhà tự cấp năng lượng hay nhà năng lượng bằng
không là tòa nhà tiêu thụ năng lượng thực bằng không,
nghĩa là tổng lượng năng lượng được sử dụng bởi tòa
nhà này tính trong một năm xấp xỉ bằng lượngnăng
lượng tái tạođược tạo ra ở tòa nhà này Do đó toà nhà
như thế này không làm tăng lượng khí nhà kính trong
khí quyển Tòa nhà có tiêu thụ năng lượng không tái
tạo và sản xuất các loạikhí nhà kính, nhưng tại thời
điểm khác giảm tiêu thụ năng lượng và sản lượng khí
nhà kính ở nơi khác với giá trị tương đương
Hầu hết các tòa nhà không năng lượng ròng nhận được
một nửa hoặc nhiều hơn năng lượng từđiện lưới, và trả
lại cùng một giá trị tại các thời điểm khác Các tòa nhà
sản xuất dư thừa năng lượng trong năm nay có thể được
gọi là “tòa nhà năng lượng dương” và các tòa nhà tiêu
thụ năng lượng nhiều hơn một chút so với năng lượng
sản xuất được gọi là “tòa nhà gần như không tiêu thụ
năng lượng” hay “ngôi nhà năng lượng cực thấp”
Các tòa nhà truyền thống tiêu thụ 40% tổng số năng
lượngnhiên liệu hóa thạchtrongLiên minh châu Âu
vàHoa Kỳvà là đối tượng đóng góp đáng kể của các
khí nhà kính[1][2] Nguyên tắc tiêu thụ năng lượng thực
bằng không được xem như là một phương tiện để giảm
lượngkhí thải các bonvà giảm sự phụ thuộc vào nhiên
liệu hóa thạch và mặc dù không có năng lượng tòa nhà
vẫn còn chưa phổ biến, ngay cả ở các nước phát triển,
chúng lại đang ngày càng đạt được tầm quan trọng và
phổ biến
Hầu hết các tòa tiêu thụ năng lượng bằng không sử
dụng lưới điện để lưu trữ năng lượng, nhưng một số độc
lập với lưới điện Năng lượng thường được thu tại chỗ
thông qua một sự kết hợp của công nghệ sản xuất năng
lượng nhưnăng lượng mặt trờivànăng lượng gió, trong
khi làm giảm việc sử dụng tổng thể của năng lượng với
HVAC, chiếu sáng công nghệ có hiệu quả cao Mục tiêu
năng lượng bằng không đang trở thành thực tế hơn như
các chi phí thay thế các công nghệ năng lượng giảm và
chi phí nhiên liệu hóa thạch truyền thống tăng
3.1 Chú thích
[1] Baden, S., et al., “Hurdling Financial Barriers to
Lower Energy Buildings: Experiences from the USA
and Europe on Financial Incentives and Monetizing Building Energy Savings in Private Investment Decisions.”Proceedings of 2006 ACEEE Summer Study
on Energy Efficiency in Buildings, American Council for
an Energy Efficient Economy, Washington DC, August 2006
[2] US Department of Energy.Annual Energy Review 2006
ngày 27 tháng 6 năm 2007 Truy cập ngày 27 tháng 4 năm 2008
4
Trang 8Chương 4
Phát triển bền vững
Phát triển bền vững là mộtkhái niệmmới nhằm định
nghĩa một sựphát triểnvề mọi mặt trong xã hộihiện tại
mà vẫn phải bảo đảm sự tiếp tục phát triển trongtương
laixa Khái niệm này hiện đang là mục tiêu hướng tới
nhiều quốc gia trên thế giới, mỗi quốc gia sẽ dựa theo
đặc thùkinh tế,xã hội,chính trị,địa lý,văn hóa… riêng
để hoạch định chiến lược phù hợp nhất với quốc gia đó
4.1 Định nghĩa
uật ngữ “phát triển bền vững” xuất hiện lần đầu tiên
vào năm1980trong ấn phẩm Chiến lược bảo tồn ế
giới (công bố bởi Hiệp hội Bảo tồn iên nhiên và Tài
nguyên iên nhiên ốc tế -IUCN) với nội dung rất
đơn giản: “Sự phát triển của nhân loại không thể chỉ
chú trọng tới phát triển kinh tế mà còn phải tôn trọng
những nhu cầu tất yếu của xã hội và sự tác động đến
môi trường sinh thái học”
Khái niệm này được phổ biến rộng rãi vào năm1987
nhờ Báo cáo Brundtland (còn gọi là Báo cáo Our
Common Future) của Ủy ban Môi trường và Phát triển
ế giới - WCED (nay làỦy ban Brundtland) Báo cáo
này ghi rõ: Phát triển bền vững là “sự phát triển có thể
đáp ứng được những nhu cầu hiện tại mà không ảnh
hưởng, tổn hại đến những khả năng đáp ứng nhu cầu
của các thế hệ tương lai…”1 Nói cách khác, phát triển
bền vững phải bảo đảm có sự phát triển kinh tế hiệu
quả, xã hội công bằng và môi trường được bảo vệ, gìn
giữ Để đạt được điều này, tất cả các thành phần kinh
tế - xã hội, nhà cầm quyền, các tổ chức xã hội… phải
bắt tay nhau thực hiện nhằm mục đích dung hòa 3 lĩnh
vực chính:kinh tế-xã hội-môi trường
1Hai khái niệm gắn liền với quan điểm trên:
• Khái niệm “nhu cầu”…
• Khái niệm của sự giới hạn mà tình trạng
hiện tại củakhoa học kỹ thuậtvà sự tổ
chức xã hội áp đặt lên khả năng đáp ứng
của môi trường nhằm thỏa mãn nhu cầu
hiện tại và tương lai
Sau đó, năm 1992, tạiRio de Janeiro, các đại biểu tham gia Hội nghị về Môi trường và Phát triển củaLiên hiệp quốcđã xác nhận lại khái niệm này, và đã gửi đi một thông điệp rõ ràng tới tất cả các cấp của cácchính phủ
về sự cấp bách trong việc đẩy mạnh sự hòa hợp kinh
tế, phát triển xã hội cùng với bảo vệ môi trường Năm 2002, Hội nghị thượng đỉnh ế giới về Phát triển bền vững (còn gọi là Hội nghị Rio +10 hay
Hội nghị thượng đỉnh Johannesburg) nhóm họp tại
Johannesburg,Cộng hòa Nam Phivới sự tham gia của các nhà lãnh đạo cũng như các chuyên gia về kinh tế,
xã hội và môi trường của gần 200quốc giađã tổng kết lại kế hoạch hành động về phát triển bền vững 10 năm qua và đưa ra các quyết sách liên quan tới các vấn đề
vềnước,năng lượng,sức khỏe,nông nghiệpvàsự đa dạng sinh thái
eo Tổ chức ngân hàng phát triển châu Á (ADB):
“Phát triển bền vững là một loại hình phát triển mới, lồng ghép quá trình sản xuất với bảo tồn tài nguyên và nâng cao chất lượng môi trường Phát triển bền vững cần phải đáp ứng các nhu cầu của thế hệ hiện tại mà không phương hại đến khả năng của chúng ta đáp ứng các nhu cầu của thế hệ trong tương lai”
4.2 Lịch sử
áng 4năm1968: Tổ chứce Club of Rome được sáng lập, đây là mộttổ chức phi chính phủhỗ trợ cho việc nghiên cứu "Những vấn đề của thế giới" - một cụm
từ được đặt ra nhằm diễn tả những vấn đềchính trị,
văn hóa,xã hội,môi trườngvàcông nghệtrên toàn cầu với tầm nhìn lâu dài Tổ chức này đã tập hợp những
nhà khoa học, nhà nghiên cứu, nhà kinh doanh cũng như cácnhà lãnh đạocủa các quốc gia trên thế giới (bao gồm cảTổng thống Liên Xô Mikhail Sergeyevich GorbachyovvàRigoberta Menchú Tum) Trong nhiều năm, e Club of Rome đã công bố một số lượng lớn các báo cáo, bao gồm cả bản báo cáoe Limits to Growth
(Giới hạn của sự tăng trưởng) - được xuất bản năm 1972
đề cập tới hậu quả của việc tăng dân số quá nhanh, sự hữu hạn của các nguồntài nguyên…
áng 6năm1972: Hội nghị củaLiên Hợp ốcvề con 5
Trang 96 CHƯƠNG 4 PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG
người và môi trường được tổ chức tạiStockholm,ụy
Điểnđược đánh giá là hành động đầu tiên đánh dấu sự
nỗ lực chung của toàn thể nhân loại nhằm giải quyết
các vấn đề về môi trường Một trong những kết quả của
hội nghị lịch sử này là sự thông qua bản tuyên bố về
nguyên tắc và kế hoạch hành động chống ô nhiễm môi
trường Ngoài ra, Chương trình Môi trường của Liên
Hợp ốc cũng được thành lập
Năm1984:Đại hội đồng Liên hiệp quốcđã ủy nhiệm
cho bàGro Harlem Brundtland, khi đó làủ tướng
Na Uy, quyền thành lập và làm chủ tịch Ủy ban Môi
trường và Phát triển ế giới (World Commission on
Environment and Development - WCED), nay còn được
biết đến với tên Ủy ban Brundtland Tới nay, ủy ban
này đã được ghi nhận có những công hiến rất giá trị
cho việc đẩy mạnh sự phát triển bền vững
Năm1987: Hoạt động của Ủy ban Môi trường và Phát
triển ế giới trở nên nóng bỏng khi xuất bản báo cáo
có tựa đề “Tương lai của chúng ta” (tựatiếng Anh: Our
Common Futur và tiếng Pháplà Notre avenir à tous,
ngoài ra còn thường được gọi làBáo cáo Brundtland)
Bản báo cáo này lần đầu tiên công bố chính thức thuật
ngữ “phát triển bền vững”, sự định nghĩa cũng như một
cái nhìn mới về cách hoạch định các chiến lược phát
triển lâu dài
Năm1989: Sự phát hành và tầm quan trọng của Our
Common Futur đã được đưa ra bàn bạc tạiĐại hội đồng
Liên hiệp quốcvà đã dẫn đến sự ra đời của Nghị quyết
44/228 - tiền đề cho việc tổ chức Hội nghị về Môi trường
và Phát triển của Liên hiệp quốc
Năm 1992: Rio de Janeiro, Brasil là nơi đăng cai tổ
chức Hội nghị thượng đỉnh về Trái Đất, tên chính
thức là Hội nghị về Môi trường và Phát triển của Liên
hiệp quốc (UNCED) Tại đây, các đại biểu tham gia đã
thống nhất những nguyên tắc cơ bản và phát động một
chương trình hành động vì sự phát triển bền vững có
tênChương trình Nghị sự 21(Agenda 21) Với sự tham
gia của đại diện hơn 200 nước trên thế giới cùng một số
lượng lớn các tổ chức phi chính phủ, hội nghị đã đưa ra
bảnTuyên ngôn Riovề môi trường và phát triển cũng
như thông qua một số văn kiện như hiệp định về sự
đa dạng sinh học, bộ khung của hiệp định về sựbiến
đổi khí hậu, tuyên bố về nguyên tắc quản lý, bảo tồn
rừng…
Năm2002: Hội nghị thượng đỉnh ế giới về Phát triển
bền vững nhóm họp tại Johannesburg, Nam Phi là dịp
cho các bên tham gia nhìn lại những việc đã làm 10
năm qua theo phương hướng mà Tuyên ngôn Rio và
Chương trình Nghị sự 21 đã vạch ra, tiếp tục tiến hành
với một số mục tiêu được ưu tiên Những mục tiêu này
bao gồm xóa nghèo đói, phát triển những sản phẩm
tái sinh hoặc thân thiện với môi trường nhằm thay
thế các sản phẩm gây ô nhiễm, bảo vệ và quản lý các
nguồntài nguyên thiên nhiên Hội nghị cũng đề cập
tới chủ đềtoàn cầu hóagắn với các vấn đề liên quan
tới sức khỏe và phát triển Các đại diện của các quốc
gia tham gia hội nghị cũng cam kết phát triển chiến lược về phát triển bền vững tại mỗi quốc gia trước năm
2005 Việt Nam cũng đã cam kết và bắt tay vào hành động vớiDự án VIE/01/021“Hỗ trợ xây dựng và thực hiệnChương trình Nghị sự 21 của Việt Nam" bắt đầu vào tháng 11/2001 và kết thúc vào tháng 12/2005 nhằm tạo tiền đề cho việc thực hiệnVietnam Agenda 21
4.3 Mục Tiêu Phát triển Bền Vững(PTBV)
Mục tiêu của PTBV là đạt được sự đầy đủ về vật chất,
sự giàu có về tinh thần và văn hóa, sự bình dẳng của cá công dân và sự đồng thuận của xã hội, sự hài hòa giữa con người và tự nhiên:
• PTBV về kinh tế.
• PTBV về xã hội.
• PTBV về môi trường.
4.4 Nguyên Tắc PTBV
Nguyên tắc PTBV đưa ra nhằm phục vụ cho việc xác định quyền và nghĩa vụ của các tổ chức, cá nhân đối với cộng đồng Các quy định nhằm đảm bảo thực hiện đúng các nguyên tắc PTBV:
• Nguyên tắc về sự ủy thác của nhân dân.
• Nguyên tắc bình đẳng giữa các thế hệ.
• Nguyên tắc phòng ngừa.
• Nguyên tắc phân quyền và ủy quyền.
• Nguyên tắc bình đẳng trong nội bộ thế hệ.
• Nguyên tắc người gây ô nhiễm phải trả tiền.
• Nguyên tắc người sử dụng phải trả tiền.
4.5 Tình Hình Thực Hiện PTBV Trên Thế giới
- Nghèo đói:
• ế giới hiện này còn 1.2 tỷ người có mức thu nhập
dưới 1 dola/ngày (24% dân số thế giới), 2.8 tỷ người dưới 2 dola/ngày (51 %)
• Hơn 1 tỷ người ở các nước kém phát triển không
có nước sạch và phương tiện vệ sinh
Trang 104.7 CÁC VẤN ĐỀ, LĨNH VỰC LIÊN QUAN 7
• Mục tiêu toàn cầu: Trong giai đoạn 1990-2015
giảm một nửa số người có thu nhập 1dola/ngày
- ất học:
• 2/3 dân số mù chữ là nữ.
• ế giới vẫn còn 113 triệu trẻ em không được đi
học
-Sức khỏe:
• Mỗi năm có 11 triệu trẻ em dưới 5 tuổi bị chết.
• 1/3 số người chết ở các nước đang phát triển là do
nghèo đói
• Mỗi năm có 3 triệu người chết vì HIV/AIDS, trong
đó có 0.5 triệu là trẻ em, mỗi ngày có 8000 người,
10s có một người chết
4.6 Tình Hình Thực Hiện PTBV Ở
Việt Nam
Năm 1990: ành lập Cục môi trường
Năm 2003: Bộ Tài nguyên và Môi trường
Năm 1991: Chiến lược bảo vệ môi trường quốc gia giai
đoạn 1991-2000
Năm 1993: Luật bảo vệ môi trường Sửa đổi 2005
Năm 1998: Nghị quyết của Bộ chính trị về bảo vệ môi
trường trong thời kỳ CNH, HĐH
Năm 8/2000: Chính phủ quyết định soạn thảo Chương
trình nghị sự 21 quốc gia
Năm 2003: Chiến lược quốc gia về bảo vệ môi trường
Năm 8/2004: Định hướng chiến lược về phát triển bền
vững (Chương trình nghị sự 21 quốc gia)
- Kinh tế:
• Kinh tế tăng trưởng nhanh và theo chiều rộng.
Tiềm lực kinh tế còn yếu
Bảng tỷ lệ đóng góp vào GDP của các yếu tố.
• Số nợ hiện nay của Việt Nam so với các nước khác
chưa thuộc loại cao và chưa tới giới hạn nguy
hiểm Song số nợ đó đang tăng lên nhanh chóng
và sẽ có nguy cơ đe doạ tính bền vững của sự phát
triển trong tương lai, nhất là khi vốn vay chưa
được sử dụng có hiệu quả
• Mô hình tiêu dùng: Sao chép lối sống tiêu thụ của
các nước phát triển, trong đó có nhiều điều không
có lợi cho việc tiết kiệm tài nguyên và phát triển
bền vững Khai thác cạn kiệt tài nguyên quý hiếm nhằm đáp ứng nhu cầu xa xỉ của một số người đang diễn ra phổ biến
- Xã hội:
• Đầu tư của Nhà nước cho các lĩnh vực xã hội ngày
càng tăng
• Một hệ thống luật pháp đã được ban hành đáp ứng
được đòi hỏi của thực tiễn và phù hợp hơn với yêu cầu
• Đời sống nhân dân ở cả thành thị và nông thôn đã
được cải thiện
• Các chỉ tiêu xã hội được cải thiện hơn rất nhiều.
Chỉ số phát triển con người (HDI) của Việt Nam
đã tăng từ 0,611 năm 1992 lên 0,682 năm 1999 Xếp hạng HDI trong số 162 nước, Việt Nam đứng thứ
120 năm 1992; thứ 101 năm 1999 và thứ 109 trên
175 nước vào năm 2003
• Về chỉ số phát triển giới (GDI), năm 2003 Việt Nam
được xếp thứ 89 trong tổng số 144 nước Phụ nữ chiếm 26% tổng số đại biểu ốc hội, là một trong
15 nước có tỷ lệ nữ cao nhất trong cơ quan quyền lực của Nhà nước
- Môi trường:
• Xét về độ an toàn của môi trường, Việt Nam đứng
cuối bảng trong số 8 nước ASEAN, và xếp thứ 98 trên tổng số 117 nước đang phát triển
• Việt Nam đã có nhiều nỗ lực nhằm khắc phục
những hậu quả môi trường do chiến tranh để lại Nhiều chính sách quan trọng về quản lý, sử dụng tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường đã được xây dựng và thực hiện trong những năm gần đây
• Nội dung bảo vệ môi trường đã được đưa vào giảng
dạy ở tất cả các cấp học trong hệ thống giáo dục quốc dân
“Để đảm bảo có một tương lai an toàn hơn, phồn vinh hơn, úng ta ỉ có một con đường là giải quyết một cá cân đối các vấn đề về môi trường và phát triển cùng một lúc.”
4.7 Các vấn đề, lĩnh vực liên quan 4.8 Chương trình Nghị sự 21