PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO QUẢNG XƯƠNGTRƯỜNG THCS QUẢNG ĐỊNH SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM TÊN ĐỀ TÀI MỘT SỐ KINH NGHIỆM SỬ DỤNG SƠ ĐỒ TƯ DUY TRONG DẠY HỌC NGỮ VĂN LỚP 9 NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG
Trang 1PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO QUẢNG XƯƠNG
TRƯỜNG THCS QUẢNG ĐỊNH
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
TÊN ĐỀ TÀI MỘT SỐ KINH NGHIỆM SỬ DỤNG SƠ ĐỒ TƯ DUY TRONG DẠY HỌC NGỮ VĂN LỚP 9 NHẰM NÂNG CAO CHẤT
LƯỢNG DẠY VÀ HỌC
Người thực hiện: Tô Thị Hợp
Chức vụ: Giáo viên Đơn vị công tác: THCS Quảng Định SKKN thuộc lĩnh vực: Ngữ văn
THANH HÓA, NĂM 2016
Trang 21 PHẦN MỞ ĐẦU 1.1 Lí do chọn đề tài
Vấn đề nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện đang là mối quan tâm lớncủa ngành giáo dục, của những người làm công tác giáo dục và của toàn xã hội.Theo đó, nhiệm vụ nâng cao chất lượng các môn học, trong đó có bộ môn Ngữvăn, đang đặt ra các thách thức cho các thầy giáo, cô giáo Đặc biệt trong hoàncảnh, giai đoạn hiện nay, không ít học sinh, phụ huynh quan tâm ít đi, say mê ít đi (Chứ không muốn nói là là không còn yêu thích) môn Ngữ văn
Các nhà trường, các thầy cô giáo, trong đó có các thầy cô giảng dạy bộ mônNgữ văn hiện nay đang có nhiều trăn trở tìm ra các giải pháp nhằm làm tốt hơn nữanhiệm vụ nâng cao chất lượng giáo dục bộ môn
Từ thực trạng trên, Nghị quyết Trung ương 2, khóa VIII khẳng định “Phảiđổi mới phương pháp giáo dục đào tạo, khắc phục lối truyền thụ một chiều, rènluyện thành nếp tư duy sáng tạo của người học Từng bước áp dụng các phươngtiện tiên tiến và phương tiện hiện đại vào quá trình dạy học, đảm bảo điều kiện vàthời gian tự học, tự nghiên cứu cho học sinh ” Đáp ứng yêu cầu này, từ năm học
2010 – 2011, nhiều trường THCS trong và ngoài tỉnh đã áp dụng thí điểm phầnmềm chuyên dụng iMindMap kết hợp với phần mềm Power Point trong việc dạyhọc môn ngữ văn mà nhiều người vẫn quen gọi là bản đồ tư duy (BĐTD)
Qua nghiên cứu và thực nghiệm giảng dạy cho thấy một số GV còn gặp khókhăn trong việc tổ chức hoạt động dạy học trên lớp với việc thiết kế và sử dụngBĐTD Hơn nữa, hiện nay chưa có các tài liệu nghiên cứu nào bàn sâu về vấn đềnày nên bản thân tôi, đồng nghiệp, nhà trường chưa có kinh nghiệm nhiều trongviệc soạn giáo án, sử dụng BĐTD trong giảng dạy bô môn Chính vì vậy, tôi mạnhdạn xin được trình bày một số kinh nghiệm của bản thân trong công tác giảng dạy
với đề tài: “ Một số kinh nghiệm sử dụng s¬ đồ tư duy trong dạy học môn Ngữ
văn THCS nhằm nâng cao chất lượng dạy học” Qua đây muốn được trao đổi
với các bạn đồng nghiệp để cùng nhau làm tốt hơn nhiệm vụ dạy học của mình
1.2 Mục đích nghiên cứu
Bộ môn Ngữ văn trong nhà trường ngoài những chức năng, nhiệm vụ nhưcác môn học khác: cung cấp kiến thức, kỹ năng…cho học sinh Bộ môn Ngữ văncòn có chức năng riêng bồi dưỡng các giá trị thẫm mĩ cho học sinh Hướng các embiết yêu “cái đẹp” và sống “đẹp” hơn Nhưng thực tế, trong những năm gần đâynhiều học sinh rất ngại học các bộ môn KHXH, trong đó có môn Ngữ văn Là mộtgiáo viên trực tiếp đứng lớp, tôi rất trăn trở về vấn đề này Tôi luôn tìm tòi đổi mớiphương pháp, phương tiện dạy học nhằm khơi gợi niềm say mê, chủ động, sáng tạohọc tập của các em Trong đó tôi đã sử dụng BĐTD trong quá trình giảng dạy bộmôn
Sử dụng bản đồ tư duy trong đổi mới phương pháp dạy học Ngữ văn là mộttrong những giải pháp hữu hiệu nhằm giúp giáo viên đổi mới phương pháp giảngdạy, có nhiều ý tưởng sáng tạo hơn trong việc thiết kế bài giảng, đồng thời giúp học
Trang 3sinh dễ hiểu, dễ nhớ và phát huy tối đa khả năng sáng tạo trong quá trình học.BĐTD là công cụ hữu ích trong giảng dạy và học tập ở các trường THCS và bậchọc cao hơn vì chúng giúp giáo viên và học sinh trình bày các ý tưởng, tóm tắt, hệthống hóa kiến thức của một bài học, một chủ đề, một chương hay một cuốn sáchmột cách rõ ràng, mạch lạc, lôgíc và đặc biệt là dễ dàng phát triển thêm các ý tưởngmới vào bài giảng cũng như bài học.BĐTD giúp học sinh học được phương pháphọc tập chủ động, tích cực Thực tế ở trường phổ thông cho thấy, một số học sinh
có xu hướng không thích học môn Ngữ văn hoặc ngại học môn Ngữ văn do đặctrưng môn học thường phải ghi chép nhiều, khó nhớ Một số em học tập chăm chỉnhưng thành tích họch tập chưa cao Các em thường học bài nào biết bài nấy, họcphần sau không biết liên hệ với phần trước, không biết hệ thồng kiến thức, liên kếtkiến thức với nhau, không biết vận dụng kiến thức đã học trước vào bài học sau
Do đó, việc sử dụng thành thạo BĐTD trong dạy học, sẽ giúp học sinh học đượcphương pháp học, tăng tính độc lập, chủ động, sáng tạo và phát triển tư duy
Tóm lại, việc sử dụng Sơ đồ tư duy trong quá trình dạy học sẽ giúp HS:
1 Tăng sự hứng thú trong học tập
2 Phát huy khả năng sáng tạo, năng lực tư duy của các em
3 Tiết kiệm thời gian rất nhiều
4 Nhìn thấy được bức tranh tổng thể
5 Ghi nhớ tốt hơn
6 Thể hiện phong cách cá nhân, dấu ấn riêng của mỗi em
3 Đối tượng nghiên cứu
- Soạn giảng bộ môn Ngữ văn lớp 6, lớp 9 theo sơ đồ tư duy và chuẩnKTKN
- Hướng dẫn học sinh ghi chép, he thống bài học theo BĐTD
4 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp xây dựng cơ sở lý thuyết
- Phương pháp khảo sát thực tế, thu thập thông tin
- Phương pháp thống kê, xử lí số liệu
2 NỘI DUNG 2.1 Cơ sở lý luận
Bản đồ tư duy (BĐTD) còn gọi là sơ đồ tư duy, lược đồ tư duy,… là hìnhthức ghi chép nhằm tìm tòi đào sâu, mở rộng một ý tưởng, hệ thống hóa một chủ đềhay một mạch kiến thức,… bằng cách kết hợp việc sử dụng đồng thời hình ảnh,đường nét, màu sắc, chữ viết với sự tư duy tích cực Đặc biệt đây là một sơ đồ mở,không yêu cầu tỉ lệ, chi tiết chặt chẽ như bản đồ địa lí, có thể vẽ thêm hoặc bớt cácnhánh, mỗi người vẽ một kiểu khác nhau, dùng màu sắc, hình ảnh, các cụm từ diễnđạt khác nhau, cùng một chủ đề nhưng mỗi người có thể “thể hiện” nó dưới dạngBĐTD theo một cách riêng, do đó việc lập BĐTD phát huy được tối đa khả năngsáng tạo của mỗi người
Trang 4BĐTD chú trọng tới hình ảnh, màu sắc, với các mạng lưới liên tưởng (cácnhánh) Có thể vận dụng BĐTD vào hỗ trợ dạy học kiến thức mới, củng cố kiếnthức sau mỗi tiết học, ôn tập hệ thống hóa kiến thức sau mỗi chương, mỗi học kì
và giúp cán bộ quản lí giáo dục lập kế hoạch công tác
Bản đồ tư duy là một hình thức ghi chép sử dụng màu sắc, hình ảnh để mởrộng và đào sâu các ý tưởng Kỹ thuật tạo ra loại bản đồ này được phát triển bởiTony Buzan vào những năm 1960 Bản đồ tư duy có cấu tạo như một cái cây cónhiều nhánh lớn, nhỏ mọc xung quanh “Cái cây” ở giữa bản đồ là một ý tưởngchính hay hình ảnh trung tâm Nối với nó là các nhánh lớn thể hiện các vấn đề liênquan với ý tưởng chính Các nhánh lớn sẽ được phân thành nhiều nhánh nhỏ, rồinhánh nhỏ hơn, nhánh nhỏ hơn nữa nhằm thể hiện chủ đề ở mức độ sâu hơn Sựphân nhánh cứ thế tiếp tục và các kiến thức, hình ảnh luôn được nối kết với nhau
Sự liên kết này tạo ra một “bức tranh tổng thể” mô tả ý tưởng trung tâm một cáchđầy đủ và rõ ràng
Với bộ môn Ngữ văn THCS gồm 3 phân môn: Văn học, Tiếng Việt và Làmvăn Có chung mục đích là giáo dục thẩm mĩ và rèn luyện cho HS các KN nghe,nói, đọc viết, nhưng có vị trí độc lập tương đối và PPDH đặc thù
Văn học có mục đích: giúp HS biết cách đọc để hiểu cho được giá trị của mỗi văn
bản thể hiện qua cái hay, cái đẹp trong nội dung và hình thức thể hiện của văn bản
đó Cái hay, cái đẹp trong nội dung và hình thức thể hiện của văn bản là cái duynhất không lặp lại, biểu hiện tối đa nhất chủ đề tư tưởng của tác phẩm
Tiếng Việt: Hình thành ở HS năng lực sử dụng thành thạo tiếng Việt với bốn kĩ
năng cơ bản là: nghe, nói, đọc, viết
- Giúp cho HS có những hiểu biết về ngôn ngữ Tiếng Việt, có ý thức sử dụng vàgiữ gìn sự trong sáng của Tiếng Việt
- Dạy Tiếng Việt thông qua:
+ Từ: nghĩa, từ loại, các phép tu từ, cấu tạo, chức năng,…
+ Câu: Các loại câu, dấu câu, các thành phần của câu, cách sử dụng và liênkết các câu,…
+ Đoạn văn: nhận thức về cách viết một đoạn văn, liên kết câu và liên kếtđoạn văn…
Làm văn: giúp HS nhận biết các loại văn bản, đặc điểm, chức năng cách thức tạo
lập văn bản theo từng loại thể
- Phân môn Làm văn Ở THCS:
+ Văn nghệ thuật (miêu tả, tự sự, biểu cảm)
+ Văn nghị luận (Nghị luận chính trị, xã hội - Nghị luận về sự việc, hiện tượngtrong đời sống; nghị luận về tư tưởng đạo lí; ngghị luận văn học)
- Phân môn Làm văn chủ yếu mang tính thực hành, HS phải vận dụng những kiếnthức văn học, tiếng Việt và kiến thức đời sống xã hội để tạo lập các loại văn bảndưới hình thức nói hoặc viết
Trang 52.2 Thực trạng
2.2.1 Thuận lợi
Năm học 2012- 2013, trong các đợt tập huấn chuyên đề, giáo viên đã đượclàm quen với phương pháp sử dụng BĐTD trong dạy học Bên cạnh đó, trongnhững năm gần đây, các trường học trên địa bàn huyện Quảng Xương đã lắp đặt,kết nối mạng Intener đây chính là điều kiện thuận lợi giúp giáo viên trong việc khaithác tài nguyên mạng vào công tác giảng dạy của mình
Một số phần mềm sơ đồ tư duy được phổ biến rộng rãi nên đã hỗ trợ chogiáo viên và học sinh khi trình bày sơ đồ tư duy trên máy chiếu
2.2.2 Khã kh¨n
Một số giáo viên còn lúng túng khi sử dụng các phần mền để vẽ BĐTD.Dạy học bằng bản đồ tư duy là phương pháp dạy học mới, học sinh chưaquen với cách học bằng sơ đồ tư duy, còn nhiều lúng túng khi thiết lập một bản đồ
tư duy
Học sinh vẫn chưa thật sự chủ động, tích cực trong tư duy
Kết quả khảo sát đầu năm
Trang 63.1 Sơ đồ tư duy - khái niệm, cấu tạo, các bước thiết kế, quy trình tổ chức hoạt động vẽ SĐTD trên lớp và những tiện ích
Để sử dụng một cách có hiệu quả SĐTD trong quá trình dạy học, trước hết,
ta cần nắm vững những tri thức về nó:
Khái niệm: sơ đồ tư duy hay còn gọi là Lược đồ tư duy, Bản đồ tư duy (Mind
Map) là PPDH chú trọng đến cơ chế ghi nhớ, dạy cách học, cách tự học nhằm tìmtòi, đào sâu, mở rộng một ý tưởng, hệ thống hóa một chủ đề hay một mạch kiếnthức, bằng cách kết hợp việc sử dụng đồng thời hình ảnh, đường nét, màu sắc, chữviết với sự tư duy tích cực Đặc biệt, đây là một dạng sơ đồ mở, không yêu cầu tỉ
lệ, chi tiết chặt chẽ như bản đồ địa lí, các em có thể vẽ thêm hoặc bớt các nhánh,mỗi em có thể vẽ một kiểu khác nhau, dùng những màu sắc, hình ảnh, chữ viết vàcác cụm từ diễn đạt khác nhau, Tuy cùng một chủ đề nhưng mỗi em có thể “thểhiện” nó dưới dạng Sơ đồ tư duy theo cách riêng của mình Do đó, việc lập Sơ đồ
tư duy phát huy tối đa khả năng sáng tạo của mỗi người
Cấu tạo:
Ở giữa sơ đồ là một hình ảnh trung tâm (hay một cụm từ) khái quát chủ đề.Gắn liền với hình ảnh trung tâm là các nhánh cấp 1 mang các ý chính làm rõchủ đề
Phát triển các nhánh cấp 1 là các nhánh cấp 2 mang các ý phụ làm rõ mỗi ýchính
Sự phân nhánh cứ thế tiếp tục để cụ thể hóa chủ đề, nhánh càng xa trung tâmthì ý càng cụ thể, chi tiết Có thể nói, SĐTD là một bức tranh tổng thể, một mạnglưới tổ chức, liên kết khá chặt chẽ theo cấp độ để thể hiện một nội dung, một đơn vịkiến thức nào đó
3.2 Các bước thiết kế một SĐTD
Để thiết kế một SĐTD dù vẽ thủ công trên bảng, trên giấy , hay trên phầnmềm Mind Map, chúng ta đều thực hiện theo thứ tự các bước sau đây:
Trang 7Bước 1: Bắt đầu từ trung tâm với từ, cụm từ thể hiện chủ đề (có thể vẽ hình ảnh
minh họa cho chủ đề - nếu hình dung được)
Bước 2: Từ hình ảnh trung tâm (chủ đề) chúng ta cần xác định: để làm rõ chủ đề,
thì ta đưa ra những ý chính nào Sau đó, ta phân chia ra những ý chính, đặt tiêu đềcác nhánh chính, nối chúng với trung tâm
Bước 3: Ở mỗi ý chính, ta lại xác định cần đưa ra những ý nhỏ nào để làm rõ mỗi
ý chính ấy Sau đó, nối chúng vào mỗi nhánh chính Cứ thế ta triển khai thànhmạng lưới liên kết chặt chẽ
Bước 4: Cuối cùng, ta dùng hình ảnh (vẽ hoặc chèn) để minh họa cho các ý, tạo
Các nhánh càng ở gần trung tâm thì càng được tô đậm hơn, dày hơn
Chú ý dùng màu sắc, đường nét hợp lý để vừa làm rõ các ý trong sơ đồ đồngthời tạo sự cân đối, hài hòa cho sơ đồ
Không ghi quá dài dòng, hoặc ghi những ý rời rạc, không cần thiết, nên dùngcác từ, cụm từ một cách ngắn gọn
Không dùng quá nhiều hình ảnh, nên chọn lọc những hình ảnh thật cần thiếtgóp phần làm rõ các ý, chủ đề
Có thể đánh số thứ tự ở các ý chính cùng cấp
Không đầu tư quá nhiều thời gian vào việc “làm đẹp” sơ đồ bằng vẽ, viết, tômàu
Không vẽ quá chi tiết, cũng không vẽ quá sơ sài
Người lập sơ đồ được phép vẽ và trang trí theo cách riêng của mình
3.3 Quy trình tổ chức hoạt động vẽ SĐTD trên lớp
Hoạt động 1: Cho học sinh lập SĐTD theo nhóm hay cá nhân thông qua gợi
ý của giáo viên
Hoạt động 2: Học sinh hoặc đại diện của các nhóm học sinh lên báo cáo,
thuyết minh về SĐTD mà nhóm mình đã thiết lập
Hoạt động 3: Học sinh thảo luận, bổ sung, chỉnh sửa để hoàn thiện SĐTD
về kiến thức của bài học đó Giáo viên sẽ là người cố vấn, là trọng tài giúp học sinhhoàn chỉnh SĐTD, từ đó dẫn dắt đến kiến thức của bài học
Hoạt động 4: Củng cố kiến thức bằng một SĐTD mà giáo viên đã chuẩn bị
sẵn hoặc một SĐTD mà cả lớp đã tham gia chỉnh sửa hoàn chỉnh, cho học sinh lêntrình bày, thuyết minh về kiến thức đó
3.4 Cách sử dụng SĐTD trong quá trình tổ chức các hoạt động dạy học
3.41 Làm quen với SĐTD
Đối với giáo viên:
Ngoài việc tham dự các lớp tập huấn bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ có liênquan đến việc đổi mới PPDH, giáo viên cần nghiên cứu kĩ những tài liệu liên quan
Trang 8đến việc hướng dẫn sử dụng SĐTD và phần mềm vẽ SĐTD Mind Map để có
những tri thức cơ bản về nó (Hiểu biết về SĐTD, cấu tạo, vai trò, tiện ích, phươngpháp tạo lập, thiết kế, việc sử dụng nó trong quá trình dạy học ); đồng thời, giáoviên cần đầu tư thời gian vào việc tập vẽ, cả vẽ trên giấy và trên phần mềm trongmáy vi tính (Nhớ là phải nghiên cứu kĩ cách sử dụng phần mềm để thực hiện thaotác cho nhanh nhẹn, thuần thục) Sau khi đã hiểu kĩ, nắm chắc về vai trò, công dụngcủa SĐTD, sử dụng thành thạo phần mềm, nắm vững phương pháp vẽ một SĐTD,thì việc ứng dụng nó vào quá trình dạy học là việc dễ dàng (Dĩ nhiên chuyệnSĐTD đẹp hay xấu phụ thuộc vào sự tưởng tượng, liên tưởng, óc sáng tạo và năngkhiếu mỗi người)
Đối với học sinh
Cần dành thời gian hợp lý cho các em “làm quen” với SĐTD, theo cách sau
đây:
Để tiết kiệm thời gian, lại khỏi phải làm cái công việc giới thiệu, hướng dẫncách vẽ SĐTD trở đi, trở lại hết lớp này đến lớp khác, giáo viên nên tham mưu choBan Giám hiệu trường, hoặc Chuyên môn trường, chọn thời gian thuận lợi ngay từđầu năm học tổ chức một buổi ngoại khóa “Làm quen với Sơ đồ tư duy” (Tùy theotình hình cụ thể của từng đơn vị trường mà có thể tổ chức theo khối lớp giáo viêntrực tiếp dạy, khối học sáng - chiều hoặc toàn trường) để giới thiệu, cho các em làmquen và hướng dẫn cách vẽ SĐTD cho các em.(Lưu ý rằng đây cũng là một bướctạo không khí sôi nổi, lôi cuốn các em tiếp cận với một phương pháp, kĩ thuật dạyhọc mới) Để buổi ngoại khóa thành công, giáo viên cần chuẩn bị tốt các nội dungsau:
+ Về phía học sinh, giáo viên cần nhắc nhở các em mang theo đầy đủ cácdụng cụ: giấy vở, bìa lịch cũ, bìa cứng, bút chì, hộp màu, tẩy,
+ Về phía giáo viên, cần chuẩn bị trước: phòng máy, máy chiếu, bảng phụ,phấn màu, và một số SĐTD đã vẽ sẵn trên trên máy, trên giấy vở, trên bìa lịch,trên bảng phụ Sau đó, chúng ta bắt đầu tiến hành tổ chức nội dung theo các bướcsau:
Bước 1: “Làm quen”
Giáo viên giới thiệu một số SĐTD vẽ sẵn cho học sinh làm quen (Nên chọn vẽSĐTD ở những bài đã học trong chương trình cho các em vừa tiện theo dõi, tiếp thutri thức về SĐTD, đồng thời vừa thuận lợi trong việc hệ thống hóa kiến thức, họcsinh sẽ nhanh tiếp thu hơn vì các em đã học) Giáo viên giới thiệu cấu trúc SĐTDtheo mạch kiến thức của bài học cho học sinh nắm, rồi hướng dẫn cách vẽ một
SĐTD (Cung cấp cho các em phương pháp vẽ SĐTD)
Bước 2: “Đọc hiểu”
Giáo viên chọn những SĐTD có kết cấu đơn giản cho học sinh quan sát Sau
đó, cho các em dựa vào SĐTD để thuyết trình nội dung bài học (kiến thức) được vẽ
trong sơ đồ (Luyện cho các em tư duy lô-gic, tư duy hệ thống và kĩ năng thuyết
trình )
Bước 3: “Tập vẽ”
Trang 9Giáo viên đưa ra chủ đề bằng từ khóa (hoặc hình ảnh) ở trung tâm màn hình(hoặc trên bảng đen) Ví dụ: Phương châm hội thoại, Từ (Xét về cấu tạo) Cho họcsinh thực hành vẽ SĐTD trên giấy hoặc bìa lịch hay bảng phụ.
Giáo viên đặt các câu hỏi gợi ý để các em suy nghĩ và vẽ các nhánh cấp 1, cấp
em chỉnh sửa đường nét, sử dụng màu sắc để phân biệt, làm nổi bật mạng lưới các
ý trong sơ đồ.(Kĩ năng hội họa - dấu ấn sáng tạo riêng)
Bước 5: “Chia sẻ kinh nghiệm”
Ở bước này, giáo viên thu một số SĐTD các em vừa vẽ theo từng loại (Sơ đồkhông triển khai đủ các ý chính, sơ đồ vẽ quá chi tiết đến vụn vặt, sơ đồ vẽ khôngđúng trọng tâm kiến thức, sơ đồ dùng quá nhiều hình ảnh, màu sắc lòe loẹt, )Cho học sinh quan sát, nhận xét, góp ý chỉnh sửa, bổ sung
Giáo viên lắng nghe, định hướng cho các em chỉnh sửa, bổ sung:
+ Như trên đã trình bày, SĐTD là một sơ đồ mở Vì vậy, giáo viên cần tôntrọng và phát huy sự sáng tạo của các em, bởi đây là “sản phẩm” của chính các em.Giáo viên chỉ chỉnh sửa cho các em chủ yếu về mặt kiến thức Mặt khác, giáo viêncũng cần khuyến khích, biểu dương những SĐTD vẽ đảm bảo đầy đủ kiến thứctrọng tâm, đẹp, có cách trình bày khoa học, cân đối, hài hòa về đường nét, màu sắc
+ Giáo viên nhắc nhở thêm các em cần hình thành thói quen tốt: nên lậpSĐTD trong quá trình chuẩn bị bài mới ở nhà và lập lại sau khi học xong bài trênlớp để có điều kiện đối chiếu xem mình đã làm được những gì? Những gì mình cònsai sót cần bổ sung, sửa chữa Nếu làm được như vậy, chẳng những giúp các emnắm vững kiến thức mà còn rèn luyện cho các em phát triển năng lực tư duy (Tưduy lô-gic, tư duy hệ thống ) rất tốt
+ Nhắc các em sau mỗi bài học nên lưu các SĐTD lại để sau này tiện việc ôntập, hệ thống kiến thức
Trang 10Tóm lại, nếu giáo viên chuẩn bị thật kĩ lưỡng các bước trên cho các em, tôinghĩ rằng chắc chắn các em sẽ học tốt, làm tốt những yêu cầu giáo viên đặt ra trongquá trình dạy học, kiểm tra, đánh giá có ứng dụng SĐTD.
3.4.2 Các hình thức sử dụng SĐTD trong quá trình dạy học
Sử dụng SĐTD trong việc kiểm tra bài cũ
Giáo viên đưa ra một từ khóa (hay một hình ảnh trung tâm) thể hiện chủ đềcủa kiến thức cũ mà các em đã học, cần kiểm tra, yêu cầu các em vẽ SĐTD thôngqua câu hỏi gợi ý Trên cơ sở từ khóa (hoặc hình ảnh trung tâm) ấy kết hợp với câuhỏi định hướng của giáo viên, học sinh sẽ nhớ lại kiến thức và định hình được cách
vẽ SĐTD theo yêu cầu
Ví dụ 1:
Sau khi các em học xong bài “So sánh”(Ngữ văn 6) trước khi tìm hiểu bài
nhân hoá, giáo viên kiểm tra bài cũ bằng cách cho các em lập SĐTD để củng cố, hệ
thống kiến thức đã học ở bài “So sánh” thông qua câu hỏi sau: So sánh là gì? Tác
dụng?Sơ đồ phép so sánh? Các kiểu so sánh? Sau đó, giáo viên ghi cụm từ khóa
lên giữa bảng phụ “So sánh”, rồi gọi một em lên bảng vẽ Học sinh sẽ dễ dàng vẽđược SĐTD theo nội dung yêu cầu
Dưới đây là SĐTD về biện pháp tu từ so sánh có tính chất minh họa, các em
vẽ SĐTD đảm bảo các nội dung tương tự như sau là tốt:
Trang 11Khi học sinh vẽ xong, giáo viên cho cả lớp quan sát, gọi một vài em nhậnxét, góp ý sơ đồ rồi giáo viên nhận xét và cho điểm.
Ví dụ 2:
Trước khi cho các em tìm hiểu tiết “Luyện tập liên kết câu và liên kết đoạn
văn” (Ngữ văn 9, Tiết 111 trong PPCT) Trước tiên, giáo viên ghi cụm từ khóa
“Liên kết văn bản” lên bảng Sau đó, giáo viên đưa ra câu hỏi dẫn dắt cho các em:
Các câu văn trong đoạn và các đoạn văn trong văn bản được liên kết chặt chẽ với nhau qua những mặt liên kết nào? Có những phép liên kết phổ biến nào được sử dụng để thực hiện việc liên kết trong văn bản? Em hãy dựa vào cụm từ khóa trên, lập SĐTD biểu thị mối quan hệ các mặt liên kết trong văn bản? rồi cho học sinh
tiến hành lập SĐTD Sau đây là SĐTD minh họa:
Sử dụng SĐTD trong kiểm tra 15 phút
Chúng ta cũng có thể dùng SĐTD trong các hình thức kiểm tra trên giấy (15phút) một cách dễ dàng để tăng cường việc rèn luyện thói quen tư duy lô-gic, tưduy hệ thống cho học sinh thông qua các bài kiểm tra viết, nhằm phát triển nănglực tư duy sáng tạo cho các em Tuy nhiên, giáo viên cũng cần lưu ý rằng kiểm trakiến thức cũ bằng phương pháp vẽ SĐTD chỉ là một hình thức kiểm tra nhằm việcgiúp học sinh củng cố, hệ thống kiến thức có tính chất lý thuyết Do đó, giáo viênnên chọn kiểm tra những kiến thức có tính hệ thống, xâu chuỗi, các em có thể dễdàng hệ thống hóa bằng SĐTD Ví dụ: Trong ch¬ng tr×nh ng÷ v¨n 9 lập SĐTD về