- Cơ sở tồn tại của kiểu nhà nước: Cơ sở kinh tế : là toàn bộ đời sống kinh tế của một mô hình tổ chức xã hội, mà trong đó cốt lõi là các quan hệ sở hữu.. Sự ra đời - Nhà nước chiếm hữu
Trang 1Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
Trang 2A.Khái niệm kiểu nhà nước:
Là tổng thể những dấu hiệu cơ bản của nhà nước thể hiện bản chất giai cấp, vai trò
xã hội, những điều kiện phát sinh, tồn tại, và phát triển của nhà nước trong một hìnhthái kinh tế xã hội nhất định
- Cơ sở tồn tại của kiểu nhà nước:
Cơ sở kinh tế : là toàn bộ đời sống kinh tế của một mô hình tổ chức xã hội, mà trong
đó cốt lõi là các quan hệ sở hữu
Cơ sở xã hội : là những cấu trúc, những quan hệ xác định vị trí, vai trò của các cộngđồng người trong một quốc gia
Cơ sở tư tưởng : Học thuyết Mác – LêNin về hình thái kinh tế - xã hội
Trang 3B.Các loại kiểu nhà nước:
I.Nhà nước chiếm hữu nô lệ
1 Sự ra đời
- Nhà nước chiếm hữu nô lệ xuất hiện trực tiếp từ sự tan rã của chế độ công xã nguyênthủy, gắn liền với sự hình thành chế độ tư hữu và sự phân chia xã hội thành các giai cấp đối kháng
- Những nhà nước chiếm hữu nô lệ đầu tiên xuất hiện ở khu vực phương Đông như Trung Quốc, Ấn Độ, Lưỡng Hà, Ai Cập,… vào khoảng 4000 – 3000 năm trước công nguyên Vào thời gian muộn hơn, khoảng thế kỷ VIII – thế kỷ VI trước Công nguyên
đã xuất hiện hàng loạt nhà nước chiếm hữu nô lệ ở khu vực phương Tây như Hy Lạp,
La Mã
Nhà nước chiếm hữu nô lệ là kiểu nhà nước đầu tiên trong lịch sử, là bộ phận quan trong nhất thuộc kiến trúc thượng tầng của hình thái kinh tế - xã hội chiếm hữu nô lệ
Trang 42, Cơ sở kinh tế - xã hội của nhà nước chiếm hữu nô lệ
- Tuy nhiên, hình thái của sự chiếm hữu nô lệ khác nhau
+ Ở quốc gia chiếm hữu nô lệ phương Đông, nhà nước xuất hiện sớm, nền kinh
tế phát triển chưa cao, ruộng đất là tư liệu sản xuất chủ yếu trong xã hội thuộc quyền
sở hữu tối cao của nhà vua
+ Ở quốc gia chiếm hữu nô lệ phương Tây, nhà nước hình thành muộn hơn trên
cơ sở chế độ tư hữu phát triển triệt để nên các chủ nô trực tiếp chiếm hữu những điền trang lớn, những xưởng thủ công, những đoàn thương thuyền và đông đảo những người nô lệ
Cơ sở xã hội
- Cơ sở xã hội của nhà nước chiếm hữu nô lệ
là một kết cấu giai cấp phức tạp trong đó có hai
giai cấp cơ bản và đặc trưng là giai cấp chủ nô và
giai cấp nô lệ
- Giai cấp chủ nô chiếm số ít trong xã hội
nhưng chiếm toàn bộ tư liệu sản xuất và cả người
lao động nên có thể chi phối toàn bộ xã hội Trong
khi đó giai cấp nô lệ chiếm đa số dân cư nhưng
phải hoàn toàn phục vụ giai cấp chủ nô
- Ngoài ra, trong xã hội chiếm hữu nô lệ còn
tồn tại tầng lớp thở thủ công, dân tự do, những
người lệ thuộc nhà vua về kinh tế,… Những người
Trang 5này tuy không là nô lệ nhưng họ cũng gần như phải lệ thuộc hoàn toàn vào chủ nô về kinh tế và chính trị.
- Trong kết cấu giai cấp trên có nhiều biến thái khác nhau giữa các quốc gia+ Chiếm hữu nô lệ điển hình phương Tây: nô lệ là tài sản riêng của chủ nô, mốiquan hệ bóc lột chủ yếu diễn ra giữa chủ nô và nô lệ
+ Chiếm hữu nô lệ không điển hình ( chế độ nô lệ gia trưởng) phương Đông:
nô lệ không phải là lực lượng tạo ra của cải chủ yếu cho xã hội, quan hệ bóc lột diễn
ra giữa giai cấp chủ nô và nông dân
Cơ sở tư tưởng: là đa thần đạo, giai cấp thống trị
đã sử dụng tôn giáo làm sức mạnh tinh thần
3, Bản chất của nhà nước chiếm hữu nô lệ
- Từ cơ sở kinh tế - xã hội cho ta thấy bản chất của
nhà nước chiếm hữu nô lệ là nhà nước của giai cấp chủ
nô, do giai cấp chủ nô lãnh đạo và tồn tại vì giai cấp chủ
nô Bản chất của nhà nước nói chung và nhà nước chiếm
hữu nô lệ nói riêng được thể hiện qua 2 đặc tính: tính xã
hội và tính giai cấp
- Bản chất giai cấp và vai trò xã hội của nhà nước chiếm hữu nô lệ luôn được biểu hiện thông qua những chức năng cơ bản của nó, đó là chức năng đối nội và chức năng đối ngoại
Chức năng đối nội Chức năng đối ngoại
- Chức năng bảo vệ, củng cố chế
độ sở hữu của chủ nô đối với tư
liệu sản xuất và nô lệ, duy trì sự
bóc lột kinh tế của chủ nô đối
với nô lệ và những lao động
- Chức năng phòng thủ, bảo vệ dất nước và tiến hành các hoạt động
Trang 6Ví dụ: cuộc đàn áp đẫm máu của nhà
nước chiếm hữu nô lệ La Mã đối với
phong trào khởi nghĩa của những
người nô lệ thành Rôm ( năm 74-71
tr.CN) với hơn 6000 nô lệ bị treo cổ
- Chức năng kinh tế- xã hội: nhà
nước đứng ra giải quyết một số
vấn đề kinh tế- xã hội thiết yếu
của xã hội ( làm đường,phân
chia đất đai,…)
ngoại giao, buôn bán với các quốcgia khác
4 Hình thức nhà nước chiếm hữu nô lệ
Hình thức chính thể của nhà nước chiếm hữu nô lệ rất đa dạng
- Các nhà nước chiếm hữu nô lệ ở phương Đông được tổ chức theo chính thể quân chủ chuyên chế chủ nô với các mức độ tập trung quyền lực khác nhau
+ Đặc trưng của hình thức này là quyền lực nhà nước tập trung toàn bộ vào trong tay người đứng đầu nhà nước (hoàng đế, vua, Patexi, Pharaon,…) với một bộ máy quân sự, quan liêu khá phức tạp (Ai Cập, Babilon, Trung Quốc, Ấn Độ ) Người đứng đầu nhà nước có toàn quyền quyết định vận mệnh quốc gia, cũng như vận mệnhcủa từng thành viên trong quốc gia đó, chức vụ này được truyền lại theo nguyên tắc cha truyền con nối
- Các nhà nước chiếm hữu nô lệ phương Tây cổ đại được tổ chức chủ yếu theo chính thể công hòa chủ nô với 2 biến dạng chính:
+ Chính thể cộng hoà dân chủ tồn tại ở nhà nước chủ nô Aten vào thế kỷ thứ V -
IV trước công nguyên Ở Aten mọi nam công dân trưởng thành đều được tham gia Hội nghị nhân dân Hội nghị sẽ bầu ra các cơ quan nhà nước và các cá nhân thực thi quyền lực nhà nước theo những nhiệm kỳ nhất định Nô lệ, kiều dân, phụ nữ, nô lệ đã được giải phóng không được tham gia bầu cử, thực chất của hình thức dân chủ này là dân chủ chủ nô
+ Chính thể cộng hoà quý tộc chủ nô tồn tại ở nhà nước Spác và La Mã Quyền lựcnhà nước (chủ yếu quyền lập pháp) nằm trong tay một hội đồng mà thành viên được bầu ra từ các quý tộc giàu có nhất và họ nắm giữ chức vụ suốt đời Bên cạnh đó có các cơ quan thực hiện quyền hành pháp và quyền tư pháp cũng được hình thành thông qua con đường bầu cử.Đại hội nhân dân vẫn tồn tại nhưng không chiếm vị trí quan trọng Đại hội nhân dân chỉ tiến hành bầu những người tham gia vào các chức vụ trong bộ máy nhà nước, thông qua về mặt hình thức các dự luật do Hội đồng trưởng lão đưa ra
Hình thức cấu trúc: tất cả các nhà nước chủ nô đều có cấu trúc nhà nước đơn nhất
Trang 7 Chế độ chính trị, ở các nước phương Đông chủ yếu tồn tại chế độ độc tàichuyên chế, ở các nước phương Tây, chế độ chính trị đã mang tính dân chủ, tuy nhiên
về bản chất đó chỉ là chế độ dân chủ chủ nô Về cơ bản, nền dân chủ được thiết lập ở những quốc gia này vẫn là chế độ quân phiệt, độc tài với đại đa số nhân dân lao động
5, Bộ máy nhà nước chiếm hữu nô lệ
Giai đoạn đầu, bộ máy nhà nước đơn giản,đậm dấu ấncủa hệ thống quản lí cũ của xã hội thị tộc.Nó nhiều khi phải thực hiện việc riêngcuả chính những người cầm quyền
Do thiếu tính chuyên nghiệp mà nhiều khimột cơ quan hay một nhân viên nhà nước thực hiện nhiều nhiệm vụ khácnhau,thậm chí chồng chéo, ôm đồm, hình thành xu hướng xử quyền một cáchcực đoan, chuyên quyền
Về sau bộ máy nhà nước đã dần được hòan thiện vàchuyên nghiệp hơn.Nếu nói đến tính chuyên nghiệp trong bộ máy nhà nước chủnô phương Tây thì tính chất cưỡng chế
và quân sự hóa là đặc điểm nổi bật Bộmáy nhà nước chủ nô có 3 bộ phận chủ đạo đó
là lực lượng quân đội, cảnh sát,tòa án
II Kiểu nhà nước phong kiến.
1 Hoàn cảnh ra đời
- Đặc điểm của nhà nước chủ nô là lực lượng tạo ra của cải chủ yếu là nô lệ
nhưng họ không có bất kì tư liệu sản xuất nào Thâm chí, đối với chủ nô- người nắmgiữ tòa bộ của cải vật chất, tư liệu sản xuất và toàn quyền thống trị thì nô lệ bị coi làvật sở hữu vì chủ nô có thể đem nô lệ đi bán, cho tặng hay giết, có thể sử dụng làmgiàu cho chủ nô Nhà nước chủ nô duy trì sự thống trị và bảo vệ lợi ích chủ nô bằng
mô hình nhà nước quân sự- hành chính, đàn áp sự phản kháng của nô lệ, tiến hànhchiến tranh xâm lược Do bản chất sử dụng bạo lực để thực hiện nền chuyên chính củagiai cấp chủ nô quá tàn ác, sự phát triển của lực lượng sản xuất bị kìm hãm, mâu thuẫngiữa nô lệ và chủ nô ngày càng sâu sắc dẫn đến hàng loạt cuộc khởi nghĩa cuả nô lệ vàdân nghèo Tuy nhiên các cuộc khởi nghĩa đều thất bại nên các nô lệ chuyển sang hìnhthức đấu tranh khác như: đập phá công xưởng, sản phẩm Điều này dẫn đến năng suấtgiảm mạnh Chế độ chiếm hữu nô lệ dần sụp đổ Một số chủ nô còn chấp nhận giảiphóng nô lệ, giao ruộng đất cho họ để thu thuế, trở thành lãnh chúa Lao động củanông nô ngày càng đạt năng suất cao hơn Chế độ nhà nước phong kiến ra đời từ đó vàtạo ra bước ngoặt trong sự phát triển của nhân loại
Trang 8- Nhà nước phong kiến phương Tây ra đời muộn hơn nhà nước phong kiến
phương đông
- Có một số dân tộc như Giéc- manh ở phương Tây và một số dân tộc khác ở
phương Đông như Triều Tiên, Mông Cổ thì nhà nước phong kiến là kiểu nhà nướcđầu tiên
2 Các cơ sở của nhà nước phong kiến
- Cơ sở kinh tế: của kiểu nhà nước phong kiến vẫn là chế độ tư hữu nhưng đối
tượng sở hữu của địa chủ phong kiến là đất đai, tư liệu sản xuất khác và đối với mộtphần sức lao động của nông dân Tính chất bóc lột giờ đây đã có sự thay đổi, tức là từbóc lột kinh tế trực tiếp của chủ nô với nô lệ chuyển sang bóc lột của quý tộc phongkiến với nông dân thông qua địa tô phong kiến
Phong kiến phương Tây: Chế độ tư hữu ruộng đất phát triển triệt để, nông dânhoàn toàn không có ruộng đất và trở thành nông nô
Phong kiến phương Đông: Nông dân cày ruộng thuộc quyền tư hữu của địa chủphong kiến, theo phát canh và thu địa tô; hoặc ruộng công hữu thuộc quyền quản lícủa làng xã trên danh nghĩa thuộc quyền sở hữu của nhà Vua, nộp thuế ruộng đất chonhà nước
Trang 9- Cơ sở xã hội: Quan hệ giai cấp được mở rộng, ngoài hai giai cấp chính là địa
chủ và nông dân còn có các tầng lớp thị dân, thương gia, Giai cấp thống trị bóc lộtthông qua địa tô, tính chất bóc lột mang tính gián tiếp thông qua đất đai
Phong kiến phương Tây: Phong kiến được gọi là lãnh chúa, quan hệ bóc lột chủyếu diễn ra giữa họ và nông nô
Phong kiến phương Đông: Phong kiến được gọi là địa chủ, quan hệ bóc lột chủyếu diễn ra giữa họ và tá điền
- Cơ sở tư tưởng: Trong thời gian này với việc hình thành các tôn giáo lớn và
chúng trở thành cơ sở tư tư tưởng cho các nhà nước phong kiến
VD: Cơ sở hình thành nhà nước PK ở Việt Nam:
Cùng với quá trình hình thành giai cấp địa chủ, nông dân giờ đây cũng bị phân hoá.Một bộ phận giàu có đã trở thành giai cấp bóc lột Một số khác vẫn giữ được ruộngđất để cày cấy, họ là nông dân tự canh, có nghĩa vụ nộp thuế, đi lao dịch cho nhànước Số còn lại là những nông dân, rất nghèo, không có ruộng, hoặc có quá ít, buộcphải xin nhận ruộng của địa chủ để cày cấy Khi nhận ruộng, họ phải nộp một phầnhoa lợi cho địa chủ, gòi là tô ruộng đất Tầng lớp xã hội mới này được gọi là những táđiền hay nông dân lĩnh canh
Như vậy, quan hệ chủ yếu trước kia là quan hệ bóc lột của quý tộc đối với nông dâncông xã dần dần nhường chỗ cho quan hệ bóc lột địa tô của địa chủ với nông dân lĩnhcanh – quan hệ phong kiến xuất hiện Các điều kiện kinh tế - xã hội, hình thành ởTrung Quốc vào những thế kỉ cuối trước Công nguyên, đã thúc đẩy sự thống nhất lãnhthổ và sự hình thành của chế độ phong kiến
Trang 103 Bản chất của nhà nước phong kiến
- Bản chất giai cấp của nhà nước phong kiến thể hiện trong tính chất quan hệ đấu
tranh giai cấp giữa quý tộc địa chủ và nông dân
- Bên cạnh việc thực hiện chức năng trấn áp giai cấp, nhà nước phong kiến cũng
đã đảm nhiệm vai trò quản lý xã hội, thực hiện các công việc chung, bảo vệ lợi íchchung của xã hội
- Các chức năng của nhà nước phong kiến:
Chức năng đối nội:
+Bảo vệ chế độ sở hữu của địa chủ phong kiến, duy trì các hình thức bóc lột của địachủ phong kiến với nông dân và các tầng lớp lao động khác
+Trấn áp nông dân và những người lao động khác bằng quân sự
+Duy trì sự thống trị về tư tưởng đối với quần chúng nhân dân
VD: Ở các nước phương Đông, Nho giáo, Phật giáo chiếm vị trí chủ đạo trong
tư tưởng người dân Ở phương Tây, nhà nước kết hợp với nhà thờ giữ vai trò chủ đạo.Nhiều người có quan điểm tiến bộ mới đều bị giết hại như Nicolai Copecnic, GalileoGalile,…
- Các chức năng kinh tế - xã hội: Nhà nước thực hiện 1 số hoạt động quản lý
kinh tế- xã hội nhằm phát triển nền kinh tế, thiết lập và giữ gìn trật tự và sự ổnđịnh của xã hội phong kiến, ổn định đời sống nhân dân (củng cố đê điều, xâydựng đường xá, khuyến khích khai hoang; thực hiện chế độ tuyển dụng quanchức bằng con đường khoa cử)
Trang 11VD: Ở các nước phương Đông, Nho giáo, Phật giáo chiếm vị trí chủ đạo trong
tư tưởng người dân Ở phương Tây, nhà nước kết hợp với nhà thờ giữ vai trò chủ đạo.Nhiều người có quan điểm tiến bộ mới đều bị giết hại như Nicolai Copecnic, GalileoGalile,…
Chức năng đối ngoại:
+ Chức năng tiến hành chiến tranh xâm lược để mở rộng lãnh thổ và thực hiện mưu đồbành trướng thế lực: bởi vì chiến tranh là phương tiện chủ yếu và hữu hiệu nhất đểchứng minh sức mạnh quốc gia trong quan hệ đối ngoại và giải quyết tranh chấp Lịch sử của chế độ phong kiến ở cả phương Đông và phương Tây là lịch sử các cuộcchiến thôn tính lẫn nhau giữa các nhà nước và triều đại phong kiến
Ví dụ: Các triều đại phương Bắc bao đời đánh chiếm và đô hộ phương Nam,trong đó có Việt Nam ta
+Chức năng phòng thủ để bảo vệ đất nước và chống xâm lược: xây dựng và củng cốquân sự là mối quan tâm hàng đầu và là nhiệm vụ thường trực của tất cả các nhà nướcphong kiến (lịch sử quốc gia phong kiến Việt Nam và các nước nhỏ khác là lịch sửdựng nước và giữ nước)
+Chức năng thiết lập các mối quan hệ ngoại giao hữu nghị quốc tế: chưa thực sự pháttriển; thậm chí có 1 số nước thực hiện chính sách bế quan tỏa cảng
4.Hình thức nhà nước phong kiến
- Hình thức chính thể:
Quân chủ chuyên chế: chính thể chủ yếu, người có quyền lực cao nhất về mặtpháp lý là vua lên ngôi theo nguyên tắc thế tập nhưng quyền lực của vua thay đổi theotừng giai đoạn
+Phương Tây: Hình thức kết cấu của nhà nước phổ biến là giai đoạn chế độ phânquyền cát cứ: lãnh thổ nhà nước phong kiến được chia thành nhiều lãnh địa của quýtộc hoặc vua phân phong, đứng đầu là lãnh chúa với nhà nước phong kiến Về mặtpháp lý, vua có quyền cao nhất, lãnh chúa phục tùng vua Thực tế, sự phục tùng đódần chỉ mang tính hình thức Tính chuyên chế ở chính thể quân chủ chuyen chế khôngcao như ở phương Đông
Trang 12+Phương Đông: Hình thức kết cấu của nhà nước phổ biến là giai đoạn trung ương tậpquyền, về mặt pháp lý, vua có quyền tối cao vô hạn Thực tế nhà vua vẫn bị khống chếbởi những thế lực nhất định như thái hoàng, thái hậu, tể tướng…
Quân chủ đại diện đẳng cấp: hình thành ở các nước châu Âu thế kỉ XIII,XIV.Đứng đầu NN vẫn là ông vua lên ngôi theo nguyên tắc thế tập, bên cạnh cong có 1 số
cơ quan gồm đại diện các đẳng cấp khác nhau trong xã hội để chia sẻ quyền lực vớivua và hạn chế quyền của vua
Chính thể cộng hòa: thiết lập ở 1 số thành phố lớn ở Châu Âu thế kỉ XVI, cácthành phố này dành được quyền tự trị từ nhiều con đường: dùng tiền mua, đấu tranh,liên kết vs vua chống lãnh chúa ở các thành phố này, quyền quản lý thuộc về hộiđồng thành phố do nhân dân bầu lên
- Hình thức cấu trúc nhà nước:
Phổ biến nhất là hình thức đơn nhất: khác nhau trong các giai đoạn, có hiệntượng 1 số nhà nước nhỏ thỏa thuận, liên kết với nhau để tự vệ hoặc chống lại nướclớn
Cấu trúc liên bang và liên minh vớicác đặc trưng như hiện tại hầu như chưahình thành
- Chế độ chính thế: chủ yếu là phản dân chủ.
5.Bộ máy nhà nước phong kiến
- Bộ máy nhà nước phong kiến phương Đông: Thể hiện tính trung ương tập
quyền cao độ, Vua hay Hoàng đế là người nắm hết mọi quyền lực, quan lại các cấpđều là tôi tớ của vua, dân chúng trong nước đều là thân dân của vua Hệ thống quan lạiđược tổ chức 2 cấp, trung ương và địa phương với đẳng cấp phân minh, biên chế chặtchẽ
VD: Bộ máy nhà nước phong kiến Việt Nam nói chung:
Đứng đầu là vua (Hoàng đế), đấng tối cao có quyền lực tuyệt đối
Ở Trung ương: Bộ máy chính quyền có hệ thống quan văn quan võ, Thừatướng đứng đầu các quan văn, Thái uý đứng đầu các quan võ, ngoài ra còn có cácchức quan coi binh mã, tiền tài, lương thực, tư pháp
Ở địa phương: Hoàng đế chia thành quận huyện, đặt các chức quan Thái thú ởquận và Huyện lệnh ở huyện (tuyển dụng quan lại chủ yếu là hình thức tiến cử)