Cùng khóa với Alberti tại đây có Francesco Babaro, Francesco Filelfo, Panormita và Viorino da Feltre, những người sau này trở trở thành những nhà tư tưởng và học thuật hàng đầu của thời
Trang 2Mục lục
1.1 Tiểu sử 1
1.2 Các tác phẩm nổi tiếng 2
1.3 Tác phẩm của Alberti 3
1.3.1 Lý thuyết 3
1.3.2 Công trình xây dựng 3
1.4 am khảo 3
2 Hendrik Petrus Berlage 4 2.1 am khảo 5
2.2 Liên kết ngoài 5
3 Filarete 6 3.1 Tiểu sử 6
3.2 am khảo 6
4 Philip Johnson 8 4.1 Ảnh hưởng 8
4.2 Liên quan tới chủ nghĩa Phát xít 9
4.3 Một số công trình nổi tiếng 9
4.4 Trích dẫn 10
4.5 am khảo 10
5 Antoine Laugier 11 5.1 am khảo 11
6 Francesco Di Giorgio Martini 12 6.1 am khảo 13
6.2 Liên kết ngoài 13
7 Aldo Rossi 14 7.1 am khảo 14
7.2 Liên kết ngoài 14
i
Trang 39 Vần luật (kiến trúc) 16
9.1 Vai trò của vần luật trong ngôn ngữ tạo hình kiến trúc 16
9.2 Các hình thức vần luật trong kiến trúc 16
9.2.1 Vần luật liên tục 16
9.2.2 Vần luật tiệm biến 16
9.2.3 Vần luật lồi lõm 16
9.2.4 Vần luật giao thoa 16
9.3 Chú thích 16
9.4 am khảo 16
10 Robert Venturi 18 10.1 Tiểu sử 18
10.2 Công trình điển hình 18
10.3 Tác phẩm 19
10.4 am khảo 19
10.5 Liên kết ngoài 19
11 Vitruvius 20 11.1 am khảo 21
11.2 Liên kết ngoài 21
11.3 Chú thích 21
11.4 Nguồn, người đóng góp, và giấy phép cho văn bản và hình ảnh 22
11.4.1 Văn bản 22
11.4.2 Hình ảnh 22
Trang 4Chương 1
Leone Battista Alberti
Tượng Leon Battista Alberti tại nhà trưng bày Uffizi , Firenze
Leone Battista Alberti (thường được viết là Leon
Battista Alberti trongtiếng Ý;14 tháng 1năm1404tại
Genova–25 tháng 4 năm1472tạiRoma) là con trai
của một gia đình quý tộc tạiFirenzebị trục xuất khỏi
quê hương từ năm1358 Alberti được coi là một trong
những người tạo dựng nên thời kìPhục hưngnói chung
vàkiến trúc Phục hưngnói riêng Ông được coi là con
Bìa tác phẩm De re aedificatoria
người toàn diện nhất của thời kì tiền Phục Hưng (e
Universal Man of the Early Renaissance).
1.1 Tiểu sử
Baista Alberti thuộc con cháu của dòng họ Catenaia,
là lãnh chúa phong kiến tại vùngValdarno Một trong
số họ sau đó chuyển đến sinh sống tạiFirenze, được bổ
nhiệm làm thẩm phán (il Giudice) vào năm1203 Sau
đó, họ đổi tên và họ Alberti hình thành khoảng cuốithế kỉ 14 Dòng họ này đã nhanh chóng trở nên giàu
có và có quyền lực bậc nhất tại thành Firenze Trong số1
Trang 5Accolti Alberti, ông nội của Leone Baista Alberti, từng
giữ các chức vụ quan trọng của thành Firenze như đại
sứ khâm mệnh toàn quyền của công quốc Firenze tại
Volterra, Bologne và Roma Tuy nhiên, cùng với sự
thăng tiến về quyền lực, dòng họ Alberti cũng tự tạo
ra cho mình những kẻ thù không khoan nhượng Một
trong số đó là Maso degli Albizzi, thủ lĩnh một cánh
đối lập tại Firenze Năm 1379, dưới sự ủy nhiệm của
Salvestro de' Medici, Bendeo Alberti, đã tuyên án tử
hình Piero degli Albizzi, chú của Maso degli Albizzi, vì
âm mưu lật đổ chính quyền Từ năm1382, ảnh hưởng
về quyền lực chính trị của Maso không ngừng tăng lên
và ông ta theo đuổi một kế hoạch báo thù Năm1387,
dựa vào việc Benedeo Accolti Alberti đơn phương xin
từ nhiệm, dưới ảnh hưởng của Maso, chính quyền đã ra
lệnh cấm Benedeo tham dự vào các hoạt động chính
trị cũng như bị lưu đày khỏi thành Firenze Trong các
năm tiếp theo1393,1399,1401, lần lượt các thành viên
của dòng họ Alberti kết tội có âm mưu lật đổ nền cộng
hòa, ủng hộ những phái cách mạng Ciompi, bị tịch thu
tài sản và trục xuất khỏi thành Fizenre Cuộc sống lưu
đày của dòng họ Alberti bắt đầu từ đây
Bị phân tán vì lệnh lưu đày, nhưng gia tộc Alberti vẫn
biết cách bảo vệ tài sản của mình Tại hầu hết các thành
phố lớn của miền bắc nước Ý và thậm chí ở bên ngoài
Ý, họ vẫn sở hữu những lượng tài sản lớn mà sắc lệnh
tịch không không thể thực hiện được Trong số đó có
Lorenzo Alberti, con trai thứ của Benedetoo, cùng em
trai của mình làm chủ hệ thống nhà băng cũng như
cơ sở thương mại khác ởBologne vàVenezia, có chi
nhánh ở nhiều nướcchâu Âukhác, thậm chíLondon
Năm1428, lệnh ân xá cho gia tộc Alberti được công bố,
tuy nhiên chỉ đến khi công tước Cosme de Médicis lên
cầm quyền, gia tộc Alberti mới được hưởng đầy đủ các
quyền lợi về mặt chính trị
Cậu bé Baista Alberti là con trai thứ của Lorenzo
Alberti và một góa phụ thành Bolgone, sinh ra tại
Gênes năm 1404, cho đến năm 4 tuổi cùng gia đình
chuyển đến sinh sông tại thành Venezia Từ năm1414
đến 1419, Alberti theo học tại một trường học nổi
tiếng của học phái Cicero, trường trung học Gasparino
Barzizza Tại đây, ông chịu ảnh hưởng nhiều các tư
tưởng của Cicero, cũng như dần hình thành khuynh
hướng nhân bản có ảnh hưởng lớn đến giai đoạn
Phục hưng sau này Cùng khóa với Alberti tại đây
có Francesco Babaro, Francesco Filelfo, Panormita và
Viorino da Feltre, những người sau này trở trở thành
những nhà tư tưởng và học thuật hàng đầu của thời kì
Phục hưng Ý
Khi Alberti quay lại Bologne ông chuyển sang nghiên
cứu luật tôn giáo và luật dân sự tại trường Đại học
Bologne Cùng thời điểm đó, ông bắt đầu tự nghiên cứu
Tuy nhiên vào năm1421, gia đình Alberti đã gặp nhiềukhó khăn về mặt tài chính khi Lorenzo Alberti qua đờingay khí Alberti đang học năm thứ nhất Chỉ vài thángsau, người chú ruột của ông cũng qua đời Tranh chấptài sản đã nổ ra, và hai anh em Carlo Alberti và BaistaAlberti bị tước quyền thừa kế vì họ là con ngoài giá thúcủa Lorenzo Alberti Bị sốc về mặt tinh thần, khánhkiêt về vật chất, Alberti tiếp tục theo đuổi sự nghiệphọc hành của mình tại Đại học Bologne Ông tin tưởngvào quan điểm của Stoic rằng những hoàn cảnh khốncùng không thể khuất phục được tinh thần của conngười eo ông, “Chỉ có kẻ điên mới tin tưởng rằng sứcmạnh của số phận có thể vượt qua được sức mạnh conngười Gông xiềng của số mệnh chỉ áp đặt lên những kẻ
chấp nhận nó" (Bàn về gia đình - I primi tre libri della
famiglia) Ông rèn luyện mình, làm quen với cuộc sống
khổ hạnh để theo đuổi việc học hành Sự kiên trì nhẫnnại đã mang lại cho ông danh tiếng Những quan điểmcủa ông về cuộc sống và số mệnh con người trong thờigian này đã góp phần quan trọng trong việc hình thành
tư tưởng nhân bản (humanitas) Ông hoàn thành luận
án tiến sĩ luật học của mình tại Đại học Bologne vàonăm1428 Vào thời gian này, ông cũng cho ra đời các
tác phẩm như Amator (khoảng năm 1429), Ecatonfilea (khoảng năm 1429) và Deiphira (viết khoảng năm 1429-
1434), đề cập đến tình yêu, tình bạn, đạo đức của conngười
Vào đầu những năm 1430, Alberti làm việc tại vănphòng quản trị củaGiáo hoàngtại Roma Ông bắt đầu
sử dụng tài năng văn chương của mình cho công việc.Ông là người chấp bút, sơ thảo các chiếu chỉ của giáohoàng và các nhân vật tầm cỡ khác trong hội đồng giáo
sĩ, cũng như viết về cuộc đời của các vị thánh tử vì đạobằngtiếng Latin Nhờ vào bổng lộc của công việc cùngvới hoa lợi của một bất động sản, Alberti bắt đầu tựchu cấp tài chính được cho bản thân Sau khi lệnh lưuđày cho gia tộc Alberti được bãi bỏ, ông quay về Firenzecùng với giáo hoàngEugenius IV, người vốn bị các cuộcbiểu tình của quần chúng tại thành Roma lật đổ Lậptức, ông được bổ nhiệm vào chức vụ luật tôn giáo củanhà thờ Firenze
1.2 Các tác phẩm nổi tiếng
Alberti là tác giả của nhiều tác phẩm nổi tiếng về triếthọc, khoa học, văn học, luật học, ngôn ngữ học và nghệ
thuật như De Familia (Bàn về gia đình), De pictura (Bàn
về Nghệ thuật hội họa), De scupltura (Bàn về Nghệ
thuật điêu khắc) vàDe re aedificatoria(Mười cuốn sách
về nghệ thuật xây dựng)… được viết bằngtiếng Latinh.Ông là người phát minh là luậtphối cảnhđược sử dụngrộng rãi trong nghệ thuật và kiến trúc
Trang 61.4 THAM KHẢO 3
cơ bản của lý thuyếtkiến trúcthời kì Phục hưng Đó là
cuốn sách thứ hai trong lịch sử kiến trúcchâu Âuviết
về lý thuyết kiến trúc, sau cuốnDe architectura(Mười
cuốn sách về kiến trúc) củaVitruvius
1.3 Tác phẩm của Alberti
1.3.1 Lý thuyết
• De re aedificatoria qua các bản dịch
• Alberti, On the arts of building in ten books,
MIT Press, 1991 (Bản dịch của Rykwert,
Tavernor and Leach)
• Alberti, L'art d'édifier, Édition du Seuil, 2004
(Bản dịch của Choay, Caye)
1.3.2 Công trình xây dựng
• S Andrea, Mantua, Ý
• Sta Maria Novella, Firenze, Ý
1.4 Tham khảo
1 Graon A (2000), Leon Baista Alberti: Master
builder of the Italian Renaissance, Havard
University Press
2 Michel, P (1971), La pensée de L B Alberti,
Slatkine Reprints
Trang 7Hendrik Petrus Berlage
Hendrik Petrus Berlage
Hendrik Petrus Berlage (12 tháng 1 năm1856 – 12
tháng 8năm1934) là mộtkiến trúc sư người Hà Lan
có đóng góp quan trọng trong sự phát triển của kiến
trúcchâu Âuđầuthế kỷ 20
Ông là học trò của Gofried Semperở Học viện Kỹ
thuật Zurich,ụy Sĩ Trong thập niên 1870Berlage
du lịch khắpchâu Âu Trong khoảngthập niên 1880,
ông lập ra một văn phòng thiết kế ở Hà Lan cùng với
eodore Sanders Những đồ án của họ thường pha
trộn giữa tính thực hành và tínhviễn tưởng Berlage
có đóng góp quan trọng trong việc hình thành một tư
duy mới về mối liên hệ giữakhông giankiến trúc,kỹ
thuậtvà sựtrang trí Các công trình của ông thể hiện
một mối liên hệ chặt chẽ về mặthình học, đôi khi đến
mức cực đoan Điều này làm ông có những điểm tương
Sàn giao dịch chứng khoán Amsterdam
Sàn giao dịch chứng khoán Amsterdam
đồng với Kiến trúc sưngười Áo Adolf Loos
Trang 82.2 LIÊN KẾT NGOÀI 5
Công trìnhSàn giao dịch chứng khoán Amsterdamlà
một minh chứng rõ ràng nhất cho tư duy không gian
- kỹ thuật của ông Với sự phát triển của đồ án qua 3
giai đoạn, từ1886đến1905, Berlage nhấn mạnh xuống
các khối kiến trúc tổng thể thô mộc, không gian nội
thất đơn giản và việc giản lược các chi tiết trang trí mặt
đứng và phụ trợ Với ông, kỹ thuật sẽ định hình vẻ đẹp
của kiến trúc
Sau khi đi du lịchMỹvào năm1911, ông bị ảnh hưởng
mạnh bởi ý tưởng về kiến trúc hữu cơ của Henry
Hobson Richardson, Louis Sullivan, và Frank Lloyd
Wright
Ông được xem như “Người cha củakiến trúc hiện đại"
Hà Lan và là người bắc cầu giữa phong cách Truyền
thống và phong cách Hiện đại Là người sáng lập ra
trường phái Amsterdam trong lịch sử kiến trúc, tư
tưởng và lý thuyết của ông có ảnh hưởng mạnh xuống
trường phái "De Stijl" ở Hà Lan và trường phái “Khách
quan mới” (Neue Sachlichkeit) Ông đã nhận được Huy
chương Vàng củaHoàng gia Anhnăm1932và là thành
viên củaHiệp hội ốc tế Kiến trúc Hiện đại(Congrès
International d'Architecture Moderne, CIAM).
Ông mất ởDen Haagnăm1934
2.1 Tham khảo
2.2 Liên kết ngoài
• Tiểu sử và công trình kiến trúc
Trang 9Túp lều nguyên thủy của Filarete
Thành phố lý tưởng của Filarete
Antonio Averlino (thường được biết dưới tên Filarete,
có nghĩa là “Người yêu đạo đức” trongtiếng Hy Lạp;
1400–1469) là mộtkiến trúc sư, nhàđiêu khắcvà nhà
lý thuyết kiến trúc ngườiÝcủa thời kìPhục hưng
3.1 Tiểu sử
Ông sinh ra ởFirenze, phục vụ dưới trướng củaGiáo
hoàng Eugenius IV Tác phẩm “Luận về kiến trúc”
(tiếng Ý: Traato di architeura) của ông gồm 25 cuốn
nhỏ, được sắp xếp rời rạc dưới dạng văn kể chuyện Ông
là người đầu tiên sử dụng thổ ngữ để viết tác phẩm về
lý thuyết kiến trúc thay vìtiếng Latinh.Tiếp nối Vitruviusvà Leone Baista Alberti, Filaretecho rằng kiến trúc hình thành từ nhu cầu sử dụng và,
do vậy,túp lều nguyên thủychính là cội nguồn của kiếntrúc Ông lấy cơ thể con người làm hệ so sánh cơ bảntrong kiến trúc eo ông, sự hình thành củathức cột
cổ điểnxuất phát từ túp lều nguyên thủy, mà tỉ lệ của
nó chính làtỉ lệcủa cơ thể con người Ông đi sâu phântích nhân trắc học cơ thể con người dựa trên đồ hìnhcủa Vitruvius Từ đó, thành phố cũng chính là cơ thểcon người, ông đưa ra một mô hình đô thị mới hình saotám cạnh, chống lại mô hình bất hợp lý thờiTrung cổ
Từ quan điểmnhân trắc họctrong kiến trúc, Filarete
đã có phần chuyển sang quan điểm vềphỏng sinh học
eo ông, kiến trúc là một sản phẩm xuất phát từ cơthể con người, cũng bị bệnh và chết như con người
ực tế quan điểm này của ông không vượt qua đượcquan điểm của Alberti trình bày trong cuốn mười củatác phẩm “Nghệ thuật xây dựng trong mười cuốn sách”
(De re aedificatoria) Filarete là người đầu tiên nhận ra
tầm quan trọng của bản vẽ trong diễn giảilý thuyếtkiến trúc Chính ông là người đầu tiên sử dụng bản vẽ
để minh họa lý thuyết của mình
3.2 Tham khảo
• Mumford, Lewis 1961 e City in History: Its Origins and Transformations, and its Prospects
(New York: Harcourt, Brace & World)
• Filarete, (1965) Treatise on Architecture dịch bởi
John R Spencer (New Haven: Yale UniversityPress)
Trang 103.2 THAM KHẢO 7
• Fred Luminoso, 2000 “e Ideal City: en and
Now”
• “Sforzinda: progeo di cià ideale”(tiếng Ý)
• Cửa của Filaretetại stpetersbasilica.org
Trang 11Philip Johnson
Sân trong mái kính của công trình tháp IDS
Philip Cortelyou Johnson (8 tháng 7năm1906–25
tháng 1năm2005) là mộtkiến trúc sư người Mỹ Ông
là giám đốc đầu tiên của bộ phận kiến trúc thuộcBảo
tàng Nghệ thuật Hiện đại New York(Museum of Modern
Arts - MoMA) vào năm1946và sau này là người đại
diện của MoMA Ông được tặng Huy chương Vàng của
Học viện kiến trúc sư Mỹnăm1978và là người đầu tiên
đoạngiải thưởng Pritzkervào năm1979 Ông từng là
sinh viên tạiĐại học Harvard
4.1 Ảnh hưởng
Vào năm 1932, ông cộng tác với Henry-Russell
Hitchcockviết tác phẩm "Phong cách quốc tế: Kiến trúc
từ năm 1922" (e International Style: Architecture Since
1922) Tác phẩm này đã ghi nhận các đặc điểm cho sự
phát triển giai đoạn đầu củaKiến trúc Hiện đạitrên
thế giới Johnson được biết đến với kiến thức sâu, rộng
về trường phái hiện đạichâu Âuvà giới thiệuLudwig
Mies van der RoheởMỹ
Với tư cách là cố vấn của nhómNew york Five, một
nhà môi giới quyền lực, một nhân vật nổi danh và một
ủy viên quản trị của Bảo tàng Nghệ thuật Hiện đại
(Museum of Modern Art - MoMA), Johnson đã có một
ví trí lý tưởng để quảng bá quan điểm của mình về kiến
trúc như một ngành nghệ thuật cân bằng với các loại
nghệ thuật khác Tuy rằng Johnson vẽ không được đẹp
Tháp IDS
nhưng bù lại ông có một giác quan về đồ họa và thiết
kế hoàn hảo Như một nhân vật nổi danh củakiến trúc
Mỹtrong nhiều thập kỷ, Johnson vừa là một biểu tượnglớn, nhà tiên tri, một nhà châm biếm, ông thực sự là mộtnguồn dữ liệu tin tưởng của trí tuệ và các nhận xét phêbình
Trang 124.3 MỘT SỐ CÔNG TRÌNH NỔI TIẾNG 9
4.2 Liên quan tới chủ nghĩa Phát
xít
Một trong số những điểm gây tranh cãi trong sự nghiệp
của Johnson là sự tán dương chủ nghĩaPhát xíttrong
vòng tám năm, bắt đầu từ năm1932 Sau khi tách mình
ra khỏi thành công của ông với MoMa, Johnson đã nỗ
lực gia nhập lực lượng của thống đốc bangLouisiana
làHuey Long, một hành động mà báo chí đương thời
cho là kì quái Sau khi Huey Long bị ám sát năm
1935, Johnson viết một loạt các bài thẳng thừngBài Do
tháicho linh mụcCharles Coughlinở đài phát thanh
Detroit, đồng thời chạy đua vào cơ quan công quyền ở
Ohiovà cố gắng lập một đảng Phát xít ở Mỹ Johnson
cũng đi du lịch tạiNürnbergtrong cuộc mít tinh của
Adolf Hitlernăm1938 Năm 1938, Johnson đếnBa Lan
sau khi bị nước Đứcxâm lược Khi đó ông đã viết:
Những bộ quân phục màu xanh của người Đức
đã làm quan cảnh thật vui tưoi và hạnh phúc
[…] Ở đó chẳng còn mấy người Do ái Chúng
ta thấy Warszawa bốc cháy và Modlin bị dội
bom ật là một quang cảnh hào hứng
Sau một cuộc điều tra củaFBIvà trong quãng thời gian
chờ đợi trước khi nước Mỹ tham chiến ởế Chiến thứ
hai, Johnson từ bỏ sự ủng hộ của mình với chủ nghĩa
Phát xít khoảng giữa năm 1940và quay lại Đại học
Harvard Những năm sau đó, ông từ bỏ chủ nghĩa Phát
xít và thiết kế mộthội đường Do ái giáomiễn phí như
một lời xin lỗi Trong triết lý của mình, Johnson chỉ tập
trung vào thẩm mỹ mà bỏ đi tất cả các khía cạnh khác,
trong một cuộc phỏng vấn vào năm1973, ông đã nói:
Điểm duy nhất tôi thực sự lấy làm tiếc về
những chế độ độc tài không phải là về nền
chuyên chính, bởi vì tôi hiểu rằng, vào thời
của Julius , của Justinian và của Caesar phải
có những nhà độc tài Ý của tôi là tôi thực sự
không quan tâm gì đến khía cạnh chính trị Tôi
không thấy bất cứ một ý nghĩa nào về nó Về
phần Hitler, nếu ông ta có thể là một kiến trúc
sư tốt
4.3 Một số công trình nổi tiếng
Công trình nổi tiếng nhất của Johnson lànhà kính New
CanaantạiConnecticut, một công trình có không gian
mở và trong suốt, được ông thiết kế làm nhà riêng và
cũng là luận văn tốt nghiệp thạc sĩ của ông tại Đại học
Harvard năm1949 Công trình này có rất nhiều điểm
tương tựnhà kính Farnsworthcủa Mies
Công trìnhtrụ sở AT&Tcủa Johnson, hoàn thành năm
1984, lại mang một hình ảnh hoàn toàn khác Với lớp
vỏ màu hồng bằng đá cẩm thạchvà một dáng vẻ cổ
điển, công trình là một sự tương phản với thẩm mỹkiến trúc Hiện đạicủa nhữngnhà chọc trờitrong khu
Manhaan Yếu tố đập vào mắt mọi người ở công trình
đó là chi tiết trán tường có một cung tròn bị vỡ ra thànhhình tròn kiểuChippendade, một kiểu tủ cổÝ Cách xử
lý này chính là một trong những thủ pháp củaKiến trúcHậu Hiện đại eo một số nhà nghiên cứu, đây đượcxem như tuyên ngôn đầu tiên của Kiến trúc Hậu Hiệnđại, khi mà thẩm mỹ của kiến trúc Hiện đại đã đi vàongõ cụt
Công trình Cánh cổng châu Âu
Nhà thờ chính tòa Pha Lê , một công trình nổi tiếng của Philip Johnson
Một số công trình nổi tiếng khác của Johnson gồm có
• Nhà John de Menil, Houston,1950
• Nhà hàng Bốn mùa tại tòa nhà Seagram củaMiesvan der Rohe,thành phố New York,1959
• Nhà hát bang New York(trụ sở của dàn Operathành phố New York và đoàn Ballet thành phốNew York) tại Trung tâm Lincoln cộng tác vớiRichard Foster,1964
• ư viện Elmer Holmes Bobsttại Đại học NewYork,1967-1972
Trang 13• ư viện công cộng Boston,1973
• Nhà thờ chính tòa Pha Lê tại Garden Grove,
California,1980
• áp Williams,Houston,1983
• Bảo tàng nghệ thuậtNeubergertạiĐại học Tiểu
bang New York,Purchase College,
• ảng trường Tạ ơn,Dallas, Texas,
• Khu học xá chính của Đại học Saint omas,
Houston, Texas
• Ngân hàng Cộng hòa,Houston, Texas
• Nhà hát Cleveland,Cleveland, Ohio
• Bảo tàng Nghệ thuật tại Học viện Nghệ thuật
Munson-Williams-Proctor,Utica, New York
• 190 South LaSalle,Chicago
• 191 áp Peachtree,Atlanta, Georgia
• Trung tâm One Atlantic, (còn được gọi là tháp
IBM),Atlanta, Georgia
• Công trình Cánh cổng châu Âu,Madrid,Tây Ban
Nha
• Fort Worth Water Gardens
• ảng trường PPG, Pisburgh, Pennsylvania,
cộng tác vớiJohn Burgee,1984
• Bảo tàng Amon Carter,Fort Worth, Texas
4.4 Trích dẫn
• “Kiến trúc là nghệ thuật làm sao để phí phạm
không gian”
• “Nhiệm vụ của người kiến trúc sư ngày nay là tạo
ra những công trình đẹp, vậy thôi”
Walker and Company
• "Philip Johnson: Dean of American Architects,”
Academy of Achievement (Feb 28, 1992).
(Biography, interview, audio, and photographs.)
• Philip Johnson at Find-A-Grave
Giải thưởng Pritzker
Johnson (1979) • Barragán (1980) • Stirling (1981) •
Roche(1982) •Pei(1983) •Meier(1984) •Hollein(1985)
• Böhm (1986) • Tange (1987) • Bunsha/Niemeyer
(1988) •Gehry(1989) •Rossi(1990) •Venturi(1991) •
Siza(1992) •Maki(1993) •Portzamparc(1994) •Ando
(1995) •Moneo (1996) •Fehn (1997) •Piano(1998) •
Foster(1999) •Koolhaas(2000) •Herzog & de Meuron
(2001) •Murcu(2002) •Utzon(2003) •Hadid(2004) •
Mayne(2005) •Mendes da Rocha(2006) •Rogers(2007)
•Nouvel(2008) •Peter Zumthor(2009) •Kazuyo Sejima
và Ryue Nishizawa (2010) •Eduardo Souto de Moura
(2011) •Vương ụ(2012)