1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

KN dạy học TP truyện VN hiện đại

25 95 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 25
Dung lượng 286 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Giáo viên cần phải định hình cho học sinh trình tự chung, dàn ý đại cương của quá trình đọc – hiểu tác phẩm văn học hiện đại 10 3 GV hướng dẫn học sinh cách chuẩn bị bài mới ………... 11 4

Trang 1

MỤC LỤC

I Lý do chọn đề tài 02

II Mục tiêu và nhiệm vụ của đề tài ……… 03

III Đối tượng nghiên cứu ……… 03

IV Giới hạn đối tượng nghiên cứu ……… 03

V Phương pháp nghiên cứu ……… 03

B PHẦN NỘI DUNG I Cơ sở lý luận ……… 04

II Thực trạng ………

1 Thuận lợi, khó khăn ……… 07

2 Thành công, hạn chế ……… 07

3 Mặt mạnh, mặt yếu ……… 08

4 Các nguyên nhân, yếu tố tác động ……… 08

5 Phân tích, đánh giá các vấn đề thực trạng ……… 09

III Một số giải pháp, biện pháp cơ bản ………

1 Giáo viên cần phải xác định được các chặng trong quá trình giảng dạy một tác phẩm văn học 10 2 Giáo viên cần phải định hình cho học sinh trình tự chung, dàn ý đại cương của quá trình đọc – hiểu tác phẩm văn học hiện đại 10 3 GV hướng dẫn học sinh cách chuẩn bị bài mới ……… 11

4 Trong quá trình đọc – hiểu tác phẩm truyện, giáo viên cần vận dụng linh hoạt phương pháp gợi mở, giảng bình để hướng dẫn và phát huy tính tích cực của học sinh trong việc tìm hiểu nhân vật, cốt truyện, ngôn ngữ nghệ thuật của truyện 12 5 Giáo viên cần chọn lọc và sử dựng hệ thống câu hỏi có chất lượng… 16

6 Giáo viên cần chủ động tích hợp ngang – dọc và tích hợp liên môn…… 18

IV Giáo án minh họa 18

V Điều kiện thực hiện các giải pháp, biện pháp ……… 22

VI Mối quan hệ giữa các biện pháp, giải pháp ……… 22

VII Kết quả thu được qua khảo nghiệm, giá trị khoa học của vấn đề nghiên cứu 23 C PHẦN KẾT LUẬN I Kết luận ……… 23

II Kiến nghị ……… 23

Tài liệu tham khảo ……… 24

Trang 2

A PHẦN MỞ ĐẦU

I Lý do chọn đề tài:

Ngữ văn là một trong những môn khoa học mũi nhọn trong nhà trường, có

nhiệm vụ giáo dục và giúp người học “biết cách tư duy” trước những giá trị Chân

– Thiện – Mĩ M Gor-ky – văn hào Nga – đã khẳng định “Văn học là nhân học” Tuy nhiên, vấn đề đặt ra là làm thế nào để quá trình đọc – hiểu văn bản hòa nhập công cuộc đổi mới giáo dục, bước kịp thời đại? Bằng cách nào, biện pháp nào để quá trình dạy của thầy đạt được mục tiêu và hiệu quả cao nhất? Làm thế nào để khởi động, phát động tâm hồn, ý chí, sự hứng thú của học sinh trong quá trình học? …

Đó là một câu hỏi xuất từ thực tiễn dạy học Ngữ văn trong nhà trườngTHCS nói chung và dạy học tác phẩm truyện Việt Nam hiện đại nói riêng Nhưchúng ta đều biết, đặc trưng của dạy học Văn là dạy học theo tư duy hình tượng –cảm xúc – thẩm mĩ Bên cạnh đó, việc dạy học tác phẩm truyện Việt Nam hiện đạivừa phải tiến hành sao cho phù hợp với đặc trưng bộ môn, vừa phải mang bản chất

xã hội, bản chất giai cấp Hai mặt này gắn liền khăng khít với nhau, thâm nhập vàonhau Nếu không chú ý đúng mức thì việc dạy học văn học rất dễ thiên về nội dung

tư tưởng, chính trị một cách gò bó, cứng nhắc, hoặc thiên về hình thức nghệ thuật,ngôn ngữ một cách phiến diện, trống rỗng Giữ vững thế thăng bằng trong đọc –hiểu tác phẩm truyện là bản lĩnh sư phạm, là nghiệp vụ sư phạm của người giáo

viên Nói về vấn đề này, giáo sư Lê Trí Viễn đã khẳng định: “Giảng văn rõ ràng là

khó Nói như vậy để nêu ra một sự thật Không phải nhằm hù doạ, càng không phải để làm ngã lòng.” Bởi thế, quá trình dạy học Văn đã và đang khiến đông đảo

đội ngũ giáo viên Ngữ văn THCS phải băn khoăn, suy nghĩ, tìm tòi con đường tiếpcận tác phẩm văn học để làm sao có thể ngày càng phát huy mạnh mẽ hiệu quảgiáo dục phong phú của nó, góp phần đắc lực vào việc thực hiện mục đích giáo dụctrong giai đoạn hiện nay

Mỗi tác phẩm văn học đều tồn tại dưới một hình thức nhất định và có liênquan khăng khít đến nội dung chủ đề Việc đọc – hiểu hiệu quả một tác phẩm đòihỏi phải có phương pháp, cách phân tích phù hợp với nó Để góp phần trao đổi vàphần nào tháo gỡ mối băn khoăn, suy nghĩ, tìm tòi bấy lâu của đồng nghiệp, tôi

mạnh dạn viết đề tài: Một vài kinh nghiệm dạy – học tác phẩm truyện Việt Nam hiện đại

Đây là vấn đề hết sức phức tạp về mặt lý luận văn học cũng như về mặt lý luậndạy học nhưng chỉ được nghiên cứu trong thời gian có hạn và trong phạm vi chưathật rộng rãi nên đề tài này chắc chắn sẽ có nhiều thiếu sót Chính vì thế, tôi rấtmong nhận được sự góp ý chân thành của đồng nghiệp gần xa để đề tài này đượchoàn thiện hơn, có ý nghĩa hơn trong quá trình đọc – hiểu tác phẩm văn học

II Mục tiêu, nhiệm vụ của đề tài:

Trang 3

1 Mục tiêu:

Trao đổi với đồng nghiệp về hình thức, cách thức, biện pháp giảng dạy tác

phẩm truyện Việt Nam hiện đại (nằm trong chương trình Ngữ văn THCS hiện hành) trước học sinh THCS và những yêu cầu của đổi mới giáo dục.

Hình thành và phát triển ở học sinh các kĩ năng đọc – hiểu văn bản truyệnViệt Nam hiện đại Đặc biệt là phương pháp tự học, năng lực ứng dụng nhữngđiều đã học vào cuộc sống

Bồi dưỡng cho học sinh tình yêu văn học và những tình cảm tốt đẹp có giátrị truyền thống của dân tộc và nhân loại

III Đối tượng nghiên cứu:

Giáo án Ngữ văn THCS và các giờ dạy học tác phẩm truyện Việt Nam hiệnđại ở trên lớp của giáo viên

IV Giới hạn phạm vi nghiên cứu:

Giáo án Ngữ văn THCS và các giờ dạy học tác phẩm truyện Việt Nam hiện

đại ở trên lớp của giáo viên trong các đợt đi thanh tra chuyên môn hằng năm (theo Quyết định của Phòng GD&ĐT M’đrắk) và của đồng nghiệp trong Cụm chuyên môn số 1 (thành lập theo Quyết định của Phòng GD&ĐT M’đrắk, ngày 01 tháng

12 năm 2012).

V Phương pháp nghiên cứu:

Với chuyên đề này, tôi sử dụng nhóm năm phương pháp chính như sau:

1 Phương pháp khảo sát và phân loại

2 Phương pháp điều tra

3 Phương pháp phân tích, tổng hợp

4 Phương pháp thống kê, so sánh, đối chiếu

5 Phương pháp thực nghiệm (dạy trên lớp)

Trang 4

phẩm truyện Việt Nam hiện đại chiếm một số lượng rất phong phú và xuyên suốt

một thời gian dài Tác phẩm truyện có thời gian sáng tác sớm nhất (viết 1918) được

đưa vào chương trình là “Sống chết mặc bay” (Phạm Duy Tốn) ở lớp 7 Tác phẩm

có thời gian sáng tác gần đây nhất (1985) được đưa vào chương trình là “Bến quê”

(Nguyễn Minh Châu) ở lớp 9 Sự sắp xếp ấy đã gián tiếp khẳng định vị trí rất quantrọng của tác phẩm truyện trong chương trình, nhất là ở đầu và cuối cấp Bảng

thống kê (theo phân phối chương trình Ngữ văn THCS hiện hành) sau đây đã

2 Nhận thức về vai trò của chương trình tác phẩm truyện:

Như chúng ta đã biết chương trình Ngữ văn THCS được cấu tạo theo nguyên

tắc đồng tâm, trên cơ sở lấy 06 kiểu văn bản: tự sự, miêu tả, biểu cảm, lập luận, thuyết minh, điều hành làm trục đồng quy với một sự tiếp nối, kế thừa và phát

Trang 5

triển nâng cao rất lôgíc và hợp lí Vì thế, nhóm tác phẩm truyện Việt Nam hiện đạiđược phân bố từ lớp 6 đến lớp 9 không đi chệch nguyên tắc đó

Nhóm tác phẩm truyện nói trên không chỉ giúp học sinh có những hiểu biết

cụ thể về quê hương, đất nước, con người Việt Nam qua các giai đoạn lịch sử từđầu thế kỉ XX cho đến sau năm 1975, đặc biệt là đất nước và con người trong haicuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mĩ mà còn qua đó tự rèn luyện

và bồi dưỡng những phẩm chất tốt đẹp sẵn có và chưa có: sự đồng cảm trước sốphận khổ đau, bất hạnh của con người; biết lên án cái xấu, cái ác; lòng yêu quêhương, đất nước; tinh thần trách nhiệm trong cuộc sống; biết trân trọng những giátrị bình dị mà đẹp đẽ của gia đình, của quê hương; …

Không chỉ có vai trò giáo dục tư tưởng, tình cảm thẩm mĩ, nhóm tác phẩmtrong chương trình còn giúp học sinh vận dụng kiến thức trong quá trình đọc – hiểuvăn bản (chủ đề, nhân vật, sự việc, lời kể, …) vào quá trình thực hành tạo lập cácvăn bản: tự sự, miêu tả, biểu cảm, …vv

3 Nhận thức về đặc trưng của tác phẩm truyện:

Truyện là một thể tài văn học dùng lối kể chuyện để phản ánh hiện thực vàbiểu hiện tâm tư con người Chính vì thế, trong một tác phẩm truyện luôn có ba đăctrưng cơ bản sau đây có mối quan hệ khăng khít với nhau:

Một là tình tiết (hay còn gọi là cốt truyện) Tình tiết là những sự việc đang

xảy ra, đang diễn biến, có sự tham gia của những con người với những hành động,ngôn ngữ, tâm trạng, tính cách, … của họ trong mối quan hệ với hoàn cảnh thiênnhiên, hoàn cảnh xã hội và trong mối quan hệ lẫn nhau Tình tiết làm cho những sựviệc những sự việc ngẫu nhiên hằng ngày kết tinh, ngưng đọng thành truyện Tìnhtiết của truyện có khi đơn tuyến, có khi đa tuyến, có khi một chiều, có khi nhiềuchiều Vì thế, dù biến hoá trăm màu nghìn vẻ, tình tiết luôn tồn tại trong truyện

Hai là nhân vật Đối tượng của truyện là con người với cuộc đời bên trong

và cuộc đời bên ngoài của họ cho nên trung tâm của tình tiết, của tuyện là nhân vật

Dù ở trạng thái này hay trạng thái khác, sự tồn tại và hoạt động của nhân vật giữa

hệ thống các sự việc, các biến cố của cốt truyện là phương tiện để nhà văn kháiquát hiện thực

Ba là lời kể (hay còn gọi là ngôn ngữ nghệ thuật) Lời kể của tác giả hay

người kể chuyện như là cái nền ngôn ngữ trên đó dệt nên hình tượng của tác phẩm

tự sự đồng thời cũng là nơi bộc lộc tư tưởng, tình cảm, cá tính, phong cách của nhàvăn

4 Nhận thức về nguyên tắc giảng dạy tác phẩm truyện:

Ngoài những nguyên tắc chung, trong quá trình dạy học tác phẩm vănchương, cả thầy và trò cần chú ý đảm bảo một số nguyên tắc cơ bản sau đây:

Trang 6

Một là, bảo đảm mối liên hệ với lịch sử phát sinh và hoàn cảnh môi

trường tiếp nhận Bởi bất kì tác phẩm văn học nào cũng được viết trong một

hoàn cảnh lịch sử xã hội nhất định (có khi là hoàn cảnh lịch sử cá nhân) cho nên

cần tìm hiểu để hiểu đúng, hiểu đủ, hiểu sâu về tác phẩm Tác phẩm văn học tuyđược viết trong một hoàn cảnh nhất định nhưng lại được tiếp nhận ở những hoàncảnh, những thời đại khác nhau Mỗi thời đại lại có tư tưởng chính trị riêng, cóquan điểm thẩm mĩ riêng nên nhìn tác phẩm thông qua lăng kính của thời đại

Hai là, bảo đảm tính chỉnh thể của tác phẩm Tác phẩm văn học là một

tổng thể liên kết các yếu tố có liên hệ mật thiết với nhau nhằm tạo nên một nộidung ý nghĩa nhất định, theo ý đồ của nhà văn Để đảm bảo chỉnh thể, trước hết làđảm bảo tính chỉnh thể của từng bộ phận Bởi vì mỗi bộ phận là một chỉnh thể nhỏ.Ghép nhiều chỉnh thể bộ phận sẽ tạo thành một chỉnh thể tổng thể

Ba là, đảm bảo đặc trưng thể loại tác phẩm Mỗi thể loại văn học (tự sự,

trữ tình, nghị luận, …) đều có các biện pháp riêng để thể hiện chủ đề, tư tưởng tác

phẩm Vì vậy, quá trình đọc – hiểu văn bản sẽ khác nhau theo từng thể loại khácnhau

5 Nhận thức về phương pháp giảng dạy tác phẩm truyện:

Có thể khẳng định rằng, phương pháp dạy tác phẩm văn chương rất đa dạng.Mỗi đối tượng dạy học có những phương pháp phù hợp khác nhau Bởi phươngpháp tốt nhất là phương pháp phù hợp nhất, hiệu quả nhất Tuy nhiên, xét quá trìnhđọc - hiểu tác phẩm truyện thì có hai phương pháp cơ bản sau đây:

Một là, đọc – hiểu theo phương pháp giảng – bình Đây là phương pháp

được kế thừa truyền thống dạy văn, bình văn của dân tộc ta đã được cải tiến: giảngbình kết hợp với các thao tác gợi mở để học sinh vừa lĩnh hội, vừa chủ động tíchcực nhận thức

Hai là, đọc – hiểu theo phương pháp gợi mở Đây là phương pháp quan

trọng nhất, phổ biến nhất trong dạy học văn hiện đại Phương pháp này phát huytối đa năng lực tự nhận thức của học sinh dưới sự tổ chức, hướng dẫn của giáoviên Phương pháp này gồm hai thao tác: hệ thông thao tác gợi mở và hệ thốngthao tác giảng bình Trong đó, hệ thống thao tác gợi mở là chủ đạo, hệ thống thaotác giảng bình đóng vai trò hỗ trợ

Ngoài ra, người giáo văn phải là nhà khoa học sư phạm, người nghệ

sĩ chuyên nghiệp trên bục giảng Quá trình hướng dẫn học sinh tìm hiểu, tiếp nhận

giá trị của tác phẩm, giáo viên phải biết định định hướng cho HS tìm hiểu, phântích tác phẩm; khuyến khích các em tinh thần phản biện, tìm tòi, phát hiện nhữngcái đẹp, cái hay (và cả cái khiếm khuyết) của tác phẩm; sử dụng linh hoạt các hìnhthức dạy học: khi thì phát vấn; lúc thì phân tích, tổng hợp; khi thì diễn giảng; khicòn tạo ra những “khoảng lặng nghệ thuật” để học trò thẩm thấu tác phẩm; dáng

Trang 7

vẻ, khuôn mặt, giọng điệu và các sắc thái tình cảm trong lời giảng; chữ viết bảng

và lối trình bày bảng của giáo viên

II Thực trạng:

1 Thuận lợi, khó khăn:

a Thuận lợi:

Đội ngũ giáo viên Ngữ văn THCS đều được đào tạo đạt chuẩn và trên chuẩn

(đại học); được tham gia các lớp tập huấn về đổi mới phương pháp giảng dạy do

Phòng và Sở GD tổ chức; đa số giáo viên có tâm huyết, có trách nhiệm với nghề;

có ý thức chủ động, tích cực đổi mới phương pháp dạy học văn

Về phía học sinh, đa số các em đều chịu khó học tập Vẫn còn học sinh thíchhọc văn, mê văn; vẫn có những bài viết hay, vẫn có học sinh giỏi văn nhưng khôngthật sự nhiều của học sinh

b Khó khăn:

Việc thực hiện đổi mới phương pháp ở một bộ phận không nhỏ giáo viêncòn mang tính chất hình thức, đối phó Một số giáo viên vẫn giữ thói quen dạy họctheo kiểu đọc – chép và nhồi nhét, vì áp lực: Sợ “cháy” giáo án! Bên cạnh đó cũng

có giáo viên đã xuất hiện tâm lí chán nản, buông xuôi, không có động lực để traudồi chuyên môn, tạo sức ỳ lớn trong tư duy đổi mới, cải tiến phương pháp giảngdạy!

Về phía học sinh, tồn tại lớn nhất là thói quen học thụ động, thiếu sáng tạo.

Lên lớp chỉ thích nghe và chép rồi tái hiện máy móc bằng những ý vay mượn, bằng

những lời có sẵn Bên cạnh đó là không biết tự học Một thực tế đáng buồn là học

sinh ngày nay rất lười Về nhà không chịu đọc tác phẩm, không chịu soạn bài, nếu

có thì cũng là chép tài liệu mà không hiểu điều gì! Đặc biệt là tình trạng học sinh

thiếu hứng thú, đam mê học văn Có thể nói hiện nay có rất ít học chịu khó đọc

sách để thấy được cái hay, cái đẹp của văn chương, biết rung động trước những câuvăn hay, tác phẩm văn học hay Vì thê vốn từ nghèo nàn, từ ngữ tối nghĩa, dungtục, câu văn và đoạn văn khô cứng, sai hoặc lẫn lộn kiến thức đang diễn ra ngàymột phổ biến

2 Thành công, hạn chế:

a Thành công:

Trong nhà trường THCS hiện nay, việc dạy học tác phẩm văn học nói chung,tác phẩm truyện Việt Nam nói riêng cơ bản đã đảm bảm được những yêu cầu về lýluận và đổi mới phương pháp;

Chất lượng học tập phần văn học của học sinh nhìn chung đáp ứng được yêucầu Vẫn còn học sinh thích học văn, mê văn; vẫn có những bài viết hay, vẫn có họcsinh giỏi văn

Trang 8

b Hạn chế:

Việc dạy học tác phẩm văn chương ở một số giáo viên chưa đáp ứng tốt yêucầu về lí luận và phương pháp Một số giờ dạy còn đơn điệu, một chiều, khô cứng,máy móc;

Một số học sinh còn thụ động, thiếu sáng tạo, không biết tự học và thiếuhứng thú trong việc học Văn

Chất lượng học tập môn Ngữ văn ở nhiều học sinh đang có dấu hiệu đixuống từ khâu đọc cho đến khâu tiếp nhận và đặc biệt là kĩ năng tạo lập văn bảnviết;

Nhiều phụ huynh lơ là hoặc xem nhẹ việc học tập môn Ngữ văn của con emmình

4 Các nguyên nhân, yếu tố tác động:

Thực trạng đáng buồn nói trên do nhiều nguyên nhân, yêu tố tác động,nhưng tựu chung có ba nguyên nhân cơ bản sau đây:

Một là, xã hội chưa thực sự coi trọng môn Văn Phải nói rằng mặt trái của

sự phát triển khoa học công nghệ đã tác động đến tâm lý của học sinh và cả phụhuynh Các em đã sai lầm khi cho rằng chỉ cần biết đọc, biết nói là ổn chứ học văn

có yếu thì cũng không sao, quan trọng là học các môn khoa học tự nhiên – nhữngmôn học thời thượng – để sau này dễ học việc, dễ tìm việc Mặt khác là có nhiều emchịu khó đầu tư học văn, đi thi đậu khối C, nhưng học xong rồi loanh quanh, vất vảchạy đi tìm việc cả mấy năm trời cũng không được Chính vì thế mà ngày càng hiếmhọc sinh thích học văn và đương nhiên là chất lượng môn văn không cao

Hai là, phụ huynh học sinh không tha thiết với việc học văn của con em

mình Thực tế cho thấy đại đa số phụ huynh sẵn sàng đầu tư cho con học và học thêm

Trang 9

các môn: Toán , Lý, Hóa, Anh văn, … Nghe nói đến học văn thì chắt lưỡi, bỉu môirằng học văn thì sau này chẳng làm được gì (?!)

Bai là, nội dung chương trình có một số bài còn nặng nề, khó hiểu, xa lạ

với học sinh Thực tế mà nói rằng nội dung, chương trình còn nặng về lý thuyết, nhẹ

về thực hành nên học sinh ít có cơ hội rèn luyện nhuần nhuyễn các kĩ năng vănchương Đã thế nội dung ở nhiều tác phẩm văn học không còn phù hợp với cuộc sốnghiện đại, xa lạ, khó hiểu và và gây nhàm chán cho học sinh Thứ nữa là phương phápdạy của người thầy còn cứng nhắc, thiếu linh hoạt và áp đặt khiến cho bài dạy khôkhan, nhàm chán đã vô tình thui chột lòng đam mê, sự hứng thú học tập của học sinh

5 Phân tích, đánh giá các vấn đề về thực trạng mà đề tài đặt ra:

Trong những năm qua, mặc dầu đại đa số giáo viên đã có ý thức đổi mớiphương pháp dạy học văn nhưng việc thực hiện chỉ mới mang tính chất hình thức,thử nghiệm chứ chưa đem lại hiệu quả như mong muốn Bên cạnh đó vẫn còn một

số giáo viên vẫn chưa thoát khỏi được thói quen dạy học theo kiểu truyền thụ kiếnthức một chiều, theo kiểu diễn thuyết vì sợ “cháy” giáo án Chính điều này đã tạosức ỳ lớn trong tư duy đổi mới, cải tiến phương pháp giảng dạy

Về phía học sinh, bên cạnh những điểm sáng là vẫn còn một số học sinhthích học văn, mê văn và vẫn có học sinh giỏi văn, vẫn có những bài viết hay củahọc sinh thì vẫn có không ít thách thức Trước hết điều cần phải nói nhiều nhất làthói quen thụ động, quen nghe, quen chép, ghi nhớ và tái hiện lại một cách máymóc, rập khuôn những gì giáo viên đã giảng Đa phần học sinh chưa có thói quenchủ động tìm hiểu, khám phá bài học, lười suy nghĩ Chỉ biết suy nghĩ diễn đạtbằng những ý vay mượn, bằng những lời có sẵn, lẽ ra phải làm chủ tri thức thì lạitrở thành nô lệ của sách vở Học sinh chưa có hào hứng và chưa quen bộc lộnhững suy nghĩ, tình cảm của mình trước tập thể, cho nên khi phải nói và viết, họcsinh cảm thấy khá khó khăn

Thứ nữa là học sinh hiện nay rất lười, đến lớp học mà bài không soạn Khihỏi có em thản nhiên bao biện: “Em để quên ở nhà”, “Em mang nhầm vở” …v.vCũng có em soạn bài với tính cách đối phó bằng cách chép từ các các cuốn sáchtham khảo nhưng khi hỏi thì không hiểu gì Ngồi học trong lớp không chú ý nghegiảng, thích cười đùa nói chuyện, làm việc riêng, ý thức học tập rất yếu Mặc dùgiáo viên bộ môn cũng như giáo viên chủ nhiệm đã có những biện pháp đối vớinhững học sinh nhưng rồi đâu cũng vào đấy Thói quen học tập thụ động, đối phócủa học sinh là một rào cản lớn đối với quá trình đổi mới phương pháp dạy học

Những biểu hiện ấy đã phản ánh tình trạng chán học văn ở học sinh Học sinhthiếu nhiều về kiến thức ngữ văn, rất ít học sinh đọc sách để thấy được cái hay, cáiđẹp của văn chương, biết rung động trước những tác phẩm văn học hay Do vậykhi làm bài, học sinh thường suy luận chủ quan, thô tục hoá văn chương Ngoàinhững lỗi trên thì tình trạng học sinh làm bài sai kiến thức cơ bản vẫn chiếm tỷ lệ

Trang 10

lớn Đó là tình trạng “râu ông nọ cắm cằm bà kia”, viết sai tên tác giả, tác phẩm,nhầm tác phẩm của nhà văn này với nhà văn khác…

Vì vậy, để phần nào tháo gỡ thực trạng nêu trên nhằm nần cao hiệu quả, chất

lượng dạy – học Văn, con đường duy nhất là không ngừng đẩy mạnh đổi mới

phương pháp dạy và học; không ngừng đẩy mạnh đổi mới kiểm tra đánh giá.

III MỘT SỐ GIẢI PHÁP CƠ BẢN:

Giải pháp 1: Giáo viên cần phải xác định được các chặng trong quá trình

giảng dạy một tác phẩm văn học.

a Mục tiêu của giải pháp này là chỉ ra và định hình được các chặng có tính

nguyên tắc trong quá trình đọc – hiểu tác phẩm văn học: đọc – hiểu – vận dụng

b Nội dung và cách thức thực hiện giải pháp:

Khi dạy học văn chương nói chung, dạy học tác phẩm truyện hiện đại ViệtNam nói riêng, một trong những “phần cứng” có tính nguyên tắc buộc giáo viênphải tuân thủ:

Một là, ĐỌC – HIỂU CHUNG Đây là chặng mà giáo viên hướng dẫn học sinh tìm hiểu tác phẩm văn học bằng cảm tính.

Hai là, ĐỌC - HIỂU VĂN BẢN (gợi mở và giảng - bình) Đây là chặng

mà giáo viên hướng dẫn học sinh thâm nhập tác phẩm văn học bằng lý tính.

Ba là, TỔNG KẾT - LUYỆN TẬP - VẬN DỤNG Đây là chặng mà giáo

viên tổ chức học sinh vừa củng cố kiến thức, vừa rèn luyện các năng lực cảm thụvăn học

Giải pháp 2: Giáo viên cần phải định hình cho học sinh trình tự chung,

dàn ý đại cương của quá trình đọc – hiểu tác phẩm văn học hiện đại.

a Mục tiêu của giải pháp này là chỉ ra và tuân thủ trình tự chung, dàn ý đại

cương trong quá trình giảng dạy tác phẩm văn học: tác giả – tác phẩm – tổng kết –luyện tập, vận dụng

b Nội dung và cách thức thực hiện giải pháp:

Một là, sơ lược về tác giả: tên, tuổi, bút danh, quê quán, sự nghiệp văn học

Trang 11

Năm là, luyện tập Ở bước này, GV hướng dẫn HS vận dụng kiến thức đãđọc – hiểu để rèn luyện năng lực cảm thụ văn chương.

*** Kinh nghiệm cho thấy, đây là một việc làm thiết thực của người giáoviên Ngữ văn giúp cho học sinh biết chủ động tự học và sáng tạo Tuy nhiên, trình

tự trên cần được vận dụng linh hoạt và sáng tạo trong đọc – hiểu tác phẩm

Giải pháp 3: GV hướng dẫn học sinh cách chuẩn bị bài mới.

a Mục tiêu của giải pháp này rèn luyện cho HS thói quen đọc tác phẩm

truyện và kĩ năng đọc – tóm tắt tác phẩm

b Nội dung và cách thức thực hiện giải pháp:

Nếu muốn học tốt một tác phẩm truyện hoặc đoạn trích thì trước hết phảiđọc kĩ và nắm vững cốt truyện (tình tiết) của phẩm truyện hoặc đoạn trích đó Việcchịu khó đọc tác phẩm không những cảm nhận được cái hay, cái đẹp của vănchương, biết rung động trước những câu văn hay, tác phẩm văn học hay mà còntrau dồi được vốn từ, học tập được cách viết câu văn, đoạn văn sắc sảo Vì thế cóthể xem tóm tắt cốt truyện là yêu cầu có tính chất tạo nền, là cơ sở để từ đó tìmhiểu các vấn đề khác của tác phẩm, là yếu tố quyết định đến sự thành công của quátrình dạy và học trên lớp Nếu đọc hiểu một tác phẩm truyện mà HS không nắmvững cốt truyện thì người thầy dù có nhiệt tình đến mấy, dù có trình độ chuyênmôn vững vàng, xuất sắc thì kiến thức về tác phẩm chắc chắn sẽ không lưu lạiđược trong đầu óc của HS Chính vì thế trước bài dạy về một tác phẩm truyện, GVcần coi trọng và dành thời gian thích đáng để hướng dẫn HS đọc và chuẩn bị bài

mới Ví dụ, trước khi dạy – học tác phẩm “Những ngôi sao xa xôi” (Lê Minh

Khuê), GV cần chủ động dành thời gian (2, 3 phút) của tiết học liền kề để dặn dò

và hướng dẫn HS đọc và tóm tắt truyện: Truyện kể về những nhân vật nào, ai lànhân vật chính? Cuộc sống và công việc của họ được kể, tả qua những tình tiếtnào? Trong cuộc sống, chiến đấu đó, đời sống nội tâm của các nhân vật hiện lênnhư thế nào? Trên cơ sở đó, GV yêu cầu HS viết đoạn văn tóm tắt tác phẩm.Nắm vững cốt truyện và nhân vật sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho HS lựa chọn và sửdụng luận cứ trong quá trình tạo lập bài văn nghị luận về một tác phẩm truyện hoặcđoạn trích đạt hiệu quả cao

Giải pháp 4: Trong quá trình đọc – hiểu tác phẩm truyện, giáo viên cần

vận dụng linh hoạt phương pháp gợi mở, giảng bình để hướng dẫn và phát huy tính tích cực của học sinh trong việc tìm hiểu nhân vật, cốt truyện, ngôn ngữ nghệ thuật của truyện.

a Mục tiêu của giải pháp này là xác định và sử dụng hệ thống phương

pháp đặc thù để tổ chức, hướng dẫn học sinh chiếm lĩnh giá trị tư tưởng tình cảm

và những thành công nghệ thuật của một tác phẩm văn học cụ thể: tình tiết – nhânvật – nghệ thuật

Trang 12

b Nội dung và cách thức thực hiện giải pháp:

Như chúng ta đã biết, hình tượng nghệ thuật của truyện mang nội dung

hiện thực và nội dung tư tưởng, đồng thời được cấu tạo nhuần nhuyễn, hữu cơ qua

ba yếu tố: tình tiết (cốt truyện) – nhân vật – lời kể (ngôn ngữ nghệ thuật) Vì thế,

để học sinh cảm thụ đầy đủ và sâu sắc giá trị nội dung tư tưởng lẫn hình thức nghệ

thuật của tác phẩm truyện, giáo viên không thể không tổ chức, hướng dẫn học sinh

tìm hiểu ba yếu tố nói trên, cụ thể như sau:

Một là, trong tác phẩm truyện, nội dung chủ yếu của kết cấu tác phẩm chính

là sự phát triển của tình tiết Để có thể phân tích được sự phát triển của tình tiếttrong một tác phẩm truyện, ngay ở chặng hướng dẫn học sinh tìm hiểu tác phẩm

văn học bằng cảm tính, giáo viên cần tổ chức cho học sinh tìm hiểu và phân tích

bố cục của tác phẩm để bước đầu nắm vững cấu tạo của văn bản và hình tượng

tác phẩm Sự phân tích kết cấu của truyện nên hướng vào việc tìm ra được cácchặng phát triển của tình tiết, từ đó nắm được cấu tạo của hình tượng tác phẩm Vì

thế, khi phân tích kết cấu đại cương của một truyện thường là sự lược thuật

cốt truyện một cách có phương pháp, không sợ sa vào lối “nhại” lại một cách

nhạt nhẽo nội dung của tác phẩm, đồng thời tạo điều kiện cho bước phân tích

nhân vật.

Chẳng hạn, khi hướng dẫn học sinh đọc – hiểu tác phẩm “Sống chết mặc

bay” (Phạm Duy Tốn) trong chương trình Ngữ văn 7, giáo viên cần chú ý hướng

dẫn học sinh làm rõ ba chặng phát triển của tình tiết trong tác phẩm Đó là

cảnh hàng trăm ngàn dân phu chống chọi với sức trời, sức nước để bảo vệ con đêđội mưa, đội gió, bì bõm dưới bùn, xao xác gọi nhau đắp, cừ, để bảo vệ con đê

từ chiều đến gần một giờ đêm trong âm thanh tiếng trống đánh liên thanh, ốc thổi

vô hồi; đó là cảnh nhân vật quan phụ mẫu mang theo những vật dụng sang trọng,những đồ ăn thức uống quý hiếm đi hộ đê ở trong một ngôi đình cao ráo, vữngchãi, đèn thắp sáng trưng, nha lệ, lính tráng và người hầu đi lại rộn ràng; đó là cảnh

đê vỡ, dân trôi, người chết không có chỗ chôn, kẻ sống không có chỗ ở.trong niềmvui quan thắng ván bài ù

Hoặc khi dạy bài, “Những ngôi sao xa xôi” của nữ nhà văn Lê Minh Khuê,

GV tổ chức, hướng dẫn HS tóm tắt tác phẩm truyện Truyện có thể tóm tắt nhưsau: Ba nữ thanh niên xung phong Nho, Thao, Phương Định là những cô gái rất trẻ.Các cô ở trong một hang dưới chân cao điểm để làm nhiệm vụ trinh sát mặt đườngtại một trọng điểm trên tuyến đường Trường Sơn Ở đó, hằng ngày ba cô gái phảichạy trên cao điểm để quan sát địch ném bom, đo khối lượng đất đá phải san lấp vàđánh dấu vị trí các quả bom chưa nổ và phá bom Cuộc sống chiến đấu khốc liệtnhưng các cô vẫn dũng cảm, yêu đời và mơ mộng Trong một lần phá bom, Nho bịthương, chị Thao và Phương Định đã chăm sóc tận tình, chu đáo Một trận mưa đákhiến các cô rất thích thú

Ngày đăng: 28/08/2017, 10:34

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w