1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

TLBG rung xa nu p2 (1)

10 174 3

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 10
Dung lượng 421,44 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Với sự quan sát tỉ mỉ, cảm nhận tinh tế và ngòi bút tài hoa, Nguyễn Trung Thành đã viết nên những câu văn đẹp lạ thường gây ấn tượng sâu đậm trong lòng người đọc: Làng ở trong tầm đại bá

Trang 1

PHẦN 2

TRỌNG TÂM KIẾN THỨC VÀ PHẠM VI RA ĐỀ:

1 Nhan đề “Rừng xà nu”, hình tượng rừng xà nu, cây xà nu

2 Tư tưởng “Chúng nó đã cầm súng mình phải cầm giáo”

3 Tính sử thi trong “Rừng xà nu” (Chú ý so sánh với Những đứa con trong gia đình)

4 Hình ảnh con người Tây nguyên qua các nhân vật: Cụ Mết, Tnú, Mai, Dít, Heng:

- Nét chung và riêng (giống và khác) giữa các nhân vật

- So sánh với Việt và Chiến

5 Phẩm chất anh hùng bất khuất của con người Tây Nguyên và chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt nam

qua tác phẩm (Chú ý so sánh với Những đứa con trong gia đình)

6 Hình tượng nhân vật Tnú (Chú ý so sánh với A Phủ)

7 Bàn tay Tnú

8 Những đặc sắc về tư tưởng, về sáng tạo tình huống, cách xây dựng nhân vật, nghệ thuật trần thuật và ngôn

ngữ, giọng điệu trong tác phẩm Rừng xà nu

9 Chất Tây Nguyên qua truyện ngắn Rừng xà nu

I VÀI NÉT VỀ TÁC GIẢ VÀ TÁC PHẨM

II SƠ ĐỒ TƯ DUY VỀ TÁC PHẨM: Xem bài giảng

III NHÀ VĂN NGUYỄN TRUNG THÀNH NÓI VỀ TÁC PHẨM:

IV PHÂN TÍCH:

A HÌNH TƯỢNG XÀ NU:

Chọn rừng xà nu làm bối cảnh cho câu chuyện, nhà văn đã tạo được không khí rất Tây Nguyên bởi giữa cây

và người có những nét tương đồng kì lạ Theo tác giả, xà nu là loại cây hùng vĩ và cao thượng, man dại và trong sạch… vừa thanh nhã vừa rắn rỏi… tưởng như đã sống tự ngàn đời, còn sống đến ngàn đời sau… Đúng như vậy! Cây xà nu gắn bó mật thiết với cuộc sống vật chất và tinh thần của dân làng Xô Man Khi đi vào tác phẩm, cây xà nu không những trở thành biểu tượng cuộc đời của họ mà còn là hình ảnh tượng trưng cho những phẩm chất tốt đẹp của đồng bào Tây Nguyên

Mở đẩu tác phẩm, người đọc đã bị cuốn hút vào khung cảnh rừng xà nu ngày ngày bị bom đạn quân thù tàn phá dữ dội nhưng vẫn tràn đầy sức sống Với sự quan sát tỉ mỉ, cảm nhận tinh tế và ngòi bút tài hoa, Nguyễn Trung Thành đã viết nên những câu văn đẹp lạ thường gây ấn tượng sâu đậm trong lòng người đọc:

Làng ở trong tầm đại bác của đồn giặc Chúng nó bắn, đã thành lệ, mỗi ngày hai lần, hoặc buổi sáng sớm và

xế chiều, hoặc đứng bóng và sẩm tối, hoặc nửa đêm và trở gà gáy… Hầu hết đạn đại bác đều rơi vào ngọn đồi xà nu cạnh con nước lớn: Cả rừng xà nu hàng vạn cây không có cây nào không bị thương Có những cây

bị chặt đứt ngang nửa thân mình, đổ ào ào như một trận bão Ở chỗ vết thương, nhựa ứa ra, tràn trề, thơm ngào ngạt, long lanh nắng hè gay gắt, rồi dần dần bầm lại, đen và đặc quyện thành từng cục máu lớn

Trong rừng ít có loại cây sinh sôi nảy nở khỏe như vậy Cạnh một cây xà nu mới ngã gục, đã có bốn năm cây con mọc lên, ngọn xanh rờn, hình nhọn mũi tên lao thẳng lên bầu trời Cũng có ít loại cây ham ánh sáng

RỪNG XÀ NU (PHẦN 2) Giáo viên: PHẠM HỮU CƯỜNG TÀI LIỆU BÀI GIẢNG

Đây là tài liệu đi kèm với bài giảng Rừng xà nu (Phần 2) thuộc khóa học Luyện thi THPT quốc gia PEN-C: Môn Ngữ văn (Thầy Phạm Hữu Cường) tại website Hocmai.vn

Trang 2

mặt trời đến thế Nó phóng lên rất nhanh để tiếp lấy ánh nắng, thứ ánh nắng trong rừng rọi từ trên cao xuống từng luồng lớn thẳng tắp, lóng lánh vô số hạt bụi vàng từ nhựa cây bay ra, thơm mỡ màng Có những cây con vừa lớn ngang tầm ngực người lại bị đại bác chặt đứt làm đôi Ở những cây đó, nhựa còn trong, chất dầu còn loãng, vết thương không lành được, cứ loét mãi ra, năm mười hôm thì cây chết Nhưng cũng có những cây vượt lên được cao hơn đầu người, cành lá sum sê như những con chim đã đủ lông mao, lông vũ Đạn đại bác không giết nổi chúng, những vết thương của chúng chóng lành như trên một thân thể cường tráng Chúng vượt lên rất nhanh, thay thế những cây đã ngã… Cứ thế hai ba năm nay rừng xà nu ưỡn tấm ngực lớn của mình ra, che chở cho làng…

Đứng trên đồi xà nu ấy trông ra xa, đến hết tầm mắt cũng không thấy gì khác ngoài những đồi xà nu nối tiếp tới chân trời

Những câu văn dạt dào cảm xúc mến yêu, khâm phục như thế không chỉ tạo ra phong vị kì thú của Tây Nguyên, mà còn đem đến cho người đọc cảm giác ngất ngây như được chiêm ngưỡng tận mắt vẻ đẹp của thiên nhiên Tác giả đã thể hiện tình yêu sâu sắc, say mê của mình đối với cây xà nu, rừng xà nu, loại cây tượng trưng cho con người Tây Nguyên bất khuất, kiên cường Tình yêu chân thành ấy đã đem đến cho bức tranh phong cảnh một linh hồn sống động Công phu của tác giả trong đoạn văn miêu tà rừng xà nu đã đem lại hiệu quả nghệ thuật đặc biệt Rừng xà nu nổi bật lên thành hình khối, có màu sắc, hương vị và ánh sáng rất riêng, tạo nên những liên tưởng bất ngờ, thú vị Đây là một phần sự sống Tây Nguyên, đồng thời cũng tượng trưng cho các thế hệ đồng bào Tây Nguyên kiên cường bất khuất đã bao đời tồn tại, sinh sôi trên mảnh đất này

Trong câu văn mở đầu truyện ngắn Rừng xà nu: Làng ở trong tầm đại bác, tác giả có chủ ý dựng lên một tình huống đối lập gay gắt: sự Sống đối mặt với cái chết, sự sinh tồn đang đứng trước mối de dọa của diệt vong Vì thế, rừng xà nu vừa là hiện thân của Cái Đẹp, vừa là biểu tượng của sự sống trước những thử thách, đau thương Rừng xà nu hàng vạn cây không có cây nào không bị thương Nỗi đau đớn bởi bom đạn

Mĩ gây ra cho mỗi lứa xà nu một khác Tác giả quan sát tỉ mỉ và miêu tả rất cụ thể với cảm xúc xót xa pha lẫn tự hào: Có những cây bị chặt đứt ngang nửa thân mình, đổ ào ào như một trận bão Ở chỗ vết thương, nhựa ứa ra, tràn trề, thơm ngào ngạt, long lanh nắng hè gay gắt, rồi dần dần bầm lại, đen và đặc quyện thành từng cục máu lớn… Có những cây con vừa lớn ngang tâm ngực người lại bị đại bác chặt đứt làm đồi Ở những cây đó, nhựa còn trong, chất dầu còn loãng, vết thương không lành được, cứ loét mài ra, năm mười hôm thì cây chết Nhưng cũng có những cây vượt lên được cao hơn đầu người, cành lá sum sê như những con chim đã đủ lông mao, lông vũ… vết thương của chúng chóng lành như trên một thân thể cường tráng Như vậy, hình ảnh rừng xà nu đã phản ánh đau thương mà đồng bào các dân tộc Tây Nguyên phải chịu đựng trong cuộc chiến đấu một mất một còn với kè thù xâm lược

Tuy nhiên, khi tả rừng xà nu bị tàn phá dữ dội, cảm hứng của tác giả không phải là cảm hứng đau thương Đạn đại bác của kẻ thù có thể tàn phá rừng xà nu nhưng không thể nào hủy diệt được sự sống Sự sống luôn mạnh hơn cái chết : Trong rừng ít có loại cây sinh sôi nảy nở khỏe như vậy Cạnh một cây xà nu mới ngã gục, đã có bốn năm cây con mọc lên, ngọn xanh rờn, hình nhọn mũi tên lao thẳng lên bầu trời Cũng có ít loại cây ham ánh sáng mặt trời đến thế Nó phóng lên rất nhanh để tiếp lấy ánh nắng… Cứ thế, các thế hệ xà

nu giống như những điệp khúc xanh, ngân vang bất tận trong tâm hồn người đọc Ngòi bút của Nguyễn Trung Thành tha thiết ngợi ca vẻ đẹp thiên nhiên và sự sống bất diệt Đấy là điều chủ yếu làm nên chất nhân văn sâu đậm trong thiên truyện ngắn này

Tác giả đã khai thác triệt để thế mạnh của phép tu từ nhân hóa để miêu tả rừng xà nu Cây xà nu được nói đến như con người Hình ảnh rừng xà nu ưỡn tấm ngực lớn của mình ra, che chở cho làng mang ý nghĩa ẩn

dụ về thiên nhiên Tây Nguyên như một người mẹ hiền che chở cho những con người dũng cảm, kiên cường chiến đấu bảo vệ quê hương, đất nước

Trang 3

Rừng xà nu không chỉ là biểu tượng cho dân làng Xô Man bất khuất mà nhà văn còn đem đến cho nó một ý nghĩa rộng lớn hơn nhiều Cũng như trước đây, nhà văn đã từ cuộc chiến đấu cùa dân làng Kông Hoa chống Pháp để khái quát về sự đứng lên cùa cả đất nước Rừng xà nu do đó vừa là biểu tượng cho phẩm chất kiên cường, anh dũng của đồng bào Tây Nguyên, đồng bào miền Nam, vừa là biểu tượng cho cả dân tộc Việt Nam anh hùng trong các cuộc kháng chiến chống đế quốc, thực dân xâm lược

Để biến rừng xà nu thành một hình tượng nghệ thuật mang tính điển hình, Nguyễn Trung Thành đã hai lần nhắc đến hình ảnh cây xà nu Câu chuyện mở đầu bằng hình ảnh rừng xà nu và kết thúc cũng bằng hình ảnh rừng xà nu: Đứng ở đồi xà nu cạnh con nước lớn, nhìn đến hút tầm mắt cũng không thấy gì khác ngoài những đồi xà nu nối tiếp nhau chạy đến chân trời Lối kết cấu vừa đóng vừa mở khiến cho người đọc có cảm tưởng rằng truyện ngắn Rừng xà nu là một chương trong bẳn anh hùng ca bất tận về vùng đất Tây Nguyên Sức mạnh quật cường của con người không chỉ thể hiện ở dân làng Xô Man mà còn mở rộng ra đồng bào các dân tộc Tây Nguyên và cả dân tộc Việt Nam

Điều đáng chú ý là nhà văn Nguyễn Trung Thành đã xây dựng rừng xà nu thành một hình tượng nghệ thuật song song với những hình tượng nhân vật điển hình

Rừng xà nu quen thuộc đã thành biểu tượng của cuộc sống đau thương nhưng kiên cường và bất khuất Từ biểu tượng cho thiên nhiên, rừng xà nu mở rộng thành biểu tượng của đời sống con người Cây xà nu hiện diện trong đời sống hằng ngày đã bao đời của dân làng Xô Man: Ngọn lửa xà nu bập bùng cháy trong bếp mỗi nhà, trong đống lửa lớn giữa nhà ưng, nơi tập trung của dân làng; nhựa xà nu rừng rực cháy trên ngọn đuốc giữa đêm trường, khói xà nu quét đen tấm bảng cho anh Quyết dạy Tnú và Mai học chữ… Cây xà nu còn tham dự vào những chuyện trọng đại của làng: đuốc xà nu cháy sáng trên tay cụ Mết và dân làng trong đêm vào rừng lấy giáo mác chuẩn bị cho đồng khởi Đêm đêm, dân làng mài vũ khí dưới ánh đuốc xà nu Giặc đốt mười đầu ngón tay Tnú bằng giẻ tẩm dầu xà nu Lửa xà nu soi rõ xác lũ lính chết ngổn ngang quanh đống lửa lớn giữa làng…

Đọc Rừng xà nu, người đọc liên tưởng đến sự gắn bó sóng đôi giữa các lứa xà nu và các thế hệ dân làng

Xô Man Giống như rừng xà nu, cây lớn vừa ngã xuống đã có cây con mọc lên thay thế Anh Quyết hi sinh

đã có Tnú thay anh Chị Mai ngã xuống đã có Dít tiếp tục công việc của chị gái để lại Khi Tnú bị giặc bắt

và hành hạ dã man, cụ Mết đã kêu gọi tất cả thanh niên trong làng, mỗi người một cây rựa sáng loáng xông lên tấn công quân giặc… Sau khí Tnú vào quân Giải phóng được mấy năm thì cậu bé Heng đã lớn nhanh như thổi, thay anh làm liên lạc cho cán bộ cách mạng Dân làng Xô Man như rừng xà nu, dưới mưa bom bão đạn của quân thù vẫn sống… không có gì mạnh bằng, cây mẹ ngã, cây con mọc lên, đố nó giết hết rừng xà

nu này

Sức sống của rừng xà nu là bất diệt, dòng nhựa quý báu của xà nu được truyền lại nguyên vẹn từ những cây

xà nu cổ thụ đến những cây non mới mọc Dòng máu Tây Nguyên bất khuất cũng được truyền lại trọn vẹn

từ thế hệ này sang thế hệ khác Điều thiêng liêng ấy một lần nữa khẳng định chân lí: Sức sống của thiên nhiên và con người Tây Nguyên là bất diệt Khi dân làng Xô Man cầm vũ khí nhất tề đứng lên khởi nghĩa, thì những cánh rừng xà nu cũng như đang sôi sục trong cơn thịnh nộ rung chuyển đất trời: Suốt đêm nghe cả rừng Xô Man ào ào rung động Và lửa cháy khắp rừng…

Nguyễn Trung Thành đã miêu tả thành công hình tượng rừng xà nu Nó vừa là không gian thực, khung cành thiên nhiên thực ở làng Xô Man, vừa có ý nghĩa khái quát và tượng trưng rất cao Cả hai khía cạnh này đều được tác giả thể hiện một cách rất nghệ thuật, làm nên vẻ đẹp độc đáo của hình tượng rừng xà nu Cây xà

nu, rừng xà nu đã thực sự trở thành linh hồn của tác phẩm Cảm hứng chủ đạo của nhà văn và giá trị nội dung, giá trị nghệ thuật của tác phẩm được tạo nên từ chính hình ảnh đó

Trang 4

V TÀI LIỆU THAM KHẢO:

A Phân tích hình tƣợng cây xà nu trong tác phẩm Rừng xà nu của Nguyễn Trung Thành

Rừng xà nu trở thành một kiệt tác bất hủ dành tặng cho người dân Tây Nguyên với những con người bất khuất kiên cường thủy chung với Cách mạng Không chỉ có vậy, tác phẩm còn khắc họa lên hình tượng cây

xà nu với vẻ đẹp hùng tráng, đại diện cho vẻ đẹp của người dân Tây Nguyên

Để giới thiệu cho độc giả về hoàn cảnh sáng tác của tác phẩm Rừng xà nu, nhà văn Nguyễn Trung Thành”

đã tâm sự: “Ngay từ năm 1962, trên đường vào miền Nam công tác, đến tỉnh Thừa Thiên, giáp Lào, tôi được chứng kiến những rừng xà nu bát ngát xanh tít tận chân trời Đấy là những cây họ thông, hùng vĩ và cao thượng, Mai dại và trong sạch Mỗi cây cao vút vạm vớ nhựa ưá ra, tán lá vừa thanh nhã vừa rắn rỏi” Những cây xà nu có phẩm chất đặc biệt ấy đã gây ấn tượng mạnh mẽ và khơi nguồn cảm hứng cho tác giả

ba năm sau (1965) tạo dựng lên hình tượng cây xà nu đặc sắc này

Tác giả đã dùng ngôn ngữ hình ảnh đặc sắc để khắc họa lên hình tượng cây xà nu với những phẩm chất phi thường Trong truyện ngắn này, nhà văn không chỉ mở đầu và kết thúc truyện bằng hình ảnh rừng xà nu bát ngát đến chân trời, mà đã gần 20 lần nói đến “Rừng xà nu” “Cây xà nu”, “nhựa xà nu”, “lửa xà nu”… Chất

sử thi của thiên truyện sẽ không trở thành giọng điệu chính của tác phẩm, nếu thiếu đi hình tượng cây xà nu được khai thác từ nhiều góc độ, được lặp đi lặp lại nhiều lần đến như vậy, nhất là “các đồi xà nu – 4 lần”;

“Rừng xà nu – 5 lần” Thủ pháp điệp ngữ khi mô tả cây xà nu đó, vừa làm nền cho toàn bộ diễn biến của câu chuyện, vừa gây ấn tượng sâu sắc cho người đọc về cây xà nu.Nhưng xà nu không chỉ có mặt trong đoạn mở đầu và đoạn kết, mà nó còn hiện diện trong suốt câu chuyện về Tnú và làng Xôman của anh Xà nu gắn bó với cuộc sống sinh hoạt hàng ngày như đã từ ngàn đời nay thân thuộc với dân làng: ngọn lửa xà nu nấu ăn trong mỗi bếp, đuốc xà nu soi sáng đường rừng đêm, lửa xà nu cháy bập bùng trong nhà ưng tập trung cả dân làng Khói xà nu đen nhẻm thân hình lũ trẻ; khói xà nu còn làm tấm bảng đen cho anh Quyết dạy Tnú, Mai học chữ cụ Hồ

Xà nu luôn gắn bó với mọi hoạt động của dân làng Xoman, ngọn đuốc xà nu cháy sáng trong tay cụ Mết dẫn

cả dân làng đi vào rừng sâu lấy giáo mác đã giấu kỹ về chuẩn bị cho cuộc nổi dậy Đêm đêm cả dân làng thức mài vũ khí dưới ánh đuốc xà nu Giặc đốt hai bàn tay Tnú bằng giẻ tẩm nhựa xà nu, lửa xà nu đốt lên lòng căm thù trong lòng người dân Xôman Rồi ngọn lửa đuốc xà nu soi sáng rực cả làng cái đêm khởi nghĩa; soi rõ xác 10 tên lính nằm ngổn ngang quanh đống lửa …Hình tượng cây xà nu qua ngòi bút Nguyễn Trung Thành đã trở thành một nhân chứng về tội ác của chiến tranh hủy diệt; là người chứng kiến cho sự giác ngộ, hy sinh thầm lặng và sự quất khởi của người dân Xôma Đó là hành động anh hùng, kiên cường bất khuất, tượng trưng cho khí phách của cả làng

Tác giả đã miêu tả lại những mất mát mà bom đạn giặc đã tàn phá làng mạc, tàn phá con người Tây Nguyên Tác giả đã đặt ngay cây Xà nu vào bối cảnh khốc liệt của chiến tranh “ Làng nằm trong tầm đại bác của giặc…” Cây Xà nu vừa là người chứng kiến sự tàn khốc của chiến tranh, vừa là đối tượng hủy diệt của bom đạn kẻ thủ “Cả rừng xà nu hàng vạn cây, không cây nào bị thương Có những cây bị chặt đứt ngang thân mình, đổ ào như một cơn bão” Ở một chỗ khác, tác giả tả kỹ hơn “nơi chỗ vết thương nhựa ứa ra tràn trề thơm ngào ngạt long lanh nắng hè gay gắt, rồi dần dần bầm lại đen và đặc lại quện thành cục máu lớn” Hình ảnh đó gợi lên nỗi đau thương mất mát, lòng căm thù, kết tụ ý chí phản kháng

Phẩm chất của cây xà nu được tượng trưng cho người Tây Nguyên như giàu khát vọng tự do, giải phóng, phẩm chất anh hùng, sức sống mãnh liệt của các thế hệ nối tiếp nhau Chính vì hình ảnh Cây xà nu mang ý nghĩa tượng trưng, nên sự miêu tả loài cây này, luôn luôn được tác giả đặt trong sự đối chiếu với con người, gợi ra những liên tưởng về đời sống và số phận cùng phẩm chất của họ Cây xà nu rất ham ánh sáng và khí trời: “nó phóng lên rất nhanh để tiếp lấy ánh nắng” Cũng như Tnú, như dân làng Xôman yêu tự do, khát khao ánh sáng Bất chấp sự hủy diệt tàn khốc của bom đạn kẻ thù, cây xà nu vẫn vươn lên với một sức sống

Trang 5

mãnh liệt không gì tiêu diệt, tàn phá nổi “Bên cạnh một cây Xà nu mới ngã gục, đã có 4, 5 cây con mọc lên ngọn xanh rờn hình nhọn như mũi tên lao thẳng lên bầu trời”, cũng như các thế hệ làng Xôman, lớp này kế tiếp lớp khác đứng lên, tiếp tục cuộc chiến đấu:“Tuốt gươm không chịu xuống quỳTuổi xanh chẳng tiếc sá chi bạc đầuLớp cha trước, lớp con sau Đã thành đồng chí chung câu quân hành” (Tố Hữu)Anh Quyết hy sinh thì có Tnú, Mai Mai ngã xuống giữa tuổi thanh xuân tràn đầy nhựa sống như Cây xà nu bị chặt đứt ngay giữa thân mình, thì Dít đã lớn lên, và nhanh chóng đến không ngờ trở thành Bí thư chi bộ, chính trị viên xã đội Rồi những bé Heng, thế hệ tiếp theo của Dít cũng đang lớn lên tiếp bước đàn anh Chính cụ Mết cũng đã khẳng định được cái sức sống bất tử ấy như một chân lí giản dị: “Không có cây gì mạnh bằng cây

xà nu đất ta, cây mẹ ngã, cây con mọc lên Đố nó giết hết rừng xà nu này”

Trong rừng xà nu rộng lớn và kiên cường ấy còn xuất hiện những cây khác vững chãi, không chịu khuất phục trước giông bão, đạn bom của kẻ thù “ưỡn tấm ngực lớn của mình che chở cho xóm làng” Phải chăng

đó là hình ảnh cụ Mết - hiện thân của tinh thần quật khởi, người đã nuôi ngọn lửa khát vọng tự do, gắn bó với Cách mạng? “Có những Cây xà nu cành lá xum xuê như những con chim đã đủ lông mao, long vũ, đạn đại bác không gíêt nổi chúng Những vết thương của chúng chóng lành như trên một cơ thể của chúng chóng lành như trên một cơ thể cường tráng” Tất cả nối tiếp nhau tạo thành một đội ngũ trùng trùng điệp điệp như rừng xà nu nối tiếp nhau chạy đến chân trời.Thủ pháp nghệ thuật so sánh, đối chiếu như một ẩn dụ trên đây trong khi mô tả Cây xà nu, đã tạo nên sự chuyển hóa, hòa hợp giữa hình tượng thiên nhiên và con người, tạo nên một bản hợp xướng đầy chất thơ hào hùng tráng lệ về sức sống bất diệt và cuộc chiến đấu bất khuất kiên trung của nhân dân Tây Nguyên giành tự do

Nguyễn Trung Thành quả thật đã rất sáng tạo khi mượn hình tượng cây xà nu để ca ngợi phẩm chất phi thường của đồng bào dân tộc Tây Nguyên Rừng xà nu đã trở thành linh hồn của tác phẩm, là niềm tự hào của dân tộc và hiện thân của những con người yêu tự do, dồi dào sức sống, bất khuất kiên trung, thủy chung với Cách mạng

B BÀN TAY TNÚ (Nhà phê bình Nhị Ca)

Truyện ngắn đó của Nguyễn Trung Thành, Rừng xà nu, tôi đọc từ ngày nó mới in lần đầu, khoảng cũng

mười năm rồi Về sau nghĩ lại, thấy hiện lên rõ nhất là hình ảnh bàn tay Tnú và những trang mở đầu cùng đoạn kết diễn tả cây xà nu Cái cây và bàn tay đó là hai điểm tựa cho việc nhớ lại tất cả những câu chuyện

kể lại điểm sáng lớn thu hút các điểm sáng nhỏ nhấp nháy trong óc liên tưởng

Quả thực nhìn bàn tay, tạm đoán được lý lịch một con người Có bàn tay trẻ thơ bụ bẫm, năm ngón xoè

ra như năm cánh hoa, ấp vú mẹ Có cái bắt tay giao tiếp bạn bè, hờ hững lạnh nhạt hoặc siết chặt đằm thắm Rồi tay tìm tay tình tự Có bàn tay vạm vỡ, chai sần, gân nổi chằng chịt của người chài lưới, cày cuốc, làm thợ, nói lên một đời lam lũ Có bàn tay thon dài tháp bút đánh đàn, nặn tượng Tay nuôi người và tay cầm dao, cầm sung bảo vệ người Cả bàn tay nhàn rỗi được giũa mòng thêu son, đeo ngọc Tôi nghĩ đến bàn tay thê thảm của một người đàn bà thời Chiến quốc tàn bạo, đã bị Thái tử Đan chặt đứt để dâng lên Kinh Kha, đáp lại cái ân giúp mình tranh bá đồ vương, sẵn sàng cho đi cái không thể cho đuợc Tôi lại nghĩ đến hai ba chục trang sách trong một cuốn truyện của Xtêphan Xwai, chỉ đặc tả toàn những bàn tay đặt tiền, thu tiền, vay tiền, trả tiền trên một chiếu bạc, những bàn tay béo múp và khẳng khiu, run rẩy và bình tĩnh, bàn tay vồ chộp và thong thả đưa ra rút về, mỗi bàn tay là một tâm trạng, một số phận đam mê tội lỗi Tôi nghĩ đến bàn tay suốt ngày rửa xà phòng, rất sạch và thơm, nhưng chính nó vừa trao bản danh sách những người kháng

chiến cho phát xít Giétxtapô lùng bắt, bàn tay tên tư sản Pháp gian, trong cuốn Thất thủ Pari của I Êrenbua

Điện ảnh đưa lên màn bạc bàn tay uất ức của người da đen Ôtenlô Bây giờ thêm bàn tay căm thù của Tnú

Thoạt đầu là “hai bàn tay anh lúc ấy còn lành lặn”, bàn tay chú bé Tnú dắt cô bé Mai lên rẫy trồng tỉa,

xách xà lét giấu vài lon gạo đi nuôi cán bộ Quyết trốn ở rừng; bàn tay cầm viên phấn bằng đá trắng, lấy từ núi Ngọc Linh về, viết lên bảng đen đan bằng nứa hun khói xà nu, để học chữ y dài, chữ o thêm móc thành

Trang 6

a; bàn tay cầm đá đập vào đầu vì học dốt; bàn tay mang công văn đi làm liên lạc; hai bàn tay mà Mai đã cầm

lấy, ở gốc cây to đầu rừng làng, khi Tnú thoát ngục Kon Tum, bàn tay duyên nợ Mai vừa cầm vừa “ứa nước mắt khóc, không phải như một đứa trẻ nữa mà như một người con gái đã lớn, vừa xấu hổ vừa thương yêu” Bàn tay nguyên vẹn đó không còn Cụ Mết có bàn tay nặng trịch nắm chặt như kìm sắt, hỏi: “Mười ngón tay mày vẫn cụt thế à? Không mọc ra được nữa à! Ừ! ” Câu hỏi đó rất đột ngột, như người sực tỉnh,

chợt nhớ đến một điều hệ trọng Ông cụ hỏi và tự trả lời Sự thật đau đớn không tin là thật, cụ ngạc nhiên

sao ngón tay lại cụt, cụt rồi sao không mọc lại? Một tiếng “ừ” cam chịu và đe doạ Cụ giận dữ nói tiếp:

“ Được! Ngón tay còn hai đốt cũng bắn súng đuợc Mày có đi qua chỗ rừng xà nu gần con nước lớn không? Nó vẫn sống đấy” Đúng thế, con người, thiên nhiên, đất nước vẫn sống, vượt lên mọi đoạ đày,

chém giết

Cây xà nu ở Xô Man mọc thành rừng “ưỡn tấm ngực lớn che chở cho làng” Nhựa nó “thơm ngào ngạt, long lanh nắng hè gay gắt”, nó sinh sôi nảy nở khoẻ “ một cây mới ngã gục, đã có bốn năm cây mọc lên, ngọn xanh rờn, hình nhọn mũi tên lao thẳng lên bầu trời” như thế hệ trẻ Dít, Heng nối tiếp Tnú, Mai - lớp

người này đã từng thay thế Quyết Xà nu đốt lên làm ngọn lửa thổi cơm, xông khói sưởi ấm, lem luốc cả lũ trẻ không áo mặc, làm đuốc soi cho Dít giã gạo, cháy giần giật trong gió, trong mưa soi đưòng cho cụ Mết dẫn dân làng vào rừng lấy giáo, mác, dụ, rựa giấu kỹ đem ra nổi dậy Cây mọc bên con nước lớn, bên con suối nhỏ, cây ham ánh nắng còn Tnú ham tự do, đi đâu cũng nhớ trở về làng Đạn đại bác rót thành lệ mỗi ngày, sát thương hàng vạn cây Cây bị chặt đứt ngang thân, đổ xuống ào ào, chết lập tức tại trận, giữa tuổi xanh cây Như Mai chết giữa tuổi thanh xuân, sau kì sinh nở Cây bị thương ứa nhựa tràn trề như máu xối Máu đổ bao giờ cũng gây một cảm giác thiêng liêng, máu chảy là sự sống đang bị rời đi từng giọt từng giây,

là giao điểm tiếp cận cái hư vô, vĩnh cửu Nhựa xà nu “bầm đen lại và đặc quyện lại thành từng cục máu lớn”, cục máu không tan như một di hận đòi trả thù Nhưng có thân cây, có bàn tay vượt qua thử thách, lành

lại vêt thương, lên da non, cường tráng như cũ

Bàn tay Tnú là bàn tay tín nghĩa, không biết bội phản Cũng là một bàn tay chỉ đường “Lưng Tnú ngang dọc những vết dao chém – Cộng sản đâu, chỉ ra! Tnú nói nhỏ : - Cởi trói đã, tay mới chỉ được Chúng nói cởi trói tay, Tnú để bàn tay ấy lên bụng mình: - Ở đây này!” Lại thêm những nhát dao băm lên lưng Tnú,

máu ứa đông lại, tím thâm như nhựa xà nu Chất nhựa, chất dầu xà nu xưa nay vẫn giúp ích cho dân làng Con người trông cây, cây phục vụ cuộc đời Lẽ tự nhiên thuận trời, thuận đất là như vậy Nhưng có sự can thiệp của lực lượng phản động, quy luật bị đảo ngược Cuộc sống thoái hoá Vật và người đối lập nhau, loại trừ nhau Nguyên tử làm ra điện cũng làm ra bom ném đầy đất Nhật Một nửa thế giới thiếu ăn nhưng thóc gạo, thịt bò tươi vẫn bị đổ xuống biển, chôn xuống đất, để giữ mức lãi cao Thằng Dục tẩm dầu xà nu vào giẻ rồi quấn lên mười đầu ngón tay Tnú, mười điểm chót vót, bén nhậy nhất của hệ thần kinh Dầu xà nù bắt lửa rất nhanh Nó châm lửa đốt dần từng ngón tay Tnú, như muốn thong thả nhấm nháp cái thích thú đao

phủ đó “Mười ngón tay đã thành mười ngón đuốc” Dầu xà nu rất thơm nay khét lẹt mùi thịt cháy Thằng

Dục không phải là người Mỹ, dầu xà nu không phải là xăng dầu nhập cảng, kẻ thù thâm hiểm hằng giấu bàn tay diệt chủng, dùng người của chúng ta giết chúng ta

Bản năng yêu thương đã khiến Tnú xông ra cứu vợ con Nhưng vợ con vẫn chết, còn mình bị tra tấn Vì

như cụ Mết nói: “ mày chỉ có hai bàn tay trắng, chúng nó trói mày lại tao không nhảy ra cứu mày Tau cũng chỉ có hai bàn tay không” Những bàn tay trắng, những bàn tay không đó, có lý trí hướng dẫn, được tổ

chức lại, sẽ làm nổi cơ đồ Cụ Mết đi gọi thanh niên, đi tìm vũ khí Câu chuyện dẫn tới đỉnh điểm với chân

lý giản dị, sáng chói: “Chúng nó đã cầm súng, mình phải cầm giáo!”

Lửa đã tắt trên mười đầu ngón tay Tnú Nhưng mười ngọn đuốc thịt da đó đã kịp làm mồi châm ngọn lửa nổi dậy Sau tiếng thét của Tnú, dân làng bột phát giết sạch mười tên giặc Rồi vết thương lành lại Mỗi ngón tay cụt một đốt Còn lại hai đốt vẫn có thể cầm giáo, bắn súng Như cây xà nu bị mảnh đạn ứa nhựa

Trang 7

tím bầm còn vươn cành đứng đó Bàn tay không như cũ, nhận thức không thể như cũ Tnú đã trả giá đắt

nhưng có một kinh nghiệm lớn: “Chúng nó đứa nào cũng là thằng Dục” Và tình cảm của anh cũng đứng

ngang tầm kinh nghiệm đó Căm thù trong anh cháy giần giật như nhựa xà nu bén nhạy Có súng, anh không bắn Có dao, anh không đâm Những thằng Dục mở mắt trắng dã nhìn tang chứng tội ác hiển hiện của chúng, nhìn bàn tay quả báo, bàn tay cụt mười ngón đang xoè ra bóp cổ chúng, không ngờ sự trừng phạt lại đến nhanh chóng và ghê gớm như vậy

Cụ Mết “lại đặt bàn tay nặng như sắt lên vai Tnú: - Được! Hà hà ” Tiếng cười át tiếng đại bác từ đồn

giặc vẫn bắn vào đồi xà nu

“Tnú lại ra đi”

(Nguồn: Tạp chí Văn nghệ quân đội số 8/1976)

C GIÁO, MÁC VÀ BÀN TAY TNÚ (Nghĩ về một chi tiết trong Rừng xà nu của Nguyễn Trung

Thành – T.s Phạm Hữu Cường)

Dù đã được đọc những bài viết rất hay, rất tinh tế và sắc sảo về Rừng xà nu, nhất là bài viết của nhà phê bình Nhị Ca (Tạp chí Văn nghệ quân đội số 8/1976) và của nhà giáo Đỗ Kim Hồi (Giảng văn Văn học Việt Nam 1945 – 1975 – NXB Giáo dục H.1994, tr.125), nhưng tôi vẫn thấy truyện ngắn này dường như còn

ngầm ẩn một chiều sâu nữa của tư tưởng Nguyễn Trung Thành Trong vô vàn những chi tiết tài hoa, câu

chuyện có một chi tiết cứ ám ảnh tâm trí người ta mãi, chi tiết Tnú dùng đôi bàn tay “mỗi ngón cụt một đốt”

bóp cổ thằng chỉ huy, mà anh gọi là thằng Dục

Câu chuyện về “một đời người được kể trong một đêm” này tập trung làm nổi bật cái chân lý thời đại,

chân lý cách mạng giản dị mà sâu sắc, được thể hiện qua lời cụ Mết, qua những hình tượng nghệ thuật sinh

động, bão hoà cảm xúc: “Chúng nó đã cầm súng, mình phải cầm giáo!” Chân lý này giúp người ta ý thức

được tầm quan trọng của vũ khí, của bạo lực cách mạng trong việc chống lại sức mạnh hung bạo và

sự huỷ diệt của kẻ thù “Tnú chỉ có tay không giữa quân thù đầy vũ khí Và khi chỉ có tay không, thì Tnú

cũng không cứu được chính đời mình”, “không bảo vệ được sự sống và tình yêu”, “không bảo vệ được hòn máu của đời anh” (Đỗ Kim Hồi) Nhận xét này thật tinh tế và sắc sảo Nhưng liệu có phải vũ khí là tất cả?

Có phải những bàn tay trắng không chống lại được kẻ thù, không bảo vệ được những gì yêu quý? Nếu chỉ thế, có lẽ Nguyễn Trung Thành đã chẳng phải cất công để Tnú kể thêm câu chuyện giết thằng Dục –

“Chúng nó đứa nào cũng là thằng Dục” – dưới hầm ngầm: “Này, tau có súng đây, tau có cả dao găm đây Nhưng tau không giết mày bằng súng, tau không đâm mày bằng dao nghe chưa! Dục! Tao giết mày bằng mười ngón tay cụt này thôi, tau bóp cổ mày thôi!” Bàn tay cầm vũ khí, bàn tay báu vật của con người, bị kẻ

thù huỷ hoại “ngón nào cũng cụt một đốt” nhưng vẫn giết được kẻ thù, thậm chí không cần vũ khí Sức

mạnh thực sự là ở bàn tay con người, ở ý chí và lòng dung cảm, ở tinh thần quật khởi cách mạng chứ đâu phải chỉ ở vũ khí? Con người Việt Nam đã chiến thắng cuộc chiến tranh huỷ diệt được thực hiện bởi

những vũ khí hiện đại nhất , những phương tiện vật chất kỹ thuật đầy đủ, tinh xảo nhất của nước Mỹ siêu

cường quân sự, không phải bằng việc “lấy vũ khí đáp lại vũ khí” mà trước hết ở tinh thần: “Rắn quấn bên chân vẫn diệt thù”, “Một cây ná, một cây chông cũng tiến công giặc Mỹ!” (Tố Hữu) Những cây tre làng bình dị chỉ có thể trở thành luỹ thép “cản xe cơ giới của giặc” khi ở trên đôi vai của người thanh niên yêu nước (Đôi mắt - Nam Cao), trở thành vũ khí quét sạch giặc thù khi được vung lên từ đôi tay của chú bé làng

Gióng phi thường Cuộc kháng chiến chông Pháp, kháng chiến chống Mỹ đã để lại bao nhiêu tấm gương con người Việt Nam dùng tay không đánh giặc, bắt giặc Có thể nói, trong thực tế đấu tranh của dân tộc Việt

Nam, cũng như trong truyện ngắn Rừng xà nu, vũ khí có vai trò rất quan trọng nhưng không phải là tất

cả Suy nghĩ về cái chân lý thời đại mà Nguyễn Trung Thành gửi gắm qua luận đề trung tâm của tác phẩm

“chúng nó đã cầm súng, mình phải cầm giáo!”, người ta thường quá chú ý đến sự đối lập “súng – giáo” mà hầu như quên đi hình ảnh những con người tự xưng là “mình” khiêm nhường, bình dị, thân thiết nhưng có

Trang 8

đủ dũng khí cầm dáo mác trong tay Không có những con người ấy, những bàn tay ấy, làm sao khí giới thiếu

thốn thô sơ (giáo, mác) có thể chống lại được vũ khí hiện đại, đầy đủ (súng)? Ngay cả Tnú, khi nhảy ra cứu Mai, dù có dáo mác trong tay, dù không chỉ có “hai bàn tay trắng” nhưng đơn độc giữa bọn lính đã “lên đạn lách cách quanh anh”, liệu có thể bảo vệ được mình, bảo vệ được tình yêu và hạnh phúc? Chiến công

phi thường giết hết cả 10 tên giặc của làng Xôman trong đêm đồng khởi không chỉ được làm nên bởi sức mạnh của dáo mác, mà chủ yếu là ở sự đồng lòng chung sức quật khởi của dân làng, trước những mất mát

đau thương, trước kẻ thù man rợ: “Lẽ nào trời đất dung tha ! Ai bảo thần dân chịu được?” (Nguyễn Trãi)

Nguyễn Trung Thành, vì vậy, khi cẩn thận kể thêm chi tiết Tnú dùng hai bàn tay không, hai bàn tay cụt đốt

bóp cổ thằng giặc chỉ huy dưới hầm ngầm, không phải chỉ để nói “bàn tay trừng phạt”, “bàn tay quả báo”,

mà để bổ sung thêm cho cái chân lý thời đại, cho lời phán truyền lịch sử của cụ Mết một ý nghĩa mới:

Giáo mác rất quan trọng, không thể không cầm vũ khí, nhưng cũng không nên ỷ nại vào vũ khí Cái quyết định cuối cùng vẫn là bàn tay con người, là sự đồng lòng chung sức của con người

Sự kế tiếp của những thế hệ Xôman, của Heng, Dít… là sự kế tiếp của những bàn tay, những con người dám cầm vũ khí, và biết làm cho vũ khí sinh sôi nhằm bảo vệ sự sống, hạnh phúc của mình Vũ khí đã xuất

hiện trong lời trối trăng của anh Quyết “Người còn sống phải chuẩn bị dáo, mác, dụ, rựa, tên, ná…”, trong lời nhắc của bé Heng: “Chông đấy, có chông đấy, không phải như trước đâu”, trong lời hịch của cụ Mết:

“Mỗi người phải tìm lấy một cây dáo, một cây ná, một cây dụ, một cây rựa Ai không có thì vót chông, năm trăm cây chông” Tất cả như gợi âm hưởng lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Bác: “Ai có súng dùng súng, ai có gươm dùng gươm, ai không có gươm thì dùng cuốc, thuổng, gậy, gộc…” Vũ khí đã ngày càng

hiện đại hơn qua khẩu súng trường Mát của bé Heng, qua cây tiểu liên Tôm-xông của Tnú Khẳng định tư

tưởng “chỉ những lực lượng vật chất mới đánh đổ được lực lượng vật chất” (C.Mác), phải dùng bạo lực

cách mạng để chống lại bạo lực phải cách mạng, vũ trang chiến đấu là con đường tất yếu để tự giải phóng

của nhân dân, khẳng định vai trò quan trọng của vũ khí trong đấu tranh cách mạng, nhưng Rừng xà nu

quyết không phải là nơi phô bày sức mạnh của vũ khí, mà là lời biểu dương, ngợi ca tấm lòng, khối

óc, sự kết đoàn và bàn tay của những con người dám cầm vũ khí để giành lại đất nước, để bảo vệ sự sống, bảo vệ hạnh phúc và bảo vệ chính mình!

(Bài đã in trên tuần báo Giáo dục và thời đại tháng 5/2001.)

VI ĐỀ TỰ LUYỆN VÀ HƯỚNG DẪN LÀM BÀI:

Phân tích hình tượng nhân vật Tnú qua truyện ngắn "Rừng xà nu"

I Mở bài

Nguyễn Trung Thành là nhà văn trưởng thành trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mĩ Ông là nhà văn có công đưa mảnh đất Tây Nguyên hoang sơ đến với văn học hiện đại Việt Nam Truyện ngăn Rừng xà nu là tác phẩm tiêu biểu của ông Tác phẩm đã xây dựng thành công hình tượng nhân vật Tnú , người con kết tinh mọi vẻ đẹp của nhân dân Tây Nguyên trên nền tập thể nhân dân anh hùng và hình tượng rừng xà nu hùng vĩ trong những ngày kháng chiến chống Mĩ gay go , ác liệt

II Thân bài

Rừng xà nu (1965) ra mắt lần đầu tiên trên Tạp chí văn nghệ quân giải phóng miền Trung Trung bộ (số 2- 1965), sau đó được in trong tập Trên quê hương những anh hùng Điện Ngọc

Sau chiến thắng Điện Biên Phủ, hiệp định Giơ-ne-vơ được kí kết, đất nước chia làm hai miền Kẻ thù phá hoại hiệp định, khủng bố, thảm sát, lê máy chém đi khắp miền Nam Cách mạng rơi vào thời kì đen tối Đầu năm 1965, Mĩ đổ quân ồ ạt vào miền Nam và tiến hành đánh phá ác liệt ra miền Bắc Rừng xà nu được viết vào đúng thời điểm mà cả nước ta trong không khí sục sôi đánh Mĩ Tác phẩm được hoàn thành ở khu căn

cứ của chiến trường miền Trung Trung bộ.Thông qua câu chuyện về những con người anh hùng ở một buôn

Trang 9

làng hẻo lánh, bên những cánh rừng xà nu bạt ngàn, xanh bất tận, tác giả đã đặt ra một vấn đề có ý nghĩa lớn lao của dân tộc và thời đại: Để cho sự sống của đất nước và nhân dân mãi mãi trường tồn, không có cách nào khác hơn là phải cùng nhau đứng lên, cầm vũ khí đứng chống lại kẻ thù tàn ác

Tnú là nhân vật trung tâm của tác phẩm Câu chuyện về cuộc đời anh là câu chuyện được sử thi hóa qua lời

kể của cụ Mết.Cuộc đời Tnú gắn liền với cuộc đời làng Xô Man Âm hưởng sử thi chi phối tác giả trong khi xây dựng nhân vật này Tác giả xuất phát từ vấn đề cộng đồng để phản ánh đời tư của Tnú Tnú được xây dựng như hình tượng một nhân vật mang tính lí tưởng Nhà văn lấy nguyên mẫu từ anh Đề, người dân tộc Xơ-đăng, ỏ Tây Nguyên Năm 1959, anh Đề đã cùng mười chàng trai trong bản giết toàn bộ một tiểu đội lính Diệm và bắt đầu cuộc chiến đấu vũ trang

Tnú là con của dân làng Xô Man Dân làng Xô Man nuôi dưỡng, đùm bọc anh, cưu mang anh “Nó là người Sa Trá mình, cha mẹ nó chết sớm, làng Xô Man này nuôi nó Đời nó khổ nhưng bụng nó sạch như nước suối làng ta” Chính tình thương yêu của đồng bào đã đem lại cho anh niềm tin yêu cuộc sống , tin vào chính mình , gắn bó sâu sắc với bản làng quê hương , với những gì thân thuộc như tiếng chày giã gạo của những cô gái , con nước mát lạnh đầu bản , những cụ già , những em nhỏ , …sau ba năm đi lực lượng , được về thăm làng , Tnú thấy bồi hồi , xúc động trước cảnh vật thân thuộc quê hương

Ngay từ nhỏ anh đã là người gan dạ, dám đi tiếp tế lương thực cho cán bộ, làm liên lạc cho cán bộ từ xã lên huyện Và cũng từ đấy Tnú bộc lộ một trí tuệ hơn người “Nó không thích lội nước chỗ êm cứ lựa chỗ thác mạnh mà bơi, vượt lên mặt nước, cưỡi lên thác băng băng như con cá kình” bởi theo Tnú “Qua chỗ nước êm thàng Mĩ - Diệm hay phục , qua chỗ nước mạnh nó không ngờ” Giặc vây các ngả dường thì Tnú leo lên một cây cao , nhìn quanh một lượt rồi xé rừng mà di , lọt qua tất cả các vòng vây Tnú nghe theo anh Quyết , cố học chữ để sau này thay anh lãnh đạo cách mạng Quyết tâm học chữ của Tnú thể hiện dứt khoát trong hành động tự đạp hòn đá vào đầu , máu chảy ròng ròng khi cậu thua Mai trong việc nhớ những con chữ Tnú từ nhỏ đã tâm niệm trong đầu câu nói của cụ Mết : Cán bộ là Đảng, Đảng còn, núi nước này còn Tnú là hiện thân của sự trung thành tuyệt đối với cach mạng , với Đảng, là hiện thân của sự khoẻ mạnh với

bộ ngực rộng rãi, hai cánh tay khoẻ chắc như lim, là sự bất khuất kiên cường đã được thử thách qua tra tấn

dã man và sự tù đày cuả kẻ thù Tnú cường tráng như một cây xà nu lớn Tnú không hề biết sợ hãi , không

hề biết khuất phục dù tàn bạo có hiện hình trong mũi súng hay lưỡi dao chém ngang dọc trên lưng Trong một lần chuyển thư của anh Quyết gửi về huyện , Tnú bị giặc bắt Họng súng chĩa vào tai lạnh ngắt , Tnú kịp nuốt luôn cái thư Giặc giam cầm , tra khảo Tnú dã man , lưng Tnú dọc ngang vết dao chém nhưng anh quyết không khai một lời Anh tìm cách vươt ngục về làng và tiếp tục sự nghiệp lãnh đạo dân làng chuẩn bị chiến đấu Sức mạnh của anh dường như tăng thêm bởi sự hun đúc của một tình yêu lớn với một người con gái luôn luôn hiền dịu, nhượng nhìn , của một gia đình hạnh phúc cùng Mai và đứa con nhỏ

Vậy mà bằng ấy cái có , Tnú đã không cứu dược mẹ con Mai khỏi bị kẻ thù giết hại Cuộc đời Tnú gắn liền với những đau thương mà không chỉ riêng anh gánh chịu Cái đau đớn mang trên thân xác Tnú là hiện hữu cái đau thương của dân làng Xô Man trong chiến tranh Mái ấm gia đình từng là mơ ước của biết bao đôi thanh niên ấy bỗng chốc tan nát bởi sự tàn ác của kẻ thù Mai và con anh bị kẻ thù giết chết ngay trước mắt anh Tnú không cứu được vợ, được con , đau đớn hơn chính bản thân anh cũng trở thành nạn nhân của sự bạo tàn mà kẻ thù đang sử dụng Vì Tnú cũng chỉ có tay không giữa quân thù đầy vũ khí Hình ảnh mười đầu ngón tay rừng rực cháy bởi nhựa xà nu như mười ngọn đuốc không chỉ có ý nghĩa tố cáo tội ác quân thù hay nói lên lòng dũng cảm của người chiến sĩ cách mạng mà còn nói lên một chân lí sâu sắc và tàn nhẫn : khi một Tnú có ý chí mà tay không thì ngay thứ nhựa xà nu thân thiết cái khối chất thơm ngào ngạt và như đọng nắng quê hương kia cũng có thể trở thành ngọn lửa hủy diệt chính những bàn tay vẫn hằng ngày chăm sóc, vun trồng cho nương rẫy

Trang 10

Tnú không cứu được mẹ con Mai Không thể chiến đấu với quân thù bằng tay không và lòng căm thù mù quáng Nhưng Tnú không chìm đắm trong đau thương mất mát, anh biết vượt qua nỗi đau ấy, biến đau thương thành căm hơn và tôi luyện ý chí chiến đấu Bị giặc bắt sau khi Mai chết, Tnú không nghĩ đến bản thân mà chỉ lo lắng đến việc ai sẽ tiếp tục lãnh đạo dân làng kháng chiến khi Đảng phát lệnh Chỉ còn cách cầm vũ khí, lúc đó lửa xà nu sẽ tắt trên bàn tay của Tnú Lửa xà nu chỉ còn soi xác giặc ngổn ngang Núi rừng Xô Man sẽ ào ào rung động “Chúng nó đã cầm súng, mình phải cầm giáo …” Đó là một chân lí lớn của cách mạng miền Nam: phải dùng bạo lực cách mạng để chống lại bạo lực phản cách mạng

Sau khi được cụ Mết và thanh niên giải thoát bằng chính giáo mác anh và buôn làng mài, Tnú gia nhập lực lượng chính quy Và có lẽ việc Tnú đi lực lượng cũng bắt nguồn từ lí tưởng đó Anh đi lực lượng để hiện thực hóa việc “cầm giáo” mà cụ Mết truyền dạy và cũng để có điều kiện chiến đấu chống lại kẻ thù xâm lược Ra đi để trả thù nước, rửa thù nhà Dù bàn tay anh mỗi ngón chỉ còn hai đốt, nhưng cử động được có nghĩa là cầm súng được Anh đi bộ đội, trở thành tấm gương lớn soi sáng cả một thế hệ ở làng Xô Man Đối với dân làng, Tnú là một biểu tượng cho sức mạnh, niềm tin và ý chí Bên cạnh cụ Mết, người cha tinh thần, Tnú là hiện thân của những khát vọng vươn lên Mỗi một việc làm của anh đều đem lại sự nhận thức cho mọi lứa tuổi Anh về thăm quê, cấp trên cho chỉ có một đêm, mặc dù nhớ làng bản, nhớ người thân nhưng anh vẫn vui vẻ bởi có chấp hành nghiêm túc nội qui quân đội mới là Tnú Chính những lúc vui vẻ nhất, anh định đùa nhưng những ánh mắt chờ đợi của mọi người anh lại thôi Bởi ở anh một lời nói, một hành động đều có thể để lại một tầm ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống và tinh thần của người dân Xô Man

Khi xây dựng nhân vật Tnú, Nguyễn Trung Thành đặc biệt dụng công miêu tả đôi bàn tay của anh Từ đôi bàn tay này, người đọc có thể thấy hiện lên không những cả cuộc đời mà cả những tính cách của nhân vật Khi còn lành lặn, bàn tay Tnú là bàn tay nghĩa tình, thẳng thắn Đấy là bàn tay cầm phấn học chữ do cán bộ dạy, bàn tay cầm đá ghè vào đầu để trừng phạt cái tội không nhớ mặt chữ , bàn tay đặt lên bụng để chỉ cộng sản ở đây … Tuy vậy ấn tượng mạnh nhất về đôi bàn tay của Tnú chính là đoạn cao trào của truyện, cũng là đọan đời bi tráng nhất của nhân vật Giặc quấn giẻ tẩm dầu xà nu vào mười đầu ngón tay và đốt “Mười ngón tay anh đã trở thành mười ngọn đuốc”, thiêu cháy cả ruột gan Tnú, anh “nghe lửa cháy trong lồng ngực, cháy ở trong bụng Máu anh mặn chát ở đầu lưỡi” Chứng kiến cảnh kẻ thù dã man đốt hai bàn tay của Tnú, dân làng Xô Man không thể kiềm chế được nữa đã bột phát vùng lên tiêu diệt lũ giặc, mở ra tràn sử đấu tranh mới của dân làng Từ đây bàn tay của Tnú thành tật nguyền, mỗi ngón chỉ còn hai đốt và như một chứng tích về tội ác của kẻ thù mà Tnú mang theo suốt đời Đến cuối tác phẩm, bàn tay tật nguyền đấy vẫn tiếp tục cầm súng giết giặc, vẫn có thể giết chết tên chỉ huy đồn địch dù nó cố thủ trong hầm Như vậy , có thể nói bàn tay Tnú được miêu tả trải dài theo suốt cả câu chuyện Dường như mọi nét tính cách cũng như

số phận và chiến công của Tnú đều gắn liền với hình ảnh hai bàn tay ấy

III Kết bài

Cũng như nhiều nhân vật văn học thời chống Mĩ, Tnú được xây dựng bằng bút pháp lãng mạn, giầu chất lí tưởng, là kết tinh vẻ đẹp anh hùng của người dân Tây Nguyên Qua nhân vật này Nguyễn Trung Thành muốn thể hiện một số phận nhất là con đường của nhân dân Tây Nguyên, nhân dân Miền Nam trong quá trình đấu tranh giải phóng: cần phải dùng bạo lực cách mạng để chống lại bạo lực phản cách mạng

Ngày đăng: 29/08/2017, 19:16

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w