Quá trình hình thành, phát triển và suy vong của nhà nước phương Đông cổ đại 1.1 Cơ sở hình thành nhà nước 1.1.1 Điều kiện tự nhiên Về vị trí địa lý: Ai Cập, Lưỡng Hà, Ấn Độ và Trung Qu
Trang 1PHẦN I NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT CHIẾM HỮU NÔ LỆ
Chương 1
NHÀ NƯỚC PHƯƠNG ĐÔNG THỜI KỲ CỔ ĐẠI
1 Quá trình hình thành, phát triển và suy vong của nhà nước phương Đông cổ đại 1.1 Cơ sở hình thành nhà nước
1.1.1 Điều kiện tự nhiên
Về vị trí địa lý: Ai Cập, Lưỡng Hà, Ấn Độ và Trung Quốc hoàn toàn tách biệtnhau, những giữa chúng có những điểm chung cơ bản về điều kiện tự nhiên như sau:
Một là, các quốc gia này đều nằm trên lưu vực các con sông lớn như sông Nile (Ai
Cập), sông Tigris và sông Euphrates (Lưỡng Hà), sông Hằng và sông Ấn (Ấn Độ), sôngHoàng Hà và sông Trường Giang (Trung Quốc)
Hai là, khí hậu nhiệt đới: mưa nhiều, độ ẩm cao
Ba là, có địa hình phức tạp và khép kín.
Ai Cập ở Đông Bắc châu Phi, với địa hình hầu như biệt lập với thế giới bên ngoàibởi bốn phía biên giới của Ai Cập là biển, rừng rậm và sa mạc Người Ai Cập cổ đại chỉ
có thể qua lại vùng Tây Á bằng eo đất Xinai rất hẹp ở phía Đông Bắc
Ấn Độ ở Nam Á và được ví như một tiểu lục địa vì bị ngăn cách với phần còn lại
bởi dãy núi Hymalaya cao nhất thế giới
Trung Quốc ở phía Đông châu Á, bị ngăn cách với phần còn lại bởi sa mạc Nội –Ngoại Mông
Trang 2Lưỡng Hà, trong bốn quốc gia, là có địa tương đối mở, nhưng cũng bao bọc nó là
sa mạc và thảo nguyên mênh mông
Những đặc điểm về điều kiện tự nhiên trên, trong thời kỳ cổ đại, chúng có nhiềuảnh hưởng đến nền kinh tế - xã hội của các quốc gia ở đây Những ảnh hưởng này có tácđộng rất lớn đối với quá trình ra đời của nhà nước ở đây
Một là, với những đồng bằng rộng lớn, không ngừng được bồi đắp phù sa màu mỡ
bởi các con sông lớn, cùng với khí hậu nhiệt đới đã thúc đẩy nền kinh tế nông nghiệp tướitiêu phát triển từ rất sớm
Hai là, để sản xuất nông nghiệp trên diện rộng và tránh thiên tai, lũ lụt do các con
sông tạo ra nên việc xây dựng các công trình thủy lợi được chú trọng từ rất sớm, trởthành nhu cầu cơ bản trong đời sống xã hội của cư dân phương Đông cổ đại
Ba là, địa hình khép kín phức tạp làm cho việc sinh sống ở các đồng bằng dọc theo
các con sông lớn rất thuận lợi, còn ở những nơi khác là vô cùng khó khăn nên từ rất sớm
cư dân sớm tập trung sinh sống ở các khu vực đồng bằng Hệ quả là từ việc tranh giànhnguồn đất, nguồn nước để tồn tại và mở rộng thế lực nên từ rất sớm nhu cầu tổ chứcchiến tranh đã hình thành và cũng trở thành nhu cầu cơ bản đối với dân cư phương Đông
cổ đại
Trang 3Ghi chú: Ai Cập nằm ở Đông Bắc châu Phi, phía Đông: giáp biển Hồng Hải; phíaTây: giáp vùng sa mạc Liby nóng bỏng, khô cằn; phía Đông Bắc: có vùng đất nhỏ hẹp là
eo đất Xinai là cửa ngỏ để Ai Cập tiếp xúc với Tây Á
Trang 4Ghi chú: Lưỡng Hà là vùng đất nằm giữa hai con sông Tigris và Euphrate, phía Bắc vàphía Đông giáp dãy núi Acmenia và cao nguyên Iran; phía Tây giáp thảo nguyên Syrie và
sa mạc Arabi; phía Nam là vịnh Pecxich
Trang 5Ghi chú: Ấn Độ cổ đại chủ yếu bao gồm phần đất Ấn Độ hiện đại, Pakistan, Nepal vàBangladesh Nhìn tổng quát Ấn Độ là một bán đảo nằm ở phía Nam châu Á, phía ĐôngBắc là dãy núi Himalaya, phía Tây Bắc là dãy núi Indu kush, phía Tây Nam là Biển Arập,phía Đông Nam là Vịnh Bengal.
Trang 6Ghi chú: Nhìn tổng quát, Trung Quốc là quốc gia ở phía Đông châu Á Khi mới thànhlập, đó là một vùng đất nhỏ hẹp thuộc lưu vực sông Hoàng Hà Sau đó, phát triểnxuống phía Nam đến lưu vực sông Trường Giang Đến cuối thời kỳ cổ đại, khoảng
Trang 7thế kỷ III TCN, phía Bắc là vùng đất toạ lạc Vạn Lý Trường Thành ngày nay, phíaNam là một dãy đất dọc theo hữu ngạn sông Trường Giang, phía Tây là phần ĐôngNam của tỉnh Cam Túc ngày nay và phía Đông là dãy đất ven biển Thái Bình Dương.
1.1.2 Những thay đổi kinh tế - xã hội dẫn đến hình thành nhà nước
Điều kiện kinh tế
Vào khoảng thiên niên kỷ thứ IV TCN, công cụ lao động bằng đồng xuất hiện.Hoạt động sản xuất với công cụ lao động bằng đồng đã sớm giúp cư dân phương Đông cócuộc sống định canh, định cư trên các đồng bằng phì nhiêu, màu mỡ Từ đó, xã hộiphương Đông bắt đầu có sự phân công lao động Vì nền kinh tế chủ đạo ở phương đông
là nông nghiệp nên sự công lao động không rõ ràng và tách bạch như ở phương Tây Tuynhiên, nó cũng đã làm cho năng suất lao động tăng và sản phẩm dư thừa bắt đầu xuấthiện Tư liệu sản xuất chủ yếu là ruộng đất ở phương Đông tồn tại phổ biến dưới chế độcông hữu do hoạt động sản xuất nông nghiệp hầu như hoàn toàn phụ thuộc vào điều kiện
tự nhiên (khí hậu, lịch trình của các con sông) Vì thế, chế độ tư hữu đã xuất hiện nhưngchậm chạp và chủ yếu là tư liệu sinh hoạt
Điều kiện xã hội
Khi kinh tế phát triển các tiểu gia đình trong đại gia đình thị tộc có xu hướng thoát
ly khỏi công xã thị tộc để sinh sống riêng Lúc này, quan hệ huyết thống không còn đủsức để ràng buộc các cá nhân chung sống với nhau nên công xã thị tộc tan rã Thay thếcác công xã thị tộc là công xã láng giềng mà ở phương Đông đa phần là các công xã nôngthôn - là đơn vị xã hội tồn tại lâu đời và có nhiều ảnh hưởng đến đời sống, kinh tế, xã hội,chính trị ở phương Đông
Mặt khác, khi công xã thị tộc tan rã cũng là lúc chế độ tư hữu xuất hiện Đó là quátrình mà thiểu số chức sắc trong xã hội nguyên thủy như: tộc trưởng, tù trưởng, thủ lĩnhliên minh bộ lạc chiếm được nhiều tài sản làm của cải riêng Họ dựa vào sức mạnh, ưuthế của mình để cướp bóc, chiếm đoạt tài sản, ruộng đất của các thành viên trong bộ lạccủa mình Đồng thời, họ chỉ huy tiến hành chiến tranh cướp tài sản của các bộ lạc khác,biến dân cư của những bộ lạc chiến bại thành nô lệ nên họ càng ngày càng giàu có và họ
Trang 8trở thành quý tộc thị tộc Còn đại đa số dân cư trở thành nông dân công xã giữ được một
ít tài sản Tuy nhiên, sự phân hóa giai cấp do tác động của điều kiện kinh tế nông nghiệp
và chế độ công hữu về ruộng đất nên diễn ra chậm chạp và mâu thuẫn giai cấp chưa thậtsâu sắc
Theo học thuyết của Mác – Lê nin về nguồn gốc nhà nước, khi mâu thuẫn giai cấptrong xã hội trở nên gay gắt, không thể tự điều hoà được thì giai cấp mạnh hơn sẽ thànhlập một tổ chức để đàn áp sự đối kháng của các giai tầng khác, đồng thời quản lý xã hộitheo một khuôn khổ nhất định, phù hợp với ý chí của họ để đảm bảo duy trì sự thống trị
về mặt giai cấp Tổ chức đó gọi là nhà nước
Trong khi đó, mặc dù, ở các quốc gia phương Đông cổ đại, mâu thuẫn giai cấpchưa đến mức gay gắt và sâu sắc, nhưng nhà nước vẫn xuất hiện và xuất hiện rất sớm.Nguyên nhân là chịu sự tác động và thúc đẩy của nhu cầu trị thủy, thủy lợi và chiến tranh
Tóm lại, quá trình trên thể hiện nét đặc thù của phương Đông cổ đại Bởi vì, ngoài
sự phân hóa giai cấp vận động theo quy luật chung, quá trình hình thành nhà nước ở vùngnày còn bị ảnh hưởng bởi hoạt động trị thủy và chiến tranh Tuy nhiên, hai yếu tố nàyđóng vai trò thúc đẩy nhanh tiến trình hình thành nhà nước, còn nguyên nhân chính dẫnđến sự xuất hiện nhà nước vẫn là sự phân hóa giai cấp
1.2 Lịch sử hình thành, phát triển và suy vong
1.2.1 Ai Cập
Lịch sử cổ đại của Ai Cập trãi qua 4 thời kỳ gồm: Tảo kỳ vương quốc, Cổ vương
quốc, Trung vương quốc, Tân vương quốc Về mặt thời gian là vào khoảng cuối thiênniên kỷ thứ IV TCN đến năm 225 TCN khi Ai Cập bị đế quốc Ba Tư thôn tính
Trang 9Ba Tư xâm chiếm Trong đó, thời gian từ thế kỷ XIX – XVIII TCN, thời kỳ Vương quốc
cổ Babylon là thời kỳ phát triển rực rỡ nhất
1.2.3 Ấn Độ
Đầu thiên niên kỷ III TCN đến giữa thiên niên kỷ thứ II TCN, ở Ấn Độ đã tồn tạinền văn minh Harappa và Môhenjo – Daro ở lưu vực sông Ấn Lịch sử cổ đại của Ấn Độkéo dài từ đó cho đến thế kỷ IV SCN với sự xuất hiện của vương triều Gupta là bướcngoặc đánh dấu sự xuất hiện chế độ phong kiến ở Ấn Độ Trong đó, có hai vương triềuthể hiện sự hưng thịnh và thống nhất của Ấn Độ cổ đại là vương triều Magada (thế kỷ VITCN) và vương triều Morya (cuối thế kỷ IV TCN)
2 Chế độ xã hội phương Đông cổ đại
Vấn đề này chủ yếu đề cập đến sự phân tầng trong xã hội phương Đông cổ đại và
sự tương tác của các giai tầng đó Nghiên cứu chế độ xã hội phương Đông cổ đại vớimục đích hiểu rõ hơn bản chất nhà nước và pháp luật của các quốc gia phương Đông cổđại
2.1 Kết cấu giai cấp
Trang 10Trong xã hội lúc này hình thành 3 giai tầng chính, đó là chủ nô, nô lệ và nông dâncông xã.
Giai cấp chủ nô
Gồm có: quý tộc thị tộc (vua, quan lại); quý tộc tăng lữ và những người giàu cókhác Họ đồng thời là giai cấp thống trị trong xã hội, nắm giữ nhiều ruộng đất, của cảitrong cả nước; đồng thời có nhiều quyền lợi chính trị
Giai cấp nô lệ
Nguồn chủ yếu của nô lệ gồm: tù binh chiến tranh, nông dân công xã bị phá sản vàcon của nô lệ
Nô lệ không có quyền lợi về kinh tế, chính trị, thậm chí bị xem là đồ vật hay công
cụ lao động, thuộc quyền sở hữu của chủ nô (chủ nô có quyền bán, chuyển nhượng, traotặng hoặc giết nô lệ của mình) Toàn bộ sản phẩm lao động do họ làm ra đều thuộc quyền
sở hữu của chủ nô
Nô lệ trong xã hội phương Đông cổ đại mang nặng tính gia trưởng vì:
Một là, số lượng nô lệ không chiếm đa số trong xã hội;
Hai là, lực lượng lao động chủ yếu trong xã hội không phải là nô lệ mà là nông
dân công xã, nô lệ chủ yếu làm công việc hầu hạ, phục dịch trong nhà chủ nô;
Ba là, mâu thuẫn đối kháng giai cấp trong xã hội không phải là mâu thuẫn giữa
chủ nô và nô lệ mà lại là mâu thuẫn giữa chủ nô và nông dân công xã
Nông dân chiếm đa số và là lực lượng lao động chủ yếu của xã hội Sống trong cáccông xã nông thôn Phần lớn họ là những người nghèo, ít ruộng đất phải nhận ruộng đấtcủa nhà nước từ các công xã nông thôn để cày cấy và đóng thuế cho nhà nước hoặc thuêruộng của các chủ nô và nộp tiền thuê đất hay hoa lợi thu hoạch được
Trang 11Họ được quyền làm người nhưng là đối tượng bóc lột chủ yếu của giai cấp chủ
nô Ngoài ra, họ còn phải cùng với nô lệ lao động khổ sai để xây dựng các công trình chonhà nước
Bên cạnh đó, còn có tầng lớp thợ thủ công, thương nhân, chiếm thiểu số trong dân
cư Thành phần của họ khá phức tạp nhưng nhìn chung họ là những người nghèo, chịu sựbóc lột của giai cấp chủ nô
Như vậy, trong xã hội phương Đông cổ đại kết cấu giai cấp đã hoàn chỉnh Giaicấp thống trị bao gồm chủ nô như vua, quan lại, tăng lữ, người giàu có Giai cấp bị trị baogồm nô lệ, nông dân công xã, thợ thủ công và thương nhân
2.2 Quan hệ giai cấp
Quan hệ giai cấp giữa giai cấp thống trị và toàn thể các giai tầng bị trị trong xã hội
phương Đông cổ đại là mâu thuẫn đối kháng Cụ thể là mâu thuẫn giữa giai cấp chủ nô
với nông dân công xã, nô lệ và thợ thủ công, thương nhân
Đặc điểm của quan hệ giai cấp trong xã hội phương Đông cổ đại được thể hiện ởmột số khía cạnh chủ yếu sau:
Trước hết, tuy nội bộ giai cấp thống trị đa dạng về thành phần (quý tộc thị tộc, quý
tộc tăng lữ, những người giàu có khác) nhưng chúng thống nhất trước sự đấu tranh củanhân dân lao động Nghĩa là nội bộ giai cấp thống trị không có sự cạnh tranh, đối khángvới nhau, mà là sự thống nhất chặt chẽ và hỗ trợ nhau để duy trì lợi ích thống trị về mặtgiai cấp
Thứ hai, mặc dù được xác định là chế độ chiếm hữu nô lệ nhưng với tính chất gia
trưởng cho nên quan hệ giữa chủ nô và nô lệ không đóng vai trò là mâu thuẫn giai cấpchủ đạo trong xã hội phương Đông cổ đại
Thứ ba, mâu thuẫn chủ đạo là mâu thuẫn giữa giai cấp chủ nô và nông dân công
xã Nguyên nhân xuất phát từ ngành kinh tế giữ vai trò chủ đạo là kinh tế nông nghiệp Dovậy, lực lượng nông dân công xã chiếm số lượng áp đảo trong xã hội và là lực lượng sản xuấtchính Theo đó, giai cấp chủ nô muốn giàu có và duy trì địa vị thống trị trong xã hội không
Trang 12cách nào khác hơn là bóc lột trực tiếp nông dân công xã Vì thế, mâu thuẫn giữa hai giai cấpnày trở thành mâu thuẫn cơ bản trong xã hội phương Đông cổ đại
2.3 Chế độ đẳng cấp ở Ấn Độ cổ đại
Bên cạnh sự phân hoá xã hội thành giai cấp, xã hội phương Đông còn phân biệtdân cư theo đẳng cấp Chế độ đẳng cấp ở Ấn Độ là chế độ đẳng cấp điển hình ở phươngĐông cổ đại và cả trong lịch sử thế giới cổ đại Chế độ đẳng cấp ở Ấn Độ cổ đại được hìnhthành từ Rig Veda Về mặt thời gian, vào khoảng 1000 TCN, chế độ dẳng cấp này bắt đầuxuất hiện rõ nét, được gọi là chế độ Vacna, trong tiếng Phạn gọi là “màu sắc, thực chất”
Truyền thuyết cho rằng các đẳng cấp khác nhau trong xã hội hình thành từ các bộphận trên cơ thể của thần Brahma vị thần tối cao, có 4 đẳng cấp:
Gồm tăng lữ Bà La Môn còn gọi là Brahman, là đẳng cấp cao quý nhất, được sinh
ra từ miệng thần Brhama, đọc kinh, giảng đạo, không phải lao động sản xuất ra của cảivật chất Đẳng cấp này thâu tóm quyền lực về văn hoá và tôn giáo, một số tham gia vào côngviệc triều chính như làm cố vấn
Đẳng cấp Ksatria
Đẳng cấp Ksatria, theo Rig Veda, được sinh ra từ tay của thần Brahma Họ họp thànhtập đoàn quý tộc quân sự – hành chính, nắm quân đội và chính quyền Đó là vua, quan lại vàbinh sĩ;
Đẳng cấp Vaishya
Gồm những người làm nông nghiệp, buôn bán và thợ thủ công, sinh ra từ đùi củathần Brhama Họ có nghĩa vụ sản xuất để nuôi sống 2 đẳng cấp trên Họ thuộc tầng lớpbình dân, có một số giàu có lên Họ tuy không có những đặc quyền trong xã hội, phải nộpthuế, phục vụ lớp người bóc lột thuộc hai tầng lớp trên, song họ vẫn có thân phận tự do
Đẳng cấp Shudra
Là những người cùng khổ nhất trong xã hội, là con cháu của các bộ lạc bại trận,không có tư liệu sản xuất và ở ngoài công xã nhưng không phải là nô lệ, nô lệ không đượcxếp vào đẳng cấp Đẳng cấp này được sinh ra từ bàn chân của thần Brahma Họ làm những
Trang 13công việc nặng nhọc nhất, nhưng không được pháp luật bảo hộ, không được tham gia vào cáchoạt động tôn giáo Nếu một Shudra nghe trộm tụng kinh thì sẽ bị đổ thiếc nung chảy vào tai.
Sự phân biệt đẳng cấp ở Ấn Độ rất khắc nghiệt, kéo theo sự phân biệt đối xử sâu sắctrong xã hội:
Người ở đẳng cấp dưới có nghĩa vụ phải tôn kính người ở đẳng cấp trên Kinh tôn
giáo Bà La Môn từng ghi rõ: “Một người Bàlamôn dưới 10 tuổi cũng có thể được coi là cha
của một kẻ ở đẳng cấp dưới, dù cho kẻ ấy đã 100 tuổi”.
Kết hôn phải cùng đẳng cấp, người đàn ông ở đẳng cấp cao hơn có quyền lấy ngườiphụ nữ ở đẳng cấp dưới làm vợ Nếu người đàn ông ở đẳng cấp dưới dám lấy một phụ nữ ởđẳng cấp cao trên làm vợ thì con của họ được xếp vào hạng “tiện dân” Thân phận “tiện dân”
vô cùng thê thảm, họ bị đặt ra ngoài vòng xã hội và không được tiếp xúc với con người
Chế độ đẳng cấp Vacna ảnh hưởng sâu sắc đến tổ chức quản lý nhà nước và quy địnhpháp lý ở Ấn Độ cổ đại
3 Tổ chức bộ máy nhà nước
3.1 Mô hình tổ chức bộ máy nhà nước
3.1.1 Các cơ quan nhà nước ở trung ương
Vua
Là người đứng đầu nhà nước, có quyền lực tối cao Mọi mệnh lệnh của vua có giátrị thi hành như pháp luật Vua có quyền quyết định mọi vấn đề quan trọng của quốc gia,quyết định bổ nhiệm, cách chức, trừng phạt bất cứ ai, có thẩm quyền xét xử cao nhất và làchỉ huy quân sự cao nhất Bên cạnh đó, vua được thần thánh hoá, được xem là con hoặcđại diện hoặc chính là hiện thân của thần linh
Quan đầu triều:
Là người thân tín nhất của nhà vua, nắm giữ các công việc quan trọng trong triều
Hệ thống các cơ quan giúp việc:
Gồm một số quan lại cao cấp Tùy từng nơi, từng thời kỳ mà có sự phân côngnhiệm vụ, quyền hạn rõ ràng hay không
3.1.2 Bộ máy nhà nước ở địa phương
Trang 14Quản lý nhà nước ở địa phương thường dựa vào công xã nông thôn Người cóquyền quản lý là người của chính địa phương đó (vương công, tù trưởng…) Quyền lựccủa họ như một vị vua ở địa phương, quyết định những vấn đề ở địa phương Do đó, khichính quyền trung ương suy yếu, họ là những thế lực phản loạn, nổi dậy chống lại chínhquyền trung ương, thành lập nhà nước riêng, tạo nên trạng thái cát cứ phân quyền Saumỗi lần cát cứ như thế, chính quyền trung ương thực hiện nhiều biện pháp để quản lý chặtchẽ hơn địa phương
3.2 Tổ chức bộ máy nhà nước ở từng quốc gia
3.2.1 Ai Cập
- Vua:
Ở Ai Cập, vua được gọi là Pharaông, có quyền lực vô hạn
Về kinh tế, Pharaông là chủ sở hữu tối cao đối với ruộng đất trong cả nước Hầunhư không phân biệt tài sản của nhà nước và tài sản của vua
Về chính trị, Pharaông có quyền lực tuyệt đối, là người đứng đầu bộ máy nhànước, nắm giữ và kiểm soát cả hệ thống quan lại ở trung ương và địa phương Vua còn làngười chỉ huy quân đội tối cao
Về tư tưởng, Pharaông được thần thánh hoá, được xem là “vị thần vĩ đại”, “vị thầncao quý”
- Quan đầu triều:
Quan đầu triều ở Ai Cập gọi là Vidia (Vizir) Quyền lực của Vidia chỉ sauPharaông, thường là con của Pharaông Vidia là người giúp vua cai quản bộ máy quan lại,nắm hầu hết những công việc quan trọng của nhà nước Tuy nhiên, đôi khi Vidia nắmkhông hết các quyền hạn đó bởi vì còn có nhiều quan lại khác cũng thường là người tronghoàng tộc
- Hệ thống cơ quan giúp việc:
Quan phụ trách tài chính và coi sóc kho tàng, giữ quốc khố; lo việc trưng thu thuế
má, giữ sổ địa bạ…
Trang 15Quan phụ trách về kinh tế – xã hội; trông nom công tác sản xuất, đắp đường xá, đêđiều, xây dựng các công trình.
Quan lại phụ trách xét xử: Cơ quan chuyên môn xét xử bao gồm 6 viện, đứng đầu
là viên chưởng lý Ngoài ra còn có một số người trong tầng lớp tăng lữ cũng làm quan tưpháp và các nhân viên lập hồ sơ bản án
Quan lại về quân đội chăm lo việc binh bị Viên tổng chỉ huy là họ hàng của nhà vua Các sĩ quan cao cấp đều trực thuộc vua và độc lập với cơ quan dân sự
Đơn vị hành chính của Ai Cập được chia thành các Châu (Nôm) Đứng đầu làChâu trưởng Châu trưởng vừa là tăng lữ tối cao, thẩm phán và là người chỉ huy quân sựcao nhất ở địa phương Châu trưởng chịu sự bổ nhiệm, giám sát và cách chức của nhàVua Đồng thời, để ngăn ngừa tình trạng phân quyền cát cứ do các Châu trưởng có quánhiều quyền hành, Vua thường cử quan lại ở trung ương giám sát công việc của Châutrưởng hoặc điều động họ từ châu này sang châu khác
3.2.2 Lưỡng Hà
- Vua:
Thời kỳ trị vì của người Sumer, đứng đầu mỗi nhà nước là Patêsi (cũng có nơi gọi
là Lugalơ – người chủ) Ban đầu Patêsi là do Hội đồng dân biểu đại diện cho quý tộc thịtộc bầu ra, nhưng về sau thì cha truyền con nối Patêsi không chỉ là vị thủ lĩnh tôn giáo tốicao mà còn là đại diện của thần dân trước thần thánh, đồng thời là người chỉ huy quânđội, quản lý kinh tế, coi sóc các công trình thuỷ lợi và là chủ sở hữu tối cao đối với mọiđất đai của quốc gia
Trong các thời kỳ lịch sử, Vương quốc cổ Babilon (1894-1595 TCN) là thời kỳphát triển rực rỡ nhất của Lưỡng Hà, trong đó triều đại của Vua Hammurapi là hưng thịnhnhất Babilon Thời kỳ này, Vua không chỉ xem mình là đại diện cho các thần thánh màcho rằng mình chính là hiện thân của thần thánh, có quyền quyết định mọi vấn đề quantrọng của đất nước
- Quan đầu triều:
Trang 16Trong thời kỳ người Sumer thống trị Lưỡng Hà thì Nubanda là người đứng đầu hệthống quan lại dưới các Patêsi, trông coi hoạt động kinh tế, kho tàng và thuỷ lợi.
Thời kỳ trị vì của Vua Hamurapi, ông chia vương quốc thành hai khu hành chính:vùng Accat và Bắc Sumer và vùng Nam Xume Đứng đầu mỗi khu vực hành chính này là
một viên Tổng đốc do Vua trực tiếp bổ nhiệm Đứng đầu Vùng Accat và bắc Xume gọi là
Xucalu, vùng Nam Sumer gọi là Xinidinnama Hai viên Tổng đốc vừa là quan lại caonhất của nhà vua, giúp nhà vua cai trị hai khu vực hành chính này, cũng vừa là quan lạiđứng đầu địa phương
- Hệ thống cơ quan giúp việc:
Cũng tương tự như Ai Cập bộ máy quan lại cao cấp chưa được chuyên môn hoátrong từng lĩnh vực mà phụ trách những công việc cụ thể: thu thuế, các hoạt động thươngmại, quân sự, kho tàng, xây dựng các công trình công cộng
Triều đại của Vua Hammurapi, như đã đề cập, hai viên Tổng đốc ở hai khu vựchành chính vừa là quan lại cao cấp nhất của nhà vua cũng vừa là người đứng đầu địaphương Họ giúp cho nhà vua trực tiếp cai quản hai khu vực hành chính này từ quản lýkinh tế, thu thuế, xây dựng và chỉ huy quan đội và huy động dân chúng thực hiện cácnghĩa vụ lao dịch cho nhà nước
Ở cơ sở, công xã nông thôn tồn tại bền vững và phổ biến ở Lưỡng Hà từ thời kỳthống trị của người Sumer đến Tân Babilon Quản lý các công xã này là các Hội đồngcông xã Thời kỳ trị vì của mình, vua Hammurapi muốn tránh sự lạm quyền của địaphương nên người đứng đầu Hội đồng công xã không phải là người địa phương đó mà doHammurapi cử quan lại về cai trị
Bên cạnh đó, trong tổ chức bộ máy nhà nước, thời kỳ của Vua Hammurapi cơquan xét xử và quân đội rất phát triển Các cơ quan xét xử chuyên trách đã được thànhlập Ở trung ương, vua là người có quyền xét xử tối cao, ở địa phương, hội đồng xét xửgồm các bô lão trong vùng Các tăng lữ cũng tham gia xét xử, nhưng chỉ đối với những
vụ mà họ làm lễ tuyên thệ cho các nhân chứng Quân đội của Babilon là quân đội thườngtrực, được tổ chức chính quy và hùng hậu, có tổ chức và kỷ luật nghiêm minh Nếu binh
Trang 17sĩ nào không thực hiện lệnh điều động nhập ngũ của vua thì sẽ bị tử hình Các tướng lĩnh
và quân sĩ đều được cấp ruộng đất để sinh sống Tuy nhiên, họ chỉ được quyền canh táctrên phần đất đó mà không có quyền sở hữu thật sự mảnh đất ấy
- Quan đầu triều:
Người đứng đầu Hội đồng thượng thư gọi là Đại tư tế (Durohita) có vai trò như tểtướng, đây chỉ là cách gọi chứ không phải là tăng lữ Bà La Môn
- Hệ thống cơ quan giúp việc:
Hệ thống quan lại chia làm 3 hội đồng :
Hội đồng thượng thư : Đứng đầu là Đại tư tế, tiếp đó là 2 Thượng thư Ngân khố và
Thuế vụ rồi đến các thượng thư khác Mỗi thượng thư phụ trách một số ngành, thông quacác Sở ở địa phương để quản lý: Sở phụ trách về đo lường, thương mại, vàng và kim khíquý, nông nghiệp, tàu xe… kể cả Sở phụ trách ca kỹ
Hội đồng ngự tiền: gồm những quý tộc có thế lực Hội đồng này có nhiệm vụ kiến
nghị những việc lớn cho vua nhưng chỉ với tư cách tư vấn chứ không có quyền quyếtđịnh
Cơ quan giám sát: Cơ quan này do vua lập ra và trực tiếp lãnh đạo Trong đó, có
một số đóng tại chỗ, một số đi thám thính các nơi, xem xét hành vi của các quan lại vànhân viên của nhà nước
Toàn bộ lãnh thổ được chia thành 1 đặc khu kinh đô và 4 tỉnh, mỗi nơi do một hoàng thân đứng đầu có địa vị như Phó vương
Trang 18Đặc khu kinh đô gồm Hội đồng quản trị có 30 chức quan, chia thành 6 ban (mỗi ban có 5 uỷ viên) phụ trách 6 mặt khác nhau: thủ công, ngoại vụ, hộ tịch, thương mại, thuế vụ và giám sát việc cung cấp sản phẩm.
Dưới tỉnh là huyện, dưới huyện là làng, làng được tổ chức theo từng cấp: cấp 10 làng, 20 làng 1000 làng Cấp 10 làng trở lên mới hình thành đơn vị hành chính Các viên chức địa phương được hưởng một phần thuế, hoặc tô
- Quan đầu triều:
Thời Hạ, Thương: dưới vua là quan Vu Sử giúp vua quản lý triều đình.
Thời Tây Chu: chức quan Thái sư trong Tam công có quyền lớn nhất, giúp vua
quản lý công việc chung của triều đình
- Hệ thống cơ quan giúp việc:
Bảo chính : quản lý việc dâng thức ăn cho vua
Thời Tây Chu: Bộ máy quan lại đã đi vào quy củ
Tam công: Vua thiết lập Tam công để giúp vua quản lý triều đình Tam công bao
gồm 3 chức quan lớn theo thứ tự từ cao đến thấp: Thái sư, Thái phó, Thái bảo Tam cô:
Thiếu sư, thiếu phó, thiếu bảo Cả Tam công và Tam cô đều là tư vấn cho thiên tử
Lục Khanh: Thiên quan chủng tế: Đứng đầu lục quan, tổng lý quốc chính, còn gọi
là trị quan; Địa quan tư đồ: Phụ trách dân chính, giáo dục, còn gọi là giáo quan; Xuânquan tông bá: Phụ trách tế tự lễ nhạc, còn gọi là lễ quan; Hạ quan tư mã: Phụ trách quân
Trang 19sự, chinh phạt, còn gọi là chinh quan; Thu quan tư khấu: Phụ trách hình pháp, còn gọi làhình quan; Đông quan tư không: Phụ trách kiến thiết, xây dựng.
Thái sử liêu: Tả sử ghi chép lời nói của vua; Hữu sử ghi chép lại những sự kiệnlớn của quốc gia
Cấp hành chính trực tiếp dưới trung ương vào thời Hạ, Thương bao gồm các vùngthuộc địa bàn của những bộ lạc trong liên minh bộ lạc trước đây Viên quan đứng đầu vốn
là Tù trưởng hoặc con cháu của họ
Thời Tây Chu, do chính sách ban thưởng nên có thêm 1 cấp địa phương cao nhất
là các nước chư hầu Bộ máy chính quyền của chư hầu là hình ảnh thu nhỏ của chínhquyền trung ương của thiên tử nhà Chu
3.3 Nhận xét về bộ máy nhà nước phương Đông cổ đại
- Về hình thức chính thể là hình thức quân chủ tuyệt đối
- Bộ máy nhà nước còn rất sơ khai và đơn giản Chức vụ và quan chế chưa rõ ràng.Các cơ quan nhà nước ở địa phương chỉ là sự mô phỏng và sao chép trung ương
- Tổ chức bộ máy nhà nước chủ yếu dựa vào quan hệ huyết thống
- Bộ máy nhà nước chịu ảnh hưởng tàn dư của chế độ thị tộc, những tín ngưỡngtôn giáo và lễ giáo truyền thống
CÂU HỎI ÔN TẬP
1 Phân tích ảnh hưởng của điều kiện tự nhiên đến quá trình hình thành nhà nướcphương Đông cổ đại
2 Phân tích tính chất gia trưởng của chế độ nô lệ ở các quốc gia chiếm hữu nô lệphương Đông cổ đại
3 Chứng minh nhà nước chiếm hữu nô lệ ở phương Đông cổ đại được tổ chức theo hìnhthức chính thể quân chủ tuyệt đối
4 Các nhận định sau đây đúng hay sai? Vì sao?
a Yếu tố chiến tranh là nguyên nhân chủ yếu dẫn đến sự hình thành nhà nước ởcác quốc gia phương Đông cổ đại
Trang 20b Nô lệ là đối tượng bóc lột chủ yếu của giai cấp thống trị trong xã hội chiếm hữu
nô lệ phương Đông cổ đại
c Tổ chức bộ máy nhà nước phương Đông cổ đại có sự kết hợp giữa vương quyền
Trang 211 Pháp luật của các quốc gia phương Đông cổ đại
Do hiện nay chưa có các nguồn sử liệu đáng kể về pháp luật của Ai Cập cổ đại,nên phần này giới thiệu Bộ luật Hammurapi của Lưỡng Hà, Bộ luật Manu của Ấn Độ,pháp luật các triều đại Hạ, Thương, Tây Chu và tư tưởng chính trị xã hội ảnh hưởng đếnpháp luật thời kỳ Chiến quốc của Trung Quốc cổ đại
1.1 Bộ luật Hammurapi của Lưỡng Hà
1.1.1 Đặc điểm của Bộ luật Hammurapi
Nguồn của bộ luật: gồm có 3 nguồn chủ yếu sau:
Kế thừa những tiền lệ và tập quán của người Sumer trong xã hội trước đó (chủnhân trước đó của quốc gia này);
Ví dụ: kế thừa Bộ luật Lipitistar của Nip-pua có trước Bộ luật Hammurapi khoảng
200 năm, Bộ luật của dân thành Esơ-nu-me giữa thế kỷ XX TCN
Những quyết định (mệnh lệnh, chiếu chỉ) của vua Hammurapi;
Những quyết định của toà án các cấp
Với những nguồn trên cho thấy Bộ luật Hammurapi đã có sự hệ thống hoá rất caonhất là công tác pháp điển hoá pháp luật
Cơ cấu của Bộ luật
Bộ luật có 3 phần: phần mở đầu, phần nội dung và phần kết luận
Phần mở đầu và phần kết luận: Khẳng định rằng đất nước Babilon là một vương
quốc do các thần linh tạo ra Và chính các thần linh này đã trao đất nước cho Hammurapithống trị để làm cho đất nước giàu có, nhân dân no đủ Ngoài ra, Hammurapi tự ca ngợicông lao của mình đối với đất nước Riêng ở phần kết luận Hammurapi tuyên bố thầnlinh sẽ nguyền rủa và trừng phạt tất cả những ai xem thường và không thi hành theonhững quy định của bộ luật này
Phần nội dung: Có 282 điều luật – đây là phần chủ yếu của bộ luật
Về phạm vi điều chỉnh
Trang 22Bộ luật Hammurapi có phạm vi điều chỉnh rộng đối với những quan hệ xã hội thờiBabilon cổ Đồng thời, qua phần nội dung, cho thấy tuy bộ luật chưa phân định chiathành những ngành luật như hiện nay, nhưng tác giả đã có ý thức sắp xếp các điều khoảnthành từng nhóm riêng theo từng loại quan hệ trong xã hội lúc bấy giờ.
1.1.2 Nội dung cơ bản
Các quy định về hợp đồng
- Hợp đồng mua bán:
Xác định điều kiện có hiệu lực của hợp đồng (Đ7; Đ108): Tài sản mua bán phảiđảm bảo đúng giá trị sử dụng của nó; Người bán phải là chủ thực sự của tài sản; Khi tiếnhành hợp đồng phải có người làm chứng Nếu các bên vi phạm điều kiện có hiệu lực thìhợp đồng không có giá trị, người vi phạm sẽ bị trừng phạt bằng những chế tài mang tínhchất hình sự
Người bán nếu bị người làm chứng tố cáo là đồ vật của người khác, sẽ bị xử tửhình Ngược lại, chủ đồ vật không chỉ được người làm chứng nhận biết đồ vật bị mất là
đồ vật của mình thì cũng bị tử hình, vì luật cho rằng đó là tội vu khống
- Hợp đồng vay tài sản:
Hợp đồng vay tài sản là loại hợp đồng được quy định nhiều nhất trong Bộ luậtHammurapi Loại hợp đồng này được quy định khá chi tiết về đối tượng của hợp đồngvay, mức lãi suất và phương thức trả nợ vay
Về đối tượng của hợp đồng vay: vay thóc hoặc vay bạc.
Về mức lãi suất vay (Điều 89, Điều 91): vay thóc mức lãi suất là 1/5 giá trị hợp
đồng và vay tiền với mức lãi suất là 1/3 – 2/3 giá trị hợp đồng Ngoài ra, bộ luật còn quyđịnh trách nhiệm của người cho vay nếu lấy lãi suất cao hơn mức quy định
Về phương thức trả nợ vay: Nếu vay thóc hoặc vay bạc khi đến thời hạn mà không
có thóc hoặc bạc để trả thì có thể thay thế thóc bằng bạc và ngược lại (Điều 90), còn cóthể dùng vừng để trả nợ (Điều 51) Nhưng không được dùng chà là để trả nợ (Điều 66)
Về phương thức bảo đảm thực hiện hợp đồng: Vay thóc có thể dùng ruộng hoặc
vườn để làm vật bảo đảm (Điều 49) Đặc biệt, bộ luật quy định dùng thân thể con người
Trang 23làm vật bảo đảm hợp đồng: Nếu vay tiền hoặc vay thóc mà mắc nợ thì chủ nợ có thể giữngười thân hoặc nô lệ của người mắc nợ làm con tin (Điều 114, Điều 115, Điều 116).Ngoài ra, để trừ nợ người mắc nợ có thể bán nô lệ để trừ nợ, nếu không có nô lệ thì phảibán vợ, con hoặc bán mình làm nô lệ (Điều 117, Điều 118, Điều 119).
- Hợp đồng lĩnh canh ruộng đất:
Về mức thu tô: Điều 46 quy định mức thu tô đối với từng loại lĩnh canh (vườn là
2/3 sản phẩm làm ra và ruộng là 1/3 – 1/2 sản phẩm) Trách nhiệm của người lĩnh canhtrong từng trường hợp không chuyên cần canh tác (Điều 42, Điều 42, Điều 44, Điều 45).Mức bồi thường thiệt hại đối với người lĩnh canh nếu làm thiệt hại hoa màu trên ruộngngười bên cạnh (Điều 53, Điều 54, Điều 55, Điều 56)
- Hợp đồng gửi giữ (Điều 104 - 107, Điều 121, Điều 122):
Quy định khi gửi giữ phải có người làm chứng Mức thù lao gửi giữ Trách nhiệm củangười nhận giữ tài sản mà không trao nó lại cho người gửi
Các quy định về hôn nhân gia đình
Về thủ tục kết hôn: Bộ luật quy định kết hôn phải có giấy tờ (Điều 128)
Về quyền và nghĩa vụ của vợ và chồng: Bộ luật quy định công khai sự bất bình
đẳng trong quan hệ vợ chồng, trong đó đề cao vai trò và bảo vệ quyền lợi của ngườichồng Người vợ bị xem là tài sản của người chồng (Điều 141, Điều 143, Điều 144).Quyền ly hôn của người phụ nữ bị hạn chế rất nhiều, có 3 điều kiện để người phụ nữ cóthể tuyên bố ly hôn: chồng có quan hệ ngoại tình; chồng bỏ nhà ra đi; chồng vu cáo vợngoại tình (Điều 137, Điều 138, Điều 149)
Tuy nhiên trong một số trường hợp, luật cũng bảo vệ quyền lợi của người phụ nữ(Điều 148, Điều 142) Ngoài ra, luật còn bảo vệ một số giá trị đạo đức trong xã hội (Điều
129, Điều 130, Điều 153, Điều 155)
Quy định thừa kế
Về hình thức thừa kế: thừa kế theo luật và theo di chúc
Trang 24Căn cứ để chia thừa kế là cái chết của người cha, vì phụ nữ không có quyền sở
hữu tài sản nên khi người mẹ chết quan hệ thừa kế không xuất hiện, trừ trường hợp khingười chồng chết để lại một phần tài sản cho vợ sau đó người này để lại cho đứa con màmình yêu thương
Có sự phân biệt trong việc hưởng thừa kế giữa con trai, con gái và con của nữ nô
lệ nếu được cha của nó là dân tự do thừa nhận (Điều 165, Điều 66, Điều 170, Điều 172).Ngoài ra, luật còn quy định điều kiện để tước quyền thừa kế (Điều 169)
Những quy định về hình phạt và tội phạm:
Quy định các tội phạm liên quan đến việc xâm phạm quyền sở hữu (Điều 6, Điều8), chế độ nô lệ (Điều 15, Điều 16, Điều 226), nhân phẩm, danh dự, tính mạng, sức khoẻcủa con người (Điều 196, Điều 197, Điều 198, Điều 199)
Do ảnh hưởng bởi những phong tục tập quán thời công xã nguyên thủy nên Bộluật quan niệm hình phạt là sự trừng trị tội lỗi, mang tính chất trả thù ngang bằng nhau(đồng thái phục thù)
Tuy nhiên, do Bộ luật cũng thừa nhận sự phân biệt đẳng cấp (Điều 205), giai cấpnên nguyên tắc đồng thái phục thù được áp dụng một cách tương đối Hình phạt tiền cũng
đã được áp dụng (Điều 198, Điều 199), mức tiền phạt tùy vào địa vị xã hội của các đương
sự Các hình phạt thường rất dã man như: chặt tay, chân, thiêu, dìm xuống nước, đóngcọc…
Quy định tố tụng
Việc xét xử phải được tiến hành công khai Trong quá trình xét xử, cơ quan tưpháp rất coi trọng giá trị chứng cứ (Điều 3, Điều 4), không phân biệt chứng cứ thuộcđẳng cấp nào Đồng thời luật còn quy định trách nhiệm của người xét xử, trong trườnghợp xét xử không đúng
1.2 Bộ luật Manu của Ấn Độ cổ đại
1.2.1 Đặc điểm
Trang 25Bộ luật Manu là Bộ luật hoàn chỉnh nhất trong tất cả các luật lệ cổ ở Ấn độ cổ đại,được xây dựng vào khoảng thế kỷ thứ II – I TCN bởi các giáo sĩ Bà La Môn Thực chất,
nó là những luật lệ, những tập quán pháp của giai cấp thống trị được các giáo sĩ Bà LaMôn tập hợp lại dưới dạng trường ca, được trình bày dưới dạng câu song vần
Về cơ cấu: Bộ luật gồm 2685 điều, chia thành 12 chương.
Về nội dung: Bộ luật không chỉ là chứa đựng những quy phạm pháp luật để điều
chỉnh các quan hệ xã hội mà còn quy định về những vấn đề khác như chính trị, tôn giáo,quan niệm về thế giới và vũ trụ Nhưng xét trên phương diện pháp lý, chúng ta có thểphân bộ luật Manu thành những chế định cụ thể
1.2.2 Nội dung cơ bản
Quy định về quyền sở hữu
Đối với ruộng đất, thừa nhận ba hình thức sở hữu ruộng đất đó là sở hữu của nhàvua, của công xã nông thôn và của tư nhân Đối với đất đai thuộc quyền sở hữu của tưnhân thì được quyền mua bán nhưng phải chịu sự giám sát của nhà nước (nếu người bánđộng sản nhận được số tiền nhiều hơn giá quy định thì nhà nước sẽ thu hồi số tiền dư đó).Đối với những tài sản khác, nhà nước chỉ thừa nhận quyền sở hữu khi có chứng cứ cụ thểchỉ rõ nguồn gốc của nó (mua bán, thừa kế, ban thưởng)
Quy định về hợp đồng
Quy định điều kiện có hiệu lực của hợp đồng Đề cập nhiều đến hợp đồng vaymượn, cầm cố Quy định mức lãi tối đa phải trả mỗi tháng, mức lãi suất này tùy thuộctheo từng đẳng cấp trong xã hội Sử dụng thân thể con nợ làm vật bảo đảm hợp đồng
Quy định điều kiện có hiệu lực của hợp đồng: Một hợp đồng không có hiệu lực khi
hợp đồng đó ký kết với người điên, người già yếu, người say rượu, người chưa đến tuổithành niên, hoặc phải ký do áp lực hoặc sự lừa dối (Điều 163, Điều 165, Điều 168) Hợpđồng phải bảo đảm tính công khai Tất cả các hợp đồng ký kết bí mật đều là bất hợppháp
Trang 26Bộ luật đề cập nhiều đến hợp đồng vay, trong đó quy định mức lãi tối đa phải trả
mỗi tháng, mức lãi suất này tùy thuộc theo từng đẳng cấp trong xã hội (Điều 142, chương
8) Cụ thể là: Bàlamôn chỉ phải trả 2%, Ksatria trả 3%, Vaishya trả 4%, Sudra trả 5% Vay
tiền thì tổng tiền gốc và tiền lãi không được quá gấp đôi, nếu là ngũ cốc thì không đượcgấp 5 lần
Phương thức đảm bảo việc thực hiện hợp đồng: sử dụng thân thể con nợ làm vật
bảo đảm hợp đồng Nếu con nợ không trả được thì bị biến thành nô lệ để trừ nợ Nếu con
nợ có khả năng trả được nợ nhưng không chịu trả, lần khất, thì chủ nợ có quyền đượcđánh đập, hành hạ con nợ cho đến khi đòi được nợ
Quy định về hôn nhân gia đình
Có 4 hình thức hôn nhân: hôn nhân do cha mẹ định đoạt, cướp cô dâu, mua vợ vàhôn nhân tự nguyện Trong đó, hình thức hôn nhân được pháp luật và xã hội tôn trọngnhất là do cha mẹ định đoạt, và hình thức hôn nhân bị khinh rẻ và lên án là hôn nhân tựnguyện Người vợ khi bước chân vào nhà chồng thì tất cả của hồi môn đương nhiên thuộcquyền sở hữu của chồng Những quy định của luật thể hiện việc thừa nhận sự bất bìnhđẳng trong quan hệ vợ chồng Bộ luật quy định chỉ được kết hôn trong cùng đẳng cấp.Tuy nhiên, đàn ông vẫn có thể lấy vợ thuộc đẳng cấp dưới (và bị hạ đẳng cấp theo đẳngcấp của vợ)
Quy định thừa kế
Thừa nhận hình thức thừa kế theo di chúc và thừa kế theo pháp luật Tất cả các conđều có quyền thừa kế tài sản của người cha Con gái nhận tài sản thừa kế dưới dạng củahồi môn
Quy định về tội phạm và hình phạt
Những quy định hình sự được xây dựng theo nguyên tắc: “khoan dung đối với những người thuộc đẳng cấp trên chà đạp lên quyền lợi của đẳng cấp dưới, trừng trị thẳng tay đối với những người thuộc đẳng cấp dưới xâm phạm đến tính mạng, quyền lợi,
Trang 27nhân phẩm của đẳng cấp trên” Các hình phạt trong bộ luật rất dã man: chặt chân, chặt
tay, đóng đinh vào bàn tay, bàn chân, nhúng người vào chảo dầu sôi… Cũng giống như
Bộ luật Hammurapi, những quy định hình sự của luật Manu cũng mang tính trả thù ngangbằng nhau
Quy định tố tụng
Trong quá trình xét xử, luật rất coi trọng chứng cứ nhưng giá trị của chứng cứ lạiphụ thuộc vào đẳng cấp và giới tính Người làm chứng phải cùng đẳng cấp với bị can.Khi có sự mâu thuẫn giữa các chứng cứ thì chứng cứ của đẳng cấp trên là chứng cứ đúng.Ngoài ra, Bộ luật Manu còn có quy định về việc áp dụng phép thử tội
1.3 Pháp luật Trung Quốc cổ đại
1.3.1 Pháp luật thời Hạ, Thương
Thời Hạ, nhà nước mới hình thành, còn sơ khai nên pháp luật chủ yếu được biếtđến thông qua truyền miệng, tập quán
Thời Thương đã có pháp luật thành văn, pháp luật chủ yếu là mệnh lệnh của nhàvua Trong đó, hình phạt rất được chú trọng với nhiều hình phạt khắc nghiệt như: đóngdấu nung đỏ, cắt mũi, gông cùm, xử tử bằng các hình thức: chôn sống, mổ bụng, xẻo từngmảnh nhỏ bỏ vào nước sôi, bỏ vào cối giã
1.3.2 Pháp luật thời Chu
Do cơ chế chính trị nhà Chu dựa trên Chế độ tông pháp (quan hệ đẳng cấp huyếtthống) và rút kinh nghiệm thất bại của nhà Thương trong việc chỉ sử dụng hình phạt hàkhắc cai trị dân chúng, nên bên cạnh hình, Nhà Chu còn đặt ra Lễ Lễ dùng để phân biệtsang hèn, trật tự tôn ty trong xã hội, những nghi thức về ăn, ở, hội họp, ma chay cúng lễ,cưới xin…
Trang 28Hệ thống Lễ gồm 5 loại, gọi là Ngũ Lễ: Cát lễ: lễ tế các thần linh; Hung lễ: lễ cúng
tế, ma chay, mất mùa; Quân lễ: lễ ra quân; Tân lễ: lễ tiếp đón các chư hầu ; Gia lễ: lễ hôn
nhân, lễ lập con trưởng
Người ta thực hiện lễ một cách tự nguyện Lễ trở thành quy tắc sử xự của mọingười trong xã hội, nếu ai không tuân theo lễ sẽ bị cười chê là không có chính nghĩa,không xứng đáng là bậc trượng phu… Chính vì đặc điểm đó của lễ nên Nhà Chu dựa vào
lễ để quản lý xã hội và hình pháp lúc này dùng để trừng trị những ai không tuân theo lễ.Dần dần lễ trở thành một yếu tố quan trọng trong pháp luật nhà Chu
Hình phạt của nhà Chu gồm 5 thang bậc, gọi là phép Ngũ Hình:
Mặc hình (còn gọi là kình (khắc chữ vào trán)): thường được áp dụng đối với
người có những hành vi không đúng đạo nghĩa, nói lời càn rỡ
Tỵ hình (xẻo mũi): thường được áp dụng đối với người có những hành vi như làm
trái lệnh vua, thay đổi chế độ trang phục, lừa đảo trộm cướp làm tổn thương người khác
Phị hình, còn gọi là nguyệt (chặt chân): thường được áp dụng đối với người có
những hành vi như cạy cửa kho, trèo thành quách mà ăn trộm vặt
Cung hình, còn gọi là thủ hay tầm thất hình (thiến (đối với nam) hoặc nhốt vào
nhà kín (đối với nữ)): thường được áp dụng đối với nam nữ quan hệ với nhau không đúng
lễ nghĩa
Đại tịch (tử hình): thường được áp dụng đối với người có những hành vi đầu hàng
hoặc làm phản, làm giặc, cưỡng bức, cưỡng đoạt
Thời Đông Chu (Xuân Thu – Chiến Quốc)
Trong thời kỳ này, công cuộc trị quốc của các quốc gia còn bị ảnh hưởng bởi các tưtưởng chính trị Trong đó, tư tưởng pháp trị có ảnh hưởng lớn đến phương pháp cai trịcủa các nhà nước Trung Quốc thời bấy giờ
Thuyết pháp trị đề cao vai trò của pháp luật Về nội dung, nó gồm 3 yếu tố: pháp,thế, thuật
Trang 29Pháp: phải có hệ thống pháp luật nghiêm minh, rõ ràng và ban bố rộng rãi cho dân
chúng biết; đồng thời phải chấp pháp nghiêm minh
Thế: uy quyền của nhà vua.
Thuật: là phương pháp điều hành, quản lý con người, có 3 nội dung: 1 Bổ nhiệm
(căn cứ vào tài năng để bổ nhiệm, không kể đến dòng dõi); 2 Khảo hạch (căn cứ vàotrách nhiệm để kiểm tra hiệu quả công viêc); 3 Thưởng phạt (căn cứ vào kết quả khảohạch, thưởng nhiều, phạt nặng)
Hoạt động lập pháp trong thời kỳ này, một mặt bị ảnh hưởng bởi tư tưởng pháp trị,mặt khác nhà nước phải chiều lòng các quý tộc địa chủ mới nên các quốc gia đã bắt đầuxây dựng và ban hành luật thành văn Ví dụ như: nước Trịnh có bộ Hình Thư, nước Ngụy
Công khai thừa nhận sự bất bình đẳng: Trong quan hệ giai cấp, đẳng cấp bảo vệquyền lợi và địa vị của giai cấp chủ nô và những người thuộc đẳng cấp trên trong xã hộinhằm củng cố sự thống trị tuyệt đối của giai cấp chủ nô; Trong quan hệ gia đình, thừanhận sự bất bình đẳng giữa vợ và chồng, giữa các con với nhau, do ảnh hưởng của chế độthống trị gia trưởng
Do bị ảnh hưởng bởi nền kinh tế nông nghiệp tự cung tự cấp, nên pháp luật
phương Đông cổ đại mang tính chất “trọng hình, khinh dân”, ranh giới giữa dân luật và
hình luật rất mờ nhạt
Trang 30Do vừa thoát khỏi chế độ công xã nguyên thuỷ và còn bị ảnh hưởng bởi nhữngphong tục tập quán trong thời kỳ này nên pháp luật phương Đông cổ đại mang tính chấtđồng thái phục thù
Bị ảnh hưởng bởi tôn giáo, lễ và các hệ tư tưởng chính trị tạo nên nét đặc trưngcủa pháp luật phương Đông thời kỳ cổ đại
Hình phạt dã man, thường sử dụng nhục hình
2.2 Về trình độ lập pháp
Chưa có tính hệ thống, chưa có sự phân chia các quy phạm pháp luật thành các chếđịnh luật, ngành luật riêng biệt Các quy định của pháp luật chưa bảo đảm tính thốngnhất, đồng bộ Từ ngữ sử dụng trong văn bản quy phạm pháp luật rất cụ thể, mô tả dàidòng, trùng lắp và không mang tính khái quát
CÂU HỎI ÔN TẬP
1 Vì sao pháp luật phương Đông cổ đại mang tính bất bình đẳng Chứng minh sự bấtbình đẳng này thông qua các bộ luật điển hình mà bạn biết
2 Vì sao pháp luật phương Đông cổ đại mang tính trọng hình khinh dân Chứngminh tính trọng hình khinh dân này thông qua các bộ luật điển hình mà bạn biết
3 Vì sao pháp luật phương Đông cổ đại mang tính đồng thái phục thù Chứng minhtính chất đồng thái phục thù này thông qua các bộ luật điển hình mà bạn biết
4 Vì sao trong pháp luật phương Đông cổ đại, ranh giới giữa dân luật và hình luậtkhông được phân định rõ ràng Chứng minh tính chất này thông qua các bộ luật điểnhình mà bạn biết
5 Vì sao pháp luật phương Đông cổ đại chịu ảnh hưởng của tôn giáo Chứng minhnhững ảnh hưởng của tôn giáo đến một vài bộ luật điển hình mà bạn biết
6 Các nhận định sau đây đúng hay sai? Vì sao?
a Ở Trung Quốc cổ đại, tư tưởng nho giáo của Khổng Tử có vai trò như các bộ luậtthành văn
b Bộ luật Hammurapi quy định chế độ hôn nhân một vợ một chồng
Trang 31c Bộ luật Manu quy định sự bình đẳng giữa vợ và chồng trong quan hệ hôn nhân.
d Nội dung xuyên suốt của Bộ luật Hammurapi phản ánh chế độ đẳng cấp ở Ấn Độthời kỳ cổ đại
e Chỉ có mệnh lệnh của nhà vua mới được xem là nguồn của pháp luật phươngĐông cổ đại
-Chương 3
NHÀ NƯỚC PHƯƠNG TÂY CỔ ĐẠI
Trang 321 Quá trình hình thành, phát triển và suy vong của nhà nước phương Tây cổ đại 1.1 Cơ sở hình thành nhà nước
1.1.1 Điều kiện tự nhiên
Trang 33 Hy Lạp
Hy Lạp cổ đại là vùng đất nằm ở khu vực Địa Trung Hải bao gồm: Miền lục địa
Hy Lạp (phía Nam bán đảo Balcan), miền đất xâm thực ven bờ Tây tiểu Á và những đảothuộc biển Ê –giê Trong đó, miền lục địa có tầm quan trọng nhất trong lịch sử Hy Lạp,chia làm 3 khu vực: Bắc, Trung và Nam Nét nổi bật ở cả ba miền là có sự đan xen cấu
Trang 34trúc địa hình với đồng bằng, cao nguyên, rừng núi và eo vịnh…Nhìn chung địa hình bị xénhỏ.
Hy Lạp có nhiều khoáng sản và các eo vịnh, hải cảng tự nhiên Đồng thời, có khíhậu ôn đới thuận lợi cho việc trồng cây công nghiệp
Nằm trên bán đảo Italia, hình chiếc ủng dài và hẹp, lớn gấp năm lần miền lục địa
Hy Lạp Phía Bắc có dãy Alpes, ba phía Đông, Tây và Nam đều được bao bọc bởi biểnĐịa Trung Hải
Cũng như Hy Lạp, La Mã có khí hậu ôn đới, nhiều khoáng sản và vịnh hải cảng,nhưng không bị xé nhỏ như Hy Lạp mà tương đối thống nhất với dãy Apennin chạy dọc
từ Bắc xuống Nam như một đường xương sống Đồng thời, có nhiều đồng bằng màu mỡhơn so với Hy Lạp
Điều kiện tự nhiên của Hy Lạp và La Mã thuận lợi phát triển kinh tế thủ côngnghiệp và thương nghiệp đặc biệt là mậu dịch hàng hải La Mã có ngành kinh tế nôngnghiệp phát triển hơn so với Hy Lạp Điều kiện tự nhiên làm cho Hy Lạp không xuất hiệnnhu cầu thiết lập một nhà nước thống nhất trên toàn cõi Hy Lạp
1.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội
Thế kỷ thứ VIII – VII TCN, ở phương Tây, nền kinh tế nhìn chung vẫn mang tínhchất tự nhiên, nhưng sau đó công thương nghiệp phát triển, nông nghiệp cũng bị cuốn hútvào sản xuất nguyên liệu nhằm phục vụ cho thủ công nghiệp Nền kinh tế phát triểnmạnh, làm cho chế độ tư hữu diễn ra nhanh chóng, tư hữu cả về ruộng đất
Sự phát triển của chế độ tư hữu đã làm cho xã hội phân hoá giai cấp diễn ra mạnh
mẽ, gồm các giai cấp sau :
Quý tộc thị tộc: Những gia đình có thế lực trong công xã thị tộc trước kia như tù
trưởng, thủ lĩnh quân sự chiếm nhiều ruộng đất và tư liệu sản xuất, ngày càng trở nêngiàu có trở thành giai cấp quý tộc thị tộc (còn gọi là quý tộc chủ nô ruộng đất hay quý tộccũ)
Trang 35Quý tộc công thương nghiệp: Thương nhân, thợ thủ công, bình dân trong quá trình
tìm vùng đất thực dân… ngày càng trở nên giàu có Khi chế độ tư hữu ruộng đất xuấthiện, họ tậu được nhiều ruộng đất, nô lệ… trở thành tầng lớp quý tộc chủ nô công thươngnghiệp hay còn gọi là quý tộc mới
Tầng lớp bình dân và nông dân lao động: không giữ vai trò quan trọng trong nền
kinh tế Họ không bị bóc lột như nô lệ, trong chừng mực nhất định họ có quyền tham giasinh hoạt chính trị và được hưởng quyền dân chủ
Nô lệ: Có nguồn gốc rất đa dạng, từ tù binh chiến tranh, nông dân bị phá sản, mua
bán, con của nô lệ… quan hệ chiếm hữu nô lệ ban đầu mang tính gia trưởng nhưng khikinh tế phát triển thì quan hệ này cũng phát triển và mang tính chất điển hình
Do phân hóa giai cấp diễn ra mạnh mẽ nên mâu thuẫn giai cấp trở nên rất gay gắt.Giai cấp nô lệ giữa vai trò quan trọng trong tất cả các ngành sản xuất: nông nghiệp, thủcông nghiệp, phục dịch trong việc buôn bán, thương mại Đây là lực lượng làm ra hầu hếtcác sản phẩm cho xã hội, là đối tượng bóc lột chủ yếu của chủ nô Vì vậy, mâu thuẫn giữagiai cấp nô lệ và chủ nô rất gay gắt Quan hệ nô lệ ở các quốc gia phương Tây mang tínhchất điển hình Giai cấp nô lệ phản kháng lại sự áp bức bóc lột bằng nhiều cuộc nổi dậy
Để dập tắt những cuộc đấu tranh đó, giai cấp chủ nô thiết lập ra nhà nước để quản lý vàđàn áp giai cấp bị trị
1.2 Lịch sử hình thành, phát triển và suy vong của nhà nước phương Tây cổ đại
Xét về mặt thời gian, văn minh Cret xuất hiện trước văn minh Myxen Mặc dù cả
về mặt địa lý và thời gian đều khác nhau, nhưng có những nét tương đồng về kinh tế xãhội nên được gộp lại và gọi chung là văn minh tối cổ Cret – Myxen
Trang 36Qua các di chỉ khảo cổ học, người ta cho rằng thời kỳ này, tại đảo Cret và Myxen,
về kinh tế, hoạt động trồng trọt và chăn nuôi giữ vai trò chủ đạo Về xã hội, đã có sự phânhoá giai cấp và có dấu hiệu chứng tỏ nhà nước đã xuất hiện Tuy nhiên, đến thế kỷ XITCN, xuất hiện các tộc người Hy Lạp đến từ Bắc Châu Âu đã tràn xuống các vùng đấtnày tấn công và hủy hoại tất cả Những tộc người này lại đang sống trong thời kỳ công xãnguyên thủy nên trong giai đoạn tiếp theo xã hội lại trở về trạng thái công xã thị tộc mạtkỳ
Thời kỳ Hô - me (Thế kỷ XI – IX TCN)
Lịch sử Hy Lạp thời kỳ này được gọi là thời đại Hô – me bởi vì trạng thái đời sốngvật chất và tinh thần của người Hy Lạp được phản ánh chủ yếu qua hai bộ trường ca Iliat
và Ôđixê, tương truyền tác giả là nhà thơ mù tên gọi là Hô – me ở tiểu Á
Về kinh tế, thời kỳ này công cụ lao động bằng đồng đã được sử dụng phổ biến,công cụ lao động bằng sắt cũng đã được sử dụng Kinh tế thủ công nghiệp đã tách khỏinông nghiệp với một số ngành nghề phát triển: rèn, dệt vải, đóng tàu, thuyền… nhưngkinh tế hàng hoá chưa phát triển, nền kinh tế trong thời kỳ này vẫn là kinh tế nông nghiệpgiữ vai trò chủ đạo
Về xã hội, đây là thời kỳ mạt kỳ của chế độ nguyên thuỷ, xã hội dần dần phân hoágiai cấp Chế độ nô lệ đã hình thành nhưng còn mang tính gia trưởng Giai đoạn này nhànước chưa xuất hiện
Thời kỳ Thành bang (Thế kỷ VIII – IV TCN)
Kinh tế phát triển mạnh, làm cho chế độ tư hữu diễn ra nhanh chóng, tư hữu cả vềruộng đất làm cho phân hoá xã hội diễn ra mạnh mẽ Các quốc gia chiếm hữu nô lệ xuấthiện hầu hết các nơi trên lãnh thổ Hy Lạp Các quốc gia đều lấy một thành thị làm trungtâm, bao quanh là những cánh đồng, do vậy người ta gọi là các quốc gia thành bang.Thành bang là một tổ chức công xã đồng thời là một trung tâm kinh tế, chính trị, tôn giáocủa Hy Lạp
Trang 37Trong thành bang, cơ cấu xã hội gồm chủ nô, nông dân và nô lệ Tất cả công dânthành bang đều có quyền chiếm hữu phần đất của mình Nô lệ thuộc quyền sở hữu củachủ nô Hình thức sở hữu nô lệ trong các thành bang không giống nhau Ở thành bangSparta, nô lệ thuộc quyền sở hữu chung của giai cấp chủ nô Ở nhiều thành bang khác, nô
lệ thuộc quyền sở hữu của từng chủ nô (Athens)
Các thành bang có tổ chức chính quyền và quân đội riêng Hình thức Nhà nướccủa các thành bang cũng không giống nhau, có thành bang theo chính thể cộng hòa dânchủ chủ nô (Athens), có thành bang theo chính thể cộng hòa quý tộc chủ nô (Sparta)
Thời kỳ Makêđônia (Thế kỷ IV TCN – I SCN)
HY LẠP – THỜI KỲ MAXÊĐÔNIA
Thời kỳ này, các quốc gia thành bang tại Hy Lạp chịu sự quản lý và thống trị bởi
đế quốc Makêđônia Vua Alêchxăngdrơ đã đánh thắng Ba Tư, mở rộng biên giới lãnh thổ
Trang 38sang Ai Cập, Lưỡng Hà và một phần của Ấn Độ Tuy nhiên, sau khi ông ta chết thì đếquốc rộng lớn này bị các tướng lĩnh của ông chia cắt thành nhiều quốc gia nhỏ, cuối cùngcác quốc gia này đều bị đế quốc La Mã thôn tính.
SỰ TAN RÃ CỦA ĐẾ QUỐC MAXÊĐÔNIA
1.2.2 La Mã
Thời kỳ vương chính (thế kỷ VIII – VI TCN)
Quan niệm phổ biến cho rằng thời kỳ vương chính trong lịch sử La Mã cổ đại làgiai đoạn mạt kỳ của chế độ công xã thị tộc, giai đoạn tồn tại của tổ chức dân chủ quân
sự, một hình thái quá độ từ xã hội nguyên thuỷ sang xã hội có giai cấp và có nhà nước
Vào thế kỷ VIII TCN, trên đồng bằng Latium là nơi sinh sống của 3 bộ lạc, gọi họ
là người Latinh Mỗi bộ lạc có 10 bào tộc (Curi) Mỗi Curi lại chia thành 10 thị tộc Vàokhoảng 753 TCN, 3 bộ lạc đã xây dựng thành thị tại bờ sông Ti-bơ-rơ, lấy tên một nhân
Trang 39vật truyền thuyết là Romulus – được coi là người sáng lập ra thành La Mã – để đặt têncho thành là Roma Sự xây dựng thành thị lần đầu tiên là mốc đánh dấu sự tan rã của chế
độ thị tộc và sự xuất hiện Nhà nước
Để quản lý xã hội, các bộ lạc cùng nhau thiết lập một tổ chức gồm các cơ quansau:
Đại hội nhân dân (Đại hội Curi): gồm tất cả các công dân nam của cả 3 bộ lạc Có
quyền quyết định các vấn đề quan trọng như tuyên chiến hay nghị hoà, thông qua hoặcbác bỏ những đạo luật do Viện nguyên lão thảo luận trước, bầu vua và các chức quan caocấp khác, có vai trò là toà án tối cao Khi tham gia đại hội, các công dân nam của mỗiCuri sẽ tập hợp lại thành một đơn vị Khi biểu quyết, mỗi Curi được quyền có một láphiếu
Viện nguyên lão (Senat): gồm thủ lĩnh của 300 thị tộc Mỗi thị tộc cử 1 người tham
gia, thông thường là những người thuộc những gia đình giàu có, danh vọng nhất trong thịtộc Viện nguyên lão có thẩm quyền quyết định các công việc quan trọng giữa hai kỳ họpcủa Đại hội nhân dân, thảo luận các đạo luật trước khi trình trước đại hội công dân Vềsau, quyền lực của Viện nguyên lão dần dần lớn mạnh và trở thành cơ quan chính quyềntrọng yếu của La Mã
Vua (Rex): do Đại hội Curi bầu ra, thực tế chỉ là tù trưởng liên minh bộ lạc Thời
chiến là tổng tư lệnh quân đội, thời bình chỉ lo việc tế lễ và xét xử
Thời kỳ cộng hòa (thế kỷ VI – I TCN)
Do sự phát triển kinh tế hàng hoá và chính sách mở rộng xâm lược, nhiều cư dân
mới đến sinh sống trên lãnh thổ La Mã, tạo thành tầng lớp bình dân Plebs Họ không
được xem là dân La Mã chính gốc, không được hưởng bất kỳ quyền lực chính trị nào cả.Thân phận của họ không giống như nô lệ, họ là dân tự do, phải nộp thuế và đi lính chongười La Mã, tuy nhiên họ có quyền tự do kinh doanh, được quyền sở hữu ruộng đất Khilực lượng này lớn mạnh về kinh tế và quân đội, họ đấu tranh để đòi hưởng quyền chínhtrị Trước tình thế đó, người La Mã phải nhượng bộ, thực hiện cải cách để đáp ứng yêucầu của họ
Trang 40Giữa thế kỷ thứ VI TCN, vua Xecvius Lutius (người Êtrucxơ) tiến hành cải cáchvới những nội dung như sau:
Ba bộ lạc trước kia bị xoá bỏ, thay vào đó là 4 bộ lạc mới, thực chất là 4 khu vựchành chính
Căn cứ theo tài sản, ruộng đất, ông chia dân cư thành 5 đẳng cấp, cứ 5 năm đăng
ký lại đẳng cấp một lần
Thay Đại hội Curi bằng Đại hội Xenturi Đại hội Xenturi vừa là đại hội tổ chứctheo đơn vị quân đội của các đẳng cấp vừa là đại hội mang tính chất hành chính, vì nóđược quyền quyết định những vấn đề quan trọng, được quyền bầu ra những quan chứccao cấp trong bộ máy nhà nước