Cũng chính vì lẽ đó có không nhiều tài liệu nghiên cứu sâu về việc soạn giáo án các bài dạy học phần văn xuôi Việt Nam hiện đại trong chương trình SGK Ngữ văn 12 bộ nâng cao.. Tuy cả hai
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
Trang 2A PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Là con người ai cũng muốn mình sẽ có một nghề nghiệp ổn định, một tương lai vững chắc Tôi cũng có ước mơ, hoài bão mong muốn cho mình một nghề nghiệp ổn định, và tôi đang tiến dần đến ước mơ đó là trở thành một giáo viên trong tương lai, tôi đang đi trên con đường mà mình đã chọn Để trở thành một giáo viên dạy giỏi, thì cần
phải có một cách dạy tốt, thu hút và dễ hiểu Mục tiêu giáo dục phổ thông là: “Giúp học sinh phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ, và các kĩ năng cơ bản, phát triển các năng lực cá nhân, tính năng động sáng tạo, hình thành các nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa; chuẩn bị cho việc tiếp tục học lên hoặc đi vào cuộc sống lao động tham gia xây dựng bảo vệ Tổ quốc” Từ lâu, dạy - học môn
văn trong nhà trường phổ thông được quan niệm là dạy một bộ môn nghệ thuật Mục tiêu dạy - học văn là cung cấp tri thức văn học, phát triển khả năng cảm nhận, bồi đắp
tâm hồn tinh tế nhạy cảm, xây dựng nhân cách và đạo đức cho thế hệ trẻ “Văn học là nhân học”, học văn là học làm người, dạy văn là dạy người Bên cạnh mục tiêu trang
bị tri thức, giáo dục đạo đức nhân cách, thẩm mỹ còn nhấn mạnh một mục tiêu nữa là
rèn luyện kĩ năng nghe, nói, đọc, viết Chính vì những mục tiêu trên khi chọn đề tài
luận văn tốt nghiệp, tôi chọn đề tài: “Dạy học phần văn xuôi Việt Nam hiện đại trong
chương trình SGK Ngữ văn 12 (bộ nâng cao)”
Từ những quan niệm trên và do nhu cầu tất yếu của đổi mới phương pháp dạy Tôi sẽ có một cách nhìn đúng đắn và toàn diện hơn về việc giảng dạy của một người giáo viên phổ thông trong tương lai Tôi có thể truyền đạt những cái hay cái đẹp trong văn chương cho học sinh cảm nhận tốt hơn Giúp các em yêu văn chương hơn nhất là những tác phẩm văn chương trong nhà trường Từ đó, tôi có thể rút ra kinh nghiệm để việc dạy học sau này đạt kết quả cao nhất
2 Lịch sử vấn đề
Chương trình - SGK Ngữ văn 12 được chính thức đưa vào dạy và học ở trường THPT từ năm học 2008 - 2009 Cũng chính vì lẽ đó có không nhiều tài liệu nghiên cứu sâu về việc soạn giáo án các bài dạy học phần văn xuôi Việt Nam hiện đại trong chương trình SGK Ngữ văn 12 (bộ nâng cao) Nhưng qua việc tìm hiểu, tôi đã tìm thấy được một số ít tài liệu có liên quan:
Trang 3Quyển “Kỷ yếu hội nghị khoa học và cải tiến phương pháp dạy học”, Khoa sư phạm, Trường Đại Học Cần Thơ, 2001 có những bài viết: “Giảng dạy văn học Việt Nam 1945 - 1975”, Nguyễn Lâm Điền, giảng viên bộ môn Ngữ văn, Khoa sư phạm;
“Vài suy nghĩ về đổi mới phương pháp dạy học văn ở trường Đại học sư phạm hiện nay”, Trần Đình Thích, giảng viên bộ môn Ngữ văn, Khoa sư phạm Tuy cả hai bài
viết đều không liên quan trực tiếp đến đề tài nhưng qua việc nghiên cứu ta có thể áp dụng một số nội dung phù hợp cho phần soạn giáo án như: cách thức chuẩn bị bài giảng hiệu quả, cách ra đề, nội dung thảo luận trên lớp, cách nêu vấn đề để buộc học sinh phải đọc, tham khảo tài liệu,…
Nhận thức được tầm quan trọng của việc đổi mới phương pháp dạy học, trong
chuyên đề: “Tổ chức học hợp tác trong dạy học Ngữ văn”, Nguyễn Thị Hồng Nam đã
đưa ra một hình thức dạy học mới, đạt hiệu quả cao đó là hình thức thảo luận nhóm
Với cô Nam “học hợp tác tạo điều kiện cho học sinh phát triển năng lực tư duy bằng những cách mà không một giáo viên nào, dù tốt nhất có thể làm được với những phương pháp truyền thống” [13; tr.14] Bên cạnh đó, nhóm tác giả quyển giáo trình
“Lý luận dạy học Ngữ văn” - Ths Nguyễn Minh Chính, Ts Nguyễn Thị Hồng Nam, Ths Trần Đình Thích, Ths Hà Hồng Vân và tác giả giáo trình “Lý luận dạy học” - Lê
Phước Lộc còn đưa ra những cơ sở lý thuyết trong dạy học Ngữ văn và các xu hướng dạy học tích cực Điều này sẽ giúp ít rất nhiều trong việc trang bị kiến thức về phương pháp luận cho giáo viên khi thiết kế giáo án
Bài viết: “Mấy ý kiến về cách phát vấn trong dạy nêu vấn đề ở bậc Đại học”
của Ths Trần Văn Minh Tuy bài viết nói về phương pháp dạy học ở bậc đại học nhưng tôi thấy vẫn có một số nội dung áp dụng cho việc giảng dạy ở phổ thông như: những yêu cầu chung về thiết kế câu hỏi, thái độ của người giáo viên khi tiến hành phát vấn Qua đây, người dạy có thể đưa ra những câu hỏi hợp lí và có thái độ phù hợp nhằm đảm bảo cho quá trình giảng dạy cũng như sự tiếp thu của học sinh tốt hơn
Ngoài ra, còn có những công trình nghiên cứu khác đưa ra một số bài thiết kế bài giảng cụ thể có vận dụng những phương pháp tích cực, hiện đại trong việc dạy học
văn, phát huy tính sáng tạo tích cực của học sinh như “Thiết kế bài dạy học tác phẩm văn chương nhà trường phổ thông” (Tập 1, 2) do Phan Trọng Luận chủ biên, “Thiết kế bài giảng Ngữ văn 10”, “Thiết kế bài giảng Ngữ văn 11”, “Thiết kế bài giảng Ngữ văn 12” và “Hướng dẫn thực hiện chương trình sách giáo khoa Ngữ văn 12”, và
Trang 4quyển “Phương pháp dạy học tác phẩm văn chương (theo loại thể)”, do Nguyễn Viết
Chữ chủ biên Đây có thể xem là những đóng góp quan trọng giúp ích rất nhiều cho giáo viên trong công tác giảng dạy Do đó, giáo viên có thể tham khảo, vận dụng làm cho bài thiết kế của mình thêm sinh động, đạt chất lượng cao
Nhìn chung, vẫn chưa có một tài liệu nào nghiên cứu cụ thể và đầy đủ về việc
“Dạy học phần văn xuôi Việt Nam hiện đại trong chương trình SGK Ngữ văn 12 (bộ nâng cao)” Trong quá trình thực hiện đề tài này, tôi hi vọng có thể đóng góp vào
việc nghiên cứu, thiết kế giáo án Ngữ văn nói chung và giáo án phần văn xuôi Việt Nam hiện đại lớp 12 (bộ nâng cao) nói riêng Và hơn thế nữa, nó là hành trang cần thiết cho tôi trên con đường dạy học trong tương lai
3 Mục đích nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu nhằm vào những mục đích:
- Tìm hiểu chương trình SGK Ngữ văn 12 (bộ nâng cao) đặc biệt là các bài văn xuôi Việt Nam hiện đại
- Vận dụng các phương pháp dạy học tích cực vào việc soạn giáo án các bài văn xuôi Việt Nam hiện đại trong SGK Ngữ văn 12 (bộ nâng cao)
4 Phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là SGK Ngữ văn 12 (bộ nâng cao) và một số tài liệu liên quan Vì vậy, người nghiên cứu chỉ thiết kế một số bài văn xuôi Việt Nam hiện đại trong chương trình SGK Ngữ văn 12 (bộ nâng cao) Cụ thể là những bài:
- Người lái đò Sông Đà
- Vợ chồng A Phủ
- Rừng xà nu
5 Phương pháp nghiên cứu
Để hoàn thành đề tài này, tôi sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:
- Phân tích chương trình SGK Ngữ văn 12 (bộ nâng cao)
- Tổng hợp các tư liệu về phương pháp dạy học
- Vận dụng các phương pháp dạy học vào việc soạn giáo án những bài văn xuôi Việt Nam hiện đại lớp 12 (bộ nâng cao)
- Ngoài ra, trong quá trình thực hiện tôi còn sử dụng những phương pháp như: đối chiếu, so sánh, phân tích
B PHẦN NỘI DUNG
Trang 5CHƯƠNG 1 VĂN XUÔI VIỆT NAM HIỆN ĐẠI TRONG CHƯƠNG TRÌNH
SÁCH GIÁO KHOA NGỮ VĂN 12
(BỘ NÂNG CAO)
1 Quan niệm về văn xuôi
“Văn xuôi là thể loại văn nói hoặc viết bằng ngôn ngữ thông thường, không tuân theo các lề luật như thi ca Văn xuôi chủ yếu dựa vào năng lực trí tuệ cộng với tình cảm và trí tưởng tượng Văn xuôi có nhiều thể loại: văn diễn giảng, văn lịch sử, văn nghị luận, văn tự sự,…Văn xuôi văn học có tiểu thuyết, truyện ngắn, tùy bút, ký,…Khi tác phẩm triết học, lịch sử, giáo dục,… có các giá trị thẩm mỹ nó cũng được xem là văn xuôi” (Theo bách khoa toàn thư mở Wikipedia)
1.1 Những đặc điểm cơ bản
Văn học Việt Nam có những chuyển biến mới vào những năm cuối thế kỷ XIX
- đầu thế kỷ XX Đây là chặng đường quan trọng trong quá trình vận động để chuyển đổi văn học, từ phạm trù trung đại sang phạm trù hiện đại Gần mười thế kỷ văn học phát triển trong bối cảnh giao lưu mang tính chất khu vực với những quy phạm riêng,
do vậy văn học Việt Nam có những khác biệt so với văn học các nước Văn xuôi dường như khó phát triển và ít thành tựu hơn văn vần Đời sống văn học đã xuất hiện những yếu tố mới làm phá vỡ ít nhiều hệ thống quy phạm đã tồn tại khá lâu trong sáng tác cũng như tiếp nhận Những quan niệm mới về thế giới và con người đã làm cho văn học tiếp cận với cuộc sống đa dạng và không ngừng biến đổi Cái nhìn cụ thể, mới
lạ đã làm cho văn học không còn bó hẹp trong những hiện tượng mang tính chất khuôn mẫu Việc tìm kiếm những phương thức thể hiện mới đã trở thành một nhu cầu tất yếu
để đổi thay đời sống văn học Nhu cầu thưởng thức nghệ thuật của bộ phận công chúng ở đô thị mới hình thành cũng không cho phép văn học cứ giữ mãi trong trạng thái đông cứng Nói cách khác, nhu cầu cách tân văn học đã đặt ra cho các nhà văn những nhiệm vụ mới với những yêu cầu khác biệt so với những chặng đường trước Đây là giai đoạn mở đầu cho quá trình hiện đại hóa văn học Việt Nam nói chung và hiện đại hóa văn xuôi nói riêng
Thời trung đại, văn xuôi Việt Nam được xây dựng trên nền tảng tiếp thu văn xuôi của Trung Quốc với những đặc thù mang tính chất khu vực Những thể loại văn
Trang 6xuôi này khó được tiếp nhận trong bộ phận công chúng, vốn không tiếp xúc trực tiếp với các tác phẩm viết bằng chữ Hán Bộ phận văn học thuộc loại hình tự sự viết bằng chữ Nôm, như các tác phẩm truyện thơ, được công chúng tiếp nhận dễ hơn, nhưng tư duy thơ ít nhiều lấn át tư duy văn xuôi
Văn hóa đọc vẫn chưa hoàn thiện theo hướng mở rộng khả năng tiếp cận tác phẩm của bộ phận công chúng mới Nhu cầu đổi mới văn xuôi đặt ra những yêu cầu chuyển biến mới kể cả nội dung phản ánh lẫn phương thức biểu hiện Văn xuôi đang đòi hỏi sự đổi thay theo xu hướng hiện đại hóa và hội nhập với văn học thế giới Những yếu tố nội sinh của đời sống văn học đã đủ mạnh để tạo ra những đổi thay trong tiến trình vận động của văn xuôi tiếng Việt Trong bối cảnh đó, sự phát triển của chữ quốc ngữ vào những thập niên cuối thế kỷ XIX cũng tạo ra một hướng thử nghiệm mới cho văn xuôi tiếng Việt Chữ quốc ngữ vốn đã thâm nhập vào đời sống văn hóa Việt ngay từ mấy thế kỷ trước, nhưng bị cô lập trong các hoạt động tôn giáo Một vài
tác phẩm mang tính chất ký sự như Sách sổ sang chép các việc của Philiphê Bỉnh
(1822) cũng chỉ là những hiện tượng mang tính chất riêng lẻ và chưa tạo ra những cách nhìn mới về đời sống và văn học
1.2 Sự phát triển của văn xuôi hiện đại
Sự phát triển của văn xuôi hiện đại, theo các nhà nghiên cứu thì văn xuôi hiện đại được phân làm 4 giai đoạn theo các mốc lịch sử như sau:
- Giai đoạn 1900 - 1930
- Giai đoạn 1930 - 1945
- Giai đoạn 1945 - 1975
- Giai đoạn 1975 - nay
Mỗi một giai đoạn một thời kỳ văn học đều có những thành tựu đáng kể cả về chất và về lượng, cả về thể loại
- Giai đoạn 1900 - 1930
Việc sử dụng chữ quốc ngữ góp phần thúc đẩy vào việc xây dựng và phát triển nền văn xuôi Việt Nam Nền văn học trung đại Việt Nam chưa chú ý phát triển văn xuôi Ở giai đoạn nửa cuối thế kỉ XIX đã có xuất hiện những sáng tác văn xuôi bằng chữ quốc ngữ của Trương Vĩnh Kí và Huỳnh Tịnh Của Nhưng ở đây chỉ là những mò mẫm ban đầu, những thí nghiệm lẽ loi chưa có tính phổ biến Sang đầu thế kỉ XX, văn xuôi Việt Nam mới có những chuyển biến rõ rệt Bên cạnh đó, do có sự tiếp xúc với
Trang 7văn học phương Tây mà nền văn học Việt Nam giai đoạn này đã xuất hiện các thể loại mới: tiểu thuyết hiện đại, vốn là đặc thù của nền văn học phương Tây Khởi đầu là quyển tiểu thuyết in bằng chữ quốc ngữ, xuất hiện ở Nam kì năm 1887 với tựa đề
Truyện thầy Lazarô Phiền của Nguyễn Trọng Quản Nhưng đến giai đoạn 1900 - 1930
thì tiểu thuyết hiện đại mới phát triển trong cả nước Những tên tuổi tiêu biểu là Hồ Biểu Chánh, Trần Thiên Trung, Trương Duy Toản, Hoàng Ngọc Phách, Trọng Khiêm, Nguyễn Trọng Thật, Chất văn xuôi, tính cách cá nhân phương Tây còn ảnh hưởng đến cả lĩnh vực sáng tác lâu đời trong văn học Việt Nam
- Giai đoạn 1930 - 1945
Giai đoạn này là một bước ngoặt chuyển biến mau lẹ từ thi pháp trung đại sang thi pháp hiện đại trong sáng tạo văn chương trên con đường hiện đại hóa Nếu như giai đoạn trước đó công cuộc hiện đại hóa văn chương Việt Nam chỉ là những biểu hiện lẻ
tẻ, rời rạc, thì ở giai đoạn này nó diễn ra khá phổ biến và đồng loạt với khí thế diễn ra sôi nổi và rầm rộ Về tốc độ phát triển, chỉ trong vòng mười lăm năm ngắn ngủi, văn chương Việt Nam đã tự tạo nên một sự phát triển đột biến, nhảy vọt tăng tốc mà ở các giai đoạn trước đó chưa hề có Văn chương Việt Nam 1930 - 1945 là một giai đoạn của thời kì văn học từ đầu thế kỉ XX đến 1945 Vậy những đặc điểm cơ bản của văn học thời kì này cũng là những đặc điểm cơ bản của thời kỳ văn học đầu thế kỉ XX đến
1945
Văn chương Việt Nam giai đoạn 1930 - 1945 là sự nối tiếp, liền mạch từ giai đoạn trước, song không hoàn toàn đồng nhất với giai đoạn trước bởi nó có những nét riêng biệt Do có những nét riêng biệt tạo thành những đặc điểm nổi bật nên mới phân
ra thành một giai đoạn văn chương Ở giai đoạn văn học này không chỉ phát triển về lượng mà còn phát triển cả về chất ngay trong mỗi tác phẩm văn chương Lực lượng sáng tác giai đoạn này có những tên tuổi như Nguyễn Ái Quốc, Tố Hữu, … các nhà văn hiện thực phê phán Nguyễn Công Hoan, Ngô Tất Tố, Nguyên Hồng, Vũ Trọng Phụng, Nam Cao, các nhà văn nhà thơ lãng mạn như Nhất Linh, Khái Hưng, Hoàng Đạo, Thạch Lam, Thế Lữ, Lưu Trọng Lư, Phạm Huy Thông, Xuân Diệu, Tuy các nhà văn nhà thơ thuộc những trào lưu văn chương khác nhau, nhưng họ đều làm thơ, viết văn, và có những đóng góp đáng kể bằng những sản phẩm, tạo nên sự phát triển khởi sắc cho nền văn chương hiện đại Việt Nam Mặc dù họ có những quan niệm nghệ thuật khác nhau trong giới hạn nhất định của một giai cấp lịch sử nhưng với những
Trang 8đóng góp chung của họ cho nền văn chương dân tộc, cùng với nhiều nhà văn, nhà thơ khác, họ đã hợp thành một đội ngũ nhà văn, nhà thơ Việt Nam hiện đại Đội ngũ những nhà văn, nhà thơ Việt Nam giai đoạn 1930 - 1945 là lực lượng chủ công, lực lượng xung kích trong việc làm biến đổi diện mạo của nền văn chương Việt Nam theo hướng mới, trẻ hóa và đầy sinh khí
“phát triển ra nội dung cộng đồng trong đời sống xã hội và phương tiện cộng đồng trong ý thức cá nhân” (Lã Nguyên) Chưa bao giờ hình tượng tổ quốc, hình tượng tập
thể nhân dân lại chiếm ưu thế và hiện lên rực rỡ như thế trong văn học Lực lượng sáng tác gồm có Nam Cao, Nguyễn Tuân, Nguyễn Đình Thi, Nguyễn Huy Tưởng, Kim Lân, Võ Huy Tâm, Trần Văn Bổng, Nguyễn Minh Châu,
- Giai đoạn 1975 - nay
Giai đoạn này là giai đoạn thời gian không dài, nhưng nó vẫn được xem là giai đoạn phát triển bởi vì có những đặc điểm khác với những giai đoạn trước đó Như chúng ta đã biết, sau 1975, đất nước chúng ta bước vào thời một kì mới thời kì từ
chiến tranh chuyển sang hòa bình, từ đời sống bất bình thường của “ngày có giặc”
chuyển sang đời sống bình thường Có những chuyện hôm qua văn học chưa kịp nói đến, chưa kịp đề cập, còn phải nhìn một cách phiến diện thì ngày nay đã có điều kiện
đề cập, nhìn lại,
Những điều này đòi hỏi văn xuôi phải chuyển kịp hướng với thời đại, phù hợp với hiện thực mới Có thể nói mười lăm năm qua văn xuôi đã có nhiều khởi sắc Dĩ nhiên không phải ai cũng thừa nhận sự khởi sắc đó Thậm chí có người còn cho là có
bước thụt lùi Trong bài “Thời kỳ văn học vừa qua và xu hướng phát triển của văn
học”, với tất cả sự thận trọng của một nhà nghiên cứu có kinh nghiệm, Hoàng Ngọc
Hiến đã khẳng định : “Thời kỳ văn học từ 75 đến nay đặc biệt quan trọng cho sự định
Trang 9hướng sắp tới,… Đến nay đã 15 năm nhưng vẫn còn là sớm để thấy hết giá trị của những tác phẩm ra đời và những tác giả xuất hiện được chú ý thời kỳ này, một thời kỳ phong phú các hiện tượng văn học” Và theo ông, đây là thời kỳ của “một sự kinh nghiệm - bừng tỉnh” Với tư cách là Chủ tịch hội đồng văn xuôi Hội nhà văn Việt Nam, nhà văn Bùi Hiển nhận xét : “Ngay từ đầu những năm 80, đặc biệt là trong văn xuôi, sân khấu và điện ảnh đã bắt đầu xuất hiện những sáng tác mang nhiều sắc thái mới” Đây là những nhận xét phù hợp với sự phát triển của văn xuôi sau năm 1975
Quan sát văn xuôi sau 75 chúng ta thấy có hai chặng Chặng đầu là từ 1975 cho đến đầu năm 80 Văn xuôi này ở chặng tuy có một số biến đổi như mở rộng đề tài, đề cập đến nhiều vấn đề hơn, nhưng về cơ bản vẫn gần với đặc điểm của văn xuôi giai đoạn trước Nghĩa là ở những sáng tác này, cảm hứng sử thi vẫn giữ một vai trò quan trọng trong tư duy nghệ thuật Chúng ta nhớ đến những sáng tác văn xuôi ở thời kỳ này như
Tháng ba ở Tây Nguyên của Nguyễn Khải, Năm 75 họ đã sống như thế của Nguyễn Trí Huân, Trong cơn gió lốc của Khuất Quang Thụy, Nắng đồng bằng của Chu Lai
Miền cháy của Nguyễn Minh Châu, Chặng thứ hai từ những năm 80 văn xuôi mới
thật sự có những bước chuyển đáng kể Trước hết là sự tự đổi mới của các nhà văn đã
có sáng tác khá vững vàng ở giai đoạn trước Người ta thấy trong văn xuôi của Nguyễn Minh Châu, Bùi Hiển, Nguyễn Khải, Nguyễn Quang Sáng, Ma Văn Kháng, Xuân Thiều, Nguyễn Trọng Oánh, Lệ Lựu,… đã bắt đầu có những đổi mới Ở đây không chỉ đổi mới ở phạm vi đề tài, mà còn là ở tư duy nghệ thuật, cảm hứng, cách viết,… Nếu
trước đây Lê Lựu là Người về đồng cói, Mở rừng thì bây giờ là Thời xa vắng Nếu Ma Văn Kháng trước đây là Xa phủ thì bây giờ là Mùa lá rụng trong vườn, Đám cưới không có giấy giá thú Nếu Nguyễn Quang Sáng trước đây là Chiếc lược ngà, Mùa gió
chướng, Chị Nhung,… thì bây giờ là Tôi thích làm vua, Thế võ,… Rõ rằng trước một
hiện thực mới, một công chúng mới không cho phép nhà văn viết như cũ Sự đổi mới của các nhà văn do đó gần như là một tất yếu sống còn của chính họ Trong số những nhà văn này không thể không kể đến một tên tuổi đã mang đến sự đổi mới rất sớm trong những trang viết của mình, và cũng bằng những trang viết đầy suy tư của mình
đã dự cảm rất sớm những biến đổi của xã hội Đó là nhà văn Nguyễn Minh Châu
Ngay từ sau 1975 và nhất là những năm đầu thập niên 80 với Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành, Bức tranh, Bến quê, Mẹ con chị Hằng, rồi Mảnh đất tình yêu, Khách ở quê ra, Phiên chợ Giát, Cỏ lau,… Nguyễn Minh Châu thực sự đã để lại
Trang 10những trang viết của một kiểu tư duy nghệ thuật khác trước Và chính ở đó, nhà văn đã nêu lên được, phân tích lí giải những vấn đề có tầm bao quát rộng lớn Đặc biệt với sự xuất hiện của một loại cây bút trẻ đã làm thay đổi hẳn bộ mặt và diện mạo của văn xuôi Các sáng tác của Nguyễn Huy Thiệp, Nguyễn Quang Lập, Tạ Duy Anh,… đã mang lại cho văn xuôi những sắc thái mới mẻ Đọc những cây bút này, người ta có thể chê trách điều này, điều nọ, thảo luận lại nhiều vấn đề, nhưng không thể không thừa nhận những đổi mới mà nhà văn đem đến cho văn xuôi giai đoạn này
2 Vị trí và tầm quan trọng của văn xuôi Việt Nam hiện đại trong chương trình SGK Ngữ Văn 12 (bộ nâng cao)
2.1 Vị trí
Như chúng ta đã biết thì chương trình Ngữ văn 12 (bộ nâng cao) được đưa vào giảng dạy từ năm học 2008 - 2009 Vì vậy, những người soạn SGK đã đưa vào chương trình những bài học khác trước đó Nhất quán với tư tưởng biên soạn chương trình, sách giáo khoa Ngữ văn 10 và 11 Cụ thể là biên soạn theo hướng: Tích hợp, tích cực, nhật dụng Theo cụm thể loại kết hợp với tiến trình lịch sử văn học Về phần Văn xuôi hiện đại Việt Nam được phân bố ở cả hai tập một và hai cụ thể như sau: Tập một gồm
có các tác phẩm Người lái đò sông đà (Nguyễn Tuân), Ai đã dặt tên cho dòng sông? (Hoàng Phủ Ngọc Tường) Tâp hai gồm các tác phẩm như Vợ chồng A Phủ (Tô Hoài),
Vợ nhặt (Kim Lân), Rừng xà nu (Nguyễn Trung Thành), Những đứa con trong gia
đình (Nguyễn Thi), Chiếc thuyền ngoài xa (Nguyễn Minh Châu), Như vậy, văn xuôi
có vị trí quan trọng nó được phân bố ở cả hai tập một và hai
gia đình, Một người Hà Nội, Chiếc thuyền ngoài xa,… Những tác phẩm này chủ yếu
phản ánh công cuộc xây dựng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc và công cuộc kháng chiến
vĩ đại ở miền Nam Việc đưa vào giảng dạy những tác phẩm này có ý nghĩa và tầm quan trọng rất lớn góp phần vào việc bồi đắp tâm hồn cho thế hệ trẻ, đặc biệt là lòng yêu nước và tinh thần dân tộc, tinh thần đoàn kết đứng lên bảo vệ Tổ quốc Thông qua những tác phẩm này những nhà biên soạn SGK muốn thế hệ trẻ ra sức học tập, lòng
Trang 11căm thù giặc, lòng yêu nước, ra sức học tập góp phần vào việc xây dựng đất nước ngày
một phồn vinh và tốt đẹp
Ngoài ra, khi học những tác phẩm giai đoạn này sẽ giúp cho học sinh hiểu được những thể loại văn học mới sâu sắc hơn là tùy bút, kí, kịch,…Nếu lúc trước các em chưa biết thế nào là tùy bút, kí,… thì đến văn học giai đoạn này thì các em hiểu rõ hơn
3 Cấu tạo chương trình SGK Ngữ văn 12 (bộ nâng cao)
3.1 Về chương trình
Nhất quán với tư tưởng biên soạn chương trình, SGK Ngữ văn 10 và 11, chương trình và SGK lớp 12 mới có những thay đổi nhất định trong việc lựa chọn tác phẩm Đặc biệt là văn học giai đoạn này được mở rộng sang phần sáng tác sau năm
1975 đến cuối thế kỷ XX Chương trình không còn một số tác phẩm như: Các vị la hán chùa Tây Phương, Mùa lạc, Mảnh trăng cuối rừng, Nhưng có thêm: Đàn ghita của Lor - ca (Thanh Thảo), Ai đã đặt tên cho dòng sông ? (Hoàng Phủ Ngọc Tường), Một người Hà Nội (Nguyễn Khải), Chiếc thuyền ngoài xa (Nguyễn Minh Châu)
Chương trình có chú ý hơn về loại thể bên cạnh các loại thể như thơ, văn xuôi, còn có văn nghị luận, kịch
Nhìn chung chương trình phân bố hợp lí: Ngữ văn 12 nâng cao có 4 tiết/ tuần, thêm một tiết chuyên đề thành 5 tiết/ tuần Xen kẽ trong các tuần học là các phân môn Văn - Tiếng việt - Làm văn Xoay quanh hai trục Đọc văn và Làm văn theo tinh thần tích hợp Các văn bản đọc - hiểu được xếp theo tiến trình lịch sử và cụm thể loại giúp học sinh nắm vững hơn quá trình văn học và hiểu sâu đặc trưng thể loại
Chương trình coi trọng tính chất công cụ của môn Ngữ văn nhằm đào tạo cho học sinh năng lực sử dụng tương đối thành thạo công cụ Ngữ văn: nghe, nói, đọc, viết
- những kĩ năng cần thiết đối với người lao động trong xã hội Ngoài các văn bản văn học tiêu biểu được chọn lọc còn chọn thêm các văn bản nghị luận, chính luận, vừa trang bị kiến thức văn hóa, còn cung cấp tài liệu để tích hợp với dạy học làm văn nghị luận xã hội và nghị luận văn học Phần Làm văn gắn với phần Đọc văn và Tiếng việt, ngoài văn nghị luận, học sinh còn học các văn bản thông dụng trong đời sống Phần Làm văn coi trọng hoạt động thực hành, xây dựng hệ thống bài tập
3.2 Về sách giáo khoa
SGK bám sát chương trình môn học SGK tổ chức theo trục lịch sử văn học, sắp xếp theo trật tự truyền thống Toàn bộ các tác phẩm, đoạn trích đều đặt đúng vào
Trang 12khung lịch sử của nó Văn học nước ngoài đan xen với Văn học Việt Nam tương ứng với thể loại Trong từng giai đoạn văn học thì tác phẩm, đoạn trích lại sắp xếp theo cụm thể loại nhằm tạo thuận lợi cho việc hình thành kĩ năng đọc văn theo thể loại: Cụm văn nghị luận: gồm Tuyên ngôn độc lập, Nguyễn Đình Chiểu, ngôi sao sáng trong văn nghệ của dân tộc, Mấy ý nghĩ về thơ, Thương tiếc nhà văn Nguyên Hồng, Đô-xtôi-ép-xki
Cụm thơ: Tây Tiến, Việt Bắc, Tiếng hát con tàu, Đất nước, Sóng, Đàn ghi ta của Lor-ca, đọc thêm 6 bài: Bên kia sông Đuống, Dọn về làng, Bác ơi!, Đất nước, Đò Lèn, Tự do Cụm kí: gồm 2 bài: Người lái đò sông Đà và Ai đã đặt tên cho dòng sông? Đọc thêm: Những ngày đầu của nước Việt Nam mới,
Cụm văn nhật dụng: gồm các bài: Con đường trở thành kẻ sĩ hiện đại, Nhìn về vốn văn hóa dân tộc, Thông điệp nhân ngày thế giới phòng chống AIDS, 1/12/2003,…
Cụm truyện: SGK Ngữ văn 12 thực hiện được nguyên tắc tích hợp Chú ý cả tích hợp ngang (môn Ngữ văn từ 3 phân môn: Văn - Tiếng việt - Làm văn được kết hợp và trình bày trong một cuốn sách) và tích hợp dọc
Các thể loại tác phẩm văn học trong phần Đọc văn sau bài Khái quát văn học Việt Nam từ sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 đến hết thế kỉ XX lần lượt là nghị luận, thơ, kí, kịch, văn nhật dụng, truyện, tiểu thuyết Trong mỗi thể loại lớn kết hợp luôn cả phần văn học nước ngoài Chẳng hạn khi học văn nghị luận Việt Nam thì giới
thiệu luôn bài nghị luận của X.xvai-gơ về Đô-xtôi-ép-xki, hoặc khi học thơ Việt Nam thì giới thiệu bài Tự do của P.Ê-luy-a, Tương ứng với phần Văn học, nội dung làm
văn được biên soạn theo yêu cầu tích hợp một cách hợp lí Chẳng hạn khi học các tác phẩm nghị luận ở phần Văn học thì phần Làm văn giới thiệu các loại văn nghị luận, luyện tập tóm tắt văn nghị luận, phần Văn học giới thiệu các tác phẩm truyện thì Làm văn luyện tập và viết bài về tác phẩm văn xuôi hoặc bài nghị luận xã hội về một vấn đề trong tác phẩm văn học
Ngoài ra, còn tích hợp được các kiến thức chứa đựng những vấn đề đang được quan tâm, có ý nghĩa thời sự, bức thiết đối với thời đại như vấn đề môi trường, bệnh dịch thế kỉ, vấn đề văn hóa dân tộc, đổi mới tư duy, Tích hợp vừa giúp học sinh liên kết bài học, củng cố bài học, đi sâu vào văn bản tác phẩm lại vừa có khả năng ứng dụng để thực hành
Trang 13Cách trình bày khoa học, lôgic, dễ hiểu, sắp xếp theo trình tự nhất định về lịch
sử văn học, về thể loại, về tác gia, thuận lợi cho cả giáo viên và học sinh trong quá trình dạy và học Kết cấu, bố cục từng phần, từng bài dạy thích hợp với đối tuợng, phù hợp với đặc trưng bộ môn, thể hiện rõ sự hỗ trợ cho đổi mới phương pháp dạy học, tạo điều kiện để học sinh nâng cao năng lực tự học và giúp giáo viên đổi mới phương pháp dạy học theo hướng tổ chức, hướng dẫn học sinh chủ động, linh hoạt, sáng tạo trong quá trình tìm hiểu tiếp nhận tri thức
Văn bản được chọn đưa vào SGK là những văn bản hay, có tính mẫu mực Đồng thời, các tác giả biên soạn sách đã chú trọng đến tính nhật dụng trong tuyển chọn văn bản văn học và dữ kiện đời sống trong phần Tiếng việt và Làm văn Vì thế, SGK Ngữ văn gắn với đời sống hơn
Những văn bản nhật dụng được đưa vào phần Đọc - hiểu, Tiếng việt, Làm văn:
Con đường trở thành kẻ sĩ hiện đại, Nhìn về vốn văn hóa dân tộc, Tư duy hệ thống - nguồn sức sống mới của đổi mới tư duy, Thông điệp nhân ngày thế giới phòng chống AIDS, 1-12-2003,… Đặc biệt trong các phần luyện tập, thực hành Làm văn và Tiếng
việt đều hướng vào tính nhật dụng như viết văn bản tổng kết, xây dựng đề cương diễn thuyết, viết biên bản, đơn từ,
Như vậy, nội dung của SGK được gắn với thực tiễn cuộc sống, việc học môn Ngữ văn trong nhà trường thật sự có ý nghĩa thiết thực đối với cuộc sống của các em sau này Tỉ lệ hoạt động thực hành ở phần Tiếng việt và Làm văn trong sách Ngữ văn
12 rất cao, tăng cường tính thực hành kích thích được khả năng tự học của học sinh Học sinh có thể nâng cao năng lực, kĩ năng thực hành và ứng dụng trong giao tiếp, cuộc sống Các dạng đề nghị luận xã hội là những loại bài gắn chặt với đời sống nhất,
có tác dụng giáo dục nhân cách học sinh nhiều nhất Bởi không có học sinh nào hằng ngày lại không tiếp xúc với các sự kiện, con người, sự việc, và điều quan trọng là trước các sự việc, hiện tượng đó học sinh có suy nghĩ và tinh thần, thái độ như thế nào?
Trang 14CHƯƠNG 2 DẠY HỌC PHẦN VĂN XUÔI VIỆT NAM HIỆN ĐẠI TRONG CHƯƠNG TRÌNH SÁCH GIÁO KHOA NGỮ VĂN 12
(BỘ NÂNG CAO)
1 Cơ sở lí luận cho việc dạy học phần văn xuôi hiện đại
1.1 Quan điểm lấy học sinh làm trung tâm
Xuất phát từ nhu cầu thực tế phát triển của xã hội, từ vai trò của học sinh trong việc hình thành, duy trì sự ổn định của trường lớp - giáo dục, những người làm công tác giáo dục đã nhận định, đánh giá lại vấn đề Học sinh trở thành đối tượng của quá trình giáo dục và dạy học Do đó, học sinh được xem là trung tâm của quá trình đào
tạo Mục tiêu giáo dục phổ thông là “Giúp học sinh phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ, và các kỹ năng cơ bản, phát triển các năng lực cá nhân, tính năng động sáng tạo, hình thành các nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa; chuẩn bị cho việc tiếp tục học lên hoặc đi vào cuộc sống lao động tham gia xây dựng bảo vệ Tổ quốc”,[20; tr.8] giờ đây nâng lên thành khẩu hiệu “Tất cả vì học sinh thân yêu”
Từ thực tế trên đòi hỏi chúng ta đổi mới phương pháp dạy học, “phải dạy cho học sinh biết dùng đầu óc của mình” (Phạm Văn Đồng) Thực hiện dạy học tích cực
không có nghĩa là gạt bỏ hoàn toàn cách dạy truyền thống Trong hệ thống các phương pháp dạy học truyền thống ở nước ta mấy thập kỉ gần đây cũng có nhiều phương pháp dạy học tích cực Nên việc dạy học thay vì lấy dạy làm trung tâm thì giờ đây chuyển sang lấy học làm trung tâm Quan điểm lấy học sinh làm trung tâm hướng đến việc nhấn mạnh vai trò của học sinh, dạy học phải tạo một môi trường tốt nhất cho học sinh phấn đấu học tập Nói như thế không có nghĩa là ta phủ nhận vai trò của giáo viên
Chúng ta cần thay đổi phương pháp và nhiệm vụ của giáo viên Vì “muốn đổi mới cách học, phải đổi mới cách dạy” [20; tr.10] Để thực hiện thành công quan niệm trên,
chúng ta cần sự tham gia tích của người học vào quá trình học tập Sự đề cao tính sáng tạo của người học sẽ không duy trì mối quan hệ đơn phương và độc đoán giữa thầy và trò Quyền lực của giáo viên không còn dựa trên sự thụ động và dốt nát của học sinh
mà dựa trên năng lực của giáo viên góp phần vào sự phát triển của học sinh thông qua
sự tham gia tích cực của các em Khi đó, mối quan hệ giữa giáo viên và học sinh, học
Trang 15sinh và học sinh, học sinh và xã hội được xác lập và khẳng định vì “ Đổi mới phương pháp dạy Văn chính là đổi mới giữa ba thành tố: Giáo viên - Học sinh - Văn bản văn chương” [6; tr.164]
Trong quyển bài giảng “Lý luận dạy học Ngữ văn”, do Ths Nguyễn Minh
Chính, Ts Nguyễn Thị Hồng Nam, Ths Trần Đình Thích, Ths Hà Hồng Vân, biên soạn, Đại học Cần Thơ, 2002 Các tác giả đã đưa ra:
1.1.1 Năm định hướng dạy học của Marzano
Năm định hướng trong quá trình dạy học là một trong những xu hướng dạy học hiện đại lấy học sinh làm trung tâm Tư tưởng dạy học này do nhà giáo dục người Mỹ
Robet J Marzano nêu lên trong công trình A Different Kind of Classroom: Teaching with Dimensions of Leaning, do Associasion for Supervision and Currculum Development xuất bản Tư tưởng dạy học của Marzano đã đề ra năm định hướng đan
xen trong quá trình dạy học Năm định hướng đó là:
- Thái độ và sự nhận thức tích cực về việc học
- Thu nhận và tổng hợp kiến thức
- Mở rộng và tinh lọc kiến thức
- Sử dụng kiến thức có hiệu quả
- Rèn luyện thói quen tư duy
1.1.2 Định hướng 1: Thái độ và sự nhận thức tích cực về việc học
Đây là định hướng mở đầu cho chiến lược dạy học tích cực Vì thực chất hoạt động dạy của giáo viên là tổ chức hoạt động nhận thức và hoạt động học tập của học sinh là hoạt động nhận thức nên để đạt được kết quả cao trong học tập cũng như thực hiện thành công định hướng này, mỗi giờ học phải là một quá trình làm việc Trong quá trình làm việc đó diễn ra nhiều quá trình dạy và học, các thao tác tư duy căng thẳng Nhưng phải kèm theo đấy phải là một bầu không khí học tập thoải mái nhẹ nhàng, sẽ giúp cho học sinh học tập tốt, kích thích thái độ và sự nhận thức của các em Học sinh cảm thấy phấn khởi, nhiệt tình học tập, có tinh thần hợp tác với giáo viên Do
đó, vai trò của người thầy trong việc thực hiện định hướng này là rất quan trọng Thầy bước vào lớp với nét mặt vui vẻ, hỏi thăm trò chuyện với một vài học sinh bằng giọng nói vui tươi sẽ đem lại cho lớp học một môi trường học tập sôi nổi Đặc biệt, bằng các phương pháp khác nhau, giáo viên cũng phải tạo niềm tin cho học sinh, cho các em thấy rằng mình đang ở trong một không gian mà mọi người đang ở cái đích chung là
Trang 16chuẩn bị kiếm tìm một cái gì đó, mới mẻ, bổ ích, và đầy thú vị, có tác dụng cho bản thân từ tiết học mới Giáo viên cho học sinh hoạt động nhóm, trao đổi dưới sự giám sát của mình Từ đó, học sinh tự khám phá, giải quyết vấn đề Ở định hướng này nếu học sinh ý thức đúng đắn về việc học tập thì lớp sẽ có một bầu không khí học tập thuận lợi nếu không thì sẽ ngược lại
1.1.3 Định hướng 2: Thu nhận và tổng hợp kiến thức
Mục đích của dạy học là cung cấp kiến thức cho học sinh Giáo viên giữ vai trò chủ đạo, chỉ dẫn học sinh tiếp thu một cách sáng tạo, những kiến thức trong tự nhiên
và xã hội thành kiến thức cho bản thân mình Theo Marzano, kiến thức bao gồm hai
loại: kiến thức thông báo và kiến thức quy trình
Kiến thức thông báo: là kiểu kiến thức chứa thông tin mà học sinh cần nhớ và
hiểu gồm khái niệm, sự kiện, sự vật, hiện tượng, quy luật, thuyết, Để giúp học sinh nắm vững kiến thức thông báo, trước khi đi vào bài mới giáo viên phải giúp học sinh xây dựng ý nghĩa bằng cách nêu lên những câu hỏi liên quan đến bài học Việc định hướng trước, hệ thống kiến thức sẽ giúp cho học sinh chuyển kiến thức từ vùng nhớ tạm thời sang vùng nhớ lâu dài và khắc sâu kiến thức hơn
Kiến thức quy trình: là kiểu kiến thức kĩ năng Muốn chiếm lĩnh khối kiến
thức này, người học phải biết vận dụng và tư duy Có nghĩa là học sinh phải suy nghĩ, phải làm, phải vận động, thực hiện một nội dung có liên quan tới chuyên môn một cách khoa học, hình thành kĩ năng làm việc, biết cách làm thí nghiệm,cách giải bài tập, cách đặt câu, Có ba tổ chức cho việc tiếp thu kiến thức quy trình Thứ nhất giáo viên xây dựng và giảng giải quy trình, các bước thao tác để học sinh hiểu vấn đề cũng như nhiêm vụ mà mình phải làm Thứ hai, giáo viên cho học sinh luyện tập và định hình kiến thức, tức là học sinh làm thử một vài kĩ năng, một vài bước sau khi quan sát giáo viên thực hiện Từ đó, giáo viên có thể giúp học sinh chữa lỗi và hiểu sâu sắc hơn Và thứ ba là giáo viên hướng dẫn học sinh thực hành nhiều lần và lập kế hoạch cho học sinh thực hiện để các em thực hành thành thạo hơn, rèn luyện được kĩ năng, kĩ xảo trong công việc, vì đây là giai đoạn thu nhận kiến thức
Khi thiết kế giáo án thì phải giúp học sinh thu nhận và tổng hợp kiến thức, giáo viên cần lưu ý tập trung vào kiến thức và kĩ năng cũng như các tiến trình quan trọng
mà học sinh cần phải nắm Bản thân người giáo viên cũng cần phải tìm ra những biện pháp giúp học sinh tiếp nhận dễ dàng và nhanh nhất
Trang 171.1.4 Định hướng 3: Mở rộng và tinh lọc kiến thức
Quá trình dạy học không chỉ nhằm nắm được những nội dung kiến thức và kĩ năng Trong một thế giới luôn vận động và thay đổi từng ngày từng giờ thì những kiến thức kĩ năng học sinh thu nhận trong một loại hình học tập sẽ mau chóng trở nên lạc hậu Do vậy, nếu người học chỉ ghi nhớ máy móc kiến thức đã học xong thì chưa đủ,
mà phải có khả năng tự mở rộng và tinh lọc những kiến thức cần thiết Nói cách khác, người học phải có năng lực tư duy sáng tạo, để có thể tự học, tự đổi mới và tự thích nghi với cuộc sống
Có nhiều cách giúp học sinh tinh lọc và mở rộng kiến thức như: so sánh, phân loại, quy nạp, suy luận, phân tích lỗi, xây dựng sự ủng hộ, khái quát hóa, phân tích quan điểm Mặt khác, giáo viên cần phải xác định và phân biệt kiến thức cơ bản và kiến thức mở rộng mới đảm bảo mục tiêu bài học và có hướng đi đúng đắn hơn
1.1.5 Định hướng 4: Sử dụng kiến thức có hiệu quả
Theo quan niệm dạy học mới, dạy học hướng đến mục tiêu học để hiểu và để áp dụng chứ không phải để gợi lại, để mô phỏng lại kiến thức Học là để sử dụng kiến thức mình tinh lọc được đưa vào thực tế có hiệu quả Giáo viên cần phải có cách làm cho học sinh bận rộn với công việc học tập của mình, luôn phải suy nghĩ, lập luận, Giáo viên phải đưa ra bài tập cho học sinh mở rộng và gắn với bài tập thực tế, cho phép học sinh khám phá những sở thích riêng nhưng hướng vào việc học tập Nếu định hướng 1, 2 và 3 là quá trình thâm nhập kiến thức thì định hướng 4 là quá trình xuất kiến thức, nhưng phải đúng chỗ và có chuẩn mực
Sử dụng kiến thức hiệu quả có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong việc đánh giá năng lực của học sinh Cho nên, học sinh cần phải có một quá trình làm việc một cách phức tạp thể hiện ở các hoạt động sau:
Trang 181.1.6 Định hướng 5: Rèn luyện thói quen tư duy
Con người thường có xu hướng quên đi những thông tin không cần thiết, không
sử dụng Những nội dung kiến thức mà học sinh thu nhận là rất quan trọng nhưng nó không phải là nội dung quan trọng nhất của tiến trình giáo dục Nó giúp học sinh phát triển thói quen tư duy Với thói quen này, học sinh có thể học bất cứ điều gì các em thích, ở bất cứ nơi nào, và bất cứ khi nào
Thói quen tư duy bao gồm các phẩm chất thói quen sau: tư duy tự điều chỉnh, tư duy phê phán, tư duy sáng tạo
Tư duy tự điều chỉnh: là tư duy có được do chúng ta có khả năng tự nhận thức,
biết lập kế hoạch cho công việc, nhạy bén với sự phản hồi của giáo viên, bạn bè, Một bước tiến mới của năng lực tư duy này là học sinh biết đánh giá kết quả công việc của bản thân để tự điều chỉnh những sai sót có thể mắc phải
Tư duy phê phán: là tư duy có được do sự nhận biết chính xác và tìm kiếm sự
chính xác, nhận biết và tìm kiếm sự rõ ràng của thông tin; không bảo thủ bốc đồng Phải nhạy bén với những suy nghĩ của người khác, và biết bảo vệ những quan điểm đúng
Tư duy sáng tạo: là tư duy có được thông qua quá trình làm việc mạnh bạo của
học sinh ngay cả khi chưa có câu trả lời hoặc giải đáp rõ ràng Học sinh biết mở rộng giới hạn kiến thức và khả năng của bản thân, tạo tin tưởng và duy trì tiêu chuẩn đánh giá riêng, biết tạo ra cách thức mới để xem xét những tình huống nằm ngoài quy định chuẩn
Năm định hướng với năm nội dung được Marzano xây dựng rất khoa học, các định hướng này có ý nghĩa rất lớn, phục vụ tốt cho việc dạy học của giáo viên Khi thiết kế giáo án, giáo viên phải lưu ý vận dụng hợp lí, linh hoạt và sáng tạo các định hướng ở từng bài giảng cụ thể Trong đó, định hướng 1 và 5 là mục đích của quá trình học tập, của mỗi tiết dạy mà tất cả các môn, các cấp lớp phải hướng tới; là môi trường của nội dung giảng dạy Nó thường được giáo viên xem xét sau khi đã xây dựng kế hoạch thực hiện định hướng 2, 3 và 4
1.2 Dạy học hợp tác
1.2.1 Khái niệm
Trang 19“Học hợp tác là một hình thức tổ chức dạy học trong đó các nhóm học sinh cùng nhau giải quyết các nhiệm vụ học tập do giáo viên nêu ra, từ đó rút ra bài học dưới sự hướng dẫn của giáo viên” [13; tr.2]
1.2.2 Tổ chức học hợp tác trong dạy học Ngữ văn
“Hoạt đông làm cho lớp học ồn ào hơn Nhưng là sự ồn ào hiệu quả” [11; tr.10] Và nếu, “Thiếu sự hợp tác giữa các thành viên, xã hội không tồn tại và xã hội loài người đã và sẽ tồn tại vì tinh thần hợp tác giữa các thành viên trong xã hội Điều
đó không những có lợi cho một cá nhân mà có lợi cho cả nhóm Trong xã hội loài
người, những cá nhân tồn tại được là những cá nhân có tinh thần hợp tác tốt với các thành viên trong nhóm” [13; tr.4] Hình thức học tập này đòi hỏi sự tham gia đóng góp
trực tiếp và tích cực của mỗi học sinh vào quá trình học tập Qua đó, sẽ tạo một môi trường giao tiếp, hợp tác giữa thầy và trò, trò - trò Trong đó, vai trò của mỗi học sinh
là ngang nhau
1.2.2.1 Vai trò của giáo viên trong dạy học hợp tác
Trong quá trình dạy học hợp tác, vai trò của người giáo viên trong các giờ dạy học hợp tác là tổ chức hướng dẫn học sinh tìm kiếm, phám phá kiến thức, đánh giá các hoạt động của mình, động viên, khuyến khích học sinh
Trước tiên, giáo viên phải thiết kế các bài tập, các tình huống cho nhóm học sinh giải quyết Các bài tập thảo luận nhóm phải suy nghĩ, tìm tòi, tìm cách giải quyết Đây chính là yếu tố tạo nên sự thành công của thảo luận nhóm Yêu cầu thứ hai của giáo viên phải tạo ra cho lớp học một bầu không khí thoải mái, thân thiện, cởi mở, kích thích tinh thần học tập của học sinh, khuyến khích sự hợp tác trong nhóm, và giữa các nhóm, phát huy tối đa năng lực tư duy và sự tự tin của học sinh
Trong thời gian thảo luận, giáo viên phải đến gần các nhóm, để nhắc nhở về thời gian, giải đáp thắc mắc, lắng nghe ý kiến của các bạn trong quá trình thảo luận, ghi chép lại những ý kiến hay của học sinh, và yêu cầu học sinh trình bày ý kiến đó trước lớp Khuyến khích học sinh trình bày ý kiến của mình, bằng sơ đồ, hình vẽ hoặc bản đồ, khái niệm, giải thích cho cả lớp nghe
Khi học sinh thảo luận xong, giáo viên tạo điều kiện cho tất cả các nhóm trình bày Sau đó, yêu cầu các nhóm khác bổ sung hoặc yêu cầu mỗi thành viên trình bày một ý Cách này bắt buộc tất cả mọi thành viên phải tham gia giải quyết vấn đề cùng
Trang 20với nhóm, đồng thời tăng tính trách nhiệm của cá nhân trong nhóm Khi một nhóm trình bày ý kiến, giáo viên nhắc nhở các nhóm khác lắng nghe, đánh giá bổ sung
1.2.2.2 Về loại hình nhóm
Có hai loại hình nhóm cơ bản: Nhóm cố định và nhóm không cố định Nhóm cố
định là loại hình nhóm hoạt động cùng nhau trong suốt thời gian từ một vài tuần, thậm chí một học kì Có nhiệm vụ thực hiện một bài tập lớn, phức tạp mang tính nghiên cứu, chuẩn bị cho học sinh kĩ năng giải quyết những vấn đề thực tế cuộc sống đặt ra, kĩ năng xã hội, nâng cao năng lực tư duy Nhóm không cố định là loại hình nhóm gồm những học sinh cùng nhau làm việc từ một vài phút đến một tiết học và có thể được thành lập nhiều lần trong một giờ học, số lượng thành viên trong nhóm từ 3, 4, 5, tùy thuộc vào số học sinh trong lớp
1.2.2.3 Về cách chia nhóm
Có hai cách chia nhóm: Ngẫu nhiên và chỉ định Tùy theo điều kiện cho phép
mà giáo viên chọn cách chia nhóm cho hợp lí và mỗi cách chia nhóm đều có ưu và nhược điểm riêng Chia ngẫu nhiên là tùy vào số thành viên trong mỗi nhóm, giáo viên cho học sinh đếm số, những em cùng số sẽ thuộc về một nhóm Cách chia nhóm này thích hợp với lớp có ít học sinh, bàn ghế đơn, dễ di chuyển Ưu điểm của cách này là các thành viên trong nhóm thường xuyên thay đổi, nhược là mất thời gian cho việc di chuyển chỗ ngồi của các học sinh Còn nhóm chỉ định là cho các em ngồi gần nhau làm thành một nhóm, cách này không mất nhiều thời gian, nhưng học sinh ít có cơ hội làm việc với nhiều thành viên khác trong lớp, tiếp xúc với nhiều tư cách khác nhau
Khi chia nhóm giáo viên cần lưu ý trong nhóm các thành viên phải hội đủ mọi trình độ, có cả nam lẫn nữ, nhất là có sự luân chuyển giữa các thành viên Các thành viên phải được phân công rõ ràng Căn cứ vào nội dung bài học, thời gian lên lớp, số học sinh và điều kiện vật chất mà giáo viên có cách sử dụng loại hình nhóm khác nhau
1.2.2.4 Về thiết kế bài tập thảo luận nhóm
Khi thiết kế bài tập thảo luận nhóm, giáo viên phải nắm vững kiến thức bài học, trình độ của học sinh để có thể thiết bài tập thảo luận nhóm cho phù hợp Một bài tập thảo luận nhóm có tính khoa học cần đảm bảo tốt về cả nội dung lẫn hình thức
Về nội dung: bài tập thảo luận nhóm phải được xây dựng xung quanh những
phần trọng tâm của bài học, dễ hiểu, rõ ràng, đảm bảo nhiệm vụ học tập của học sinh
Trang 21sao cho học sinh khám phá được kiến thức Nghĩa là bài tập thảo luận phải là tình huống có vấn đề Bên cạnh đó, bài tập còn phải thú vị, hấp dẫn học sinh, đúng và đủ thời gian lên lớp
Về hình thức: nhiệm vụ giáo viên giao cho học sinh thảo luận phải đa dạng Có
thể là vẽ sơ đồ, điền vào biểu bảng,… Cách giao nhiệm vụ của giáo viên cũng phải khác nhau, phải linh hoạt như ghi bài tập lên bảng phụ, photo ra giấy,…
1.2.2.5 Về qui trình thảo luận nhóm
Về qui trình thảo luận nhóm có các bước sau đây:
- Bước 1: Giáo viên chia nhóm
- Bước 2: Giáo viên giao vấn đề cho nhóm, qui định thời gian thảo luận
- Bước 3: Quản lý các nhóm
- Bước 4: Báo cáo kết quả và đánh giá
1.2.2.6 Tác dụng của dạy học hợp tác đối với giáo viên và học sinh
Như vậy, học hợp tác là một hình thức phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh trong quá trình dạy học Tuy nhiên, sử dụng hình thức này đòi hỏi giáo viên khi soạn giáo án phải sáng tạo trong việc thiết kế các tình huống học tập Trên lớp, giáo viên phải hết sức linh hoạt để điều khiển lớp học đi đúng hướng Giáo viên phải hướng dẫn học sinh cách tổ chức chia nhóm, cách thảo luận hợp lý vì học hợp tác có cả tác dụng đối với giáo viên và học sinh Học sinh tăng cường tính hiểu biết lẫn nhau, tăng
cơ hội học hỏi rèn luyện tinh thần hợp tác tập thể, phát triển tư duy, có khả năng tự nhận xét, đánh giá và tự điều chỉnh phương pháp học tập, cũng như rèn luyện năng lực
tự tin diễn đạt trình bày
Đối với giáo viên sẽ đánh giá, đo lường độ chính xác mức hiểu bài, nhận thức tình cảm và năng lực diễn đạt, năng lực tư duy của học sinh Từ đó, điều chỉnh phương pháp dạy học Đôi khi giáo viên có thể học từ học sinh những điều hay, những cách lý giải vấn đề hợp lí mà trước đó giáo viên chưa nghĩ đến
1.3 Một số phương pháp dạy học Ngữ văn
1.3.1 Phương pháp đọc tác phẩm
Đây là phương pháp quan trọng trong dạy học Văn Đọc là tiền đề cho việc tiếp nhận, cảm thụ trực tiếp tác phẩm văn chương Việc đọc gồm đọc thành tiếng và đọc không thành tiếng Ngôn ngữ văn học là ngôn ngữ đặc biệt có năm thuộc tính: tính chính xác, tính hàm xúc, tính đa nghĩa, tính biểu cảm, và tính tạo hình Cho nên, khi
Trang 22vận dụng phương pháp này giáo viên và học sinh cần lưu ý đến việc rèn luyện cách đọc, tránh lối đọc chạy theo thời gian, làm giảm tính thẩm mỹ và hiệu quả Ta cần biết đọc là một hình thức giảng dạy trực tiếp tác động đến trí tưởng tượng, cảm xúc của người nghe, làm sống dậy những ngôn từ chết, làm cho người nghe nhìn thấy các đã
nghe được M Gorki từng nói: “Bằng ngôn ngữ tiểu thuyết, nhà văn tác động trực tiếp đến tri giác, thính giác, xúc giác của người đọc, làm cho họ cảm giác được nhân vật
một cách vật chất” [1; tr.58] Đọc văn có thể rèn luyện năng lực tri giác, tái tạo âm
thanh, năng lực nhận thức và kĩ năng truyền đạt hình tượng tác phẩm, lôi cuốn học sinh tham gia vào quá trình diễn biến các sự kiện trong tác phẩm, kích thích sự hứng thú, khám phá tác phẩm, Qua đó, có thể nắm vững và sâu tư tưởng của tác phẩm Có rèn luyện cách đọc, học sinh mới biết được cách đọc sáng tạo, cách tiếp cận tích cực
và hướng đến việc nhận biết cái hay, cái đẹp trong tác phẩm văn chương
Một trong những cách rèn luyện tốt nhất, hiệu quả nhất là đọc diễn cảm, tức là học sinh phải đọc đúng, đọc hay Đọc đúng là trung thành với nội dung, ý nghĩa văn bản Đọc hay là biết phối hợp, phát huy ưu thế và chất giọng, sử dụng mọi sắc thái tình cảm của giọng đọc vui - buồn, ca ngợi - mỉa mai,… và cách ngắt giọng, nhấn mạnh trọng âm, Việc tiến hành đọc diễm cảm có thể áp dụng dưới nhiều hình thức: đọc đầu giờ, trong quá trình phân tích hay khi kết thúc bài học
Song do thời gian lên lớp có hạn, giáo viên có thể hướng dẫn học sinh đọc ở nhà và làm bài tập Như vậy, mỗi cách đọc đều nhằm hướng tới một mục đích nhất định Muốn phát huy phương pháp đọc trong dạy - học văn, thì người giáo viên cần chú ý bồi dưỡng cho học sinh về ý thức và kĩ năng đọc
1.3.2 Phương pháp diễn giảng
Diễn giảng là phương pháp trình bày, thông báo có hệ thống một vấn đề mới cho học sinh Học sinh tiếp thu kiến thức, sau đó tái hiện lại kiến thức đó Phương pháp này được sử dụng phổ biến trong dạy học Nó có những ưu điểm đáng kể là giáo viên không tốn nhiều công sức cho việc chuẩn bị bài, không đòi hỏi những phương tiện dạy học đặc biệt, và nhất là giúp học sinh nắm kiến thức một cách có hệ thống, tiết kiệm thời gian Nhưng phương pháp này cũng có một số nhược điểm, làm cho học sinh thụ động, không phát huy tính tích cực, năng động của học sinh
Để khắc phục tình trạng trên, giáo viên cần diễn giảng một cách tích cực Giáo viên không nên độc diễn mà phải biết kết hợp những phương pháp khác nhau để giúp
Trang 23cho học sinh nắm vững kiến thức một cách chủ động như đàm thoại, xen kẽ kể chuyện, cho học sinh làm bài tập,… Đặc biệt, nội dung diễn giảng phải có tính thuyết phục và
hạn chế “một giọng nói đều đều và kéo dài sẽ là liều thuốc ngủ tốt nhất cho học viên trong buổi thuyết trình” bởi “không có gì tẻ nhạt hơn thế” [14; tr.193] Giáo viên còn
phải phát âm chuẩn, ngôn ngữ rõ ràng, có ngữ điệu phù hợp với nội dung bài dạy Tốc
độ vừa phải, âm lượng, đủ lớn để tất cả học sinh có thể nghe được
Cấu trúc phương pháp diễn giảng gồm ba bước là giới thiệu bài mới, hướng dẫn học sinh khám phá kiến thức và kết luận Giới thiệu bài mới là mở đầu một bài học, một tiết dạy, giáo viên có thể giới thiệu trực tiếp hay gián tiếp nhưng phải ngắn gọn, tạo tâm thế tích cực, thoải mái cho việc tiếp thu bài mới của học sinh Dựa vào đặc điểm của bài học, dung lượng kiến thức mà giáo viên có thể sử dụng hình thức diễn giảng theo con đường quy nạp hay diễn dịch
Kết luận là bước cuối cùng của cấu trúc diễn giảng Giáo viên phải tóm tắt các vấn đề đã trình bày trong bài giảng một cách đầy đủ và thuyết phục
1.3.3 Phương pháp đàm thoại (vấn đáp)
Đàm thoại là phương pháp giáo viên xây dựng hệ thống câu hỏi cho học sinh trả lời hoặc trao đổi, tranh luận dưới sự chỉ đạo của giáo viên Để qua đó có thể tiếp nhận được kiến thức Hình thức này có vai trò quan trọng trong việc hình thành nhân cách của người học Sử dụng câu hỏi trong đàm thoại là một trong những cách thức tiện lợi nhất để kích thích học sinh học tập tích cực Nhưng đây là một thách thức đối với giáo viên Nếu giáo viên không đủ khả năng quản lý lớp thì dễ dàng thất bại Cho nên, giáo viên cần chuẩn bị kĩ giáo án, nắm vững nội dung bài học và những câu hỏi giáo viên nêu ra phải có tính hệ thống, phải ngắn gọn, rõ ràng, hấp dẫn và phù hợp với từng đối tượng học sinh Câu hỏi giáo viên nêu lên chỉ là định hướng, gợi mở khả năng khám phá tri thức chứ không nên là sự lặp lại
Phương pháp đàm thoại có một vị trí xứng đáng trong hệ thống phương pháp dạy học tích cực Nó được khẳng định bởi ưu thế về khả năng phát huy năng lực làm việc, học tập dộc lập của học sinh, giáo viên nhận biết được mức độ hiểu bài của các
em Từ đó, có cách điều chỉnh kịp thời, đồng thời giáo viên còn hiểu được tâm hồn, trí tuệ của học sinh Nhưng cũng như một số phương pháp dạy học khác, phương pháp đàm thoại cũng có một số hạn chế nhất định là mất nhiều thời gian cho việc suy nghĩ,
Trang 24dễ bị cháy giáo án, và tốn nhiều thời gian cho việc soạn giáo án Dạng đàm thoại có ba mức độ: Vấn đáp tái hiện, vấn đáp giải thích, và vấn đáp tìm tòi
Trong giờ học văn, giáo viên có thể sử dụng các hình thức trực quan như tranh ảnh, vật thật, biểu bảng, mô hình và các loại như lập bảng tổng kết Khi áp dụng phương pháp trực quan, giáo viên có thể sử dụng các trang thiết bị, công cụ thuộc lĩnh công nghệ thông tin để giúp cho quá trình dạy học được kết quả cao nhất Mặc dù sử dụng phương tiện trực quan sẽ mang đến nhiều thuận lợi, hữu ích cho cả giáo viên và học sinh, nhưng nếu quá lạm dụng phương tiện trực quan vào quá trình dạy học sẽ gây
ra nhiều bất cập Như thế, sẽ làm mất đi ý nghĩa của ngôn từ, làm hạn chế tầm liên tưởng, tư duy tưởng tượng,… Nên vần đề đặt ra ở đây là giáo viên cần phải cân nhắc
Trang 25khi sử dụng phương tiện trực quan với mức độ hợp lí, đúng lúc, đúng mục đích bài học
1.3.5 Phương pháp nêu vấn đề
Dạy học nêu vấn đề hay còn gọi là dạy học giải quyết vấn đề Dạy học nêu vấn
đề có ba đặc trưng như sau: Đặc trưng thứ nhất là tính vấn đề và tình huống có vấn đề
Đó là một sự vật, sự việc, khái niệm,… mà ta chưa biết Khi đó, ở chủ thể sẽ nảy sinh một tâm lý trước một vấn đề khó khăn cần giải quyết bằng tri thức mới, cách thức mới Đặc trưng thứ hai là tính giai đoạn của vấn đề bao gồm năm giai đoạn:
- Tìm hiểu vấn đề
- Xác định những vấn đề cần giải quyết
- Đưa ra những giả thuyết khác nhau để giải quyết vấn đề
- Xem xét hệ quả của từng giả thuyết dưới ánh sáng của những kinh nghiệm, kiến thức đã có
- Thử nghiệm giải pháp thích hợp nhất
Đặc trưng thứ ba là hình thức tổ chức phương pháp đa dạng như: Làm bài tập dạng đề án, thảo luận, đóng vai hoặc thực hiện một đề tài nghiên cứu nhỏ,…Việc sử dụng phương pháp dạy học nêu vấn đề là phát huy tính tích cực sáng tạo của học sinh, đây cũng là hình thức tương đối mới mẽ và cũng khó khăn đối với học sinh Do vậy, khi áp dụng kiểu dạy học này giáo viên cần hướng dẫn cụ thể và cần chú ý đến trình
độ của học sinh Hình thức dạy học này rất thích hợp với các lớp học sinh giỏi, khá Với các lớp trung bình hình thức này chỉ sử dụng ở một mức độ nhất định
2 Thiết kế một số bài văn xuôi Việt Nam hiện đại trong chương trình SGK Ngữ văn 12 (bộ nâng cao)
2.1 Lý thuyết soạn giáo án
“Soạn giáo án là thiết kế một hay một số tiết lên lớp với tất cả những ghi chép cần thiết sao cho người dạy có thể căn cứ vào sự chuẩn bị ấy mà thực hiện thành công mục đích yêu cầu của bài dạy” Việc cấu tạo giờ lên lớp, lựa chọn phương pháp và
cách soạn giáo án đều nhằm vào mục đích quan trọng hàng đầu là phát huy vai trò của học sinh Nhưng lâu nay cấu trúc bài giáo án chỉ đơn giản gồm: Mục đích, yêu cầu, công việc chuẩn bị về phương tiện dạy học và tiến trình lên lớp được định sẵn theo
một khuôn mẫu nhất định “ổn định, tổ chức kiểm tra bải cũ, giảng bài mới và cuối cùng là tổng kết rồi dặn dò học sinh chuẩn bị bài mới” [9; tr.239] Và cứ thế, giáo
Trang 26viên tuân thủ theo một cấu tạo một cách đơn điệu, cứng nhắc suốt năm này sang năm khác và cho tất cả các kiểu bài, loại bài và mọi đối tượng
Gần đây, những chuyển biến mới trong quan niệm và cách cấu tạo giờ dạy học
đã đưa đến một quan niệm và cách cấu tạo mới về giờ dạy học sinh động theo chiều hướng phá vỡ khuôn mẫu cứng nhắc Giáo án được tổ chức lại theo một cấu trúc phù hợp với từng đặc điểm của từng bài, từng đối tượng khác nhau để tạo điều kiện phát huy tối đa năng lực nhận thức và phẩm chất trí tuệ của người học, tức là giáo án đó phải thể hiện cụ thể quan điểm dạy học, cơ chế lên lớp và cấu tạo giờ dạy Một giáo án
theo quan niệm phát huy tính chủ thể ở học sinh là “một giáo án trong đó có sự kết hợp hài hòa, hữu cơ giữa lao động của giáo viên và học sinh ở trên lớp, là một giáo án trong đó vận dụng nhiều phương pháp, biện pháp rèn luyện tư duy của học sinh song song với quá trình hình thành kiến thức mới, là một giáo án trong đó có sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa ba yêu cầu là hiểu biết, giáo dục với rèn luyện” [9; tr.240] Quan
trọng hơn là để xây dựng một giáo án thành công giáo viên cần xác định quan niệm đúng đắn về dạy học văn và vai trò chủ thể học sinh Giáo án phải đảm bảo việc dạy
học sinh kiến tạo nội dung ý nghĩa văn bản thông qua việc “tổ chức cho học sinh soạn bài, phát biểu ý kiến, thảo luận nhóm, đối thoại trên lớp, trao đổi nhóm, sau đó giáo viên tổng kết, nâng cao, đưa ra kết luận cuối cùng trong tiết học” [21; tr.182]
Nhờ vào quan niệm trên, đến nay nhìn chung cấu trúc giáo án, giờ lên lớp tích
cực cũng có bước cải thiện “một giờ lên lớp được chia làm bốn giai đoạn, mỗi giai đoạn mang ý nghĩa rõ rệt về mặt lý luân dạy học” Bốn giai đoạn này như sau:
1 Giai đoạn mở đầu tiết học: (chiếm thời lượng khoảng 7 phút)
Công việc là kiểm tra đầu giờ, và mở mới, giáo viên đánh giá việc học ở nhà, kiểm tra mức độ nắm bài của học sinh, ôn bài có khi đi vào bài mới
2 Giai đoạn nghiên cứu tài liệu: ( chiếm khoảng 30 - 35 phút)
Đây là giai đoạn chính của giờ lên lớp Giai đoạn này sử dụng nhiều phương pháp để khai thác tài liệu mới, cung cấp kiến thức và phát triển tư duy cho người học Những hoạt động của học sinh được thể hiện rõ nét khi giáo viên biết tổ chức một giờ lên lớp cho phù hợp
3 Giai đoạn củng cố kiến thức: (chiếm khoảng 2 phút)
Sau khi tìm hiểu tài liệu giáo viên cho học sinh bài tập ví dụ và yêu cầu học
sinh phân tích làm sáng tỏ nội dung bài vừa học Từ đó, giáo viên đánh giá được “tính
Trang 27chính xác của kiến thức thu lượm được và nguyên nhân của những lỗi lầm trong phương pháp nhận thức” [7;tr.50]
4 Giai đoạn giao nhiệm vụ về nhà: (chiếm khoảng 2 phút)
Giai đoạn này chiếm khoảng thời gian ít nhưng không thể thiếu Nếu là bài học
có nhiều bài tập hoặc bài học dạy kiến thức quy trình thì giáo viên cần hướng dẫn cách học, cách làm bài tập khó, cách học kiến thức quy trình,
Tóm lại, tùy thuộc vào nội dung và cách tổ chức giờ dạy học, người giáo viên
có thể phân bố thời gian từng giai đoạn cho phù hợp với kế hoạch chuẩn bị giáo án ở nhà nhưng chỉ trong 45 phút (trừ bài học chiếm thời gian hai tiết) Trong 45 phút giáo viên có thể sử dụng các định hướng dạy học mọi lúc, mọi nơi, mọi giai đoạn dạy học, nếu giáo viên có ý thức khai thác chúng với mục đích cuối cùng là phát triển tư duy, tích cực hóa sự học tập của học sinh trong suốt giờ học
Trên đây là một số quan niệm tiến bộ, hỗ trợ đắc lực cho giáo viên thiết kế tốt giáo án Chương trình Ngữ văn gồm ba phần: Văn học - Làm văn - Tiếng việt Mỗi phần gồm nhiều bài, nhiều tiết, nhưng vì giới hạn của đề tài nên người nghiên cứu chỉ thiết kế giáo án ở phần Văn học mà đặc biệt là những bài văn xuôi Việt Nam hiện đại
mà thôi
2.2 Các bài giáo án thể nghiệm
- Người lái đò Sông Đà
- Vợ chồng A Phủ
- Rừng xà nu
Trang 28NGƯỜI LÁI ĐÒ SÔNG ĐÀ
(Trích) (Tiết 01)
Nguyễn Tuân
I KẾT QUẢ CẦN ĐẠT
1.Kiến thức
- Giúp học sinh thấy được dưới ngòi bút của Nguyễn Tuân, sông Đà hiện lên như một
nhân vật sống động, có cá tính, vừa “hung bạo”, vừa “trữ tình”, vừa dữ dội và đầy
- Nâng cao khả năng đọc hiểu văn xuôi Việt Nam hiện đại
- Phân tích tác phẩm qua hình tượng nhân vật ông lái đò và con sông Đà
3 Thái độ
- Tình yêu thiên nhiên, yêu lao động
- Trân trọng những giá trị cao đẹp của con người lao động
Yêu cầu
Đối với giáo viên
- Chuẩn bị các đồ dùng dạy học, tranh ảnh, sơ đồ và thiết kế bài giảng
Đối với học sinh
- Tìm hiểu bài “Người lái đò sông Đà”
- Đọc sáng tạo, diễn giảng, đàm thoại, nêu vấn đề, trực quan
III PHƯƠNG TIỆN
- Sách giáo khoa, Sách giáo viên, thiết kế giáo án, sơ đồ, tranh ảnh
IV CÁC BƯỚC TIẾN HÀNH
1 Ổn định lớp, kiểm tra bài cũ: (5p)
Trang 29- Theo Nguyễn Khắc Viện, con đường trở thành kẻ sĩ hiện đại có thể và cần phải giữ
đạo lí gì? Em hiểu chữ “nhân” trong thời đại ngày nay như thế nào?
2.Vào bài (2p)
- Nguyễn Tuân là một trong những nhà văn lớn của nền văn học nước ta Ông có nhiều tác phẩm lớn trước và sau CMT8 Ông có nhiều tùy bút nổi tiếng một trong số đó là tùy bút sông Đà, đó là kết quả của những chuyến đi thực tế Tây Bắc của ông cuối những năm 50 gồm 15 tùy bút và một tập thơ tập trung vào thiên nhiên nhiên và con người Tây Bắc, và để hiểu rõ hơn về thiên nhiên nhiên và con người Tây Bắc chúng ta
đi tìm hiểu bài bài tùy bút dài nhất là “Người lái đò sông Đà”
và sự nghiệp của Nguyễn Tuân?
GV nhận xét bổ sung, cho HS xem ảnh Nguyễn Tuân trong SGK
Hãy cho biết đôi nét
về sự nghiệp sáng tác của
HS đọc và trả lời ĐHTL:
- Nguyễn Tuân (1910 - 1987) Quê ông xã Nhân Mục, thôn Thượng Đình, nay thuộc phường Nhân Chính, quận Thanh Xuân, Hà Nội
- Năm 1996, ông được nhà nước tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học nghệ thuật
HS trả lời
ĐHTL:
?
?
Trang 30cao, tiêu biểu như:
Đường vui (tùy bút -
- Trước CMT8:
- Một là đề tài “Vang bóng một thời” Tác
phẩm tiêu biểu là tập
truyện Vang bóng một thời (1940)
- Hai là đề tài “chủ nghĩa
xê dịch” Tác phẩm tiêu biểu là: Một chuyến đi (1938), Thiếu quê hương
(1940), Tập truyện Nguyễn (1945),…
- Ba là đề tài đời sống trụy lạc Tác phẩm tiêu
biểu là Ngọn đèn dầu lạc (phóng sự - 1939), Tàn đèn dầu lạc (phóng sự - 1941), Chiếc lư đồng mắt cua (tùy bút - 1941)
- Sau CMT8:
- Sau CMT8 1945 ông sáng tác hàng loạt bút kí, tùy bút có giá trị nghệ thuật cao, tiêu biểu như
Đường vui (tùy bút 1946), Tình chiến dịch ( tập tùy bút - 1950), Sông
-Đà (tập tùy bút - 1960),
Kí chống Mỹ (1965 - 1975), Hà Nội ta đánh
Mỹ giỏi (kí - 1972), Cảnh sắc và hương vị
Trang 31Hãy cho biết hoàn cảnh sáng tác của tùy bút?
- Tác phẩm được Nguyễn Tuân sáng tác trong chuyến đi thực tế Tây Bắc lúc ông ở Điện Biên vào tháng 10 năm 1958
đất nước (kí - 1988)
HS trả lời
ĐHTL:
- Người lái đò Sông Đà
in lần đầu tiên có tên là
Sông Đà, trích trong tập
tùy bút Sông Đà, xuất bản năm 1960 Sông Đà gồm mười lăm tùy bút và một bài thơ phác thảo
HS trả lời
ĐHTL:
- Tác phẩm được Nguyễn Tuân sáng tác trong chuyến đi thực tế Tây Bắc, lúc ông ở Điện Biên vào tháng 10 năm 1958
và hoàn thành ở Hà Nội vào tháng 4 năm 1960 Tác phẩm ra đời trong hoàn cảnh miền Bắc nước ta đang tiến hành xây dựng cuộc sống mới
?
?
Trang 32lái đò Sông Đà, tiêu
biểu cho tư tưởng và
hiện lòng yêu thiên
nhiên đất nước của
Phần một: khắc họa tính
cách “hung bạo” của của
con Sông Đà và ca ngợi phẩm chất trí dũng, tài hoa
nghệ sĩ của ông lái đò
Phần hai: miêu tả vẻ đẹp
trữ tình của Sông Đà, qua
đó thể hiện lòng yêu thiên nhiên đất nước của nhà văn
HS trả lời
ĐHTL:
- Nằm ở phần giữa của
tác phẩm Người lái đò Sông Đà
+ Phần hai: miêu tả vẻ
đẹp trữ tình của Sông
Đà, qua đó thể hiện lòng yêu thiên nhiên đất nước của nhà văn
?
?
Trang 33của nhà văn Nguyễn
Tuân Ngòi bút của
ông đã hòa trộn hai
Đà dưới quyền năng
sáng tạo của nhà văn
- “Nhân vật” sông Đà in
đậm bản ngã của nhà văn Nguyễn Tuân sông Đà như một sinh thể, có hoạt động, biết tri giác, cảm giác, và
có cá tính tâm trạng
- “Nhân vật” sông Đà với hai nét tính cách: hung bạo
và trữ tình Lúc hung bạo con sông là “kẻ thù số một” của con người Lúc
trữ tình dòng sông ấy lại tràn đầy, sóng sánh chất thơ và thân thiết với con
người như một “cố nhân”,
xa thì nhớ nhung lưu luyến
HS trả lời
ĐHTL:
- “Nhân vật” sông Đà in
đậm bản ngã của nhà văn Nguyễn Tuân Ngòi bút của ông đã hòa trộn hai
vẻ đẹp chủ quan của tâm hồn và khách quan của dòng sông để tái hiện một Đà giang như một sinh thể, có hoạt động, biết tri giác, cảm giác, và
có cá tính tâm trạng
- “Nhân vật” sông Đà
dưới quyền năng sáng tạo của nhà văn lấp lánh với hai nét tính cách:
hung bạo và trữ tình
Lúc hung bạo con sông
là “kẻ thù số một” của
con người Lúc trữ tình dòng sông ấy lại tràn đầy, sóng sánh chất thơ
và thân thiết với con
người như một “cố nhân”, xa thì nhớ nhung
lưu luyến
?
Trang 34nhung lưu luyến
b Tính cách hung
bạo của con sông
Đà:
- Từ trong hình
tượng sông nước quê
hương trong văn
chương đến sông Đà
của Nguyễn Tuân:
+ Trong văn chương
Việt Nam, sông
nước quê hương đã
hình thành những
hình tượng đẹp Đấy
là dòng sông Bạch
Đằng trong thơ
Nguyễn Trãi, trong
thơ của Trương Hán
Siêu, Nhưng với
sông Đà, trong cái
Đoạn văn này cho các em cảm giác gì?
- Cảm giác lo sợ hồi hộp
HS đọc và trả lời ĐHTL:
- Nguyễn Tuân như cho
người đọc “cưỡi lên thuyền vun vút, phăng phăng xuống thác” để
tìm cảm giác quanh mình thác nước hò reo bốn mặt
và những hòn đá ngỗ ngược phía trước như
nhất tề “nhóm dậy như
vồ lấy con thuyền” Cảm
giác lo sợ
?
Trang 35vì thế mà nổi hẳn lên
thành hình khối âm
thanh dữ dội
- Nguyễn Tuân như
cho người đọc “cưỡi
lên thuyền vun vút,
phăng phăng xuống
Trang 36đọc cũng cảm lây:
“ngồi trong khoang
đò qua quãng ấy,
thuật của người đọc
+ Hình thái của sông
so sánh độc đáo gây chấn động trí tưởng tượng, xúc cảm nghệ thuật của người
đọc
tinh tế, vừa bất ngờ và lạ Nguyễn Tuân đã dùng kho từ ấn tượng ăm ấp của mình mà lấy ra hình ảnh liên tưởng so sánh độc đáo gây chấn động trí tưởng tượng, xúc cảm nghệ thuật của người
đọc
Trang 37
người đọc
- Ông tưởng tượng
một tay quay phim
táo tợn nào đó ngồi
giếng xây bằng nước
sông xanh ve như
một áng thủy tinh
khối đúc dày, khối
pha lê xanh như sắp
vỡ tan ụp vào cả
máy, cả người quay
phim và cả người
đang xem”
- Con sông Đà như
một loài thủy quái
- Nhà văn đã sử dụng tri
thức về hội họa, thi ca, và đặc biệt là tri thức về điện ảnh để tô đậm tính cách hung bạo của con sông Đà
Hãy đọc đoạn văn :
“… Còn xa lắm mới tới cái thác nước dưới… đàn trâu da cháy bùng bùng”
Qua đây Nguyễn Tuân
HS trả lời
ĐHTL:
- Ông cũng đem ấn tượng và cảm giác mà tái hiện dòng sông khiến người đọc cũng cảm lây:
“Trên cái mặt, cái hút xoáy tít đáy, cũng đang quay lừ lừ những cánh quạ đàn” Và cũng tả cái
hút nước quái ác mà không một con thuyền nào dám bén mảng gần, thuyền nào cũng cố chèo nhanh, trốn chạy, nhà văn đã xoay lật dòng sông, quay cận cảnh :
“Một cái mặt giếng mà thành giếng xây bằng nước sông xanh ve như một áng thủy tinh khối
đúc dày, khối pha lê
xanh như sắp vỡ tan ụp vào cả máy, cả người quay phim và cả người
Trang 38vòng trở lại theo lối
vu hồi, khi xông xáo
tả tính cách sông Đà?
- Nhà văn đã đem kiến thức quân sự và võ thật mà xây dựng hình ảnh những tướng quân đá, quân đá ở sông Đà
- Nghệ thuật nhân hóa
- Nghệ thuật nhân hóa
“Mặt hòn ấy khi trông nghiên thì y như là đang hất hàm hỏi cái thuyền phải xưng tên tuổi trước khi giao chiến Một hòn khác lùi lại một chút và thách thức cái thuyền có giỏi thì tiến lại gần vào”
Nhà văn đã sử dụng ngôn
từ để xây dựng hình ảnh,
âm thanh làm nên một giàn giao hưởng hùng tráng của sóng gió xô thác đá Tiếng sóng thác:
“nó rống lên như ngàn con trâu mộng đang lồng lộn giữa rừng vầu rừng tre nứa nổ lửa, đang phá tuôn rừng lửa, rừng lửa càng gầm thét với đàn
bùng”
Trang 39khi trông nghiên thì
y như là đang hất
hàm hỏi cái thuyền
phải xưng tên tuổi
trước khi giao chiến
Một hòn khác lùi lại
một chút và thách
thức cái thuyền có
giỏi thì tiến lại gần
vào” Nhà văn quan
non “nghe như oán
trách gì, rồi lại như
là van xin, rồi lại
như là khiêu khích”
+ Rồi dòng âm thanh
cuồn cuộn, mở hết
âm lượng Tiếng thét
của thiên nhiên bừng
Trang 40sông như mái tóc
của một người con
gái kiều diễm “tuôn
dài tuôn dài như một
áng tóc trữ tình, đầu
tóc chân tóc ẩn hiện
trong mây trời Tây
Bắc bung nở hoa
ban hoa gạo”
- Con sông được
nhìn qua mây mùa
xuân, nắng mùa thu
để rồi cảm nhận sắc
nước thay đổi kì
diệu Mùa xuân
nước sông Đà xanh
màu xanh ngọc bích,
khác với sông Lô,
sông Gâm “xanh
canh hến”, nước
sông Đà “lừ lừ chín
Hãy đọc đoạn văn:
“ Con sông Đà tuôn dài tuôn dài như một áng tóc trữ tình…rồi cứ thế mà phiết vào bảng đồ lai chữ” Các em có cảm
giác gì khi đọc đoạn văn này?
- Cảm giác vui tươi khó tả
- Câu văn mềm mại đầy hình ảnh và cảm xúc như câu thơ đẹp và đầy quyến
rũ
Hãy đọc đoạn văn:
“… Thuyền tôi trôi trên Sông Đà…những con đò
đuôi én thắt mình dây cổ điển trên dòng trên”
Đoạn văn này nhờ đâu
mà càng trữ tình và thơ mộng hãy chứng minh?
- Nhà văn dùng những hình ảnh dịu dàng, trong sáng, gợi cảm, đầy chất thơ Chất thơ trang nhã cổ
HS đọc và trả lời ĐHTL:
- Dòng sông như mái tóc của một người con gái
kiều diễm “tuôn dài tuôn dài như một áng tóc trữ tình, đầu tóc chân tóc ẩn hiện trong mây trời Tây Bắc bung nở hoa ban hoa gạo”
→ Cảm giác vui tươi khó
tả
HS đọc và trả lời ĐHTL:
- Nhà văn dùng những hình ảnh dịu dàng, trong sáng, gợi cảm, đầy chất thơ Chất thơ trang nhã
cổ điển của Đường thi, chất thơ hồn nhiên thơ
mộng như “một nỗi niềm