Có rất nhiều quan điểm khác nhau về nguồn gốc nhà nước. Theo thuyết Thần học, cho rằng nhà nươc là do thượng đế sinh ra để quản lý xã hội, quyền lực nhà nước là vĩnh cửu và vô tận nên việc phục tùng quyền lực ấy là cần thiết và tất yếu. Theo thuyết khế ước xã hội, nhà nước là một sản phẩm của một bản hợp đồng(khế ước) giữa những con người sống trong trạng thái tự nhiên không có nhà nước. Khi đó, nhà nước phải phục tùng xã hội, phục vụ mọi thành viên của xã hội. Khi nhà nước không thực hiện được chức năng của nó, các thành viên trong xã hội sẽ huỷ bỏ khế ước cũ lập ra một khế ước mới, một nhà nước tiến bộ hơn sẽ ra đời.
Trang 1Lịch sử nhà nước - pháp luật thế giới
Chương 1: Nhà nước và pháp luật thế giới thời cổ đại
A Quá trình hình thành nhà nước, pháp luật
a Nguồn gốc Nhà nước
Có rất nhiều quan điểm khác nhau về nguồn gốc nhà nước
Theo thuyết Thần học, cho rằng nhà nươc là do thượng đế sinh ra để quản lý xã hội, quyền lực nhànước là vĩnh cửu và vô tận nên việc phục tùng quyền lực ấy là cần thiết và tất yếu
Theo thuyết khế ước xã hội, nhà nước là một sản phẩm của một bản hợp đồng(khế ước) giữa nhữngcon người sống trong trạng thái tự nhiên không có nhà nước Khi đó, nhà nước phải phục tùng xã hội,phục vụ mọi thành viên của xã hội Khi nhà nước không thực hiện được chức năng của nó, các thành viêntrong xã hội sẽ huỷ bỏ khế ước cũ lập ra một khế ước mới, một nhà nước tiến bộ hơn sẽ ra đời
Ngoài ra còn có thuyết gia trưởng, thuyết tâm lý, thuyết bạo lực
Theo học thuyết của chủ nghĩa Mác-Lênin, nhà nước ra đời trên cơ sở của sự tan rã chế độ công xãnguyên thuỷ Có hai nguyên nhân dẫn đến sự tan rã của chế độ công xã nguyên thuỷ, đó là sự xuất hiệnchế độ tư hữu về tư liệu sản xuất (nguyên nhân kinh tế) và sự mâu thuẫn giữa hai giai cấp đối kháng trong
xã hôị, mâu thuẫn này ngày càng trở nên gay gắt đến mức không thể điều hoà được nữa (nguyên nhân xãhội)
Chế độ công xã nguyên thuỷ, thị tộc, bộ lạc, bào tộc là cách thức tổ chức đầu tiên của loài người trongbuổi bình minh Trong chế độ công xã nguyên thuỷ, mọi người đều bình đẳng như nhau trong lao động vàhưởng thụ, trong quyền lợi và nghĩa vụ Khi lực lượng sản xuất phát triển dẫn đến năng suất lao độngngày càng tăng lên, đặc biệt khi có công cụ lao động bằng kim loại xuất hiện cùng với những kinh nghiệm
đã tích luỹ được đã tạo nên bước phát triển nhảy vọt trong trồng trọt và nghề thủ công Dẫn đến sự phâncông lao động lần thứ nhất, trồng trọt tách khỏi chăn nuôi Sau đó, các nghề thủ công cũng phát triểnmạnh tạo ra sự phân công lao động lầ thứ hai : thủ công nghiệp tách khỏi nông nghiệp Sau hai lần phâncông lao động, xã hội đã có sự phân tầng Sự chuyên môn hoá của các ngành sản xuất đã làm cho nhu cầutrao đổi hàng hoá giữa các bộ phận dân cư ngày một tăng cao Điều này dẫn đến sự phân công lao độnglần thứ ba, giao lưu hàng hoá tăng nhanh và thương nghiệp xuất hiện Sau lần phân công lao động thứ banày, xã hội đã bị phân hoá một cách sâu sắc Do sự phân công lao động nên các ngành kinh tế phát triểnmạnh, làm cho sản phẩm lao động ngày càng nhiều lên dẫn đến dư thừa Lúc này trong xã hội đã xuất hiệnmột số người có quyền lực công nhiên đi chiếm đoạt phần sản phẩm dư thừa đó và biến nó thành củariêng Chế độ tư hữu về tài sản dần dần xuất hiện Những người này dần dần trở thành những ngườichuyên đi bóc lột còn bộ phận đông dân cư trở thành những người bị bóc lột cả về tư liệu sản xuất và sảnphẩm lao động Chế độ tư hữu ngày càng được củng cố và phát triển tất yếu dẫn đến việc hình thành các
Trang 2tập đoàn người trong xã hội có địa vị kinh tế khác hẳnh nhau đó là tập đoàn những người giàu có (chủ nô),tập đoàn nông dân-thợ thủ công với chút ít tài sản (bình dân) và tập đoàn thứ ba là tù binh chiến tranh và
nô lệ (nô lệ)
Mâu thuẫn giữa giai cấp bóc lột và bị bóc lột ngày càng trở nên gay gắt, làm cho chế độ công xãnguyên thuỷ trước đây với thị tộc, bộ lạc không thể kiểm soát, quản lý xã hội được nữa, mà cần một tổchuác mới ra đời, đó chính là nhà nước.Nhà nước ra đời, đó là sự thay đổi hẳn về lượng Đó là một bộmáy bạo lức, gồm có quân đội, cảnh sát, nhà tù để đàn áp những người lao động
b Nguồn gốc pháp luật
Pháp luật ra đời cùng với sự xuất hiện của nhà nước, đó là một điều tất yếu khách quan Xét vềphương diện chủ quan, pháp luật do nhà nước đề ra và đảm bảo thực hiện bằng sức mạnh của mình, trởthành một công cụ có hiệu quả nhất để bảo vệ lợi ích của giai cấp thống trị trong xã hội, nó quản lý xã hộitheo mục đích của nhà nước cũng tức là mục đích của giai cấp thống trị
Trước khi pháp luật xuất hiện, tổ chức thị tộc, bộ lạc quản lý xã hội bằng những phong tục tập quánvới bản chất của nó là nguyên tắc bình đẳng giữa các thành viên trong xã hội Khi nhà nước xuất hiệncùng với việc các quan hệ trong xã hội phát triển vượt bậc cả về bề rộng và chiều sâu, các phong tục tậpquán này không còn có thể điều chỉnh được nữa mà cần một loại quy phạm xã hội mới đó chính là phápluật
Pháp luật được hình thành bằng nhiều cách với những hình thức khác nhau
- Con đường thứ nhất là “luật pháp hoá”, “nhà nước hoá” Nhà nước thừa nhận và nâng lên những
tập quán có lợi cho mình Đó là “ tập quán pháp” Có tập quán được nhà nước chính thức thừa nhận vàđưa vào nội dung bột luật, nhưng cũng cõ những tập quán được nhà nước mặc niên thừa nhận Như vậy cótập quán pháp thành văn và tập quán pháp không thành văn Điển hình là ở các nước phương Đông như ấn
Độ, Trung Quốc, Việt Nam
- Con đường thứ hai là do nhà nước ban hành mới Do nhu cầu điều chỉnh những quan hệ ngày càng
phức tạp, phong phú, sâu và rộng mà tập quán pháp không thể điều chỉnh được hết Pháp luật được tồn tạidưới dạng thành văn và bất thành văn Pháp luật thành văn ra đời ngay từ khi xuất hiện chữ viết.VD nhưluật 12 bảng của La Mã cổ đại, bột luật Hammurabi của Lưỡng Hà cổ đại
c Đặc điểm hình thành nhà nước ở phương Đông
ở phương Đông, các nhà nước thường được hình thành ở lưu vực những con sông lớn Điều kiện tựnhiên đã chứa đựng trong đó cả ưu đãi và thử thách Bất cứ một cộng đồng nào ở đây cũng phải tiến hànhcông cuộc trị thuỷ và thuỷ lợi Mặc dù ở phương Đông chế độ tư hưu về ruộng đất gần như không có, xãhội bị phân hoá chậm chạp đồng thời tính giai cấp rất hạn chế và mâu thuẫn giữa các giai cấp đối kháng
Trang 3phát triển chưa tới mức độ gay gắt, quyết liệt như ở phương Tây nhưng trong môi trường kinh tế xã hộimới như vậy nhà nước đã phải ra đời Chính công cuộc trị thuỷ, thuỷ lợi không chỉ là yếu tố duy trì chế độ
tư hữu về ruộng đất mà còn là yếu tố thúc đẩy nhà nước phải ra đời sớm Trước đó tổ chức của công xã thịtộc, với quy mô tổ chức và hiệu lực của nó, không còn đủ khả năng tổ chức công cộng chống lũ và tướitiêu Đồng thời nhu cầu tự vệ cũng là một yếu tố quan trọng thúc đẩy quá trình hình thành nhà nước Nhànước ra đời sớm, cả về thời gian và không gian, do điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội đặc biệt của phươngĐông
Trong tất cả phạm vi các cộng đồng, tầng lớp quý tộc lúc ban đầu vốn thực hiện “chức năng xã hội”đảm bảo lợi ích chung của cả cộng đồng, rồi chuyển sang “địa vị độc lập đối với xã hội” và cuối cùng
“vươn lên thành sự thống trị đối với xã hội”
B Nhà nước ở một số quốc gia tiêu biểu
1.1 Phương Đông cổ đại
1.1.1 Ai Cập:
1.1.1.1 Quá trình ra đời của nhà nước Ai Cập cổ đại
Qua những tài liệu và tư liệu khảo cổ học cũng như theo sự ghi chép của các sử gia Hy lạpHerodotes, Diodore, Strabon và nhất là Manetho với tài liệu “Lịch sử Ai Cập” cho chúng ta thấy Ai Cập làmột trong những trung tâm văn minh lớn của nhân loại Văn minh Ai Cập phát triển ở vùng Đông Bắcchâu Phi, trải qua 4 giai đoạn là Tảo vương quốc (3200 – 3000 TCN), Cổ vương quốc (3000 – 2200TCN), Trung vương quốc (2200 – 1570 TCN) và Tân vương quốc (1570 – 1100 TCN) Xã hội có giai cấp
và Nhà nước xuất hiện vào thời kỳ đầu của Cổ vương quốc
Trước khi Nhà nước hình thành, đất nước Ai Cập tồn tại các thiết chế chính trị đầu tiên gọi là
các châu (Nome), được hình thành do sự tan rã của các công xã thị tộc Đứng đầu mỗi châu là thủ lĩnh (nomarque), ông ta có quyền tổ chức chính quyền, quân đội, tụ hội nhân dân và xây dựng các công
trình thủy lợi để tưới tiêu, phục vụ sản xuất nông nghiệp Năm 3200 TCN, bằng các cuộc chiến tranhchính phục và thôn tính, vua Thượng Ai Cập là Menes đã đánh chiếm Hạ Ai Cập và sát nhập hai vùng nàythành một nhà nước thống nhất và đến thời Cổ vương quốc, chế độ chiếm hữu nô lệ hình thành Bướcsang thời Trung – Tân vương quốc, nhà nước Ai Cập đã đạt đến sự phồn thịnh và trở thành một đế quốcrộng lớn có lãnh thổ trải dài từ Bắc Phi sang tận Trung Đông, Nam Á Thiết chế chính trị - xã hội đượchình thành với đầy đủ những đặc tính cơ bản của nó
1.1.1.2 Tổ chức bộ máy nhà nước, quân đội (TW – địa phương)
Đứng đầu bộ máy nhà nước là Pharaoh Ông có quyền lực rất lớn: bổ nhiệm hoặc bãi miễn chức vụ
của quan lại, quyết định các công việc quan trọng của quốc giaa Pharaoh là người sở hữu tối cao về ruộng
Trang 4đất, có quyền phân phát ruộng đất và của cải theo ý mình Quyền lực tối thượng của ông ta được tínngưỡng hóa làm cho nó trở thành thứ siêu nhiên, huyền bí.
Thứ hai sau Pharaoh là Tể tướng (Vizier) và tăng lữ cấp cao (high priest) Tể tướng là là vị quan có
quyền thứ hai sau Pharaoh, thay mặt vua quản lý đất nước, chịu trách nhiệm về tổ chức hệ thống các quanlại trong triều đình, các hoạt động về nông nghiệp Tăng lữ cấp cao nắm giữ nhiều tài sản lớn như nhà thờ,
ruộng đất và đồ tế tự và là lực lượng quan trọng của hoàng gia Ai Cập cổ Thứ ba là quý tộc (royal
overseers) Họ là lực lượng chủ yếu của hoàng gia, có sức mạnh kinh tế và chính trị lớn và là trụ cột củatriều đình Ai Cập cổ đại Cuộc đấu tranh giành giật quyền lợi về chính trị - kinh tế giữa hai giai cấp quýtộc – tăng lữ chi phối sự thăng trầm của lịch sử Ai Cập
Thứ tư là các tỉnh trưởng quản lý các tỉnh (district governors - thường là các quốc gia bị Pharaoh chinh phục và biến thành tỉnh) Thứ năm là thư lại (Scibes) Họ là những người có học thức, biết chữ Họ
chuyên ghi chép tài liệu, bảo quản sổ sách, tài liệu của hoàng gia, thường được tuyển chọn trong các kỳ
thi chọn quan lại Thứ sáu là những nghệ nhân (artisans) chuyên về xây dựng đền đài, chạm khắc các hoa văn tinh xảo Cuối cùng là nông dân công xã (Farmers) và nô lệ (labourer) Nông dân công xã trong xã
hội Ai Cập chiếm 90% dân số và là lực lượng sản xuất chính nuôi sống xã hội Họ sống trong những công
xã thị tộc mà ở đó, các hộ nông dân được phân chia ruộng đất (hằng năm, 3 năm/lần) để cày cấy và họphải nộp một phần sản phẩm cho lãnh đạo công xã Trong công xã, quyền quản lý thuộc về Hội đồngtrưởng lão và các công xã thị tộc tồn tại dai dẳng cho đến khi xã hội có giai cấp xuất hiện Đến thời Tânvương quốc, Pharaoh Ahmose I và những người kế vị đã thành lập một chính quyền mạnh, gia tăng sự canthiệp của Nhà nước vào các công xã nói chung và các thành viên công xã nói riêng Nhà nước một mặtkiểm soát chặt chẽ thi hoạch mùa màng của nông dân, mặc khác lại cung cấp giống và gia súc cho cácthành viên công xã theo định mức nhất định Nô lệ là lực lượng khá đông đảo trong xã hội, họ bị coi nhưtài sản và có quyền mua bán, chuyển nhượng Số lượng nô lệ ngày càng tăng chủ yếu là các thành viêncông xã bị phá sản hay bị bần cùng hóa
Bộ máy nhà nước tuy tương đối cồng kềnh, nhưng hoạt động một cách hiệu quả và chặt chẽ Ngoàinhững quy định trong tuyển chọn quan lại theo thứ bậc, nhà nước ban hành nhiều quy định về hoạt động,thẩm quyền của các bộ phận từ trung ương đến địa phương, ban bố những sắc lệnh quy định về sự trừngphạt
1.1.1.3 Luật pháp (Ma’at), ý nghĩa
Người đứng đầu hệ thống pháp luật là Pharaoh, người chịu trách nhiệm thi hành pháp luật, thực thicông lý, duy trì pháp luật và trật tự, một khái niệm được người Ai Cập cổ đại gọi là Ma'at [1] Mặc dù
không có bộ luật nào từ thời Ai Cập cổ đại còn tồn tại, thư liệu của tòa án cho thấy luật pháp Ai Cập đượcdựa trên một cái nhìn chung về ý thức đúng và sai mà nhấn mạnh tới việc đạt được thỏa thuận và giảiquyết xung đột thay vì tôn trọng đúng một tập hợp quy chế phức tạp Thời Cổ - Trung vương quốc, quyềnxét xử tối cao thuộc về Pharaoh Dưới ông là một số bồi thẩm đoàn do các quan đại thần đứng đầu Đếnthời Tân vương quốc quyền xét xử được phân thành tòa án cấp trung ương và tòa án cấp địa phương (vùng
Trang 5và khu) Tòa án trung ương gồm 30 người Tòa án địa phương (Kenbet) chịu trách nhiệm về phán quyếttrong các phiên tòa liên quan đến các vụ kiện nhỏ và tranh chấp nhỏ Trường hợp nghiêm trọng hơn liênquan đến giết người, giao dịch đất lớn, và cướp mộ được đưa đến Đại Kenbet, mà tể tướng hoặc pharaohchủ trì Nguyên đơn và bị đơn dự kiến sẽ đại diện cho bản thân và phải thề một lời tuyên thệ rằng họ đãnói sự thật Ngoài tòa án Nhà nước, ở Ai Cập còn có cả tòa án Tôn giáo.
Bộ máy tư pháp hình thành khá sớm, đồ sộ nhưng thẩm quyền của nó chưa tách bạch với hànhpháp Sự mờ nhạt về ranh giới giữa quản lý hành chính và quyền xét xử là đặc trưng của chế độ chiếmhữu nô lệ chuyên chế Quyền tư pháp chỉ là bộ phận đặc thù của quyền hành pháp
1.1.2 Lưỡng Hà:
1.1.2.1 Quá trình ra đời của nhà nước Lưỡng Hà cổ đại
Người Sumer từ xa xưa đã định cư ở vùng Mesopotamie (Lưỡng Hà, nắm giữ hai sông Tigris vàEuphrates) Vào giữ thiên niên kỷ IV TCN, người Sumer chuyển dần từ công xã nguyên thủy sang xã hội
có nhà nước Nhiều quốc gia đầu đã ra đời ở Lưỡng Hà dưới dạng thành bang như Ur, Lagash, Kish,Nippur…, tồn tại độc lập với nhau Đứng đầu các thành bang này là Pateshi và sau ông là cả bộ máy nhànước tương đối hoàn chỉnh Về sau, do tranh giành quyền lực liên miên giữ các thành bang nên ngườiSumer không giữ nổi quyền cai trị ở vùng đất này và phải nhường lại cho người Akkad, một tộc ngườithuộc tộc Semites rất mạnh ở phía Bắc Lưỡng Hà Vào thế kỷ XXIV TCN, người Akkad đánh bại cácthành bang Sumer và thống trị Lưỡng Hà Thời kỳ Akkad (2369 – 2253 TCN) là thời kỳ thịnh trị củangười Semites Tuy nhiên, do các nguyên nhân chính trị - kinh tế, đặc biệt là chiến tranh liên miên giữaAkkad với các dân khác làm Đế quốc Akkad suy yếu và sụp đổ Vương triều III của Ur cũng có thốngnhất Lưỡng Hà, nhưng nó không bền vững và chẳng bao lâu sau thì sụp đổ
Lợi dụng sự suy yếu của Lưỡng Hà, người Elam và Amorites bằng nỗ lực của mình đã tạo ranhững quốc gia rất hùng mạnh như Larsa, Isin, Assyria, Babylon…, trong đó vương quốc Baby lon xuấthiện vào năm 1895 TCN là quốc gia hùng mạnh nhất Thời Hammurabi (1792 – 1750 TCN), vương quốcnày đã đánh bại các vương quốc khác của người Elam, đạt được nhiều thành tựu về kinh tế - chính trị -quân sự Khi đế quốc này suy yếu, nó bị người Kassites, Assyria đánh chiếm, rồi được người Chaldeaphục hồi một thời gian (vương quốc Tân Babylon, 626 – 538 TCN) để rồi cuối cùng bị ngoại bang tiêudiệt
1.1.2.2 Tổ chức bộ máy nhà nước, quân đội (TW – địa phương)
Vào thiên niên kỷ IV TCN, khi người Sumer thành lập các quốc gia (hoặc thành bang), họ đã tổ chứcmột bộ máy nhà nước tương đối chặt chẽ Đứng đầu các quốc gia này là Pateshi Ông là người có quyềntối cao (nắm vương quyền – thần quyền), nắm giữ ruộng đất và tư liệu sản xuất, được truyền giữ thế tập
Trang 6Ngoài Pateshi ra còn có Hội đồng trưởng lão, Hội nghị nhân dân và các quan chức bộ máy chính quyền,quyết định các vấn đề quan trọng của quốc gia Về cấu trúc xã hội, người Sumer (và các tộc người kế tiếp)chia xã hội thành các tầng lớp như quý tộc, tăng lữ, quan lại, quan binh chuyên nghiệp, nông dân công xã(hay dân tự do), thợ thủ công và nô lệ Đến thời Babylon, bộ máy nhà nước được củng cố từ trung ươngđến địa phương Vua là hiện thân của thần linh, đứng đầu vương quyền – thần quyền và có quyền lực vôhạn Sau vua có cả một bộ máy quan lại cồng kềnh Ở địa phương thì vua chia thành các tỉnh và cử Thốngđốc đến cai trị Vua nắm quyền hành pháp, lập pháp và tư pháp và là quan tòa tối cao ở Babylon; dưới Vua
là bồi thẩm được bầu từ những người già cả và có danh tiếng; tăng lữ chỉ tham gia các phiên tòa khi họlàm lễ tuyên thệ cho các nhân chứng
Về xã hội, vua giữ nguyên cấu trúc như thế, chỉ thay đổi bằng cách chia dân tự do thành hai loại:Avilum và Mushkenu Tầng lớp Avilum được coi là người có quyền lợi chính trị - pháp luật, nhất là quyền
sở hữu tài sản, thừa kế Còn dân Mushkenu có địa vị thấp hèn hơn và bị phân biệt đối xử với ngườiAvilum Chẳng hạn, khi hai loại người này bị phạm tội thì người Mushkenu bị phạt nặng hơn; nếu cả hai
bị ai đó gây hại thì người Avilum được bồi hoàn nhiều hơn Về địa vị xã hội, người Mushkenu chịu thiệtthòi hơn Luật Hammurabi quy định, nếu người Mushkenu tát một người Avilum có địa vị cao hơn minhthì anh ta bị đánh trước sự có mặt của dân chúng, còn đánh người ngang địa vị mình thì chỉ nộp phạt Về
nô lệ, luật Hammurabi bảo vệ quyền sở hữu nô lệ một cách tuyệt đối Nếu kẻ nào làm mất dấu cho nô lệthì bị chặt tay, kẻ nào giúp đỡ hay chứa chấp nô lê thì bị tử hình Về địa vị nô lệ, luật cho phép ngườiMushkenu và nô lệ cung đình được lập gia đình, có nhà cửa và tài sản Nếu con nợ thiếu nợ mà không cókhả năng chi trả thì bị phạt làm công cho chủ nợ 3 năm
1.1.2.3 Luật pháp
a Luật thành Ur (luật của vua Urnammu)
Luật thành Ur được xem là bộ luật sớm nhất của Lưỡng Hà cổ đại Nó ra đời vào thế kỷ XXI TCNdưới thời vua Urnammu, có 40 điều khoản (hiện dịch được 32 điều) Bộ luât là sự tổng hợp thành tựu luậthọc của các thời kỳ trước, phân chia rõ 4 lĩnh vực là hình sự, dân sự, hôn nhân gia đình và tố tụng hình sự
+ Về hình sự, luật quy định: các hành vị phạm tội như giết người, cướp, đưa ra bằng chứng giảmạo, ngoại tình… đều bị tử hình Ngoài ra, luật quy định các hình phạt khác như tù giam (điều 3) và phạttiền (điều 8, 9, 10) Các trường hợp gây thương tích người khác (làm mù mắt, gẫy chân, tàn phế…) sẽ bịphạt tiền: làm mù mắt người khác bị phạt 30 schekel (điều 18); làm gẫy chân bị phạt 10 schekel (điều 19);trong lúc ẩu đả, nếu làm người kia tàn phế và không lao động được thì bị phạt 60 schekel (điều 20)
+ Về dân sự, luật đã đặt ra vấn đề bồi thường tài sản (điều 31, điều 32); quyền sở hữu tài sản (điều
30) và hợp đồng thuê mướn (điều 32) Điều 30 Bộ luật Urnammu qui định: “Người lén lút trồng cây trên thửa đất của người khác thì hoa lợi trên đất đó sẽ không thuộc về anh ta.” hay Điều 31 qui định: “Người làm ngập úng đồng lúa mạch của người khác, người đó sẽ bị phạt phải bồi thường.”; Điều 32: “Nếu một người đã thuê người khác cày cấy, nhưng người này đã không thực hiện đúng nghĩa vụ cam kết mà bỏ
Trang 7hoang cánh đồng ấy, anh ta sẽ bị coi là vi phạm hợp đồng và bị phạt”.
+ Về hôn nhân – gia đình, luật Urnammu bảo về quyền lợi của người đàn ông (cụ thể là người
chồng) Điều 11 qui định: “Nếu một người đàn ông mà ngủ với một người phụ nữ góa bụa, anh ta sẽ không bị nộp phạt.”, ngược lại “nếu một người phụ nữ đã kết hôn mà ngoại tình đi theo một người đàn ông khác thì người phụ nữ đó sẽ bị giết và người đàn ông được trả tự do” (Điều 7) Ngoài ra, bộ luật cũng
bảo vệ quyền lợi của phụ nữ Luật quy định người chồng được quyền ly hôn, nhưng người chồng đó phải
nộp cho người vợ một khoản tiền rất lớn Điều 9 qui định: “Nếu một người đàn ông mà muốn ly dị người
vợ đầu tiên của mình, anh ta phải trả cho người vợ đó 60 schekel” hay Điều 10 qui định: “Nếu một người đàn ông mà muốn cưới lại người vợ mà mình đã ly dị, anh ta sẽ phải trả người phụ nữ đó 30 schekel.”.
+ Về xét xử - tố tụng, luật có nhiều quy định (nhưng mang tính tôn giáo nhiều hơn) Về tố tụng thì
dùng hình thức thử tội (ordeal) Điều 13 qui định: “Nếu một người bị cáo buộc là dùng tà đạo ma thuật, anh ta phải chịu thử tội bằng hình thức ném xuống sông Nếu anh ta vô tội (không bị chết), anh ta sẽ được tha.” Điều 14 qui định: “Nếu một người đàn ông bị cáo buộc là đã thông dâm với vợ của người đàn ông khác, anh ta sẽ phải chịu thử tội bằng hình thức ném xuống sông Nếu qua thử tội cho thấy anh này vô tội thì người đã cáo buộc anh ta thông dâm phải trả anh ta 20 schekel” Về xét xử thì những vị tăng lữ chính
là thẩm phán xét xử Họ xét xử công khai ở cổng ra vào của các thành thị để người dân ý thức pháp luật
và coi trọng công lý Về nô lệ, luật quy định nô lệ là người tự do, họ có tài sản riêng, được giao kết hợpđồng (Điều 32), được quyền kết hôn, thậm chí được quyền kết hôn với người tự do (Điều 5)
B Luật Hammurabi
Luật Hammurabi là bộ luật tiêu biểu nhất của Lưỡng Hà cổ đại Bộ luật được các nhà khảo cổ Phápphát hiện ở Susa (Đông Babylon) vào năm 1901 Luật Hammurabi gồm 282 điều, được khắc trên cột đábazan cao 2,25 m, đường kính đáy 2 m Bộ luật được các nhà soạn luật soạn vào thế kỷ XVIII TCN, tuynhiên chưa phân định rõ ràng giới giữa hình luật, dân luật, luật tố tụng hay hôn nhân gia đình
Về nguồn gốc, bộ luật là sự kết tinh các quy định do vua Hammurabi và Tòa án cấp cao để lại Đồngthời, luật có sự kế thừa các bộ luật của người Sumer; luật Lipitistar của Nippur và luật Eshnunna (thế kỷ
XX TCN) Bộ luật thể hiệ tư tưởng chính trị của Vua muốn thông qua luật pháp để hạn chế, xoa dịu mâuthuẫn xã hội ở Babylon, củng cố và phát triển kinh tế - xã hội thông qua mua bán nhà cửa, ruộng vườn,gia súc, vay mượn… phát triển đa dạng
+ Chế định hợp đồng, vay mượn: luật quy định muốn thực hiện hợp đồng phải có 3 điều kiện: (1) tàisản chưa lưu thông; (2) người bán là chủ sở hữu; (3) việc ký kết hợp đồng có sự làm chứng của một sốngười Về hợp đồng mua bán, luật quy định: người bán nếu bị người làm chứng tổ cáo là mình bán đồ củangười khác sẽ bị tử hình; chủ đồ vật không chứng minh cho người làm chứng biết đồ bị mất là của mìnhcũng bị tử hình (tội vu khống, điều 9; 11)
+ Chế độ lĩnh canh ruộng đất Luật quy định mức tô thường là 1/3 đến ½ sản phẩm; mức tô vườn cây
Trang 8ăn quả chiếm 2/3 sản phẩm (điều 41) Có thiên tai xảy ra, người lĩnh canh chịu thiệt hại nhiều nhất: trảtrước không vì thế được bồi hoàn (điều 45; 46); không trả đúng hạn thì phải trả lại cả nợ lẫn lãi suất (điều48) Mức lãi suất khá cao: 20% nếu là vay tiền, 33,3% nếu là vay lương thực Luật cho phép chủ nợ bảolãnh bằng bất động sản của con nợ và gia đình con nợ.
+ Hôn nhân – gia đình Luật quy định người chồng là chủ trong gia đình, có toàn quyền kinh tế - xãhội, bán vợ đợ con cho người khác dưới hình thức con nuôi (điều 185; 188) Vợ vô sinh thì chồng được lyhôn, vợ có thể lấy lẽ và ở lại nhà chồng Quyền ly hôn của phụ nữ bị hạn chế Phụ nữ được ly hôn nếuchồng ngoại tình, bỏ nhà ra đi, vu cáo vợ ngoại tình
+ Thừa kế tài sản Luật quy định 2 hình thức thừa kế: theo luật và di chúc Khi người quá cố để lạitài sản mà không di chúc thì tài sản thuộc về người thừa kế Thừa kế theo di chúc có xuất hiện nhưng rấthạn chế Luật quy định thêm nếu con trai không mắc tội nặng thì cha được thừa kế tài sản của con Contrai – con gái thừa kế ngang nhau, con nô tì cũng được thừa kế nếu người cha nhận làm con mình
+ Hình luật trong luật Hammurabi khắc nghiệt Hầu hết các quy định về hình sự đều cho phép ápdụng hình thức “báo thù”, “trả nợ máu”, mức hình phạt luôn tương xứng với mức tội ác: giết người thì xửtội chết, làm chết con người khác thì con của phạm nhân cũng phải chết, nếu bị vu cáo giết người thì phải
tự tử… Khi xã hội phân giai cấp thì hình luật thay đổi Người Mushkenu tát một người Mushkenu khác bịphạt 84 g bạc Luật cũng quy định phạt vạ: cả công xã phải trả phạt cho người bị cướp tài sản nếu khôngtìm ra thủ phạm, người bị hại chết thì công xã nộp phạt thêm Những loại tội phạm đặt biệt nghiêm trọngnhư giết người, cướp của (30 loại theo luật Hammurabi) sẽ bị xử tử Hình thức xử tử khắc nghiệt: đốt trêngiàn lửa, đóng cọc, dìm xuống nước…
+ Phân biệt đẳng cấp Luật quy định, kẻ nào giúp đỡ nô lệ chạy trốn hay xâm phạm tài sản riêng bịphạt Kẻ nào ăn cắp gia súc hay thuyền bè bị phạt nặng từ 10 – 30 lần so với giá trị tài sản đó, nếu kẻ đókhông thể bồi hoàn thì bị giết Quản lý làm thất thoát tài sản của gia chủ thì bị phanh thây bằng bò kéo
+ Luật tố tụng thời Hammrabi chưa có hình thức cụ thể Việc xét xử được thực hiện công khai lúc bịhại khởi tố Các chứng cứ, bằng chứng là điều kiện xác nhận kẻ đúng và người sai Đối với các vụ việcnghiêm trọng thì các bên buộc phải tuyên thệ trước thần linh Các quan tòa không được thay đổi án quyết,nếu thay đổi sẽ bị cách chức Luật này kế thừa luật thành Ur về hình thức thử tội Điều 2 Bộ luật
Hammurabi qui định: “Nếu một người kiện một người khác, bị đơn sẽ phải đi đến một dòng sông và nhảy xuống, nếu anh ta chìm, bị dòng nước cuốn đi, nguyên đơn sẽ được sở hữu nhà của bị đơn Nhưng ngược lại, nếu anh ta không bị chết chìm, tức là anh ta còn sống sót, thì anh ta được coi là vô tội, nguyên đơn sẽ
bị giết chết, và bị đơn sẽ sở hữu nhà của nguyên đơn”.
1.1.3 Ấn Độ:
Trang 91.1.3.1 Quá trình ra đời của nhà nước Ấn Độ cổ đại
Về lịch sử hình thành nhà nước, nhà nước Ấn Độ xuất hiện từ lâu đời Vào thiên niên kỷ III TCN,
do sự phát triển của lực lượng sản xuất và phân hóa giai cấp, nhà nước đã ra đời ở Ấn Độ Đến thiên niên
kỷ II TCN, người Arya xâm nhập vào càng thúc đẩy nhanh quá trình thành lập nhà nước Họ phá hủy vănhóa sông Ấn – Hằng, đồng hóa cư dân Dravida bản địa Khi nền kinh tế phát triển, mâu thuẫn xã hội ngàycàng gay gắt dẫn tới sự ra đời chế độ đẳng cấp Varna (thiên niên kỷ II – I TCN) gồm 4 đẳng cấp: Brahman(Tăng lữ); Kshatriya (quý tộc); Vaisya (thương nhân) và Shudra (người cùng khổ) Đẳng cấp Brahmanđứng đầu hệ thống đẳng cấp, có nhiều quyền lợi Họ đặt ra các quy tắc quản lý xã hội, dùng tôn giáo đểràng buộc người dân phải cam chịu, nhẫn nhục và phục tùng giai cấp thống trị Arya
Từ thiên niên kỷ II đến thế kỷ IV TCN, ở Ấn Độ cổ đại đã thành lập các tiểu quốc, do các tiểuvương (raja) đứng đầu Ở trung ương, dưới Raja là Hội đồng bộ lạc gồm Sabha (hội đồng các chức sắccủa bộ lạc) và Samiti (hội đồng toàn thể dân tự do trong bộ lạc), những hội đồng này có ảnh hưởng rất lớnđến các quyết định của Raja Giúp việc cho Raja là các quan cận thần (Sabhasad), Tể tướng (Purohita),chỉ huy quân sự (Senani) và các thượng thư phụ trách một số ngành thông qua các sở địa phương
Đất nước được chia thành các đơn vị hành chính gọi là làng (gramma), do trưởng làng lãnh đạo.Các làng được phân chia nhiều bậc khác nhau: cấp trên trực tiếp là mười làng, rồi 20 làng, 100 làng vàcuối cùng là 1.000 làng… và các làng như thế do các quý tộc lãnh đạo Quan đứng đầu 1.000 làng trựcthuộc nhà Vua Để kiểm soát quan lại, vua lập ra cơ quan mật vụ có nhiệm vụ dò la, kiểm soát hoạt độngcủa quan lại, quần chúng Quan lại thời kỳ này có lương bổng Tùy theo chức vụ và phẩm tước thì quanlại bậc trung được cấp lương gấp 3 lần quan lại bậc thấp, quan đại thần được cấp gấp 6 lần quan lại bậctrung
Thời Morya (321 – 187 TCN), đất nước Ấn Độ rất rộng lớn Để quản lý đất nước, vua chia đấtnước thành các châu và cử thủ hiến (người thuộc hoàng tộc) đến cai trị, thủ hiến chỉ có việc theo dõi vàgiám sát, còn trực tiếp cai trị các châu là các quý tộc cũ Ở đia phương vẫn chia như cũ (làng là đơn vị cơ
sở chính) Ngoài xây dựng bộ máy nhà nước, các vua Morya xây dựng lực lượng quân đội mạnh, gồmquân của nhà vua, quân của vương hầu và quân của các bộ lạc phụ thuộc Lục quân (tượng binh, kỵ binh,chiến xa…) và hải quân là hai lực lượng chính Lúc chiến tranh, nhà nước huy đọng đến 60 vạn bộ binh, 3vạn kỵ binh
Để bảo vệ quyền lợi của giai cấp thống trị, nhà nước Ấn Độ ban hành luật pháp Do trong xã hội cổđại, các giáo lý tôn giáo và tập tục địa phương (truyền thống, đẳng cấp) đan xen vào nhau nên làm quầnchúng bị ràng buộc rất nhiều thứ luật lệ Hình phạt phổ biến là nhục hình; làm tổn thương tới phạm nhânnếu họ phạm tội (nhất là trộm cắp) Việc xét xửu do các quan chức đứng đầu địa phương và trung ươngxét xử Vua chỉ xét xử những vụ quan trọng nhất Thời kỳ này quan chức hành chính kiêm luôn tư pháp,xét xử, tư pháp chưa tách khỏi hành pháp
Trang 101.1.3.2 Luật pháp
+ Luật Manu:
Về nội dung và lịch sử, luật này không thua kém luật Hammurabi Đây là một tập hợp các luật tụcdựa trên quan niệm của đạo Balamon soạn ra vào thế kỷ III – II TCN Luật Manu có 2.685 điều chia thành
12 chương, trình bày dưới dạng câu song vần Nội dung của luật tập trung các vấn đề sau đây:
+ Quyền sở hữu: luật này áp dụng cho các công xã Ấn Độ Luật quy định kinh tế, đất đai công xã
là của chung và không ai được chiếm đoạt (điều 264, chương 7) Người nào tự tiện thay đổi địa giới đấtđai đều bị trừng phạt, nếu không giải quyết nổi thì “nhờ” Vua giải quyết (điều 265, chương 8) Việc muabán đất đai được nhà nước công nhận, nhà nước giám sát hoạt động buôn bán (bất động sản) nhất là vớithương gia Điều 9 quy định, nếu người nào bán giá bất động sản cao hơn giá quy định thì nhà nước thuhồi mức tiền chênh lệnh; tranh chấp đất đai mà đưa ra chứng cứ giả cũng bị thu hồi Trong quyền sở hữucủa nhà nước còn gồm đất hoang, rừng núi và lợi tức thu được từ ruộng đất
Để khẳng định quyền sở hữu tài sản, luật Manu bắt các chủ sở hữu tài sản phải chứng minh nguồngốc của tài sản ở đâu: mua bán, chuyển nhượng, thừa kế… Sự chiếm hữu dài hạn chưa đầy đủ là căn cứphát sinh quyền sở hữu Nếu chủ sở hữu cho người khác sử dụng tài sản suốt 10 năm thì không được đòilại (điều 147, chương 8) Như vậy, thời hạn chiếm hữu xuất hiện đầu tiên trong luật này
+ Hợp đồng: Luật Manu có nhắc tới tính hiệu lực của hợp đồng dân sự Hợp đồng sẽ không có hiệulực khi hợp đồng đó được ký với người bị tâm thần, người nát rượu hay người chưa vị thành niên; khôngthừa nhận các hợp đồng được ký kết do cưỡng bức hay lừa đảo, bí mật (điều 163, 165; chương 8) Hợpđồng được ký kết công khai Nếu hàng hóa bán ra có hư hỏng thì người mua có thể hủy hợp đồng (thờihạn hủy là 1,5 năm nếu hàng hóa là gia súc, một năm nếu hàng hóa là nô lệ) (điều 15, chương 4) Luật có
đế cập đến hoạt động cho vay – mượn, quy định mức lãi suất khác nhau theo đẳng cấp (tính theo năm):Balamon 2%; Kshatriya 3%; Vaisya 4% và Shudra 5% Nếu người vay nợ chết thì họ hàng người đó phảitrả nợ thay; nếu không trả được nợ thì bị biến thành nô lệ (hoặc gia đình con nợ thành nô lệ), con nợ dâydưa không chịu trả nợ thì sẽ bị chủ nợ lôi ra đánh đập cho đến khi con nợ trả được nợ mới thôi (điều 49,50)
+ Hôn nhân – gia đình: trong gia đình, người chồng có quyền lực lớn Ông ta có quyền cưới vợ, sởhữu vợ theo kiểu “bảo hộ” làm cho phụ nữ “không thể độc lập được” (điều 147, 148; chương 5) Phụ nữkhông được ly hôn với chồng (điều 46; chương 9) Luật cũng cho phép người chồng được phép bỏ vợ nếu
bị vợ ghét bỏ (điều 47; chương 9), bỏ vợ (năm thứ 8) nếu vợ vô sinh, bỏ vợ (năm thứ 10) nếu vợ sinh con
bị chết, bỏ vợ (năm thứ 11) nếu vơ sinh con gái, bỏ vợ ngay nếu vợ bị điên (điều 81; chương 9)
+ Thừa kế, các con trai được thừa kế như nhau Những người thừa kế có thể dùng chung tài sảnthừa kế do anh cả quản lý (điều 105; chương 9), một phần tài sản được chia cho con gái dưới dạng của hồimôn (diều 118; chương 9), con gái không lấy chồng được chia tài sản ngang mức con trai và tài sản riêng
Trang 11không chung tài sản với mẹ đẻ (điều 192; chương 9).
+ Hình luật, luật Manu thể hiện tính đẳng cấp khắc nghiệt được thể hiện qua nhiều quy định Vớiđẳng cấp dưới như Vaisya và Shudra không có khoan dung, mọi vị phạm của họ đều bị trừng phạt nặng nềnhư bị cắt lưỡi, đổ dầu đun sôi vào miệng… (điều 270, 272; chương 8) Còn Balamon và Kshatriya nếu viphạm thì bị phạt tiền Đối với tội trộm cắp, luật Manu phạt rất nặng: kẻ trộm đêm thì bị đóng cọc, trongcác trường hợp khác thì bị đánh đập, tái phạm đến lần 3 thì bị xử tử (điều 277; chương 9) Ăn cắp tài sảncủa nhà Vua và nhà chùa thì bị tử hình ngay lập tức (điều 280; chương 9), tội công khai ăn cướp tài sảncủa nhân dân, dùng vũ lực với bị hại thì kẻ cắp bị xử tử cùng gia đình, họ hàng của hắn (điều 269; chương9) Tội mua bán hàng giả, lừa gạt bị trừng phạt; tội phản quốc thì bị trừng phạt bằng cách “thiêu bàntay”, cắt lưỡi, chặt tay, móc mắt, xẻo mũi, cắt bỏ bộ phận sinh dục…(điều 125; chương 8) Kẻ nào nấurượu nếu bị bắt thì bị khắc chữ vào trán, kẻ ăn trộm bị khắc hình chân chó vào trán…
1.1.4 Trung Quốc:
1.1.4.1 Quá trình ra đời của nhà nước Trung quốc cổ đại
a Quá trình hình thành:
Trung Quốc là một trong những nền văn minh lớn của phương Đông cổ đại, cũng như Ai Cạp, Lưỡng
Hà, ấn Độ, ở đây cũng có hai con sông lớn chảy qua đó là sông Hoàng Hà ở phía Bắc và sông TrườngGiang ở phía Nam Lịch sử của Trung Quốc cổ đại kéo dài gần 2000 năm từ khoảng TK 21 TCN đến năm
221 TCN Trong thời gian đó, lãnh thổ của Trung Quốc từ lưu vực sông Hoàng Hà không ngừng được mởrộng nhưng nhìn chung, nếu so với ngày nay thì còn rất hạn chế
Vào khoảng TK 3 TCN, cư dân lưu vực sông Hoàng mới chuyển sang chế độ công xã thị tộc phụ hệ.Theo truyền thuyết, ở đây có nhiều bộ lạc nổi tiếng như Hoàng Đế, Đường Nghiêu, Ngu Thuấn, HạVũ Qua quá trình đấu tranh và liên hiệp giữa các bộ lạc, cuối cùng hình thành một liên minh bộ lạc lớnmạnh do Đường Ngiêu, Ngu Thuấn, Hạ Vũ lần lượt được bầu làm thủ lĩnh
Trong thời kỳ này, kinh tế phát triển rõ rệt, nghề nông đã phát triển hơn trước nhiều do các công trìnhthuỷ lợi được xây dựng lại thêm đất đai màu mỡ Do vậy, trong xã hội đã xuất hiện sự phân hoá tài sản và
sự phân hoá xã hội diễn ra mạnh hơn Tầng lớp quý tộc thị tộc ngày càng chiếm nhiều ruộng đất của côngxã.Dần dần tầng lớp quý tộc thị tộc hình thành một giai cấp-quý tộc chủ nô Đến thời Hạ, số lượng nô lệngày càng nhiều lên với nguồn chính là tù binh chiến tranh Nông dân công xã vẫn là lực lượng xã hộiđông đảo thời bấy giờ
Khi Hạ Vũ chết, các quý tộc thân cận nhà Hạ trong liên minh bộ lạc đã ủng hộ con của Vũ là Khải lênthay Việc bầu thủ lĩnh đến đây là chấm dứt, việc cha truyền con nối được coi là đương nhiên Khi trởthành vua, Khải trở thành ông vua có quyền hành rất lớn Sự kiện này đánh dấu sự hình thành nhà nước ở
Trang 12Trung Quốc.
b Sơ lược lịch sử Trung Quốc cổ đại
Nhà nước đầu tiên trong lịch sử Trung quốc là nhà Hạ, do Vũ sáng lập vào khoảng năm 2005TCN Sau khi Vũ chết thì con ông là Khải lên nắm quyền, ông này trở thành vua đầu tiên của Trung Quốc
cổ đại Trải qua mấy thế kỷ, Kiệt nổi lên là một bạo chúa, áp bức bóc lột dân chúng thậm tệ, mâu thuẫn xãhội đã tới mức gay gắt Nhân đó, nhà Thương được thành lập, tấn công nhà Hạ, nhà Hạ diệt vong
Năm 1711 TCN, nhà Thương thay thế nhà Hạ Nhà Thương còn được gọi là nhà Ân, vì nhàThương dời đô về đất Ân Khư Vua cuối cùng cùa Nhà Thương là Trụ Vương say mê sắc đẹp của Đắc Kỷhoang dâm, tàn bạo làm cho vương triều suy yếu Nhà Chu lợi dụng tình hình này tiến quân tiêu diệt nhàThương, thành lập nhà Chu Vua Chu thực hiện chính sách phân phong đất đai cho con cháu mình làmchư hầu Nhà Chu có 2 thời kỳ: Xuân Thu và Chiến Quốc
+ Thời Xuân Thu (771 – 475 TCN), chính quyền nhà Chu suy yếu, gần 100 nước chư hầu gâychiến tranh thôn tính lẫn nhau, xưng bá để khống chế nhà chu và các nước khác Đây là thời kỳ suy sụpnhững giá trị đạo đức, xã hội rối ren, loạn lạc… do đó, xuất hiện nhiều tư tưởng, học thuyết chính trịnhằm ổn định xã hội (thời kỳ bách gia chư tử)
+ Thời Chiến Quốc (403 – 221 TCN), đây là thời kỳ các nước gây chiến lẫn nhau giành quyềnthống trị cả Trung Quốc Cuối thời kỳ này nổi lên 7 nước lớn Tề, Yên, Hàn, Sơ, Triệu, Nguỵ, Tần và một
số nước nhỏ Năm 256, Đông Chu bị nhà Tần tiêu diệt Sau đó, nhà Tần lại lần lượt thôn tính các quốc giacòn lại, thống nhất Trung Quốc và cũng từ đó, Trung Quốc bước sang giai đoạn lịch sử mới – giai đoạnphong kiến
Về xã hội: Trung Quốc có 2 tầng lớp chính là địa chủ, nông dân công xã Ở Trung Quốc, quý tộc (còn gọi là địa chủ)có 3 loại là quý tộc thị tộc (vua – quan), quý tộc tăng lữ và các quý tộc khác Họ là
giai cấp thống trị, nắm nhiều ruộng đất, của cải và nhiều quyền lợi về chính trị Kế tiếp là nông dân công
xã (có 2 loại là nông dân tự canh và tá điền) Họ là lực lượng chính trong xã hội, có ruộng đất, gia đình vàtài sản, nhưng bị địa chủ bóc lột thậm tệ Giai cấp nô lệ cũng xuất hiện thời kỳ này nhưng chưa có vai tròquan trọng trong xã hội Chế độ nô lệ mang tính gia trưởng (nô lệ được coi là con người, có tài sản, ruộngđất và được địa chủ coi như người thân trong nhà)
1.1.4.2 Tổ chức bộ máy nhà nước, quân đội (TW – địa phương)
Vào thời cổ đại, bộ mày nhà nước Trung Quốc còn đơn giản Thời kỳ dân chủ quân sự, đứng đầu làThủ lĩnh bộ lạc; dưới ông là Hội đồng các bô lão có nhiệm vụ bầu cử thủ lĩnh, quyết định các vấn đề vềchiến tranh, trị thủy Khi nhà Hạ thành lập, Vua Hạ thiết lập còn khá đơn giản Dưới Vua chỉ mới có một
Trang 13số quan lại giữ một số chức vụ quản lý các ngành kinh tế như: Mục chính (quản lý việc chăn nuôi); Xachính (quản lý xe); Bào chính (quản lý việc dâng thức ăn cho Vua)… những chức quan này do quý tộc thịtộc đảm nhiệm.
Vào thời Thương đứng đầu bộ máy nhà nước là Vua (quý tộc lớn nhất, người đứng đầu dòng họ).Vua có quyền hành lớn về kinh tế, chính trị, sở hữu tối cao về ruộng đất Vua toàn quyền quyết định mọiviệc “Lễ Nhạc, chinh phạt đều từ Thiên tử mà ra” (Luận ngữ - chương Quý thị) Nhà Vua thần thánh hóa
uy quyền và mượn “uy quyền” thần linh bắt nhân dân thần phục Dưới vua là Vu xử, vị quan có quyền lớn
nhất Ông này làm nhiều công việc như làm lịch, coi việc ghi chép số sách, quản lý hồ sơ, coi việc giáodục, dạy dỗ Vua và bảo hộ Ấu vương… Sau đó là cả một tập đoàn quý tộc, quan lại giúp Vua cai quản cácviệc hành chính, hình pháp, quân đội, tế tự, ruộng đất, thủ công nghiệp… Những quan lại này là ngườicủa hoàng tộc và được thế tập
Vào thời Tây Chu (1066 – 771 TCN), người thống trị cao nhất gọi là Thiên tử Vua thiết lập “Tamcông”[2] và “Lục Khanh”[3] để giúp việc cho mình Để thiết lập quyền cai trị ở Trung Quốc, Vua TâyChu chia đất nước thành 6 vùng gọi là “Lục toại”, cử “toại sự” sang cai trị các vùng này (cai quản đất đai,nhân dân) Trong quan hệ đối ngoại, nhà Tây Chu thành lập chế độ Tông pháp Theo chế độ này thì vuaChu là Tông chủ, các nước thần phục nhà Chu gọi là chư hầu và triều cống Thiên tử đều đặn Lúc đó ởTrung Quốc có 71 nước chư hâu thần phục Tây Chu và ở các nước chư hầu, bộ máy nhà nước tổ chứctheo hình thức quân chủ quý tộc
Thời Đông Chu (771 – 256 TCN) với hai giai đoạn lớn là Xuân Thu – Chiến Quốc, bộ máy nhànước ngày càng đông đảo, tăng cường sự chuyên chính của giai cấp thống trị đối với nhân dân lao động 1.1.4.3 Luật pháp
1.1.4.3.1 Bối cảnh ra đời, nội dung các bộ luật tiêu biểu
Từ thời Hạ, nhà nước đã chú ý đến hình pháp Thời Thương đã xây dựng các nhà tù, sử dung nhiềuhình phạt như đóng dấu nung đỏ, cắt mũi, gông cùm, đi đày; nếu phạt tội nặng bị xử tử bằng cách chônsống, mổ bụng, xẻo từng mảnh, bỏ vào cối giã Hiện tượng một người phạm tội cả nhà bị giết xuất hiện từ
thời Thương Sang thời Chu, hình phạt có 5 loại là Ngũ hình: thích mực vào trán, chặt chân, cắt mũi, thiến
và chém đầu Luật pháp thời Chu có 3.000 điều luật quy định cụ thể về Ngũ hình: tội thích chữ 1.000điều, tội chặt chân 500 điều, tội thiến 300 điều, tội cắt mũi 1.000 điều, tội chém đầu 200 điều
Về sau do sự phát triển của quốc gia mà hệ thống pháp luật được thay đổi Quý tộc cho rằng, nếunhư cứ cai trị bằng bạo lực thì dân sẽ không nghe theo, có khi còn phản lại chính quyền; cho nên họ thayđổi tư tưởng: giáo hóa nhân dân bằng chữ “đức”, để dân không khinh nhờn và nghe theo mình Ngoài
“đức”, quý tộc còn giáo dục bằng chữ “lễ” Họ cho rằng “lễ” chính là quy định về thứ bậc, nghi thức ăn ở,hội họp; là quy tắc ứng xử đề con người nghe theo Hai chữ “đức” và “lễ” là công cụ thống trị nhân dân
về mặc tinh thần của nhà Chu nhằm xóa nhòa và làm dịu mâu thuẫn giai cấp trong xã hội Sang thời Xuân
Trang 14Thu, với sự ra đời của Nho giáo thì hệ thống tư tưởng được nâng cao một bước Ông chủ trương con
người phải có đủ 4 đức tính là: nhân, nghĩa, lễ, trí; đề cao chữ “nhân” và “lễ” Nhân là phạm trù đạo đức
(có 5 phạm trù chính[4]) của con người Để thực hiện Nhân, ông đưa ra chữ Luân để chỉ trật tự trong quan
hệ xã hội: luân lý, loạn luân; không có Luân thì xã hội sẽ rối loạn Mọi người phải lo tu dưỡng đạo đức,
rèn luyện để có lòng nhân từ Những người làm vua, làm quan mà biết làm điều nhân nghĩa thì sẽ thuphục lòng người và dân trông vào để học theo[5] Ngoài ra, ông cũng đề cao “lễ” “Lễ” là lễ nghi, lễ phép,
tập tục gia đình liên quan đến hành vi ứng xử của con người, thiết chế và hoạt động tâm linh Nhân là nội dung, Lễ là hình thức trong ứng xử của con người Cần vứt bỏ mọi thèm muốn riêng tư để thực hiện “lễ”,
cụ thể là không nhìn, không nghe, không nói, không làm điều gì trái “lễ”, có thế thì xã hội mới được ổnđịnh Đối với người lãnh đạo, ông cho rằng muốn cho dân giàu, nước mạnh thì phải phấn đấu theo lýtưởng: tu thân (tu dưỡng bản thân); tề gia (điều khiển gia đình); trị quốc (cai trị quốc gia); bình thiên hạ(thôn tính, thống trị thiên hạ) Học thuyết của Khổng Tử giúp củng cố trật tự xã hội, chuyên chính quốcgia và dung hòa mâu thuẫn xã hội
Cũng trong thời kỳ này, ở một số nước chư hầu ngoài nước Chu đã ban hành một số bộ luật
như Hình thư của nước Trịnh, Hình Phù của nước Hàn, Hiến lệnh của nước Sở, Quốc luật của nước
Việt… Về sau nước Hàn tổng hợp kinh nghiệm lập pháp của các nước và bộ luật cũ (Hình Phù) ban hành
bộ luật mới là Pháp kinh Bộ luật này tuy thất truyền nhưng theo sử sách thì đây là bộ luật hoàn chỉnh
nhất Trung Quốc cổ đại Nó có 6 chương là: Đạ pháp: quy định về tội cướp; Tặc pháp: quy định về tội giảmạo; Tư pháp; quy định vvề tố tụng, xét xử; Bộ pháp: quy định về bắt giam; Tạp pháp: tạp luật; Bối pháp:quy định những nguyên tắc chung Đồng thời trong thời kỳ này đã xuất hiện nhiều nhà tư tưởng chủtrương dùng pháp luật để cai trị như Quản Trọng, Thương Ưởng, Thận Đáo, Thân Bất Hại, Hàn Phi; đạidiện tiêu biểu là Hàn Phi (280 – 233 TCN) Theo Hàn Phi, để cai trị đất nước trong thời đại loạn lạc nhưthế thì không thể nào dùng nhân đức để ổn định xã hội, mà phải dùng pháp luật Về nội dung, nó gồm 3yếu tố: pháp, thế, thuật
- Pháp: pháp luật và mệnh lệnh của vua phải rõ ràng, mạch lạc Việc chấp pháp phải nghiêm minh
- Thế: uy quyền của nhà vua
- Thuật: phương pháp điều hành, quản lý cn người: bổ nhiệm (căn cứ và tài năng để bổ nhiệm,không kể đến dòng dõi), khả hạch (căn cứ và trách nhiệm để kiểm tra hiệu quả công viêc) và thưởng phạt(căn cứ và kết quả khả hạch, thưởng nhiều, phạt nặng)
Theo Pháp gia, với 3 yếu tố pháp, thế, thuật vua có thể trở thành một vị vua tốt mà không cần nhânnghĩa, không cần trí tuệ,…
Nhận định chung về nhà nước phương Đông cổ đại (mô hình nhà nước, các tổ chức
- Các nhà nước ở phương đông cổ đại xuất hiện “sớm” do tác động vấn đề thủy lợi, trị thủy, sự tan rã của
Trang 15công xã thị tộc, chiến tranh diễn ra liên miên giữa các vùng với nhau.
- Các nhà nước cổ đại phương Đông luôn là hình thức quân chuyên chế trung ương – tập quyền
- Bộ máy nhà nước là bộ máy bạo lực lớn, được thần thánh hóa nhằm bảo vệ giai cấp thống trị một cáchđắc lực nhất Điều này làm cho bản chất giai cấp của các nhà nước này nổi trội hơn bản chất xã hội củanó
- Sự tồn tại lâu dài của các công xã nông thôn ảnh hưởng đến tổ chức chức bộ máy nhà nước Nhà nướcquản lý địa phương thông qua công xã nông thôn
- Tuy nhiên, trong quá trình phục vụ cho giai cấp của mình, nhà nước chiếm hữu nô lệ phương đông đãlàm nồng cốt cho nhân dân sáng tạo, xây dựng và phát triển văn hóa Do đó, các quốc gia phương đông cổđại đã đạt nhiều thành tựu huy hoàng về văn hoá trở thành một trong những trung tâm của văn minh thếgiới cổ đại
+ Pháp luật:
- Công khai thừa nhận sự bất bình đẳng trng quan hệ giai cấp, đẳng cấp bả vệ quyền lợi và địa vị của giaicấp chủ nô và những người thuộc đẳng cấp trên trng xã hội nhằm củng cố sự thống trị tuyệt đối của giaicấp chủ nô
- Trong quan hệ gia đình, thừa nhận sự bất bình đẳng giữa vợ và chồng, giữa các con với nhau, dưới ảnhhưởng của chế độ thống trị gia trưởng
- Trọng hình, khinh dân, ranh giới giữa hình sự và dân sự rất mờ nhạt
- Mang tính chất đồng thái phục thù
- Có dấu hiệu của sự phân biệt lỗi cố ý và vô ý
- Bị ảnh hưởng bởi tôn giá, lễ và các hệ tư tưởng chính trị
- Về hình thức, không có tính hệ thống, từ ngữ sử dụng rất cụ thể, không mang tính khái quát
1.2 Phương Tây cổ đại
1.2.1 Hy Lạp:
a Vị trí địa lý, quá trình ra đời của nhà nước Hy Lạp cổ đại, kết cấu xã hội
Về vị trí địa lý, Hy Lạp cổ đại có 3 phần: Hy lạp lục địa, các thành bang Hy Lạp và Đại Hy Lạp
Trang 16Hy Lạp lục địa có 3 vùng rõ rệt: miền bắc là đồng bằng Beoxi, miền trung là đồng bằng Attic và miềnnam là đồng bằng Laconi, ngoài ra có nhiều núi bao bọc xung quanh Hy Lạp sông ngắn, đồi núi nhiều và
ít đồng bằng nên không thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp, chỉ thuận lợi cho sản xuất công thươngnghiệp (làm rượu vang, rép dầu) Mặc khác do địa hình bị chia cắt bới nhiều núi, đồi nên Hy Lạp khó hìnhthành nhà nước thống nhất ma chi có thể hình thành các quốc gia nhỏ (thành bang)
Xã hội Hy Lạp hình thành từ khi thành lập các thành bang Có 3 giai cấp là chủ nô, nông dân – thịdân, nô lệ
Lịch sử Hy lạp hình thành bắt đầu từ việc ra đời nền văn minh đầu tiên của phương Tây – văn minhCret – Mycenne Nền văn minh này tồn tại suốt 18 thế kỷ (thế kỷ XX – XII TCN) và chủ nhân của
nó chính là người Achéen; thời kỳ này cũng đã thành lập khá nhiều nhà nước chiếm hữu sơ khai của HyLạp như Crete, Mycenne, Tyre, Pilot… Vào thế kỷ XII TCN, sau khi khi văn minh Cret – Mycenne bịngười Dorien từ phía bắc xuống tiêu diệt, Hy lạp bước vào thời kỳ tiếp theo là thời kỳ Homer (thế kỷ XI –
IX TCN) – thời kỳ của giai đoạn dân chủ quân sự, một hình thức quá độ từ sự tan rã của công xã nguyênthủy sang xã hội có giai cấp Kết thúc thời Homer, Hy Lạp bước vào thời kỳ thành bang (thế kỷ VIII – IVTCN) Ở thời kỳ này, nhiều nhà nước ra đời lấy một thành phố làm trung tâm nên gọi là Thị quốc (hayquốc gia thành thị) và tồn tại độc lập; ruộng đất thuộc quyền sở hữu chung và tất cả công dân đều cóquyền sở hữu số ruộng đất đó Nô lệ thuộc quyền sở hữu của chủ nô Đến thế kỷ IV – I TCN, các thànhbang mất dần độc lập và rơi vào ách thống trị của Macedonia, La Mã Với sự kiện La Mã đánh chiếm AiCập năm 31 TCN thì toàn bộ Hy Lạp rơi vào ách thống trị của La Mã
b Tổ chức bộ máy nhà nước, quân đội
Vào thiên niên kỷ III – II, khi Hy Lạp bước vào thời kỳ có giai cấp thì họ đã hình thành ra nhữngnhà nước chiếm hữu nô lệ cổ Hy Lạp như Cret, Mycenne, Tyre, Pilott… Ở các nhà nước này, quyền thốngtrị thuộc về giai cấp chủ nô mà đứng đầu là Vua (có nhiều quyền lực, sở hữu tối cao ruộng đất), sau ông ta
là quý tộc, quan lại và tăng lữ Trong cuốn “Lịch sử”, Herodote đã mô tả: Minos, vua Cret đã thống trịmột vùng rộng lớn ở lục địa Hy Lạp, biển Hy Lạp và quần đảo Syclas Khi chiếm thêm một vùng đất mới
Minos lại đưa con hay những người tin cẩn đến cai trị và phong họ làm Vua ở những nơi đó Minos nắm
trong tay quân đội bao gồm lục quân và hải quân
Khi văn minh Cret – Mycenne bị người Dorien tiêu diệt, Hy Lạp bước vào thời kỳ mới là thời
kỳ chế độ dân chủ quân sự (thế kỷ XI – IX TCN) Ở thời kỳ này, các công xã nông thôn sáp nhập vào thành liên minh công xã Đứng đầu liên minh này là Basileus, ông này rất được đề cao và tự xưng
Vua, còn tù trưởng bộ lạc thì làm nhiệm vụ tôn giáo, tế lễ Cơ quan có quyền lực tối cao là Đại hội nhândân, nơi mà biểu quyết phần lớn thuộc về đàn ông có vũ trang; các quyết định quan trọng sẽ do Đại hộinhân dân giải quyết mà không phải thủ lĩnh giải quyết Đến thời kỳ thành bang, bộ máy nhà nước chính
Trang 17thức được hình thành và phát triển tiêu biểu là thành bang Sparte và Athens.
1.2.1.1 Nhà nước cộng hòa Sparte:
Sparte nằm trên bán đảo Peloponeses gần đồng bằng Laconi, là một trong những quốc gia xuấthiện khá sớm và tồn tại lâu trong lịch sử Hy Lạp từ thế kỷ IX đến thế kỷ III TCN
Hình thức chính thể của Sparte là cộng hòa quý tộc Đứng đầu nhà nước là hai vua có quyền lực
ngang nhau (mục đích kiềm chế nhau), bên cạnh hai vua có Hội đồng trưởng lão gồm 30 người (kể cả hai
vua), thành viên của nó là những người từ 60 tuổi trở lên được lựa chọn từ hàng ngũ quý tộc giàu có vàdanh vọng Hội đồng này có quyền quyết định những vấn đề và công việc hệ trọng của quốc gia như chiến
tranh, hòa bình Trong nhà nước Sparte, Hội nghị công dân là cơ quan có quyền lực cao nhất, gồm tất cả
công dân Sparte từ 30 tuổi trở lên và Vua có quyền triệu tập Hội nghị này Trong Hội nghị công dân,thong thường khi Vua đưa ra vấn đề thì Hội nghị này sẽ không được họp bàn mà chỉ biểu quyết bằng chocông dân kêu hay gào thét khi họ đồng tình hoặc phản đối Khi biểu quyết những vấn đề quan trọng,những người tham gia Hội nghị sẽ biểu quyế bằng cách cho công dân xếp thành hai hàng theo hai phía:đồng ý và không đồng ý, và bằng cách này thì người ta biết đa số thuộc về phía nào Về sau do mâu thuẫn
và phân hóa xã hội, chính quyền thành lập một cơ quan mới là Hội đồng năm quan giám sát, mà thành
viên của nó chính là những đại biểu quý tộc chủ nô giàu có, bảo thủ nhất Nó có quyền giám sát hai vua,Hội đồng trưởng lão, Hội nghị công dân, có quyền giải quyết mọi công việc ngoại giao và tài chính, thẩmtra tư cách công dân Thực chất đó là cơ quan tối cao của nước Sparte
Sparte có quyền lực ở Hy Lạp vì có quân đội mạnh Luật pháp về quân đội quy định nghiêm ngặt:con đầu trong gia đình phải là con trai, nếu là con gái thì vứt xuống vực sâu Con trai khi sinh ra phảingâm trong nước lạnh, nếu còn sống thì khỏe mạnh và nếu chết rồi thì ném xuống vực sâu Lúc 7 tuổi,con trai bị bắt rời khỏi gia đình và vào ở trang trại của Nhà nước, để học tập và tập luyện quân sự Namgiới ra trận lúc 13 tuổi, đến 60 tuổi thì giải ngũ Chính luật pháp khắc nghiệt này mà người Sparte có lựclượng quân đội mạnh, nhất là bộ binh và hải quân và nhiều lần khống chế các thành bang khác bắt nó thầnphục Sparte lạc hậu, phản động đối lập hoàn toàn nhà nước Athens tiến bộ về mọi mặt
1.2.1.2 Nhà nước dân chủ chủ nô Athens
1.2.2.1 Quá trình hình thành
Thành bang Athens (do người Ionien thành lập vào thế kỷ XII TCN) là thành bang nhỏ hẹp vớidiện tích 2650 km2, dân số 30 – 40 vạn người, có nhiều tài nguyên phục vụ kinh tế, thương mại và thủcông nghiệp nên xây dựng một chế độ chính trị tương đối rộng rãi Theo sự nhận xét của nhiều sử gia,thành bang Athens là thành bang điển hình nhất Hy Lạp và là thành bang dân chủ nhất thế giới cổ đại Nóđược thành lập dưới hình thức cộng hòa quý tộc (như Sparte), tuy nhiên do nhiều nguyên nhân như: giaicấp thống trị xuất thân từ chủ nô công thương nghiệp, có quan hệ rộng rãi với bên ngoài, đặc biệt hơn làảnh hưởng của cuộc đấu tranh đòi quyền dân chủ của quần chúng lao động (chủ yếu là người có của cải)
Trang 18nên nhà nước Athens có nhiều chủ trương phù hợp và tiến bộ hơn so với nhà nước Sparte.
1.1.2.2 Quá trình dân chủ hóa nhà nước Athens (sự hình thành bộ máy nhà nước Athens cổ đại)
1.1.2.2.1 Cải cách Theseus (thế kỷ VIII TCN)
Người ta cho rằng, Theseus – vị anh hùng nổi tiếng của Hy lạp cổ đại – đã đề xướng cuộc cải cáchchính trị - xã hội đầu tiên trong lịch sử Thế kỷ VIII TCN, ông tiến hành cải cách bằng cách: thiết lập liênminh bốn bộ lạc (sống ở bốn nơi khác nhau) trên cơ sở tự nguyện và bình đẳng Ông cũng chia toàn xứAthens thành 48 địa khu (Noccrary), mỗi bộ lạc cũ gồm 12 địa khu Ông chia toàn thể cư dân Attic thành
3 tầng lớp có quyền lợi, nghĩa vụ khác nhau: quý tộc; nông dân; thợ thủ công Với cải cách này, ông bướcđầu tấn công vào chế độ thị tộc; Đại hội nhân dân còn tồn tại, nhưng quyền lực thực tế rơi vào tay Hộiđồng trưởng lão (Areopage) – gồm những đại biểu của tầng lớp quý tộc Hội đồng trưởng lão có quyền lậppháp, tư pháp, giám sát và quyết định các công việc hệ trọng của đất nước Chức vụ Basileus bị bãi bỏ vàthay vào đó là chức quan chấp chính[6] (archontes), được cử ra từ tầng lớp quý tộc
Mặc dù sự thống trị của quý tộc công thương được thành lập nhưng luôn vấp phải sự đấu tranhkiên quyết của nông dân tự do và kiều dân Metec, một bộ phận khác trong giới quý tộc công thương.Aristotle miêu tả tình cảnh này là “đa số nhân dân bị một số ít nô dịch”; “nhân dân nổi dậy chống lại quýtộc Sự nổi loạn diễn ra rất mãnh liệt” Để giải quyết tình hình, năm 621 TCN quan chấp chính Draco (621– 620 TCN) ban hành bộ luật mới nhưng nó quá nghiệt ngã, tuy nhiên nó cũng bước đầu tấn công mạnhvào tầng lớp quý tộc thị tộc
1 Cải cách Solon (594 TCN)
Trước tình hình xã hội – chính trị phức tạp như vậy, chính quyền Athens cử Solon – nhà thơ nổitiếng của Athens (638 – 558 TCN) – tiến hành cải cách chính trị ở Athen theo hướng tiến bộ Người Hy
Lạp gọi cải cách của ông là Sesachtheia (trút bỏ gánh nặng).
Ông tuyên bố xóa bỏ chế độ nô lệ vì nợ, cấm biến đồng tộc thành nô lệ Ông cũng cải cách hệthống tiền tệ, cấm xuất khẩu nông sản (trừ nho và oliu), thừa nhận quyền tư hữu, tự do chuyển nhượng tàisản, đưa ra mức chiếm hữu ruộng đất cụ thể cho quý tộc để tránh tình trạng quý tộc bao chiếm nhiềuruộng đất Về xã hội, ông phân chia thành 4 đẳng cấp dựa theo mức tài sản chiếm hữu:
+ Đẳng cấp thứ nhất: thu nhập hằng năm trên 500 medimme (1 medimme = 52,5 kg) thóc; đượcgiữ các chức vụ quan trọng trong nhà nước như chấp chính quan, Hội đồng trưởng lão, có nghĩa vụ góptiền xây dựng hạm đội, nghi lễ công cộng
+ Đẳng cấp thứ hai: thu nhập hằng năm từ 300 medimme thóc trở lên; được gia nhập kỵ binh.+ Đẳng cấp thứ ba: thu nhập hằng năm trên 200 medimme thóc; được phục vụ trong bộ binh
Trang 19+ Đẳng cấp thứ tư: thu nhập hằng năm dưới 200 medimme thóc; được tham dự Hội nghị công dân,nhưng không nắm giữ các chức vụ trong Nhà nước.
Về chính trị, ông có thay đổi: giữ nguyên Viện Nguyên lão và Hội nghị công dân, nhưng thành lậpthêm Hội đồng 400 người (trên cơ sở 4 bộ lạc); Tòa án nhân dân gồm nhiều bồi thẩm để thảo luận, xét xử.Nhà nước tuyên bố công dân đều có quyền chống án và quyền tự bào chữa cho mình
Cải cách Solon có ý nghĩa lớn: giáng một đòn khá mạnh vào chế độ thị tộc, bước đầu thiết lập trật
tự xã hội mới theo thể chế dân chủ; đem lại nhiều quyền lợi cho quý tộc chủ nô công thương (ủng hộ thểchế dân chủ); xoa dịu mâu thuẫn xã hội đặt nền móng cho sự thiết lập, hoàn thiện nhà nước Athens theothế chế dân chủ
1.2.2 La Mã
1.2.2.1 Quá trình ra đời của nhà nước La Mã cổ đại, kết cấu xã hội
Bán đảo Italia vươn ra Địa Trung Hải có nhiều đồng bằng rộng và đất đai màu mỡ, lag nơi gặp gỡcủa những luông văn minh Đông và Tây Địa Trung Hải Trước khi La Mã chiếm toàn bộ Italia, ở đây coa
3 tộc người sinh sông, người Hy Lạp ở phía Nam, người Etrusque ở phía Bắc và người Latin ở phía trung.Người Latin cho xây dựng thành La Mã nên họ được gọi là người La Mã
Quá trình hình thành NN La Mã là kết quả của cảc hai yếu tố : sự phân hoá XH, phân hoá giai cấp
ở tộc người Latin và tộc người Etrusque và cuộc đấu tranh của người Latin chống lại sự xâm lược củangười Etrusque Xã hội người La Mã thời kỳ này vẫn là chế độ quân sự bộ lạc, sau đó, XH dần bị phânhoá thành quý tộc chủ nô, nô lệ, bình dân
Quá trình ra đời của nhà nước La Mã có 3 giai đoạn: thời Vương chính (753 – 510 TCN); thờiCộng hòa (510 – 27 TCN); thời Đế chế (27 TCN – 476 SCN)
1.2 Tổ chức bộ máy nhà nước La Mã cổ đại
Vào thời kỳ công xã nguyên thủy, La Mã đã bắt đầu hình thành bộ máy nhà nước, nhưng còn sơ khai
Thời nguyên thủy, La Mã có 300 thị tộc; về sau người ta tổ chức lại: gom 300 thị tộc này chia thành bào tộc, cứ 10 thị tộc hợp thành bào tộc (La Mã gọi là Curie) và thế là La mã có 30 bào tộc (đại diện cho ba bộ tộc La Mã lúc đó) sống xen kẽ nhau
Thời Vương chính (753 – 510 TCN), mở đầu bằng sự kiện Romulus thành lập thành Roma ngày
21/4/753 TCN Ở thời kỳ này, bộ máy chính quyền có 3 cơ quan chính:
+ Vua (Rex) là người lãnh dạo tối cao của La Mã Vua không được thế tập, được Viện nguyên lão
và Đại hội nhân dân bầu ra Vua là người chỉ huy quân đội, tăng lữ và là quan tòa ở La Mã cổ đại
Trang 20+ Viện nguyên lão (Senat) là cơ quan đầu tiên của nhà nước La Mã sơ khai Thành phần chủ yếucủa Viện là quý tộc thị tộc (60 tuổi trở lên), được bầu trong các thị tộc (mỗi thị tộc cử người lãnh đạo củamình vào Viện); số lượng người trong Viện khá cao: từ 100 người (thế kỷ VIII TCN) sau thì tăng lên 300người (thế kỷ VII – VI TCN) Viện nguyên lão là cơ quan có quyền lực tối cao, có quyền quyết định cácvấn đề quan trọng của nhà nước; được thảo luận, phê chuẩn hoặc phủ quyết các nghị quyết của Đại hộinhân dân (có tài liệu viết là Hội nghị công dân); thay Vua cai quản thị tộc khi Vua chết hoặc chưa có Vuamới kế vị.
+ Đại hội nhân dân (Curie) là cơ quan quyền lực kế tiếp sau Viện nguyên lão, thành phần tham giaĐại hội chính là những người đàn ông có vũ trang Đại hội có quyền quyết định các vấn đề quan trọngnhư tuyên chiến, hòa bình, xét xử, tế lễ và bầu cử Vua La Mã
Đến giai đoạn cuối của thời Vương chính, La Mã có nhiều thay đổi: kinh tế - chính trị phát triển,đất đại được mở rộng Xã hội La Mã có thay đổi, đó là xuất hiện tầng lớp bình dân (Pleb) Plebs là dân tự
do, có nộp thuế nhưng không có quyền hạn về chính trị - kinh tế và không được coi là dân La Mã Về sau,khi phát triển dần về thế và lực, họ đã lớn mạnh và sinh ra mâu thuẫn với bọn quý tộc thị tộc (Patrici) Domâu thuẫn này mà người Plebs đấu tranh liên tục, đòi quyền bình đẳng và là công dân La Mã chính gốc
Nhận thức rõ sự lớn mạnh của người Plebs, năm 540 – 535 TCN vua người Etrusques (thứ 6)
là Servius Tullius (578 – 535 TCN) dựa theo cải cách Solon (Hy lạp – 594 TCN), tiến hành cải cách chínhtrị cho La Mã
Về hành chính, ông xóa bỏ 3 bộ lạc của La Mã cũ thiết lập 4 đơn vị hành chính theo khu vực cưtrú Tính huyết thống bị suy giảm và tính khu vực được tăng cường, tạo điều kiện cho người Plebs thamgia chính quyền
Về xã hội, ông phân chia nhân dân thành 5 đẳng cấp dựa trên mức tài sản họ chiếm hữu:
- Đẳng cấp 1: có mức tài sản là 100.000 as[7], chiếm hữu 20 jujera[8] ruộng đất
- Đẳng cấp 2: có mức tài sản là 75.000 as, chiếm hữu 3/4 ruộng đất của đẳng cấp 1
- Đẳng cấp 3: có mức tài sản là 50.000 as, chiếm hữu 10 jujera ruộng đất
- Đẳng cấp 4: có mức tài sản là 25.000 as, chiếm hữu 5 jujera ruộng đất
- Đẳng cấp 5: có mức tài sản là 11.000 as, chiếm hữu 2,5 jujera ruộng đất
Các đẳng cấp sẽ được phân chia vào quân đội của Đại hội Centurie, gọi là đội Centurie Cứ 100người phân thành 1 Centurie Theo cách phân chia này thì đắng cấp 1 có 80 Centurie bộ binh – 18Centurie kỵ binh, đẳng cấp 2, 3 và 4 thì mỗi đẳng cấp được 22; 20; 30 Centurie, đẳng cấp 5 có 1 Centurie.Như vậy, quân đội La Mã có 193 Centurie Các Centurie này được quyền bầu cử vào chính quyền La Mã,
Trang 21mỗi Centurie được bỏ 1 phiếu duy nhất; theo quy định thì số phiếu bầu cử quá bán (97/193) là mọi quyếtđịnh được thông qua.
Năm 510 TCN, người La Mã nổi dậy bãi bỏ ngôi Vua (Rex), thiết lập chế độ cộng hòa (respublica) Thiết chế cộng hòa được thiết lập ở La Mã và là thiết chế quan trọng nhất của La Mã Trong thiếtchế này, sự bình đẳng, nghĩa vụ cũng như quyền lợi của công dân được bảo đảm, đặc biệt là quyền tư hữu
Bộ máy nhà nước thời kỳ này có 3 cơ quan chính:
+ Đại hội Centurie (đại hội của đàn ông có vũ trang) là cơ quan quyền lực tối cao của La Mã Đạihội họp 1 năm 2 lần ở quảng trường Mars (quảng trường thần Chiến tranh), để quyết định các vấn đề quantrọng như tuyên chiến – nghị hòa; bầu ra hai quan chấp chính (consul) để lãnh đạo nhà nước La Mã vớinhiệm kỳ 1 năm Hai vị quan này sẽ có quyền lực ngang nhau, trực tiếp điều hành mọi công việc của nhànước (lập pháp, hành pháp, tư pháp)
+ Viện nguyên lão là cơ quan quyền lực cao nhất ở La Mã, gồm những quý tộc giàu có và có thếlực Số lượng nhân sự không ngừng tăng lên: từ 300 lúc dầu tăng lên 600, rồi 900 (thế kỷ III TCN) Việnnguyên lão có quyền phê chuẩn các nghị quyết của Đại hội Centurie, trực tiếp bầu cử quan lại cấp cao La
Mã vào nắm giữ chính quyền, quản lý tài sản, chính sách đối nội – đối ngoại và tôn giáo
+ Đại hội Tribune (đại hội của quan bảo dân), với đại diện là quan bảo dân (số lượng tăng dần 2, 4,
6 và 10 người) người Plebs do bình dân Plebs cử ra để bảo vệ các quyền lợi của người Plebs, giám sát và
có ý kiến với chính quyền La Mã (chấp nhận hoặc phủ quyết các dự luật của Viện nguyên lão, xém xét vàphủ quyết các đạo luật không có lợi cho người Plebs)
Về quân đội, chính quyền La Mã quy định công dân 17 tuổi trở lên phải đi lính một thời gian rồimới được bầu vào chức vụ trong nhà nước Quân đội tự túc lương thực, thực phẩm và dần dần trở nênmạnh mẽ Cuối thế kỷ V, lực lượng tăng dần từ 2 quân đoàn lên 4 quân đoàn, mỗi quân đoàn là 6.000người lính Thời gian phục vụ quân đội của công dân là từ 15 – 25 năm, kỷ luật nghiêm minh: ai có côngđược thăng quan, ai vị phạm bị phạt nặng
Ở địa phương, để cai trị vùng đất rộng lớn thì La Mã chia toàn bộ những vùng đất chiếm đượcngoài bán đảo Ý (Hy Lạp, Tây Ban Nha, Châu Phi, Tây Á) thành 9 tỉnh; ở mỗi tỉnh thì chính quyền cửthái thú đến cai trị (ông này có quyền tối cao) Mỗi tính có một kiểu cai trị riêng biệt, có quyền tự trị trongviệc giải quyết các vấn đề của địa phương Ngoài tỉnh thì chính quyền La Mã thành lập các thành phố tự
do, có ràng buộc nhất định với chính quyền chính quốc: có thành phố cho quyền tự trị rộng hơn, khôngnộp thuế nhưng vẫn cung cấp quân đội cho chính quyền La Mã khi có chiến tranh xảy ra, có thành phốvẫn phải nộp thuế, nhân vật lực…
Từ thế kỷ II – I TCN, thiết chế nhà nước chuyển dần từ Cộng hòa sang thời Đế chế Vào thời Đếchế, đứng đầu chính quyền là Hoàng đế có quyền lực tối cao, sau ông có hàng loạt quan lại; ở địa phương
Trang 22thì chính quyền quản lý chặt hơn, quân đội củng cố mạnh mẽ hơn.
1.2.2.3 Pháp luật La Mã( hoàn cảnh ra đời, bản chất, nội dung và ý nghĩa, tác động của luật 12 bảng(thế kỷ V TCN), luật Justinian (527 – 565)
Vào thế kỷ V TCN, ở La Mã đã xảy ra cuộc đấu tranh quyết liệt giữa tầng lớp bình dân (Plebs)
chống tầng lớp quý tộc (patrici) Thắng lợi của người Plebs đã buộc chính quyền ban hành Luật 12 bảng của La Mã Nội dụng bộ luật khá rộng rãi Nó chống lại việc xét xử độc đoán của quý tộc, bảo vệ
quyền lợi của công dân, đề ra các quy tắt về hình sự, dân sự, tố tụng
Cuộc đấu tranh giữa bình dân với quý tộc lại tiếp tục, hậu quả của nó là binh dân buộc quý tộc banhành các đạo luật nhằm ổn định xã hội và đáp ứng đòi hỏi của người bình dân như: bình dân được kết hônvới quý tộc (luật Canuleius, 445 TCN); bình dân tham gia quân đội (444 TCN); trong hai chấp chính quanphải có người bình dân, xóa bỏ chế độ nô lệ vì nợ (367 TCN); pháp lệnh của Đại hội nhân dân cũng cóhiệu lực pháp lý đối với người dân La Mã (287 TCN) Thời Đế chế, quyết định của Vua và Viện nguyênlão là luật pháp Thế kỷ III – VI, quyền lực của Viện nguyên lão bị hạn chế và quyền lực của Vua được tậptrung cao độ Mệnh lệnh của Vua là luật pháp; thong thường mệnh lênh của Vua có các văn bản như sắclệnh (lệnh ban bố ra toàn quốc); chỉ thị (mệnh lệnh với quan lại); chỉ dụ (mệnh lênh về 1 vấn đề chuyênbiệt) và quyết định (ý kiến về các vấn đề khá rõ ràng)
Luật trong tiếng Latin là Jus (công lý, công bằng) Hệ thống luật La Mã có 3 ngành lớn là Dân luật(Jus civile); Luật nhân dân (Jus gentium) và Luật tự nhiên (Jus Naturale)
Jus civile là những quy định, dự luật liên quan đến tổ chức nhà nước La Mã; nó gồm các sắc lệnh,chỉ dụ của Hoàng đế; quy chế của Viện nguyên lão và có giá trị như luật
Jus gentium là luật của nhân dân, có giá trị cho mọi người dân không phân biệt dân tộc Luật hợppháp hóa chế độ nô lệ và buôn bán, hợp tác và hợp đồng và nó thực té bổ sung cho Dân luật rõ ràng hơn
Jus naturale là bộ luật khá quan trọng, nội dung của nó kế thừa học thuyết của phái Khắc kỷ(Stoism) Luật khẳng định mọi người đều có quyền bình đẳng như nhau (quyền được sống, có tài sản và
có gia đình) mà các thể chế chính trị không có quyền tước đoạt
Dân luật (Jus civile); Luật nhân dân (Jus gentium) và Luật tự nhiên (Jus Naturale) đều có ảnhhưởng lớn đến nền luật học trung – cận đại châu Âu Hai bộ Tập luật và Bộ luật trong Pháp điển dân sựJustinian (thế kỷ VI) cho thấy ảnh hưởng lớn từ các bộ luật La Mã cổ đại
Dưới sự phát triển không ngừng của xã hội La Mã mà pháp luật được cải tiến cho phù hợp Thời
Đế chế, các Vua La Mã đã cử những nhà làm luật tài ba đi viết các tác phẩm cải tiến, bổ sung luật La Mã.Những nhà luật học xuất sắc thời kỳ đó là Ulpian, Papinian, Paulus và Gaius Các ông đã viết nhiều tác
Trang 23phẩm và có đóng góp xuất sắc cho ngành luật học La Mã Luật gia La Mã Julianus tập hợp các đạo luật
của Hoàng đế La Mã viết tác phẩm Các sắc lệnh chung; trong khi đó Gaius viết Bậc thang luật học, trình
bay tỉ mỉ về thủ tụng kiện cáo và tố tụng Luật La Mã là di sản có ảnh hưởng lớn đến xây dựng luật pháp
và các bộ luật của châu Âu sau này
1.2.2.4 Nhận định chung về nhà nước – pháp luật La Mã
- Pháp luật có những phát triển vượt bậc, đưa ra nhiều khái niệm chuẩn xác, có giá trị pháp lý cao
- Kỹ thuật lập pháp chuẩn xác, từ ngữ rõ ràng, trong sáng
- Điều chỉnh hầu hết các quan hệ xã hội quan trọng, phổ biến, đặc biệt lá các quan hệ trong lĩnhvực dân sự
1.2.2.5 Nhận định chung về nhà nước – pháp luật phương Đông, phương Tây thời cổ đại, so sánh, nhận định về nhà nước – pháp luật phương Đông – phương Tây cổ đại
Chương 2: Nhà nước và pháp luật thế giới thời phong kiến
2.1 Tây Âu:
A Nhà nước:
2.1.1 Quá trình thành lập các nhà nước phong kiến Tây Âu
2.1.1.1 Điều kiện thành lập các nhà nước phong kiến Tây Âu
- Bên trong, đó là sự suy yếu của nhà nước La Mã, thể hiện ở chế độ chiếm hữu nô lệ đang khủnghoảng Từ sau thế kỷ II, chế độ chiếm hữu nô lệ bị khủng hoảng nghiêm trọng Nô lệ nổi dậy càng nhiềulàm thành thị La Mã tiêu điều xơ xác, ruộng đồng hoang vu, mất đi nguồn nô lệ lớn Kinh tế La Mã khủnghoảng và bị đình trệ và mối liên hệ kinh tế giữa các vùng không hồi phục lại được nữa Để cứu vãn, năm
330, Contantinus I quyết định dời đô sang Byzatium và năm 395, Theodosius I chia đế quốc La Mã thành
2 quốc gia riêng biệt: Đông La Mã và Tây La Mã nhưng cũng không cứu vãn được, La Mã suy yếu dần vàcưới cùng bị người German tiêu diệt
- Bên ngoài, đó là sự xâm lược của người German Họ là một bô tộc cổ, sống chủ yếu ở vùng Bắc
Âu và có ngôn ngữ là bảng chữ cái Runes Theo một số tài liệu cổ, người German xuất hiện vào khoảngthiên niên kỷ III – II TCN và đã mở rộng lãnh thổ cư trú đến tận lưu vực sông Vistula, Danube vàokhoảng thế kỷ III TCN Người German sống trong những công xã thị tộc với những ngôi nhà xây dựng bờsông, nhiều công cụ bằng đá được ghè đẽo cẩn thận (theo J Caesar) Đến thế kỷ I SCN, họ bắt đầu trànxuống các khu vực ở Bắc và Trung Âu, sống theo lối định cư chứ không còn sống du mục như trước (theo
Trang 24Tacitus) và người La Mã đã gọi họ với cái tên đầy tính miệt thị là “man tộc” (barbares).
Từ thế kỷ III, do sự phát triển kinh tế - xã hội cộng với làn sóng di cư của người Hung Nô đã làmmột bộ phận lớn người German di cư ồ ạt vào đế quốc của người La Mã, chiếm luôn đất đai của họ (476)
và thành lập các vương quốc của người German: vương quốc Wisigoth (Tây Ban Nha), Ostrogoth (bánđảo Ý, vùng Balkan), vương quốc Burgondes, vương quốc Vandal (Bắc Phi), vương quốc Anglo – Saxon(Anh, Ireland và Scotland), vương quốc Lombard (bán đảo Ý)… tuy nhiên phần lớn các vương quốc nàytồn tại trong thời gian ngắn Chỉ có vương quốc Franktồn tại lâu dài và có ảnh hưởng mạnh mẽ đến lịch sửTây Au trong suốt giai đoạn sơ kỳ của chế độ phong kiến
2.1.1.2 Cách tổ chức quyền lực: có 4 hình thức:
- Nhà nước quân chủ chuyên chế trung ương tập quyền trong các vương quốc ở giai đoạn phong kiến sơ
kỳ (điển hình là Vương quốc Frăng);
- Chế độ tự quản trong các thành thị giành được quyền tự trị (thế kỷ 12-14);
- Nền quân chủ đại diện đẳng cấp
- Nền quân chủ chuyên chế
2.1.1.3 Các nhà nước tiêu biểu
2.1.1.3.1 Nhà nước quân chủ chuyên chế trung ương tập quyền Frank
a Quá trình hình thành, phát triển của nhà nước Frank
Người Frank (nghĩa là dũng cảm, tự do) sống ở miền hạ lưu sông Rhein (phía bắc La Mã), là một
trong những bộ tộc mạnh nhất của người Germain Từ thế kỷ III – IV, sau khi lớn mạnh về chính trị - kinh
tế, người Frank tràn vào xứ Gaule, nhân lúc La Mã suy yếu thì họ kết đồng minh rồi tấn công quân La
Mã Năm 486, nhân khi La Mã sụp đổ, thủ lĩnh Frank là Clovis đem quân đánh bại quân La Mã ở Soisson,rồi độc chiếm toàn bộ vùng phía bắc xứ Gaule
Sau trận thắng lớn đó (năm 486), Clovis chính thức thành lập vương quốc Frank, trở thành ông vua
có uy quyền lớn nhất và đồng thời là người đầu tiên sáng lập triều Merovingiens (481 – 751) Sau khi ôngchết, vương quốc bị chia xẻ thành nhiều công quốc và đánh giết lẫn nhau và trong lúc này, thế lực củatầng lớp quý tộc mạnh lên (nhất là Tế tướng) và quyền lực của Vua bị hạn chế; đồng thời vương quốc mởrộng sang phía bắc và nam xứ Gaule Đầu thế kỷ VIII, nhờ cải cách của Tế tướng Charles Martel, nướcFrank ngày càng lớn mạnh, chế độ ban cấp Benefice ra đời và nó góp phần giúp tầng lớp quý tộc mạnhhơn, khuyến khích sự ủng hộ của họ vào chính quyền nhà nước Năm 751, khi vương triều Merovingienssuy yếu, Pepin II (con của C Martel) lật đổ vương triều này và sáng lập vương triều mới – vương triềuCarlovingiens (751 – 987) Dưới thời Charles I Đại đế (Charlemagne, 771 – 814), người Frank đã thànhlập một đế quốc rộng lớn khắp châu Âu Thế nhưng, sau khi Charles I chết (814) đế quốc Frank do thiếu
Trang 25sự liên kết kinh tế vững chắc, sự thống nhất dân tộc nên đã nhanh chóng suy yếu dần Tháng 8/843, saunhiều trận chiến đấu ác liệt tranh giành ngôi vua, cuối cùng ba người cháu của Charles là Lothaire, Louis
le Germain và Charles le Chauve ký Hòa ước Verdun (Le traité de Verdun) chia đế quốc thành 3 phần:Lothaire được phần giữa (tả ngạn song Rhein, miền Bắc bán đảo Ý – vương quốc này có tên:Lothairingie), Louis le Germain được phần phía đông sông Rhein, Charles le Chauve được phần phía tây
đế quốc Năm 855, sau khi Lothaire I mất thì vương quốc của ông bị hai em là Louis và Charles chia xẻnhau Hòa ước Verdun năm 843 là cái mốc đánh đấu sự ra đời của 3 quốc gia là Pháp, Đức và Ý
b Bộ máy nhà nước ở Frank (Trung ương – địa phương)
Vào thời kỳ Merovingiens, nhà nước Frank tổ chức theo hình thức quân chủ Đứng đầu quốc gia làVua; Vua nắm quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp, thu thuế, chỉ huy quân đội… , dưới ông là một bộ máy
quản lý tương đối đơn giản từ trung ương đến địa phương Ở trung ương, Tể tướng là người đứng đầu
hàng ngũ quan lại (quản ly cung đình, trang viên của Vua) Dưới Tể tướng là quan văn làm cố vấn pháp lýcho Vua và một loạt các vị quan khác chuyên về quân sự, tài chính, văn thư, kho rượu… song sự phâncông ây chưa cụ thể (Quan Chưởng ấn hoặc Thị vệ có khi làm cả nhiệm vụ ngoại giao hoặc quân sự; Quanthống chế có khi phụ trách cả việc ăn uống hoặc tiệc tùng) Khi quyền lực của nhà vua suy yếu, thế lựccủa các quý tộc tăng lên , người nắm thực quyền trong cả nước là các Tể tướng hay vị quan tổng quản củatriều đình
Thời Carlovingiens, các hoàng đế Frank tổ chức bộ máy nhà nước quy củ hơn Ở trung ương, ngoàihoàng đế ra còn có những người hầu cận và quan lại gồm Thừa tướng, Tổng giám mục và Đại thần cungđình Thừa tướng là bí thư và chưởng ấn cho Vua; Tổng giám mục quản lý giáo sĩ và Đại thần cung đình(thay Tể tướng) quản ly hành chính Ở địa phương, Charles chia thành 300 quận, quân ở biên thùy thì có
“biên trấn” để bảo vệ chống xâm nhập từ bên ngoài Đứng đầu mỗi quận là Bá tước và ông này có nhiềuquyền hạn (toàn quyền về hành chính, tư pháp, tài chính, quân sự ở địa phương; được nhà vua ban chomột số ruộng đất và giữ lại 1/3 tiền án phí) Thời Charles I thì chức này biến thành chức vụ thế tập Đứngđầu mỗi biên trấn thường do Bá tước, Hầu tước, Công tước… Nhiệm vụ của họ là (1) kiểm tra việc thựchiện các sắc lệnh của nhà Vua; (2) Xử lý các hành vi lạm dụng quyền hạn của các quan lại địa phương; (3)Giải quyết những vụ khiếu tố trong nhân dân đối với Bá tước hoặc Giáo chủ ở địa phương
Khi cần quyết định điều gì thì nhà vua triệu tập quần thần để thông báo rằng Vua sẽ làm gì chứkhông cho lấy ý kiến (pháp quyền có sẵn, không do con người tạo ra nên vua không thế đặt ra pháp luật)
Để quản lý nhà nước, nhà Vua triệu tập Đại hội mùa thu để ban bố sắc lệnh (Capitulaire) nhằm đưa ra quy
định về quản lý nhà nước Về tư pháp, quyền tối cao thuộc về nhà vua (trung ương) và bá tước (địaphương)
c Cấu trúc xã hội của người German thời Frank
Sau khi đại thắng người La Mã, người German bắt tay vào thay đổi cấu trúc xã hội của mình Khichinh phục người La Mã có trình độ cao hơn mình, người German đã xóa bỏ chế độ cũ, cấm ngặt không
Trang 26cho người La Mã tham gia vào cộng đồng của mình và tìm cách quản lý họ Để quản lý người La Mã, họxóa bỏ thế chế nhà nước cũ và thành lập thế chế nhà nước mới là phong kiến; cơ quan thị tộc bị chuyểnhóa thành cơ quan nhà nước và Vua (gốc là thủ lĩnh quân sự) là người có quyền lực tối thượng Các vuaGerman đổi mới chế độ xã hội, điều này dẫn tới hình thành 2 giai cấp cơ bản là giai cấp thống trị và giaicấp bị trị.
+ Giai cấp thống trị: là giai cấp nắm nhiều ruộng đất, tư liệu sản xuất Đứng đầu là một vị Vua cóquyền hạn lớn Vua ban cấp ruộng đất cho quần thần của mình là Công tước, Bá tước và những người nàygọi Vua là tôn chủ, mình là bồi thần Đến lượt mình, Công tước, Bá tước cấp ruộng đất lại cho các thầnthụôc của mình (Nam tước và Kỵ sĩ) và trở thành lãnh chủ của họ Trên phần đất phong cho các bồi thần,nhà Vua hoàn toàn không cò quyền hạn gì nữa và các thần thuộc của họ cũng không được xem là thầnthuộc của nhà Vua Dần dần đất phong ấy được thế tập và truyền lại cho người con trai trưởng, nhưng vẫn
là thần thuộc của lãnh chủ
+ Giai cấp bị trị: là nông nô Họ là những người trực tiếp cày cấy trên ruộng đất của chủ và bị bóclột thậm tệ Về kinh tế, nông nô được giao đất cày cấy và họ có bổn phận phải nộp tô, thuế cho Vua Vềchính trị, nông nô có tài sản riêng, gia đình riêng và chưa mất tự do Lãnh chúa có quyền mua bán nhưngkhông giết hại nông nô Nông nô bị trói chặt vào ruộng đất, không được tự do kết hôn
2.1.1.3.3 Chế độ quân chủ đại diện đẳng cấp
a Pháp:
1 Quá trình xác lập chế độ quân chủ đại diện đẳng cấp ở Pháp
Vào thế kỷ XI, Pháp là một quốc gia phong kiến phân quyền Đất nước bị chia thành nhiều côngquốc độc lập và những công quốc này có lãnh địa lớn, không chịu quyền kiểm soát của vua Pháp Còn vuaPháp chỉ cai quản lãnh địa vừa và quyền lực của ông chỉ hạn chế trong lãnh địa mà thôi Thế kỷ XII, côngthương nghiêp lớn mạnh dẫn tới thị dân ra đời đã tạo sự chuyển biến lớn cho nước Pháp Thị dân ra đờilớn mạnh và chưa có quyền lợi về kinh tế - chính trị, đấu tranh liên tục chống lại sự sách nhiễu của lãnhchúa Cùng chung cảnh ngộ với thị dân, các vua Pháp đã liên minh với thị dân để đấu tranh chống lạiphong kiến, đồng thời tăng cường quyền lực về tay mình Để củng có quyền lực, các vua Pháp nhưPhilippe II, Louis IX và Philippe IV tiến hành chiến tranh chống lãnh chúa phong kiến Thời Philippe II(1180 – 1223) lãnh thổ Pháp được mở rộng đến phía bắc và miền trung, Louis IX kế tục ông đã sát nhậpnhiều lãnh địa của lãnh chúa về lãnh thổ mình Đến thời Philippe IV (1283 – 1314), tình trạng cát cứphong kiến bị xóa bỏ Đồng thời với mở rộng lãnh thổ, các vua Pháp đã xây dựng bộ máy chính quyềnmới: chia địa phương thành nhiều quận, huyện; thu hẹp quyền tư pháp của lãnh chúa để tăng cường quyền
tư pháp vào tay vua (thời Louis IX)
Trong cuộc đấu tranh giành quyền lực về tay mình, Vua Pháp nhận được sự ủng hộ của thị dân nênđịa vị của thị dân tăng cao (được tham gia vào chính quyền nhà nước, có tiếng nói trong các hội nghị quan
Trang 27trọng của Hoàng gia) Đến thế kỷ XIII – XIV, do bị Giáo hoàng phản đối vì mình chia tiêu tiền nhiều
trong các cuộc chiến tranh với Ý, Philippe IV rất cần sự ủng hộ của thị dân nên lần đầu tiên đã mở Hội nghị đại biểu quý tộc (còn gọi là Hội nghị 3 đẳng cấp) gồm: Tăng lữ, Quý tộc và Thị dân; trong đó giới
tăng lữ và quý tộc tham gia với tư cách cá nhân, còn thị dân thì tham gia với tư cách đại diện Tuy nhiên,Hội nghị 3 đẳng cấp không phải là đại biểu cho toàn thể nhân dân Pháp, vì bộ phân dân số đông nhất lànông dân thì không có đại biểu tham dự
2 Nhiệm vụ và quyền hạn của Hội nghị đẳng cấp Pháp
Lúc đầu, là cơ quan tư vấn cho nhà vua, bàn bạc và góp ý với Vua vềchính sách đối nội và đổi
ngoại của Vua, nhất là thuế khóa (khi cần tiền thì Vua yêu cầu Hội nghị tăng thuế khóa lên) Ở Hội nghị,các đại biểu giải quyết vấn đề riêng rẽ nhau, đến lúc trả lời Vua lần cuối thì họp chung và trong cuộc họpchung, quyết định của đẳng cấp này không ràng buộc quyết định của đẳng cấp khác Đến năm 1357, donhững yêu sách của nhân dân Paris nên Hội nghị đẳng cấp có một số thay đổi như: (1) Được triệu tập họpmột năm 2 lần, không cần có sự đồng ý của nhà vua và (2): Được giải quyết vấn đề thuế khoá theo yêucầu của mình, kiểm tra thu chi ngân sách nhà nước và được cử cố vấn cho nhà Vua Tuy nhiên, đến thế kỷXVI, Nhà nước quân chủ chuyên chế ở Pháp được thành lập thì Hội nghị 3 đẳng cấp cũng mất hết vai tròcủa mình
b Anh:
1 Điều kiện tự nhiên, xã hội và sự thành lập chế độ Nghị viện ở nước Anh
Giống như Pháp, Anh cũng đang trong tình trạng phong kiến phân quyền, thế lực lãnh cháu cònmạnh thậm chí âm mưu chống đối chính quyền trung ương Tuy vậy, thế lực của vua Anh còn mạnh đủsức bắt bọn lãnh chúa phải phục tùng chính quyền Thời Henry II Plantagenet (1152 – 1189), vua Anh dựavào kỵ sĩ và thị dân để đấu tranh kiên quyết với các lãnh chúa phong kiến, như: phá hủy lâu đài, thànhquách của lãnh chúa, đặt quân phòng thủ, mở rộng thẩm quyền xét xử của toà án của nhà vua; ban hànhđạo luật quân dịch, xây dựng quân đội thường trực hùng mạnh; nhờ đó nước Anh trở thành quốc gia hùngmạnh nhất Tây Âu thời đó
Thế nhưng sau khi Henry II chết, các vua kế vị ông là Richard I và John thi hành chính sách quángặt nghèo, nên bị nhân dân phản đối kịch liệt Thời John (1199 – 1216), vua tiến hành chiến tranh liênmiên (vơ vét nhiều tiền của cho cuộc chiến) chống Pháp và Giáo hoàng, nhưng bị thất bại nặng nề và John
bị nhân dân, quý tộc phản đối quyết liệt Trước tình thế này, John đã phải nhượng bộ và ký “Đại Hiếnchương Tự do” (Magna Carta, 14/6/1215) Đại Hiến chương này bảo đảm quyền tự do của người dân, xácđịnh lại những nguyên tắc của nền chính trị tập quyền, hạn chế quyền độc đoán của nhà vua, xác nhậnquyền tự do của các thành phố, quyền tự do đi lại mua bán