1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

giáo án tổng hợp ngữ văn 10 3

43 155 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 43
Dung lượng 98,19 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thực trạng về mặt chuyên môn: “Hai đứa trẻ” Thạch Lam và “Chữ người tử tù” của Nguyễn Tuân xưa nay đều được cả giới nghiên cứu lẫn các giáo viên giảng dạy nhận định là tác phẩm hay, độcđ

Trang 1

7 CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 6

14 2.1 2 Những đặc trưng cơ bản của thể loại tự sự 8

15 2.1.3 Nhân vật và đặc điểm của nhân vật trong tác phẩm tự sự 8

16 2.2 Chủ nghĩa lãng mạn và các đặc trưng của chủ nghĩa lãng mạn 9

18 2.2.2 Những đặc trưng của chủ nghĩa lãng mạn 9

19 2.2.3 Những khunh hướng phát triển của chủ nghĩa lãng mạn 9

20 2.3 Bố cục và vai trò của bố cục trong giảng văn 9

22 2.3.2 Vai trò của bố cục đối với bài giảng 10

23 2.3.3 Các kiểu bố cục thường gặp của tác phẩm tự sự 10

24 2.4 Mối liên hệ giữa các kiến thức liên quan với việc xác định bố

26 1 Con đường giảng dạy tác phẩm “Hai đứa trẻ” (Thạch Lam) 11

27 1.1 Những kiến thức cần chú ý trong bài học 11

28 1.2 Kiến thức về chủ nghĩa lãng mạn và kiểu “truyện ngắn tâm

tình”

11

29 1.3 Lựa chọn bố cục cho văn bản “Hai đứa trẻ” 12

30 1.4 Giáo án giảng dạy thể hiện bố cục hợp lý nhất của bài học

“Hai đứa trẻ”

12

31 1.5 Những yêu cầu đạt được sau bài học “Hai đứa trẻ” 21

32 2 Con đường giảng dạy tác phẩm “Chữ người tử tù” (Nguyễn

Tuân)

22

33 2.1 Những kiến thức cần chú ý khi giảng bài “Chữ người tử tù” 22

Trang 2

34 2.2 Kiến thức về chủ nghĩa lãng mạn, về nghệ thuật thư pháp và

tiêu chuẩn của kẻ sĩ lý tưởng đời xưa

23

35 2.3 Lựa chọn bố cục cho tác phẩm “Chữ người tử tù” 24

36 2.4 Giáo án thể hiện bố cục hợp lý nhất cho văn bản “Chữ người

tử tù”

24

37 2.5 Những yêu cầu đạt được sau giờ giảng văn “Chữ người tử tù” 35

39 1 Kiểm chứng sau bài học “Hai đứa trẻ” của Thạch Lam 36

40 1.1 Câu hỏi trắc nghiệm kiểm tra kiến thức 36

43 2 Kiểm chứng sau giờ học “Chữ người tử tù” (Nguyễn Tuân) 38

44 2.1 Câu hỏi trắc nghiệm tổng hợp kiến thức 38

47 3 Kết quả chung sau khi kiểm tra cả hai bài học “Hai đứa trẻ” và

Trang 4

PHẦN I: MỞ ĐẦU

1 Đặt vấn đề:

Trong phân môn đọc văn của chương trình THPT (chương trình chuẩn) gồm haiphần: Văn học Việt Nam và văn học nước ngoài Phần Văn học Việt Nam lại đượcchia thành hai thành phần: Văn học dân gian và văn học viết Toàn bộ chương trìnhvăn học dân gian gồm 12 thể loại đã được học trong chương trình lớp 10 Phần vănhọc viết Việt Nam được chia thành mấy thời kỳ lớn: Văn học Việt Nam từ thế kỷ Xđến hết thế kỷ XIX (hay còn gọi là văn học trung đại Việt Nam); Văn học Việt Nam

từ đầu thế kỷ XX đến CMT8/ 1945 (văn học hiện đại Việt Nam); Văn học ViệtNam từ CMT8/ 1945 đến năm 1975 (nền văn học Cách mạng Việt Nam); Văn họcsau năm 1975 đến nay (văn học hậu hiện đại) Toàn bộ chương trình văn học trungđại Việt Nam được học từ học kỳ I lớp 10 kéo dài đến một phần của chương trìnhlớp 11 Toàn bộ chương trình còn lại của năm học lớp 11 dành cho văn học hiện đạiViệt Nam Chương trình văn học lớp 12 dành toàn bộ cho văn học cách mạng ViệtNam và văn học hậu hiện đại Chương trình văn học nước ngoài được xen kẽ vàochương trình giảng dạy của cả 3 khối 10, 11, 12 Qua thực tế giảng dạy ở cả 3 khối

10, 11, 12, tôi nhận thấy rằng cả chương trình văn học hiện đại Việt Nam và vănhọc nước ngoài của lớp 11 đều là thách thức của cả giáo viên lẫn học sinh trong quátrình tiếp nhận tác phẩm Điều này xuất phát từ những nguyên nhân khách quan củabản thân nền văn học So với nền văn học trung đại Việt Nam và văn học cáchmạng Việt Nam thì văn học hiện đại Việt Nam có sự khác biệt cả về tư duy và hìnhthức sáng tạo Với lịch sử hàng nghìn năm bị phong kiến phương Bắc (Trung Quốc)xâm lược và cai trị, chúng ta phải sử dụng Hán tự cả trong công tác hành chính lẫntrong sáng tác văn chương Ngay cả kỳ thi tuyển chọn nhân tài cho quốc gia cũng là

kỳ thi Hán học Vì vậy việc học sinh nắm vững lịch sử rồi tiếp nhận tốt chươngtrình văn học trung đại Việt Nam cũng là điều dễ hiểu Hơn nữa, các em cũng códịp tìm hiểu chương trình văn học trung đại Việt Nam từ bậc THCS với hàng loạt

các tác phẩm quen thuộc: Nam quốc sơn hà (tương truyền do Lý Thường Kiệt sáng tác); Hịch tướng sĩ (Dụ chư tì tướng hịch văn - Trần Quốc Tuấn); Chuyện người con gái Nam Xương (Nguyễn Dữ); Đại cáo bình Ngô (Bình Ngô đại cáo - Nguyễn

Trãi) Ngoài ra, các em còn được học những tác phẩm được coi là đỉnh cao củaĐường thi của các tác giả nổi tiếng như thi tiên Lý Bạch, thánh thi Đỗ Phủ vốn là

cơ sở cho thơ ca văn học trung đại Việt Nam về vần, nhịp, điệu và tư duy Riêngchương trình văn học cách mạng Việt Nam từ năm 1945 đến năm 1975 càng thuậnlợi hơn vì xét về mặt niên đại thời kỳ văn học này gần với cuộc sống của chúng tahơn Bên cạnh đó, kiến thức lịch sử về một giai đoạn hào hùng chống giặc Pháp và

Mĩ xâm lược của dân tộc ta hẳn giúp ích rất nhiều cho việc tiếp nhận mạch cảmhứng của các tác phẩm cụ thể của thời kỳ này Xét ra chỉ còn văn học hiện đại ViệtNam với quá trình phát triển phức tạp, ảnh hưởng sâu sắc của văn hoá phương Tây(chủ yếu là văn hoá và văn học Pháp) cùng với sự đa dạng về phong cách cá nhâncủa từng tác giả là khó tiếp thu hơn cả Không thể phủ nhận được rằng sự phát triển

Trang 5

song song giữa văn học hiện thực và văn học lãng mạn (được gọi tên chung là khuvực văn học hợp pháp với văn học bí mật) đi kèm với sự phức tạp của thời kỳ vănhọc này đã tạo nên những tác phẩm có độ kết tinh nghệ thuật cao Nhưng đồng thời

nó cũng trở thành một trở ngại với cả người học và người dạy trong việc hiểu đúng,hiểu sâu và đầy đủ cái hay, cái đẹp của từng tác phẩm Có một thực tế xảy ra là rấtnhiều tác phẩm dù đã qua gần một thế kỷ mà người đọc vẫn cảm thấy bối rối khitìm hiểu và tiếp nhận nó bởi chính nội dung và nghệ thuật có độ kết tinh cao của

nó Trong số các tác phẩm thuộc vào diện kể trên của chương trình Ngữ văn 11, tôi

đặc biệt tâm đắc với hai tác phẩm: Hai đứa trẻ (Thạch Lam) và “Chữ người tử tù”

(Nguyễn Tuân) Bởi vậy, tôi đã lựa chọn hai tác phẩm này để tìm hiểu trong sáng

kiến kinh nghiệm mang tên “Con đường giảng dạy hai tác phẩm “Hai đứa trẻ”

và “Chữ ngưởi tử tù” Tôi hi vọng mình có thể đóng góp một phần hiểu biết để

cùng các đồng nghiệp làm rõ cái hay, cái đẹp của hai tác phẩm vốn đã rất nổi tiếngnày

2 Phạm vi đề tài:

Với đề tài này, người viết nghiên cứu trong phạm vi hẹp: tìm ra con đường giảngdạy phù hợp nhất với hai tác phẩm thuộc trào lưu văn học lãng mạn 1930 - 1945 là

“Hai đứa trẻ” và “Chữ người tử tù”.

3 Phương pháp nghiên cứu:

- Từ việc tìm hiểu tất cả các kiến thức liên quan đến bài học như kiến thức về loạithể, kiến thức về văn hoá, lịch sử, thời đại, giáo viên sẽ hướng dẫn học sinh xácđịnh những nội dung chính cần làm nổi bật của bài giảng từ đó gợi ý để học sinhchọn ra một bố cục phù hợp nhất cho bài học có thể bao chứa những kiến thức cơbản của bài

- Các phương pháp được sử dụng chủ yếu: phương pháp phân tích tác phẩm,phương pháp nghiên cứu theo loại thể, phương pháp nghiên cứu theo hệ thống,thống kê và gắn với lịch sử, văn hoá, phương pháp đọc hiểu tác phẩm

4 Cấu trúc của đề tài: gồm 3 phần:

- Phần 1: Giới thiệu chung

- Phần 2 (trọng tâm) gồm 3 chương:

+ Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài

+ Chương 2: Con đường giảng dạy tác phẩm “Hai đứa trẻ” và “Chữ người tử tù”.

+ Chương 3: Kiểm chứng đề tài

- Phần 3: Kết luận

Trang 6

PHẦN II: NỘI DUNG CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI

1 Thực trạng vấn đề:

1.1 Thực trạng về mặt chuyên môn:

“Hai đứa trẻ” (Thạch Lam) và “Chữ người tử tù” của Nguyễn Tuân xưa nay đều

được cả giới nghiên cứu lẫn các giáo viên giảng dạy nhận định là tác phẩm hay, độcđáo nhưng cũng rất khó để làm cho học sinh tiếp nhận được hết ý nghĩa của chúng.Ngay về mặt loại thể, hai tác phẩm này đã có nhiều điểm khác biệt Cùng là các tácphẩm thuộc loại tự sự nhưng cả hai tác phẩm này đều được xếp vào khung tácphẩm thuộc chủ nghĩa lãng mạn ( trong khi có một quy định bất thành văn rằng hầuhết các tác phẩm lãng mạn chủ nghĩa đều thuộc thể loại trữ tình) Hơn nữa, mỗi tácphẩm lại có điểm độc đáo riêng nữa Thạch Lam là một cây bút với phong cách nhẹ

nhàng đã viết nên “Hai đứa trẻ” là một truyện ngắn thuộc thể loại tâm tình “như

một bài thơ trữ tình bằng văn xuôi” Truyện hầu như không có cốt truyện (điều tối

kỵ với một tác phẩm văn xuôi vì cốt truyện kịch tính có thể quyết định đến hơn50% sự thành công của tác phẩm) chỉ là những tâm trạng man mác của chị em Liêntrước khung cảnh một phố huyện nghèo nàn vào ba thời điểm: phố huyện lúc chiềumuộn, phố huyện lúc tối, phố huyện lúc về đêm khi con tàu qua Mới nghe qua, ta

sẽ nghĩ ngay đây là một tác phẩm thất bại và nhạt nhẽo Nhưng đây lại là một đỉnhcao của chủ nghĩa lãng mạn đề cập đến rất nhiều vấn đề cốt yếu của đời sống conngười thông qua tâm trạng của hai đứa trẻ trong một khoảng thời gian ngắn ngủi

“Chữ ngưởi từ tù” của Nguyễn Tuân đã chứng tỏ được sự tài hoa của người nghệ sĩ

này khi ông xây dựng lên hình tượng Huấn Cao và cuộc gặp gỡ tri âm, tri kỷ giữangười sáng tạo ra cái đẹp là Huấn Cao với người nghệ sĩ biết thưởng thức cái đẹp làthầy quản ngục Họ gặp gỡ nhau bởi cùng yêu cái đẹp, cùng gắng sức giữ gìn thiênlương trong sạch trong những hoàn cảnh sống nghiệt ngã (Huấn Cao là tử tù cònquản ngục phải sống trong cảnh đề lao tàn nhẫn, bạc ác) Đây là một cuộc gặp gỡkhông tưởng nhưng Nguyễn Tuân đã tái hiện cuộc gặp gỡ ấy cảm động đến mức nótrở nên chân thực Nhưng bấy nhiêu thôi chưa đủ Nguyễn Tuân thông qua hai nhânvật này và cuộc gặp gỡ của họ để nói về giá trị đạo đức của cả một dân tộc, lòng tựhào dân tộc qua một truyền thống quý báu của dân tộc ta là nghệ thuật thư pháp

Mà nghệ thuật thư pháp lại là sản phẩm văn hoá của một thời vang bóng không trởlại nên hầu như các em học sinh không hề hiểu được giá trị thiêng liêng ẩn chứatrong mỗi bức thư pháp Hơn nữa, nếu không hiểu biết về tầng lớp trí thức ta xưa

và những tôn chỉ của họ thì chúng ta không thể làm toát lên vẻ đẹp sáng ngời củaHuấn Cao - đại diện tiêu biểu cho những sĩ phu nước Việt ta trong suốt nghìn nămHán học Xưa nay, sai lầm chủ yếu của người giáo viên khi giảng dạy hai tác phẩmnày là không tìm ra một bố cục phù hợp để có thể chuyển tải đến học sinh tất cảnhững nội dung sâu sắc và đặc điểm nghệ thuật độc đáo của chúng Bởi vậy, việctìm ra một bố cục phù hợp để giảng dạy luôn là vấn đề quan trọng bậc nhất quyếtđịnh thành công bài dạy của mỗi thầy cô

Trang 7

1.2 Thực trạng về mặt nhà trường và học sinh:

1.2.1 Trường THPT Thái Hoà là một trường trung học thuộc khu vực miền núi hơnnữa có nền móng là một trường bán công nên chất lượng đầu vào thấp, ý thức họcsinh còn thấp Đa số các thầy, cô giáo đều rất trẻ, tâm huyết với giờ dạy, bámtrường, bám lớp nhưng các thầy, cô gặp rất nhiều khó khăn trong công tác giảngdạy từ quản lý học sinh đến tài liệu tham khảo nên hạn chế một phần rất lớn hiệuquả bài dạy không chỉ ở bộ môn Ngữ văn mà ở hầu hết các bộ môn khác

1.2.2 Một thực tế đáng buồn là hiện nay học sinh rất thờ ơ với môn Văn Có nhiềunguyên nhân nhưng tựu chung có mấy nguyên nhân chính sau: Học sinh coi mônVăn là một bộ môn học thuộc nên không cần tính logic trong khi Ngữ văn lại là bộmôn có tính logic cao, đòi hỏi học sinh có sức cảm nhận, cảm thụ tốt; Nhiều họcsinh quan niệm rằng môn Văn không có tính thực dụng nên không thể thấy được lợiích của nó trong đời sống so với việc học môn Toán, Lý, Hoá, Tiếng Anh; Nhiềugiáo viên vẫn chưa làm hết sức mình trong bài dạy nên không thể gây được sự chú

ý và thu hút học sinh tham gia vào bài học Bấy nhiêu nguyên nhân đã khiến choviệc học tập môn Văn trong nhà trường gặp nhiều khó khăn

Các em học sinh trường Thái Hoà cũng chịu thiệt thòi rất nhiều so với học sinh ởcác trường khác là tài liệu tham khảo của các em rất hạn chế Điểm ngay trong hai

bài học giảng văn là “Hai đứa trẻ” (Thạch Lam) và “Chữ người tử tù” của

Nguyễn Tuân nhiều em học sinh sau khi học xong hai bài này ở chương trình lớp

11 mà giáo viên có ra một câu hỏi có chiều sâu thì đa số không trả lời được.Nguyên nhân là do các em chưa nắm được thế nào là chủ nghĩa lãng mạn, các đặctrưng của chủ nghĩa lãng mạn trong khi hai tác phẩm được học lại có hình thức làtác phẩm tự sự Từ trước đến nay đã hình thành một quy định đối với học sinh làtác phẩm tự sự thì chỉ cần nắm được cốt truyện với đặc điểm của nhân vật là đủ

Bởi vậy, các em vô cùng lúng túng khi bắt gặp “Hai đứa trẻ” là truyện ngắn tâm

tình không hề có cốt truyện mà nhân vật chính là chị em Liên cũng không hề đượctác giả khắc hoạ tính cách Các em càng lúng túng hơn khi bắt gặp hình tượng HuấnCao bởi các em chưa hề được giới thiệu về tầm quan trọng của thư pháp và nhữngquy định về hành động và nhân cách của kẻ sĩ đời xưa Đa số các em đều nói HuấnCao là biểu tượng của cái đẹp nhưng khi được hỏi Huấn Cao đẹp như thế nào thìcác em không lý giải rõ ràng được Điều này dẫn đến các em gặp khó khăn trongviệc tự mình xác định được bố cục nhằm tìm hiểu tác phẩm nên ngay cả khi họcxong bài, các em vẫn không thể nắm được hết các kiến thức liên quan đến cả nộidung và nghệ thuật của tác phẩm Sau đó như một hệ quả tất nhiên trong các bàikiểm tra có đề nghị luận văn học liên quan đến hai bài học trên, các em vận dụngkiến thức của bài giảng văn vào làm bài rất kém Hầu hết bài viết của các em đềukhông đảm bảo về hệ thống luận điểm Trong khi đó ta biết rằng đối với một bàilàm văn, luận điểm có giá trị như khung xương sống của bài làm Từ lỗi trong bàilàm văn của các em, tôi xác định được nguyên nhân là do các em không nắm được

hệ thống bố cục của hai bài học “Hai đứa trẻ” và “Chữ người tử tù” để từ đó khái

Trang 8

quát kiến thức của toàn bài Giải pháp tối ưu đặt ra ở đây là người giáo viên phảitìm ra được một hệ thống bố cục phù hợp với bài làm có kết hợp với các kiến thứcvăn hoá, lịch sử liên quan đến tác phẩm đặc biệt dung hoà được nội dung của thểloại tự sự với đặc điểm của một tác phẩm thuộc chủ nghĩa lãng mạn mới giải quyếttriệt để những phức tạp mà bài học đặt ra Trên cơ sở đó, tôi mạnh dạn đề xuất conđường tiếp cận hai tác phẩm này theo hướng kết hợp giảng dạy về loại thể, nhữngkiến thức về chủ nghĩa lãng mạn trong việc tìm ra một bố cục phù hợp cho bài học.

2 Giải quyết vấn đề:

2.1 Tác phẩm tự sự và đặc điểm của tác phẩm tự sự:

2.1.1 Khái niệm về tác phẩm tự sự:

Theo Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi (Từ điển thuật ngữ văn học

-NXB ĐHQG Hà Nội, 1997, trang 310) thì “tự sự” được hiểu là: “Phương thức tái hiện đời sống bên cạnh hai phương diện khác là trữ tình và kịch, được dùng làm cơ sở để phân loại tác phẩm văn học”.

Theo “Từ điển Tiếng Việt”: “Tự sự là thể loại văn học phản ánh hiện thực bằng cách kể lại sự việc, miêu tả tính cách thông qua cốt truyện, tương đối hoàn chỉnh”.

Sách lý luận văn học định nghĩa “tự sự” là “Tác phẩm tự sự là loại tác phẩm phản ánh quá trình đời sống trong quá trình khách quan của nó, qua con người, hành vi, sự kiện được kể lại bởi một người kể chuyện nào đó”.

Theo giáo sư Nguyễn Văn Hạnh, Tiến sĩ Huỳnh Như Phương: “Tự sự là kể chuyện trình bày sự việc, sự vật một cách cụ thể, chi tiết, có đầu có đuôi, tự sự tập trung chủ yếu vào việc miêu tả thế giới bên ngoài”.

Từ các quan niệm và định nghĩa trên đây về tự sự, chúng ta có thể hiểu một cách

chung nhất về thể loại tự sự như sau: “Tự sự là thể loại văn học phản ánh cụ thể hiện thực đời sống một cách khách quan bằng cách kể lại sự việc, sự kiện, miêu tả tính cách nhân vật, chi tiết… có đầu có đuôi thông qua cốt truyện tương đối hoàn chỉnh và được kể lại bởi một người kể chuyện nào đó”.

2.1.2 Những đặc trưng cơ bản của thể loại tự sự bao gồm:

- Cốt truyện

- Nhân vật

- Ngôn ngữ

2.1.3 Nhân vật và đặc điểm của nhân vật trong tác phẩm tự sự:

- Nhân vật trong tác phẩm tự sự: thường là con người (có thể là cây cối hoặc loàivật đã được nhân hoá để thể hiện ý đồ sáng tạo của tác giả và làm nổi bật chủ đềcủa văn bản)

- Đặc điểm của nhân vật trong tác phẩm tự sự: tính cách và bản chất của nhân vậtđược thể hiện qua các khía cạnh là lai lịch, ngoại hình, nội tâm, hành động, ngônngữ

2.2 Chủ nghĩa lãng mạn và các đặc trưng cơ bản của chủ nghĩa lãng mạn:

Trang 9

2.2.1 Chủ nghĩa lãng mạn là thuật ngữ chỉ một trong những trào lưu văn hoá lớnnhất ở Âu Mĩ vào cuối thế kỷ XVIII và nửa đầu thế kỷ XIX có ảnh hưởng và ýnghĩa lớn đối với sự phát triển văn học toàn thế giới Vào thế kỷ XVIII, từ lãng mạnđược dùng để chỉ tất cả những gì kỳ lạ, hoang đường, khác thường chỉ thấy gặp ởtrong sách không có trong hiện thực Ngày nay, chủ nghĩa lãng mạn thay đổi nộihàm và trở thành một trong những trào lưu cơ bản của nền văn học không những ởViệt Nam và cả nền văn học thế giới.

2.2.2 Các đặc trưng cơ bản của chủ nghĩa lãng mạn:

- Một cá nhân cô đơn xung đột với môi trường xung quanh, một tự do cá nhân táchbiệt hoàn toàn với xã hội dẫn đến sự thích thú với những tình cảm mạnh mẽ, nhữngtương phản gay gắt, những vận động bí ẩn, tối tăm của linh hồn con người

- Vai trò to lớn của cái trực giác và vô thức

- Ý thức đầy đủ về vai trò của cá tính sáng tạo đối với người nghệ sĩ trong quá trìnhsản sinh văn bản

Nói một cách dễ hiểu là những tác giả lãng mạn do ý thức về cái tôi quá lớn, muốnthể hiện mình và vươn tới những cái cao cả nên họ đem những ước vọng cao cả vànhững biểu hiện cao nhất của đời sống tinh thần như nghệ thuật, tôn giáo, triết họcđối lập với thực tiễn vật chất đời thường, kêu gọi con người sống chân thực, hếtmình với cảm xúc, khát vọng của mình

2.2.3 Những khuynh hướng phát triển của chủ nghĩa lãng mạn:

- Khuynh hướng tiêu cực với thái độ bi quan, bất mãn sâu sắc trước thực tại đen tối;hoài niệm quá khứ và ước mong một tương lai hoàn hảo

- Khuynh hướng lãng mạn tích cực tràn trề niềm tin vào thực tại và tương lai, lạcquan về đời sống nhân thế và khả năng sáng tạo vô biên cùng sức mạnh và vẻ đẹpcủa con người

Với tình hình của Việt Nam đầu thế kỷ XX là một đất nước nô lệ nên thân phận conngười bị rẻ rúng Các nhà văn, nhà thơ mặc dù ý thức rất sâu sắc về quyền sống, ýthức về cái tôi cá nhân nhưng không thể thực hiện được ước mơ cao đẹp của mình

trong hoàn cảnh “cơm áo ghì sát đất” Sự mâu thuẫn giữa hiện thực đen tối và

khát khao sáng tạo, cống hiến đưa đến một hệ quả quan trọng là đa số các tác phẩm

của văn học hiện đại Việt Nam đều phát triển theo khuynh hướng tiêu cực mà “Hai đứa trẻ” là một điển hình Ngược lại, “Chữ người tử tù” của Nguyễn Tuân lại phát

triển theo khuynh hướng tích cực với trọng tâm là ca ngợi vẻ đẹp văn hoá truyềnthống và vẻ đẹp của con người đối chọi với xã hội vạn ác

2.3 Bố cục và vai trò của bố cục trong việc đọc hiểu một tác phẩm văn học:

2.3.1 Định nghĩa về bố cục:

Từ điển thuật ngữ văn học (Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi, NXB

Giáo dục, 2006) định nghĩa “Bố cục nhằm chỉ sự sắp xếp, phân bố các chương đoạn, các bộ phận của tác phẩm theo một trình tự nhất định”.

Từ điển Tiếng Việt (Viện ngôn ngữ, Trường đại học hoa học - xã hội - nhân văn)

định nghĩa “Cách xếp đặt một văn bản theo thứ tự mạch lạc, dễ hiểu”.

Trang 10

Từ đây, ta có thể hiểu chung nhất “Bố cục là cách sắp xếp một văn bản theo một trình tự mạch lạc, tạo thành một hệ thống để người đọc có thể tiếp cận và hiểu được nội dung cũng như hình thức của văn bản một cách trọn vẹn nhất”.

2.3.2 Vai trò của bố cục trong việc đọc hiểu một tác phẩm văn học:

Bố cục có vai trò quan trọng bởi thông qua bố cục, người đọc đặc biệt là học sinh

có thể hệ thống hoá toàn bộ kiến thức của bài giảng văn Khi nắm chắc các kiếnthức mà thầy cô truyền dạy trong bài học, mỗi học sinh sẽ hiểu được cái hay, cáiđẹp của tác phẩm, thấy được giá trị giáo dục và tác động mạnh đến tình cảm, suynghĩ của mỗi em Cũng qua việc hiểu bài học, các em có những hiểu biết về lịch sử,

về quy luật phát triển của xã hội từ đó giúp ích cho bản thân trong cuộc sống Tronggiờ làm văn, nhờ nắm được bài học thông qua bố cục mà học sinh có thể nhanhchóng xác định được yêu cầu của đề bài, biết cách chia tách các kiến thức đã họctrong bài hình thành nên hệ thống luận điểm đáp ứng đầy đủ yêu cầu mà đề bài đưa

ra Việc xác định đúng hướng bố cục trong một bài học là bước đầu tiên đưa đếnthành công trong bài giảng văn của giáo viên

2.3.3 Các kiểu bố cục thường gặp của loại tự sự:

Loại tự sự được chia thành 3 thể nhỏ: truyện ngắn, truyện vừa, truyện dài (tiểuthuyết) Đặc trưng cơ bản của loại tự sự là mỗi câu chuyện dù ngắn hay dài đều cómột chuỗi các tình tiết khắc hoạ rõ nét tính cách, số phận của các nhân vật Thườngthì trong loại này luôn tồn tại những nhân vật chính có ảnh hưởng to lớn đến tưtưởng và chủ đề của tác phẩm nên người ta gọi đó là hình tượng văn học Đối vớitiểu thuyết nếu được học thì sẽ chọn ra trích đoạn tiêu biểu nhất để tìm hiểu Bố cục

thường gặp của loại tự sự do đó khu biệt vào hai loại bố cục: bố cục theo nội dung

và bố cục dựa vào phân tích hình tượng văn học Tuỳ theo từng tác phẩm cụ thể

mà ta sẽ chọn loại bố cục nào cho phù hợp

2.4 Mối quan hệ giữa các kiến thức về loại thể, các kiến thức về văn hoá, lịch sử đối với việc lựa chọn bố cục của tác phẩm tự sự (ở đây là hai tác phẩm cụ thể là

“Hai đứa trẻ” và “Chữ người tử tù”):

Các kiến thức về loại thể rất quan trọng để giáo viên dựa vào đó mà xác định cụ thểtác phẩm tự sự đó nên phân chia theo nội dung (chia theo các đoạn) hay nên phânchia bố cục dựa vào hình tượng văn học Các kiến thức về văn hoá, lịch sử giúpngười dạy hình dung ra các kiến thức cơ bản về nội dung và nghệ thuật của tácphẩm mà trong quá trình giảng dạy cho học sinh phải làm nổi bật được Vì vây, khixác định bố cục của một tác phẩm văn học cần phải tìm hiểu tất cả các yếu tố cóliên quan đến tác phẩm đó để chọn được một bố cục phù hợp nhất có thể dung chứa

được tất cả các phương diện đã kể trên Đối với trường hợp của “Hai đứa trẻ” và

“Chữ người tử tù” điều này càng cần thiết hơn nữa vì độ phức tạp và phong phú

của chính bản thân hai tác phẩm này

CHƯƠNG II

Trang 11

CON ĐƯỜNG GIẢNG DẠY HAI TÁC PHẨM “HAI ĐỨA TRẺ” VÀ “CHỮ NGƯỜI TỬ TÙ”

1 Con đường giảng dạy tác phẩm “Hai đứa trẻ”:

1.1 Những đặc điểm của tác phẩm “Hai đứa trẻ” cần chú ý khi giảng dạy:

“Hai đứa trẻ” của Thạch Lam được đánh giá là một trong những tác phẩm khó của

chương trình Ngữ văn 11 vì nó là một tác phẩm văn xuôi (thuộc loại tự sự) nhưnglại thuộc chủ nghĩa lãng mạn Hơn nữa, đây không phải là tác phẩm được viết theo

lối thông thường mà được viết theo lối “truyện ngắn tâm tình” Có nhà nghiên cứu

khi đọc tác phẩm này đã nêu lên nhận xét rằng truyện ngắn giống như một bài thơtrữ tình bằng văn xuôi Truyện hầu như không có cốt truyện (điều tối kỵ với một tácphẩm văn xuôi vì cốt truyện kịch tính có thể quyết định đến hơn 50% sự thành côngcủa một tác phẩm Đa số các tác phẩm tự sự đều rất coi trọng cốt truyện và các tácgiả đều cố gắng xây dựng cốt truyện với những tình huống thật gay cấn, kịch tính

Nhưng “Hai đứa trẻ” lại tập trung vào làm nổi bật tâm trạng man mác của chị em

Liên trước khung cảnh một phố huyện nghèo nàn vào ba thời điểm: phố huyện lúcchiều muộn, phố huyện lúc tối, phố huyện lúc về đêm khi đoàn tàu đi qua Mớinghe, ta sẽ nghĩ ngay đây là một tác phẩm thất bại và nhạt nhẽo Thực chất lạingược lại vì tác phẩm được đánh giá rất cao cả về nội dung và nghệ thuật trở thànhđỉnh cao của chủ nghĩa lãng mạn đề cập rất nhiều vấn đề cốt yếu của đời sống conngười thông qua tâm trạng của hai đứa trẻ trong một khoảng thời gian ngắn ngủi.Muốn xác định bố cục của văn bản này để đọc hiểu, ta phải tìm hiểu đặc điểm cơ

bản của chủ nghĩa lãng mạn qua nội dung và những đặc điểm của loại “truyện ngắn tâm tình” qua hình thức nghệ thuật.

1.2 Những đặc điểm của chủ nghĩa lãng mạn và thể loại “truyện ngắn tâm tình” được thể hiện qua tác phẩm “Hai đứa trẻ”:

2.1.1.“Hai đứa trẻ” thuộc khuynh hướng lãng mạn tiêu cực vì nó đề cập đến sự

chán nản thực tại đến cùng cực của chị em Liên Từ đó, hai chị em luôn nhớ đếncuộc sống tươi đẹp đã từng có khi gia đình ở Hà Nội đồng thời bộc lộ khát khaohướng tới một cuộc sống tương lai tốt đẹp hơn qua hình ảnh đoàn tàu

2.1.2 “Truyện ngắn tâm tình” là loại truyện nghiêng về cảm xúc, cảm giác và

mang nhiều đặc điểm của thể loại trữ tình Truyện không có cốt truyện hoặc cốttruyện rất mờ nhạt, chú trọng đến cảm xúc, cảm giác của các nhân vật đặc biệt là

nhân vật mang theo thế giới quan của tác giả “Truyện ngắn tâm tình” có các đặc

trưng nổi bật sau đây:

- Truyện không có cốt truyện hoặc cốt truyện rất mờ nhạt

- Không có xung đột, kịch tính mạnh mẽ

- Nhân vật không có tính cách rõ ràng

- Chuyện kể giàu chất cảm xúc, trữ tình, giàu chất thơ

- Lời kể chuyện nhỏ nhẹ, ân tình, thâm thuý

- Cảm xúc kín đáo, thâm trầm và tinh tế

Trang 12

Các đặc điểm trên của “truyện ngắn tâm tình” đều xuất hiện trong truyện ngắn

“Hai đứa trẻ”.

1.3 Lựa chọn bố cục cho văn bản “Hai đứa trẻ”:

Ở bài “Hai đứa trẻ”, ta thấy tâm trạng của chị em Liên (mà chủ yếu là tâm trạng

của nhân vật Liên) thay đổi theo thời gian chuyển động từ chiều sang tối rồi đêmkhuya Trong tác phẩm, mỗi phần đó lại được tác giả phân chia giới hạn rất rõ Từ

đó, ta xác định được bố cục của tác phẩm theo nội dung gồm 3 phần chính:

1.3.1 Tâm trạng của chị em Liên trước cảnh vật và con người phố huyện lúc chiều muộn (Từ đầu đến nhỏ dần về phía cuối làng)

1.3.2 Tâm trạng của chị em Liên trước cảnh vật và con người phố huyện buổi tối (Từ Trời đã bắt đầu đêm … sự sống nghèo khổ hằng ngày của họ).

1.3.3 Tâm trạng của chị em Liên khi đoàn tàu đi qua (còn lại)

Ở cả 3 phần này, ta sẽ chú ý làm nổi bật tâm trạng của Liên là tâm trạng điển hìnhcủa chủ nghĩa lãng mạn đồng thời làm nổi bật những biểu hiện của chủ nghĩa nhân

đạo qua tác phẩm, biểu hiện của bút pháp nghệ thuật kiểu “truyện ngắn tâm tình”.

Đây chính là 3 phương diện chính yếu của truyện ngắn “Hai đứa trẻ”.

1 4 Giáo án giảng dạy “Hai đứa trẻ” lựa chọn bố cục theo nội dung:

2 Kỹ năng: Thấy được một vài nét độc đáo trong bút pháp nghệ thuật của Thạch

Lam được thể hiện qua một truyện ngắn thuộc loại “truyện ngắn tâm tình”.

3 Thái độ: Trân trọng, xót thương cho những con người nhỏ nhoi trong xã hội cũ

B Chuẩn bị cho bài học:

1 Phương tiện thực hiện:

Trang 13

3 Vào bài mới:

Hoạt động của GV và HS Nội dung bài học

GV: Gọi 1 HS đọc phần Tiểu

dẫn SGK Ngữ văn, tập 1, 94

?GV: Phần Tiểu dẫn trong

SGK đã trình bày những nét

cơ bản nào về tác giả Thạch

Lam? Điểm nào trong tính

cách của Thạch Lam để lại ấn

tượng mạnh mẽ với em? Vì

- HS dựa vào Tiểu dẫn SGK

trả lời/ GV bổ sung, hoàn

thiện kiến thức

GV: Yêu cầu HS đọc một vài

đoạn hay trong tác phẩm, giới

thiệu về tình tiết truyện,

hướng dẫn HS những đặc

điểm của kiểu “truyện ngắn

tâm tình” Từ cơ sở đó, gợi ý

cho HS xác định bố cục của

truyện ngắn “Hai đứa trẻ”.

I Tìm hiểu chung:

1 Tìm hiểu về tác giả Thạch Lam (1910 - 1942):

- Quê quán: Thạch Lam sinh ra ở Hà Nội sau đó

chuyển về sống ở phố huyện Cẩm Giàng (HảiDương)

- Gia đình: Công chức gốc quan lại.

- Bản thân: + Ông tên thật là Nguyễn Tường Lân

đã cùng hai anh là Nguyễn Tường Tam (Nhất Linh)

và Nguyễn Tường Long sáng lập ra “Tự lực văn đoàn” nổi tiếng.

+ Thạch Lam học chủ yếu ở Hà Nội,tính tình đôn hậu, tinh tế, nhạy cảm trước mọibiến thái tinh vi của cảnh vật và con người

+ Ông có quan niệm văn chương tiến

bộ lành mạnh “văn chương phải là một vũ khí đặc lực để giúp con người sống trong sạch và cải tạo xã hội”.

+ Là nhà văn nổi tiếng với lối viếttruyện không có cốt truyện

2 Sự nghiệp văn chương của Thạch Lam (sáng tác phong phú, đa dạng, có phong cách riêng độc đáo):

- Truyện ngắn: + Gió đầu mùa (1937)

+ Nắng trong vườn (1938) + Sợi tóc (1942)

- Tiểu thuyết: + Ngày mới (1939)

- Tuỳ bút: + Hà Nội băm sáu phố phường

- Thuộc loại “truyện ngắn tâm tình” (truyện

ngắn không thể tóm tắt bằng các tình tiết giốngnhư các truyện ngắn tự sự khác Tác giả chỉ ghi lạinhững nét tâm trạng của nhân vật trữ tình khi tiếpxúc với cảnh vật và con người Đây là một nét

Trang 14

quê mang đậm hồn quê

hương, xứ sở nhưng nặng trĩu

nỗi buồn do ảnh hưởng của

không khí xã hội và hướng

đến sự lụi tàn? Nhận xét ấy có

chính xác không? Vì sao?

- HS trả lời/ GV bổ sung,

hoàn thiện kiến thức

sáng tạo độc đáo của Thạch Lam khi viết truyệnngắn vì thể loại này là sự pha trộn đặc điểm của cảthơ và văn xuôi)

- Giới thiệu chung về tình tiết truyện và các nhânvật chính (hai chị em Liên và An vì gia đình sa sútphải chuyển từ Hà Nội về quê phố huyện sinhsống Hai chị em quản lý một gian hàng tạp hoánghèo nàn ở phố huyện)

- Bố cục của truyện ngắn: gồm 3 phần

1 (Từ đầu đến nhỏ dần về phía cuối làng): Tâm trạng của chị em Liên trước cảnh vật và con người phố huyện lúc chiều muộn.

2 (Trời đã bắt đầu đêm … sự sống nghèo khổ hằng ngày của họ): Tâm trạng của chị em Liên trước cảnh vật và con người phố huyện lúc tối.

3 (Còn lại): Tâm trạng của chị em Liên khi đoàn tàu đi qua.

II Đọc hiểu văn bản:

1 Tâm trạng của chị em Liên trước cảnh vật và con người phố huyện lúc buổi chiều:

a Cảnh vật và con người phố huyện lúc chiều muộn:

* Cảnh vật được tái hiện qua các chi tiết:

- Âm thanh tàn: + Tiếng trống thu không ngân

vang gọi buổi chiều (âm thanh của xã hội thực dânnửa phong kiến vừa cho thấy bối cảnh của thời đạivừa là âm thanh báo hiệu một ngày tàn)

+ Tiếng ếch nhái râm ran, tiếngmuỗi vo ve: âm thanh quen thuộc của đồng quêgợi cảnh chiều tàn nên mang nặng nỗi buồn

- Màu sắc tàn: + Phương Đông đỏ rực như lửa

cháy + Mây ánh hồng như hòn than sắptàn

+ Rặng tre làng đen lại cắt trên nềntrời

-> Màu đặc trưng của hoàng hôn, màu của ngày tàn, báo hiệu đêm xuống Tất cả đều hướng tới sự lụi tàn Những câu văn đơn sơ, đậm chất trữ tình đã vẽ ra một bức hoạ đồng quê quen thuộc, gần gũi và gợi cảm Cách tả

Trang 15

?GV: Cảnh sinh hoạt của phố

huyện lúc về chiều được tác

giả tái hiện ra sao? Những số

phận nào được nhà văn miêu

tả ở đây? Sự miêu tả ấy đem

lại cho người đọc cảm xúc gì?

- HS trả lời/ GV bổ sung,

hoàn thiện kiến thức

?GV: Trước khung cảnh phố

huyện và số phận của những

con người nơi đây, chị em

Liên (đặc biệt là Liên) đã có

những phản ứng và nét tâm

trạng nào? Tâm trạng ấy được

thể hiện qua những lời văn và

hình ảnh nào?

- HS trả lời/ GV bổ sung,

hoàn thiện kiến thức

của nhà văn làm hiện lên một bức tranh quê hương bình dị mà không kém phần thơ mộng, mang đậm chất làng quê Việt Nam Nhưng bức tranh ấy mang nặng nỗi buồn do được miêu tả thời điểm đất nước nô lệ.

* Cảnh sinh hoạt của con người nơi phố huyện:

- Chợ chiều tàn: còn lại rác rưởi, vỏ bưởi, vỏ thị,

vỏ nhãn, lá mía -> cảnh chợ chiều gợi nên không khí thân thuộc mang hồn quê nhưng nặng trĩu nỗi buồn vì nó hướng đến sự lụi tàn và bóng tối.

- Những cảnh đời tàn: + Những đứa trẻ nghèo

nhặt cái còn sót lại của chợ tàn -> những câu vănkhiến cho người đọc đau xót vì tái hiện những đứatrẻ phải lam lũ từ quá sớm báo hiệu sự tàn lụi + Cụ Thi say rượu tìm quênvới nụ cười kéo dài chát chúa -> đây là người đàn

bà đã chịu nhiều đau khổ và ẩn ức và đã lụi tànqua tiếng cười dài ghê rợn như xé rách cả bóng tốiphố huyện

NX: Qua ngòi bút của Thạch Lam, phố huyện

hiện lên mang đậm hồn quê nhưng nghèo nàn vàchìm vào bóng tối

b Tâm trạng của chị em Liên:

- Liên ngồi yên lặng, đôi mắt ngập đầy dần bóngtối

- Cái buồn của buổi chiều quê thấm thía vào tâmhồn ngây thơ của chị

- Liên thấy lòng buồn man mác trước thời khắccủa ngày tàn

- Liên thương bọn trẻ con nhưng không có tiền màcho chúng

- Hôm nào cũng cố tình rót rượu cho cụ Thi thậtđầy

-> Tác giả đã diễn tả cái buồn man mác rất tinh

tế của Liên trước cảnh vật lụi tàn phố huyện và

sự thương xót chân thành của người thiếu nữ ngây thơ trước những số phận lụi tàn, khốn khổ Liên dường như đã cảm nhận được cuộc sống nghèo khổ đè nặng lên phố huyện và thể hiện sự bất đắc chí của mình trước cuộc sống

Trang 16

ấy bằng tâm trạng buồn mơ hồ, tinh tế.

4 Củng cố:

GV nhấn mạnh đến điểm độc đáo của kiểu truyện không có cốt truyện và tâm trạngcủa chị em Liên trước khung cảnh phố huyện và số phận những con người phốhuyện lúc buổi chiều

2 Kỹ năng: Thấy được một vài nét độc đáo trong bút pháp nghệ thuật của Thạch

Lam được thể hiện qua một truyện ngắn thuộc loại “truyện ngắn tâm tình”.

3 Thái độ: Trân trọng, xót thương cho những con người nhỏ nhoi trong xã hội cũ

B Chuẩn bị cho bài học:

1 Phương tiện thực hiện:

3 Vào bài mới:

II Đọc hiểu văn bản:

2 Tâm trạng của chị em Liên trước cảnh vật

và con người của phố huyện thời điểm buổi tối:

Trang 17

?GV: Thạch Lam đã tái hiện

không gian phố huyện buổi

tối bằng các mảng màu Đó là

các mảng màu nào? Ấn tượng

mà các mảng màu đem lại

cho người đọc? Qua đó, em

thấy được điều gì từ cuộc

sống và tình trạng của phố

huyện?

- HS thảo luận, trả lời/ GV bổ

sung, hoàn thiện kiến thức

?GV: Trong đoạn 2 của

truyện ngắn, tác giả đã miêu

tăm tối, thiếu sinh khí, những

cảnh đời nào của người dân

phố huyện được tác giả tái

hiện lại?

- HS trả lời/ GV bổ sung,

hoàn thiện kiến thức

a Cảnh vật và cuộc sống của con người phố huyện vào thời điểm buổi tối:

* Cảnh vật phố huyện (được miêu tả qua hai yếu

tố màu sắc và ánh sáng):

- Màu sắc: 2 màu đen (bóng tối) và trắng (ánh

sáng)+ Bóng tối (chỉ được nói tới trong 1 câu): tối ởcác ngõ con, đường ra sông, đường ra chợ (dầndần chứa đầy bóng tối)

-> Cách miêu tả của tác giả khiến người đọc hình dung bóng tối giống như một con quái vật đang xâm chiếm dần cảnh phố huyện khiến cả phố huyện chìm vào bóng tối mênh mông Cách miêu tả làm nổi bật không gian phố huyện: tăm tối, buồn tẻ, thiếu sinh khí.

- Ánh sáng (đủ loại): + Ngôi sao lấp lánh (rực rỡ

nhưng xa xôi không góp phần làm thay đổi bóngtối nơi phố huyện)

+ Con đom đóm bay là làvào mặt đất (ánh sáng yếu ớt)

+ Ngọn lửa bác Siêu nhưchấm vàng lơ lửng

+ Ngọn đèn chị Tí - quầngsáng

+ Ngọn đèn của chị emLiên: thưa thớt như những hột sáng lọt qua phênnứa

-> Cảnh vật được chiếu sáng nhưng tất cả đều hết sức nhỏ bé, yếu ớt, nhạt nhoà Tác giả đối lập giữa bóng tối và ánh sáng để làm nổi bật bóng tối mênh mông và sự tù đọng, thiếu sinh khí của phố huyện.

* Cuộc sống sinh hoạt của con người phố huyện buổi tối (những mảnh đời kiếm ăn lam lũ lần lượt hiện ra):

- Mẹ con chị Tí: sáng mò cua bắt ốc, tối dọn hàngnước ế khách (dù không đủ sống nhưng vẫn cốgắng làm ăn)

- Chị em Liên: cửa hàng nhỏ xíu, dán báo, phênbằng nứa, khách mua từng cút rượu ti, nửa bánh

xà phòng

Trang 18

?GV: Ấn tượng của người

đọc về cuộc sống phố huyện

thông qua các cảnh đời được

tái hiện?

- HS trả lời/ GV bổ sung,

hoàn thiện kiến thức

?GV: Trước cuộc sống nghèo

nàn, tù túng, không có hi

vọng của phố huyện, chị em

Liên đã bộc lộ những suy

nghĩ và tâm trạng nào? Điều

đó có ý nghĩa như thế nào?

- HS trả lời/ GV bổ sung,

hoàn thiện kiến thức

- Bác Siêu: gánh phở ế khách - món quà xa xỉ,người nghèo không dám mơ

- Gia đình Sẩm: manh chiếu rách lẫn vào đất cát,

cả gia đình sống nhờ lòng hảo tâm của mọi ngườinhưng ai cũng nghèo không đủ ăn Họ luônthường trực nguy cơ chết đói

-> Đây là những cảnh đời vẫn phải tiếp tục kiếm sống vào lúc đáng lẽ phải được nghỉ ngơi Tất cả họ đêm nào cũng như đêm nào vẫn làm những việc giống nhau, ngồi ở một nơi giống nhau Họ như lẫn vào đất cát và bóng tối càng làm nổi bật sự nghèo khổ, quẩn quanh, bế tắc,

tù hãm, không có hi vọng của phố huyện.

b Tâm trạng của chị em Liên:

- Ngày nào cũng ân cần hỏi han mẹ con chị Tí

- Nhớ về Hà Nội xa xăm, rực rỡ ánh đèn (nhớ vềcuộc sống sôi động, tươi sáng trong quá khứ)

- Cùng với người dân phố huyện chờ đợi một cái

gì tươi sáng cho sự sống nghèo khổ hằng ngày

-> Liên bất mãn ghê gớm trước cuộc sống nơi phố huyện qua cách cô cảm nhận sự tù đọng, trì trệ của nó Cô cảm thông, thương xót cho chính mình và những người hàng xóm nghèo khổ xung quanh Đồng thời, Liên bộc lộ khao khát một cách mãnh liệt một cuộc sống mới tươi sáng và sôi động hơn.

Trang 19

2 Kỹ năng: Thấy được một vài nét độc đáo trong bút pháp nghệ thuật của Thạch

Lam được thể hiện qua một truyện ngắn thuộc loại “truyện ngắn tâm tình”.

3 Thái độ: Trân trọng, xót thương cho những con người nhỏ nhoi trong xã hội cũ

B Chuẩn bị cho bài học:

1 Phương tiện thực hiện:

2 Kiểm tra bài cũ: Nhận xét về cách miêu tả ánh sáng và bóng tối của nhà văn

Thạch Lam trong đoạn 2 của truyện ngắn “Hai đứa trẻ”? Cách miêu tả ấy đem lại

ấn tượng gì cho người đọc?

3 Vào bài mới:

?GV: Cảnh đoàn tàu đi qua đã

được tác giả tái hiện bằng

những chi tiết và hình ảnh nào

(âm thanh, ánh sáng)? Những

chi tiết ấy để lại ấn tượng gì

cho người đọc? So sánh cách

tác giả miêu tả đoàn tàu và

miêu tả phố huyện để thấy

được ý đồ nghệ thuật của tác

giả?

- HS trả lời/ GV bổ sung, hoàn

thiện kiến thức

II Đọc hiểu văn bản:

3 Tâm trạng của chị em Liên khi phố huyện về đêm:

a Cảnh vật và con người phố huyện lúc đêm khuya:

* Cảnh vật phố huyện lúc đêm khuya (được đánh dấu bằng cảnh đoàn tàu đi qua - một thế giới khác

so với sự nghèo nàn, tù túng của phố huyện):

- Đoàn tàu đến được đánh dấu bằng các âm thanh

và màu sắc tươi sáng, rực rỡ là những thứ mà phốhuyện không có:

+ Âm thanh: tiếng trống cầm canh một tiếng khôkhan, tiếng rít mạnh vào ghi; tiếng máy rầm rộ,tiếng hành khách ồn ào

+ Ánh sáng: Ánh sáng trắng của những khuôn cửakính sáng, đồng và kền lấp lánh

Trang 20

?GV: Cảnh sinh hoạt của

người dân phố huyện hiện lên

như thế nào? Ý nghĩa cách

miêu tả của Thạch Lam về thái

độ của họ trước đoàn tàu?

- HS trả lời/ GV bổ sung, hoàn

thiện kiến thức

?GV: Chị em Liên đã bộc lộ

đánh giá của mình và nét tâm

trạng nào khi đoàn tàu đi qua?

- Khi tàu đi trả lại cho phố huyện bóng đêm mênhmông quen thuộc

* Cảnh sinh hoạt của con người phố huyện về đêm (khi đoàn tàu đi qua):

- Cả ngày chờ đợi sự xuất hiện trong vài phút ngắnngủi của đoàn tàu

- Đêm nào cũng chờ tàu nhưng không phải để bánhàng mà để hoà mình vào âm thanh và ánh sáng

mà đoàn tàu mang lại (hướng về cuộc sống sôiđộng và tràn đầy ánh sáng)

-> Tác giả tái hiện cảnh đoàn tàu qua để cho thấy khát vọng rất đỗi nhỏ bé, tội nghiệp của người dân phố huyện Trong cảnh sống tối tăm, mất hết sinh khí và hi vọng, họ vẫn khát khao hướng về âm thanh và ánh sáng để có một chút

hi vọng trong cuộc sống tù đọng đến mức đã nổi váng của mình Đoạn văn bộc lộ sự xót thương, cảm thông, trân trọng chân thành của nhà văn dành cho họ.

b Tâm trạng của chị em Liên:

- Nhớ lại hình ảnh Hà Nội xa xăm, rực rỡ ánh đèn-> mơ về quá khứ tươi đẹp, một cuộc sống đángsống, bộc lộ những nuối tiếc, khát khao

- Đêm nào cũng chờ tàu - đoàn tàu gắn liền vớihình ảnh Hà Nội rực sáng như một thế giới kháctươi sáng tuyệt vời so với sự tăm tối của phốhuyện

-> Con tàu là biểu tượng của niềm vui, niềm hi vọng, sinh khí, biểu tượng của tương lai, một thế giới đối lập với cuộc sống hiện tại tăm tối nơi phố huyện Nó là phút xao động cần thiết khuấy động cái ao tù phẳng lặng như phố huyện.

- Liên cảm thấy xa xôi trước hiện tại, mờ mịt

Trang 21

?GV: Có ý kiến cho rằng tâm

trạng của Liên là tâm trạng

điển hình của văn học lãng

mạn 1930 - 1945 Ý kiến ấy

đúng hay sai? Vì sao? Thông

điệp của tác giả Thạch Lam

khi nhà văn tái hiện tâm trạng

-> Tâm trạng của chị em Liên là tâm trạng điển hình của chủ nghĩa lãng mạn mang khuynh hướng tiêu cực: vì bất hoà sâu sắc với hiện tại

mà tìm về nương náu ở miền quá khứ tươi đẹp hoặc khao khát một tương lai mơ ước.

* Ý nghĩa: Thông qua việc mô tả tâm trạng của

Liên, tác giả Thạch Lam đưa ra một thông điệp:cuộc sống trong xã hội cũ là một cuộc sống úa tàn,

vô vọng Cần phải đem đến một cuộc sống khácđáng sống và xứng đáng hơn với con người Hãycứu lấy những đứa trẻ vốn là tương lai của phốhuyện cũng là tương lai của cả một đất nước

III Tổng kết:

1 Nội dung:

Câu chuyện bày tỏ sự cảm thông, lắng nghe, trântrọng những khát vọng nhỏ bé của con người ởmột vùng đất bị lãng quên Nó gợi lên trong lòngngười những suy nghĩ, khát khao về một cuộcsống có ý nghĩa hơn

2 Nghệ thuật:

Truyện tiêu biểu cho thể loại truyện ngắn tâm tìnhcủa Thạch Lam: toàn truyện chủ yếu là tâm trạngcủa nhân vật Liên trước cảnh vật và con người phốhuyện, ít hành động, ít sự kiện, chủ yếu là tâm tư,cảm xúc, ý tưởng của nhân vật Liên

4 Củng cố:

GV củng cố cho HS nội dung trọng tâm của bài học: cuộc sống úa tàn của nhândân ta trong chế độ thuộc địa thông qua tâm trạng của Liên; lòng xót thương, trântrọng ước mơ nhỏ bé của con người và đặc điểm độc đáo của truyện ngắn tâm tìnhđược thể hiện qua tác phẩm

5 Dặn dò:

GV dặn dò HS về nhà chuẩn bị “Tiết 39 (TV): Ngữ cảnh”

1.5 Những yêu cầu đạt được sau bài học “Hai đứa trẻ” (Thạch Lam):

1.5.1 Về mặt nội dung: Học sinh sau bài học thông qua tâm trạng của hai chị emLiên hiểu được cuộc sống nghèo khổ, tù đọng của đất nước ta trong chế độ thuộcđịa đồng thời thấy được tấm lòng nhân đạo của Thạch Lam dành cho những ngườidân nhỏ nhoi ấy: ông trân trọng ước mơ bé nhỏ và khao khát sống của họ ngay cảkhi họ sống tại một miền đất bị lãng quên

Ngày đăng: 31/08/2017, 11:48

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w