1. Trang chủ
  2. » Y Tế - Sức Khỏe

BÀI 7 LUẬT dân sự và LUẬT tố TỤNG dân sự

17 195 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 17
Dung lượng 311,59 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Khái luận chung về Luật dân sự * Khái niệm Là một ngành luật trong hệ thống pháp luật Việt Nam, bao gồm tổng thể các quy phạm pháp luật dân sự do Nhà nước ban hành nhằm điều chỉnh các

Trang 1

BÀI 7 LUẬT DÂN SỰ VÀ LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ

A MỤC TIÊU BÀI HỌC

1 Kiến thức:

- Phân tích được khái niệm luật dân sự, quan hệ pháp luật dân sự

- Trình bày được một số nội dung cơ bản của Luật dân sự

2 Về kỹ năng

- Xác định được các quan hệ pháp luật dân sự trong đời sống

3 Về thái độ

- Tin tưởng vào nhà nước và pháp luật của nước CHXHCN Việt Nam

- Đưa nội dung của pháp luật dân sự vào cuộc sống

B NỘI DUNG BÀI HỌC

I Luật dân sự

1 Khái luận chung về Luật dân sự

* Khái niệm

Là một ngành luật trong hệ thống pháp luật Việt Nam, bao gồm tổng thể các quy phạm pháp luật dân sự do Nhà nước ban hành nhằm điều chỉnh các quan

hệ tài sản và quan hệ nhân thân phi tài sản dựa trên nguyên tắc bình đẳng về mặt pháp lý, quyền tự định đoạt, quyền khởi kiện dân sự và trách nhiệm tài sản của những người tham gia quan hệ đó

* Đối tượng điều chỉnh

Luật dân sự điều chỉnh hai nhóm quan hệ cơ bản:

- Nhóm quan hệ nhân thân

+ Quan hệ nhân thân là những quan hệ về lợi ích tinh thần gắn với một chủ thể nhất định Các quan hệ này không mang tính chất tài sản, tức là không tính được thành tiền, không chuyển dịch được cho người khác

+ Quan hệ nhân thân chia làm hai nhóm:

Quan hệ nhân thân không gắn với tài sản như danh dự, nhân phẩm

Trang 2

Quan hệ nhân thân gắn với tài sản như quyền tác giả, quyền sở hữu

- Nhóm quan hệ tài sản

Quan hệ tài sản là quan hệ giữa người với người thông qua một tài sản Quan hệ tài sản bao giờ cũng gắn với một tài sản nhất định được thể hiện dưới dạng này hay dạng khác

Tài sản được khái quát chung ở Điều 163 Bộ luật dân sự năm 2005 bao gồm: vật, tiền, giấy tờ có giá và các quyền tài sản

* Phương pháp điều chỉnh

Phương pháp điều chỉnh của Luật dân sự là những biện pháp, cách thức

mà nhà nước tác động lên các quan hệ tài sản, các quan hệ nhân thân phi tài sản làm cho các quan hệ này phát sinh, thay đổi, chấm dứt theo ý chí của Nhà nước

và phù hợp với lợi ích các bên tham gia quan hệ dân sự

+ Phương pháp điều chỉnh của Luật dân sự là bình đẳng, tự nguyện, tự định đoạt, hòa giải hoặc tự thỏa thuận của các bên

2 Một số chế định cơ bản của Luật dân sự

Bộ luật dân sự là nguồn chủ yếu, trực tiếp và quan trọng nhất của Luật dân sự Bộ luật dân sự là một bước tiến quan trọng trong việc khẳng định và cụ thể hoá những quyền cơ bản của con người trong lĩnh vực dân sự đã được Hiến pháp 1992 ghi nhận đồng thời tạo cơ sở pháp lý cho việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, pháp nhân, các chủ thể khác, lợi ích nhà nước, lợi ích công cộng và quan trọng hơn nữa là tạo được hành lang pháp lý cho các giao lưu dân sự góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước trong thời kỳ đổi mới Bộ luật dân sự năm 2005 được Quốc hội khóa XI kỳ họp thứ 7 thông qua ngày 14/6/2005 có hiệu lực ngày 01/01/2006 bao gồm: 7 phần, 36 chương với 777 điều

Tài sản và quyền sở hữu

Tài sản

- Tài sản: Điều163 BLDS 2005 quy định: Tài sản bao gồm vật, tiền, giấy

tờ trị giá được bằng tiền và các quyền tài sản

Trang 3

+ Vật có thực: Chính là đối tượng của thế giới vật chất theo nghĩa rộng bao

gồm cả động vật, thực vật có ý nghĩa vật lý ở mọi trạng thái (rắn, lỏng, khí)

Với ý nghĩa là một phạm trù pháp lý, vật là một bộ phận của thế giới vật chất

có thể đáp ứng được nhu cầu nào đó của con người Tuy nhiên không phải bất cứ bộ phận nào của thế giới vật chất cũng đều được coi là vật Vì vậy có những bộ phận của thế giới vật chất ở dạng này thì được coi là vật nhưng ở dạng khác không được

coi là vật Ví dụ: Không khí trong tự nhiên, nước suối, nước sông, nước biển không

được coi là vật, nhưng khi được đóng vào bình nước hay được làm nóng, làm lạnh lại được coi là vật

Như vậy, để vật trở thành đối tượng trong giao lưu dân sự thì phải đáp ứng 3 điều kiện: Vật phải nằm trong sự chiếm hữu của con người; vật phải có đặc trưng giá trị và vật trở thành đối tượng của giao lưu dân sự

Với sự phát triển của khoa học kỹ thuật và công nghệ, khái niệm vật trong khoa học pháp lý ngày nay càng được mở rộng Ví dụ: Phần mềm trong máy tính, chất thải nếu được sử dụng làm nguyên liệu sẽ được coi là vật nhưng bình thường không được coi là vật Những vật có thực là tài sản không chỉ là những vật tồn tại hiện hữu mà còn bao gồm cả những vật (hay tài sản) chắc chắn sẽ có Điều 175 Bộ luật dân sự đã xác định loại tài sản này là: hoa lợi, lợi tức Đây chính là sự gia tăng của tài sản trong những điều kiện nhất định

+ Tiền: Là loại tài sản đặc biệt có giá tri trao đổi với các loại hàng hoá khác Tiền

do nhà nước ban hành, giá trị của tiền được xác định bằng mệnh giá ghi trên đồng tiền

đó

+ Giấy tờ trị giá được bằng tiền: Là loại tài sản đặc biệt do nhà nước hoặc các tổ

chức phát hành theo trình tự nhất định Có nhiều loại giấy tờ có giá khác nhau với những qui chế pháp lý khác nhau như công trái xây dựng đất nước, trái phiếu chính phủ, cổ phiếu, séc Giấy tờ có giá là hàng hoá trong một thị trường, đặc biệt là thị trường chính khoán

+ Quyền tài sản: Ngoài những vật có thực, tiền…tài sản còn được xác định là

quyền tài sản theo qui định tại Điều 181 Bộ luật dân sự: “Quyền tài sản là quyền trị giá

được bằng tiền và có thể chuyển giao trong giao lưu dân sự, kể cả quyền sở trí tuệ”

Trang 4

Theo qui định này các nhà lập pháp muốn nói đến quyền đối nhân tức là quyền của một chủ thể này đối với một chủ thể khác và quyền này trị giá được bằng tiền Điều đó có nghĩa là quyền tài sản là quyền yêu cầu người khác thực hiện nghĩa vụ có giá trị bằng một khoản tiền nhất định như: trả nợ, bồi thường thiệt hại hoặc yêu cầu người khác chuyển giao giá trị của một vật Ví dụ: Thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng đối với con chưa thành niên, quyền tác giả, tác phẩm, hoa lợi, lợi tức cũng được xem là quyền tài sản

Quyền sở hữu

Quyền sở hữu là tổng hợp một hệ thống các quy phạm pháp luật do nhà nước ban hành để điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong lĩnh vực chiếm

hữu, sử dụng và định đoạt các tư liệu sản xuất, tư liệu tiêu dùng

Quyền sở hữu bao gồm: Quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt tài sản của chủ sở hữu theo quy định của pháp luật

Như vậy, có thể khẳng định quyền sở hữu là quyền kiểm soát chi phối vật theo ý chí của mình không bị hạn chế và gián đoạn về mặt thời gian Đối với loại tài sản bị đánh rơi, bỏ quên, thất lạc, chôn giấu chưa tìm thấy, pháp luật vẫn công nhận quyền sở hữu cho dù người đó không trực tiếp nắm giữ và chi phối

Ví dụ: A trong quá trình làm việc tại cơ quan có để quên chiếc điện thoại tại phòng họp B nhặt được trong trường hợp này A vẫn là chủ sở hữu chiếc điện thoại mặc dù A không trực tiếp nắm giữ chiếc điện thoại

Chủ thể của quyền sở hữu tài sản: Là những người tham gia quan hệ pháp luật

dân sự về sở hữu bao gồm cá nhân, pháp nhân, chủ thể khác có đủ ba quyền là quyền chiếm hữu, quyền sử dụng, quyền định đoạt tài sản

Để trở thành chủ sở hữu trong một số trường hợp pháp luật dân sự qui định chủ thể phải có những điều kiện nhất định Ví dụ: A muốn chứng minh mình là người có quyền sử dụng đất thì A phải là người đứng tên trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

Mặt khác, có những tài sản Bộ luật dân sự năm 2005 qui định chỉ thuộc quyền

sở hữu của những chủ thể riêng biệt như: Đất đai rừng núi, tài nguyên trong lòng đất (khí đốt) thuộc quyền sở hữu của toàn dân

Trang 5

Đối với những tài sản vô hình (quyền sở hữu trí tuệ) thì chủ thể quyền sở hữu là những người được pháp luật công nhận thông qua việc đăng ký bảo hộ quyền sở hữu tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền

Các chủ thể của quyền sở hữu có đầy đủ các quyền năng chiếm hữu, sử dụng, định đoạt

Nội dung quyền sở hữu: Theo qui định của Bộ luật dân sự năm 2005 thì

quyền sở hữu là những quyền năng dân sự đối với một tài sản Điều 164 Bộ luật

dân sự năm 2005 qui định: “Quyền sở hữu bao gồm quyền chiếm hữu, sử dụng,

định đoạt tài sản của chủ sở hữu theo qui định của pháp luật”

Đây là những quyền dân sự của chủ sở hữu Ba quyền năng này hợp thành nội dung quyền sở hữu

* Quyền chiếm hữu

Theo qui định tại Đ182 Bộ luật dân sự năm 2005: “Quyền chiếm hữu là

quyền nắm giữ, quản lý tài sản”

Đó là quyền kiểm soát, làm chủ, chi phối vật theo ý chí của mình không bị hạn chế hay gián đoạn về thời gian

Trong thực tế, chủ sở hữu thường tự mình bằng các hành vi của bản thân

để thực hiện quyền chiếm hữu tài sản hay còn gọi là quyền chiếm hữu thực tế Trong một số trường hợp chủ sở hữu chuyển quyền này cho người khác thông qua một hợp đồng dân sự theo ý chí của họ, hoặc không theo ý chí của họ như:

bị đánh rơi, bị bỏ quên, thất lạc, chôn giấu, chưa tìm thấy…thì chủ sở hữu vẫn

có quyền chiếm hữu pháp lý đối với tài sản đó Nghĩa là pháp luật vẫn công nhận quyền chiếm hữu của chủ sở hữu, dù rằng người đó không trực tiếp nắm giữ và chi phối

Ví dụ: A đi tắm bỏ quên chiếc đồng hồ, thì A vẫn có quyền chiếm hữu

pháp lý đối với chiếc đồng hồ đó Mặc dù A không trực tiếp nắm giữ, quản lý tài sản Nếu A tìm lại được chiếc đồng hồ và chứng minh được nó là của mình thì A vẫn là người có quyền chiếm hữu

Quyền chiếm hữu của chủ sở hữu chỉ chấm dứt hoàn toàn khi chủ sở hữu

từ bỏ quyền sở hữu của mình như bán, trao đổi, tặng cho hoặc theo căn cứ được

Trang 6

qui định tại Điều 252, Điều 253, Điều 254 Bộ luật dân sự năm 2005 với ba trường hợp:

1.Tài sản bị tiêu huỷ (Điều 252)

2 Tài sản bị trưng mua (Điều 253) theo qui định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền vì lý do quốc phòng an ninh và vì lợi ích quốc gia

3.Tài sản bị tịch thu (tài sản mà chủ sở hữu có do phạm tội (Điều 254)

* Quyền sử dụng: Là quyền khai thác công dụng và khai thác những lợi

ích vật chất của tài sản trong phạm vi pháp luật cho phép Về nguyên tắc chung

là việc khai thác những giá trị sử dụng của tài sản nhằm mục đích thoả mãn nhu cầu sinh hoạt vật chất hoặc tinh thần cho bản thân mình

Thực hiện quyền sử dụng còn là việc dựa vào tính năng của vật mà con người khai thác lợi ích vật chất của chúng để thoả mãn các nhu cầu trong sản xuất kinh doanh Ngoài ra, việc khai thác lợi ích vật chất của tài sản còn bao gồm cả việc thu nhập những kết quả của tài sản do tự nhiên mang lại như hưởng trứng do gia cầm đẻ ra, hoa quả trên cây, gia súc nhỏ do mẹ chúng sinh ra Như vậy, việc sử dụng một tài sản là một trong những quyền năng quan trọng và có ý nghĩa thực tiễn

Chủ sở hữu có toàn quyền khai thác công dụng, hưởng hoa lợi, lợi tức của tài sản theo ý chí của mình Thông thường chủ sở hữu trực tiếp sử dụng tài sản của mình nhưng có thể được chuyển giao cho người khác sử dụng trên cơ sở một hợp đồng hợp pháp của chủ sở hữu Trong một số trường hợp khác mà pháp luật qui định, cơ quan hoặc tổ chức cũng có quyền sử dụng tài sản trên cơ sở một văn bản của cơ quan nhà nước có thẩm quyền Ví dụ: Cơ quan, tổ chức sử dụng tài sản bị trưng dụng

Do sự phát triển nhanh của khoa học kỹ thuật nên có trường hợp chủ sở hữu không đủ trình độ chuyên môn để sử dụng những tài sản là các phương tiện kỹ thuật hiện đại Ví dụ: Việc sử dụng máy vi tính, xe ô tô, các thiết bị kỹ thuật khác…

Trong trường hợp này chủ sở hữu phải thông qua người thứ ba để thực hiện quyền sử dụng tài sản thì mới khai thác được các lợi ích vật chất, tính năng của tài sản

Trang 7

Ngoài ra, khoản 2 Điều 194 quy định: “ Người chiếm hữu không có căn

cứ pháp luật nhưng ngay tình cũng có quyền khai thác công dụng, hưởng hoa lợi, lợi tức từ tài sản theo quy định của pháp luật”

Tóm lại, Quyền sử dụng là một quyền năng mà pháp luật qui định cho chủ

sở hữu (hoặc người chiếm hữu hợp pháp) được phép sử dụng các tài sản của mình nhằm đáp ứng các nhu cầu sinh hoạt hoặc sản xuất kinh doanh Tuy nhiên việc sử dụng đó không được gây thiệt hại và làm ảnh hưởng đến lợi ích của nhà nước, lợi ích công cộng, quyền lợi ích hợp pháp của người khác, không được trái đạo đức chung của xã hội

Thông thường, khi chủ sở hữu muốn chuyển quyền sử dụng cho người khác thì phải chuyển luôn quyền chiếm hữu tài sản Bởi lẽ, muốn khai thác công dụng của tài sản, trước hết người sử dụng phải thực hiện hành vi chiếm hữu Tuy nhiên, trên thực tế cũng có trường hợp chủ sở hữu cho sử dụng tài sản mà không chuyển quyền chiếm hữu Ví dụ: Cho thuê ô tô mà người lái xe là người làm công việc của chủ sở hữu; Người sử dụng máy vi tính ngay tại nhà của chủ sở hữu…Theo nghĩa hẹp, thì quyền chiếm hữu thường được coi là tiền đề của quyền sử dụng

* Quyền định đoạt: Là quyền năng của chủ sở hữu để quyết định “số

phận” của vật Chủ sở hữu thực hiện quyền định đoạt, biểu hiện ở 2 khía cạnh:

Định đoạt về số phận thực tế của các vật (tức là làm cho vật không còn

trong thực tế nữa) như: tiêu dùng hết, hủy bỏ hoặc từ bỏ quyền sở hữu đối với vật

Định đoạt về số phận pháp lý của vật: Là việc chuyển giao quyền sở hữu

đối với vật từ người này sang người khác Thông qua giao dịch dân sự phù hợp

với qui định của pháp luật và ý chí chủ sở hữu như bán, trao đổi, tặng cho, cho

vay, cho thừa kế

Đối với việc định đoạt số phận thực tế của vật sẽ làm chấm dứt quyền sở hữu đối với tài sản đó Còn đối với vấn đề định đoạt số phận pháp lý của vật điều đó có nghĩa khi bán một tài sản sẽ làm chấm dứt quyền sở hữu của người bán nhưng làm phát sinh quyền sở hữu về tài sản của người mua

Trang 8

Như vậy, ở hai hình thức định đoạt trên việc định đoạt số phận thực tế của vật chủ sở hữu chỉ cần bằng hành vi của mình tác động trực tiếp đến vật còn trong việc định đoạt về số phận pháp lý chủ sở hữu phải thiết lập với chủ thể khác một quan hệ pháp luật dân sự (hợp đồng dân sự) Đối với hình thức định đoạt này Bộ luật dân sự đã qui định: Người định đoạt tài sản phải là người có năng lực hành vi Nghĩa là, người đó phải có đầy đủ tư cách chủ thể Trong những trường hợp tài sản ít giá trị (chủ yếu là động sản) việc thực hiện bằng định đoạt có thể bằng phương thức giản đơn: thỏa thuận miệng, chuyển giao ngay tài sản…nhưng trong những trường hợp pháp luật có qui định trình tự, thủ tục thì phải tuân theo những qui định đó (Điều 196 Bộ luật dân sự)

Chủ sở hữu được tự do định đoạt tài sản của mình, miễn không trái pháp luật, không làm hại đến lợi ích công cộng, quyền, lợi ích hợp pháp của người khác Để tạo điều kiện thuận lợi cho chủ sở hữu khi định đoạt tài sản, Bộ luật dân sự đã qui định việc ủy quyền định đoạt Chủ sở hữu có thể ủy quyền cho người khác định đoạt tài sản, người được ủy quyền phải thực hiện việc định đoạt tài sản theo phương pháp, cách thức phù hợp với ý chí và lợi ích của chủ sở hữu Ngoài ra, vì lợi ích chung của toàn xã hội và để đảm bảo tính ổn định trong giao lưu dân sự trong những trường hợp nhất định, Điều 199 Bộ luật dân sự còn qui định việc hạn chế quyền định đoạt tài sản của chủ sở hữu Đó là, đối với những trường hợp tài sản bị kê biên, bị cầm cố, bị thế chấp và các trường hợp khác do pháp luật quy định

Trong nội dung của quyền sở hữu từng quyền năng có thể do người không phải là chủ sở hữu thực hiện nhưng việc thực hiện đó chủ yếu không mang tính chất độc lập mà phụ thuộc vào ý chí của chủ sở hữu Chỉ có chủ sở hữu mới có quyền thực hiện một cách độc lập không phụ thuộc vào người khác Việc qui định quyền của người không phải là chủ sở hữu nói lên tính năng động của quyền sở hữu luôn ở trong thế vận động trong những trường hợp nhất định Chế định quyền sở hữu với ba quyền năng cơ bản không chỉ được xây dựng trên nguyên tắc quyền của chủ sở hữu chiếm vị trí trung tâm, là xuất phát điểm để

Trang 9

qui định các qui chế pháp lý tương ứng, mà còn có cả những qui định với những xuất phát điểm từ góc độ tài sản

Tóm lại, cả ba quyền năng trên tạo thành một thể thống nhất trong nội dung quyền sở hữu Chúng có mối liên hệ mật thiết với nhau, nhưng mỗi quyền năng lại mang ý nghĩa khác nhau Cụ thể quyền chiếm hữu là một tiền đề quan trọng làm phát sinh quyền sử dụng và định đoạt nhưng đối với vấn đề thực tiễn thì quyền sử dụng lại có một ý nghĩa thực tế quan trọng bởi vì thông qua việc sử dụng khai thác những lợi ích, công dụng của vật để chủ sở hữu thoả mãn các nhu cầu sinh hoạt tiêu dùng cho mình, còn quyền định đoạt lại xác định giá trị pháp lý quan trọng nhất cho chủ sở hữu khi định đoạt tài sản của mình trên thực

tế có sự bảo vệ của Nhà nước

Chế định thừa kế

Thừa kế là quan hệ xã hội thể hiện sự dịch chuyển tài sản từ người chết cho

người còn sống

Có 2 loại thừa kế:

- Thừa kế theo di chúc

Thừa kế theo di chúc là việc dịch chuyển tài sản của người đã chết cho người còn sống theo quyết định của người đó trước khi chết được thể hiện trong

di chúc Nội dung cơ bản của thừa kế theo di chúc là chỉ định người thừa kế (cá nhân, tổ chức) và phân định tài sản, quyền tài sản cho họ, giao cho họ nghĩa vụ tài sản…

+ Đối với người lập di chúc

Người lập di chúc chỉ định một hoặc nhiều người trong di chúc và cho họ hưởng một phần hoặc toàn bộ tài sản của mình Nếu trong di chúc có nhiều người, mỗi người được hưởng bao nhiêu phụ thuộc vào ý chí của người có tài sản, nhưng ý chí đó có được thực hiện hay không phụ thuộc vào hình thức biểu

lộ ý chí

Người lập di chúc là cá nhân có đầy đủ năng lực hành vi, có các quyền sau đây:

* Chỉ định người thừa kế; truất quyền hưởng di sản của người thừa kế

Trang 10

* Phân định di sản cho từng người thừa kế

* Dành một phần tài sản trong khối di sản để di tặng, thờ cúng

* Giao nghĩa vụ cho người thừa kế trong phạm vi di sản

* Chỉ định người giữ di chúc, người quản lý di sản, người phân chia di sản

* Người lập di chúc có quyền sửa đổi, bổ sung, thay thế, huỷ di chúc

+ Đối với người thừa kế theo di chúc

Người được nhận di sản thừa kế (người được chỉ định trong di chúc) là những người có quyền nhận di sản do người chết để lại theo sự định đoạt trong

di chúc

Người thừa kế theo di chúc có thể là người trong hàng thừa kế, ngoài hàng thừa kế, hoặc cơ quan, tổ chức kể cả Nhà nước Tuy nhiên, người thừa kế theo di chúc cũng cần phải có những điều kiện như qui định ở Điều 635 Bộ luật dân sự

Cụ thể là: Nếu người được chỉ định làm thừa kế là cá nhân, thì người đó phải còn sống vào thời điểm mở thừa kế Tuy nhiên, người sinh ra và còn sống sau thời điểm mở thừa kế nhưng đã thành thai trước khi người để lại di sản chết thì

họ vẫn là người thừa kế theo di chúc

Trong trường hợp người thừa kế theo di chúc là cơ quan, tổ chức thì cơ quan, tổ chức phải còn tồn tại vào thời điểm mở thừa kế

Người thừa kế theo di chúc có quyền nhận hoặc từ chối nhận di sản Nếu nhận di sản thì phải thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại tương ứng với phần di sản mà mình đã nhận (Điều 637 Bộ luật dân sự) Trong trường hợp Nhà nước, cơ quan, tổ chức hưởng di sản theo di chúc thì cũng phải thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại như người thừa kế là cá nhân

Mặc dù pháp luật qui định người để lại di sản có quyền truất quyền hưởng di sản của những người thuộc diện thừa kế theo pháp luật Nhưng để bảo vệ lợi ích của một số người trong diện những người thừa kế theo pháp luật, phù hợp với phong tục tập quán, truyền thống tốt đẹp của nhân dân ta, pháp luật đã hạn chế quyền lập di chúc được thể hiện ở Điều 669 Bộ luật dân sự

Những người sau đây vẫn được hưởng phần di sản bằng ít nhất 2/3 suất của người thừa kế theo pháp luật, nếu thừa kế được chia theo luật, trừ khi họ từ chối

Ngày đăng: 28/08/2017, 02:14

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm