1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

tiểu luận tôn giáo

15 243 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 15
Dung lượng 561 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Để hiểu rõ hơn những văn hóa đặc sắc của người Khmer thể hiện thông qua chùa và Phật giáo tiểu thừa Nam tông nên tôi đã chọn đề tài “Phật giáo tiểu thừa Nam Tông của người Khmer Nam Bộ”.

Trang 1

Mục lục

Mở đầu

1 Lý do chọn đề tài

Đồng bào Khmer Nam Bộ là bộ phận không thể tách rời trong cộng đồng 54 dân tộc Việt Nam, với số dân gần một triệu ba tram ngàn người, tập trung ở các tỉnh, thành phố thuộc khu vực Đồng bằng sông Cửu Long, một số ở thành phố Hồ Chí Minh và miền Đông Nam Bộ Qua quá trình cộng cư lâu đời cùng với các dân tộc Kinh – Hoa – Chăm… trên mảnh đất Nam Bộ, người Khmer đã có sự giao thoa văn hóa, kết hợp với vắn hóa truyền thống dân tộc đã tạo nên một nét văn hóa đặc sắc đậm chất Khmer Được thể hiện rõ qua các ngôi chùa và hoạt động ở mỗi phum, sóc, gắn liến với Phật giáo Nam tông tiểu thừa Những bản sắc vô cùng độc đáo đó của đồng bào Khmer Nam

Bộ đã đóng góp không nhỏ vào sự đa dạng, phong phú của vùng Đồng bằng sông Cửu Long, Nam bộ nói riêng và văn hóa Việt Nam nói chúng Để hiểu rõ hơn những văn hóa đặc sắc của người Khmer thể hiện thông qua chùa và Phật giáo tiểu thừa Nam tông nên tôi đã chọn

đề tài “Phật giáo tiểu thừa Nam Tông của người Khmer Nam Bộ”

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề.

Đối với việc nghiên cứu về Phật giáo tiểu thừa của người Khmer Nam Bộ thì hướng nghiên cứu chính: đó là nghiên cứu phương luận và phương pháp nghiên cứu văn hóa và tín ngưỡng tôn giáo

Đã có nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề này như: Phạm Thị

Trang 2

Hạnh Phương với cuốn Văn hóa Khmer Nam Bộ nét đẹp trong bản sắc

văn hóa Việt Nam cũng đã có hẳn một phần nói về Phật giáo tiểu thừ

của người Khmer, PGS TS Ngô Văn Lệ với cuốn Văn hóa các dân

tộc thiểu số ở Việt Nam thì phật giáo Nam tông tông của người Khmer

cũng được ông quan tâm,…

Ngoài ra còn nhiều công trình nghiên cứu khác về văn hóa tộc người, hoặc trong các tạp chí dân tộc học cũng nói về tín ngưỡng tu hành theo Phật giáo tiểu thừa của người Khmer

3 Mục đích nghiên cứu.

Tôn giáo vẫn còn đang là nhu cầu của một bộ phận nhân dân giúp họ

“giải thoát” khỏi những đau khổ và “đền bù” cho họ những hụt hẫng, những bất lực trong cuộc sống them vào đó, sự phức tạp của cuộc đấu tranh giai cấp ngày nay, các giai cấp, tầng lớp phản động có những thủ đoạn lợi dụng tôn giáo ngày càng tinh vi hơn Để có thể thích nghi với thời đại, bản thân các tôn giáo cũng đã và đang có những biến đổi sâu sắc hơn (thay đổi diện mạo tôn giáo; thế tục hóa và văn hóa tôn giáo, xuất hiện những phong trào tôn giáo mới,…) Những khó khăn to lớn

đó đang thách thức những người làm công tác nghiên cứu tôn giáo, và

đó cũng là mục đích nghiên cứu đề tài này

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.

Phái Phật giáo tiểu thừa Nam tông của người Khmer Nam Bộ

Giới hạn trong phạm vi tín ngưỡng, tôn giáo và tập tục tu hành của

người Khmer Nam Bộ theo trường phái Phật giáo tiểu thừa, tập trung nghiên cứu nguồn gốc, vai trò của tôn giáo và ảnh hưởng của tôn giáo, tín ngưỡng trong đời sống xã hội người Khmer Nam Bộ

Phạm vi nghiên cứu chủ yếu là ở Nam Bộ, các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long.

Thời gian từ lúc du nhập, hình thành cho đến nay.

5 Phương pháp nghiên cứu.

Trong quá trình thực hiện đề tài “Phật giáo tiểu thừa Nam Tông của

người Khmer Nam Bộ” tôi sử dụng phương pháp luận: Dựa vào phương pháp đứng trên lập trường của chủ nghĩa Mác-LêNin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm cơ sở lý luận và kết hợp với hai phương pháp chủ yếu của ngành học là phương pháp lịch sử và phương pháp logic

Trang 3

Từ những vấn đề liên quan đến Phật giáo tiểu thừa Nam tông của người Khmer Nam Bộ rút ra những đắc điểm về nguồn gốc, vai trò của nó trong đời sống xã hội người Khmer Nam Bộ

6 Nguồn tài liệu.

Phạm Thị Phương Hạnh (Chủ biên), Văn hóa Khmer Nam Bộ nét đẹp

trong bản sắc văn hóa Việt Nam, Nxb, Chính trị Quốc gia – Sự thật,

Hà Nội, 2011

PGS TS Ngô Văn Lệ, Một số vấn đề về văn hóa tộc người ở Đông

Nam Bộ và Đông Nam Á, Nxb Đại học Quốc gia TP.HCM

PGS TS Ngô Văn Lệ, Văn hóa các dân tộc thiểu số ở Việt Nam,

Nxb Giáo dục

7 Bố cục.

Gồm hai phần:

Phần I: Phật giáo tiểu thừa Nam tông trong đời sống của người Khmer Nam Bộ

Phần II: Chùa Nam tông của người Khmer Nam Bộ

Trang 4

Nội Dung

I Phật giáo Tiểu thừa Nam tông trong đời sống của người Khmer Nam Bộ.

1.1 Nguồn gốc Phật giáo tiểu thừa Nam tông

Đồng bào Khmer Nam Bộ có chúng tín ngưỡng truyền thống là Phật

giáo Tiểu thừa Nam tông, còn gọi là Phật giáo Nam tông Khmer Trước khi phật giáo Tiểu thừa được thịnh hành thì ở Nam Bộ đã có hai tôn giáo giữ vai trò quan trọng ở hai giai đoạn lịch sử

Từ thế kỷ thứ XII trở về trước, đạo Bà la môn được xem là tôn giáo

chính thống được truyền từ Ấn Độ sang còn phật giáo tuy du nhâp vào vùng Khmer khá sớm, nhưng mãi đến thế kỷ XII Phật giáo tiểu thừa

đã đẩy lùi được đạo Bà la môn “sự thắng thế của đạo Phật được thể hiện qua cái chết của Kabil Ma Harum vị thần bốn mặt biểu tượng của đạo Bà la môn bi cắt đầu bởi chàng thiếu niên Thômabai – tượng trưng cho Phật giáo trẻ trung” [4; tr.282] Về sau Phật giáo tiểu thừa mới trở thành tôn giáo chính thống giữ vai trò đặc biệt trong đời sống của đồng bào Khmer Nam Bộ

1.2 Quá trình phát triển.

Trong quá trình phát triển ở Việt Nam, Phật giáo có hai hệ phái: Đại

thừa (Bắc tông) và Tiểu thừa (Nam tông) Về mặt giáo lý thì cả hai hệ phái căn bản giống nhau, cả hai đều chấp nhận Đức Phật Thích Ca là

Trang 5

bật đạo sư Tứ Thánh Đế, Bát chính đạo, Lý Nguyên Khởi trong cả hai trường phái đều giống nhau, đều không chấp nhận thượng đế tạo ra thế gian này, chấp nhận Tam tướng (Khổ, Vô thường, Vô ngã) và Tam vô luận học (Giới, Định, Huệ) Đây là những giáo lý quan trọng bậc nhất của Đức Phật mà cả hai đều công nhận

Phật giáo Tiểu thừa, còn gọi là Phật giáo nguyên thủy hay Phật giáo

Nam tông Tông phái này hình thành ngay trong thế kỷ đầu tiên sau khi Thích Ca viên tịch Phật giáo có 5 bộ kinh chính: “Trường bộ kinh gồm các bài thuyết pháp dài của Phật, Trung bộ kinh gồm những bài thuyết pháp trung bình, Tương ứng kình gồm các bài xếp theo đề tài, Tăng bộ kinh gồm các bài xếp theo từng phép và Tiểu bộ kinh gồm những bài kinh xưa nhất” [1; tr.109-110] Cả Tiểu thừa và Đại thừa đều công nhận năm bộ kinh lớn này Riêng Đại thừa có nhiều bộ kinh khác như: Hoa nghiêm, Diệu pháp, Liên hoa, Bát nhã, Kim cương, Di đà,… mà Tiểu thừa cho là xa lạ với Đức Phật

Phật giáo Tiểu thừa Nam tông Khmer được truyền vào Nam Bộ

không phải trực tiếp từ Ấn Độ mà chủ yếu gián tiếp qua Campuchia, một phần từ Inđonexia và Malaixia Phật giáo Tiểu thừa đã có ảnh hưởng to lớn đến đời sống tinh thần của đồng bào người Khmer và bô phận người Kinh, người Hoa ở Đồng bằng Nam Bộ, và đã được bản đại hóa, hòa đồng cùng với các tín ngưỡng dân gian bản địa; đồng thời dung nạp một số yếu tố của các tôn giáo khác du nhập từ nước ngoài Những học thuyết có tính chất tư biện, các tín điều khô khan, các suy

tư huyền bí đã được giãn lược đi để hòa quyện vào các tín ngưỡng dân gian bản địa vốn chất phát và đơn giản

1.3 Đặc điểm của Phật giáo Tiểu thừa Nam tông

Phật giáo Khmer Nam Bộ theo hệ phái Hinayana, nên người tu chỉ

có Tăng mà không có Ni và Thờ duy nhất là Đức Phật Thích Ca Tăng chia làm hai bậc: Tỳ Khưu từ 20 tuổi trở lên giữ 4 giới và 227 điều cấm; Sadi từ 19 tuổi trở xuống gữ 30 điều giới cấm Còn lại tùy mức

độ và khả năng tự nguyện mà giữ 5 giới, 8 giới hoặc 10 giới [1; tr.112] Đối với Tăng thì yêu cầu giới luật rất nghiêm ngặt Ai phạm giới thì tăng trưởng và trưởng ban quản trị chùa triệu tập tăng đoàn và thiện tín lại để tiến hành kiểm điểm và xét xử Trường hợp vi phạm nặng thì kỷ luật trục xuất về thế tục Các nhà sư được quy định dùng mặn một ngày 2 bữa, quá ngọ không được dùng, được hưởng tất cả vật

Trang 6

thực, hoa quả, vật dụng của thiện tín cúng dường, chỉ trừ 10 loại động

dã thú và các điều cấm của giới luật đã quy định Cuộc sống của các nhà sư là do bà con Phật tử nuôi bằng cách đi quyên tiền quyên góp theo mùa vụ hoặc sự bố thí của bổn đạo trong cuộc lễ Dù tu ở bậc nào các sư sãi Khmer cũng đều phải giữ 10 giới chính: không sát sinh, không trộm cắp, không tà dâm, không nói láo, không uống rượu, không ăn chiều, không nghe đàn xem hát, không dùng mùi thơm và đồ trang sức, không ngồi chỗ cao đẹp, không cất giữ tiền bạc

Theo quy định mỗi ngày sư sãi phải tụng kinh ở chùa ba buổi: sáng,

trưa và chiều tối Còn dân thường mỗi tháng phải lên chùa tụng niệm

ít nhất bốn ngày tại tòa Sala thiên vào ngày 8, 15, 23, 30 âm lịch, đồng thời đem cơm dân cho các nhà sư Được các nhà sư chiếu cố dùng cơm, họ cho đây là một điều phước lớn Người Khmer rất chú trọng đến tục đi tu

1.4 Vai trò của Phật giáo Tiểu Thừa đối với đồng bào Khmer Nam Bộ.

Phật giáo Nam tông giữ một vai trò, vị trí quan trọng trong đời sống

tinh thần của đồng bào Khmer Nam Bộ Đối với đồng bào Khmer, mỗi người từ nhỏ đến lớn, từ lúc sinh ra cho đến lúc mất đi đều gắn bó với Phật giáo, với ngôi chùa Khi cất tiếng khóc chào đời những đứa trẻ đã được đưa đến chùa ghi sổ đặt tên, đến tuổi trưởng thành vào chùa tu 3 năm nghĩa vụ, khi lập gia đình vào chùa làm lễ “Choong đay” (buộc chỉ cổ tay) và khi chết, hỏa táng để trong chùa Ảnh hưởng to lớn của

tư tưởng Phật giáo Nam tông không chỉ tác động trực tiếp đến cuộc sống hàng ngày của đồng bào Khmer Nam Bộ mà còn tác động to lớn, như một sợi chỉ đỏ xuyên suốt đến tất cả các lễ Tết lớn của người Khmer Hầu hết các sinh hoạt tâm linh, sinh hoạt văn hóa đều xuất phát từ giáo lý, sự tích, những câu chuyện răn dạy làm người của Đức Phật

Đồng bào Khmer theo đạo Phật vì đạo Phật có đặc điểm phù hợp với

đạo đức, tâm lý, nếp sống, nếp nghĩ của người Khmer Đạo Phật theo đạo đức luận, lấy nhân quả làm phép tắc chủ yếu xuyên suốt kinh sách

để giáo dục con người, không phân biệt đẳng cấp - khác biệt hẳn với đạo Bà la môn trước đó, phương châm của đạo Phật là lấy hiện tại làm

cơ sở cho tương lai

Theo giáo lý của Đức Phật, người Khmer thường nghĩ về hậu lai,

Trang 7

sống tích nhiều phước chết nhập Niết bàn Cũng chính vì vậy người Khmer quan niệm đi chùa làm phước cũng như làm ruộng làm nhiều được nhiều, làm ít được ít Phật giáo tiểu thừa có hệ thống giáo lý, tín điều rất gần gũi với quan điểm nhân văn thậm chí là cơ sở để cố kết cộng đồng

II Chùa Nam tông của người Khmer Nam Bộ.

2.1 Tổng quan về chùa của người Khmer Nam Bộ.

So với người kinh, người Hoa cùng sinh sống trên mảnh đất Nam Bộ

thì chùa của người Khmer có số lượng lớn hơn rất nhiều Mỗi khu vực dân cư (phum, sóc) của người Khmer đều có một ngôi chùa

Năm 1970, toàn Nam Bộ có 402 ngôi chùa, 11.979 tu sĩ [6; tr.39].

Năm 1999 - 2000, Nam bộ có 447 ngôi chùa, lưu lượng sư hàng năm khoảng 10.000 người (do số lượng người đi tu và hoàn tục không giới hạn về mặt thời gian), với 172.299 hộ gia đình phật tử [7; tr.43]

Đến nay số chùa và người dân tộc Khmer đều tăng Toàn bộ Nam Bộ

hiện có 454 chùa với khoảng 1.300.000 dân

Bao gồm:

Tỉnh Trà Vinh: 141 chùa

Tỉnh Sóc Trăng: 92 chùa

Tỉnh Kiên Giang: 74 chùa

Tỉnh An Giang: 65 chùa

Tỉnh Bạc Liêu: 22 chùa

Tỉnh Hậu Giang; 15 chùa

Tỉnh Vĩnh Long; 13 chùa

Trang 8

Thành phố Cần Thơ: 12 chùa

Tỉnh Cà Mau: 7 chùa

Tỉnh Tây Ninh: 6 chùa

Tỉnh Bình Phước: 3 chùa

Thành phố Hồ Chí Minh: 2 chùa

Tỉnh Bà Rịa: 1 chùa

Tỉnh Đồng Nai: 1 chùa

2.1.1 Về niên đại chùa của người Khmer Nam Bộ.

Dựa vào niên đại đạo Phật du nhập vào vùng dân tộc Khmer, năm

sang định kinh sách được đúc bằng đá, đồng đen, gỗ quý nay còn lưu lại ở Bảo tàng, Nhà trưng bày văn hóa Khmer và các chùa; đời các vị

sư trụ trì kế tục nhau lưu lại ở từng chùa; những sự tích, truyền thuyết, đại danh liên quan đến ngôi chùa; những ghi chép niên đại cụ thể còn lưu giữ được và những cứ liệu lịch sử được công bố trên sách báo đã xuất bản …; về niên đại của các chùa toàn khu vực Nam Bộ đã được thống kê như sau:

Chùa có niên đại xây dựng từ năm 1500 trở về trước có 33 chùa

Chùa có niên đại xây dựng từ 1500 đến 1700 có 116 chùa

Chùa có niên đại rừ 1700 đến 1900 có 162 chùa

Chùa có niên đại xây dựng từ 1900 đến năm 2000 có 136 chùa Tính

đến năm 2010 có 142 chùa

Xa xưa hơn còn có những nghiên cứu di chỉ Óc Eo, thể hiện văn hóa

cổ của vùng đất Nam Bộ, có liên quan đến tôn giáo tín ngưỡng của người Khmer Trong văn hóa Óc Eo đã được khám phá thì kiến trúc văn hóa tôn giáo là khá phổ biến Kiến trúc đá đã được khai quật ở gò Nền chùa là nền móng còn lại của một ngôi đền khá lớn (Bình đồ) Đây là một kiến trúc quy mô rất đồ sộ thuộc loại lớn nhất trong những kiến trúc đá thuộc văn minh Óc Eo được phát hiện cho đến ngày nay Nền chàu cách núi Ba Thê 15 km, núi Sập 22 km, Bảy Núi 32 km Việc phát hiện mộ táng ở phần trung tâm (khu EFGH) trong đợt khai

Trang 9

quật 1983 là sự kiện quan trọng trong việc tìm hiểu tính chất của kiến trúc đồ sộ này Trong biểu hiện về loại hình và tương quan của nó đối với khu di tích, kiến trúc nền chùa có thể được xác định là một đền thờ thuộc tín ngưỡng phổ biến của lớp cư dân cổ vào thời kỳ đó, có liên quan đến thờ phụng người chết, thờ đá và với tục hỏa táng” Và, còn rất nhiều các di chỉ Óc Eo khác đã được khai quật như di tích chùa Trà Kháu (Sambua) thuộc địa phận ấp Trà Kháu xã Hòa Ân (Cầu Kè - Trà Vinh), di tích chùa Giữa (Machum - Naran) cách chùa Trà Kháu 500

m về phía Đông Bắc,…[1; tr.98]

Từ những căn cứ trên, có thể thấy, tín ngưỡng, tôn giáo đã du nhập vào vùng có người Khmer sinh sống từ rất lâu đời Đã có đạo là có chùa Nới xây dựng chùa Khmer bao giờ cũng ở trung tâm phum, sóc trên một khu đất rộng rãi, cao ráo, đồng bào dễ đi lại và cũng được xem xét, chọn lựa rất kỹ lưỡng, vì đây là nơi thiêng liêng nhất trong đời sống tinh thần của cộng đồng người Khmer

2.1.2 Kiến trúc.

Theo khảo sát thì hầu như các ngôi chùa Khmer đều được xây dựng

theo một mô hình, kiểu cách thiết kế thống nhất Tất nhiên mỗi chùa mỗi vẻ, đất chùa có nơi rộng nơi hẹp khác nhau; nhưng đều có chung một đặc điểm: Chính điện đều có hình chữ nhật, chiều dài luôn gấp đôi chiều rộng; nón chóp là hình tam giác nhọn, chiều đứng dài hơn đáy một phần tư So với kiến trúc Ăng kor, chùa Khmer Nam Bộ không đồ sộ, hoành tráng bằng, nhưng lại có nét đẹp rất riêng Đó là

sự duyên dáng ở bộ mái cong với những hình trang trí nóc thơ mộng, hài hòa với thiên nhiên và gần gũi với đời thường Kiến trúc ngày xưa không có nhiều cấp mái như bây giờ Mái chùa ngày nay thường làm

ba nếp, góc mái cong vút được chạm trổ công phu Mỗi cấp mái lại chia thành ba nếp khiến chùa trong đẹp mắt, uy nghi hơn, ngôi chùa có thể coi là đỉnh cao nghệ thuật về kiến trúc của người Khmer Về các công trình trong chùa cũng được bố trí theo nguyên tắc nhất định: bên ngoài là hàng rào, kế đến là cổng chính, rồi đến cổng phụ bên trong còn các công trình phụ như phòng sách, nhà bếp, thap cốt, lò hỏa tang,

… [1; tr.102] Mỗi công trình đều có chức năng cụ thể theo những quy định của phật giáo Nam Tông và phong tục tập quán của dân tộc Khmer

Nhưng trong chùa Khmer nơi được xem là công trình chính, thiêng

Trang 10

liêng nhất phải kể đến ngôi chính điện Khi xây dựng chính điện thì vị sãi cả là người cắm đất chọn nơi xây dựng (theo sách phong thủy của người Khmer – Kompi Trai Niếp) Thường chính điện đặt ở vị trí trung tâm chùa Quy cách xây dựng được tiến hành theo nghi lễ tôn giáo Ngôi chính điện được dựng theo hướng Đông Tây, hai cửa chính 10ang về hướng Đông, hai cửa phụ 10ang về hướng Tây, dọc theo hai bên tường có nhiều cửa sổ Chính điện được xây một tần cột cao, mái

được uốn cong để đầu nhọn hướng lên trên Đỡ mái chính ở các cột

xung quanh đều có hình Kây no

Những trang trí thường gặp là chim thần Krũđ (đầu chim mình

người), tiên nữ Kenâr, tượng thần bốn mặt MahaPrum Hai bên tay vịn

bước lên chính điện được họa tiết rồng hoặc rắn Trong chính điện bàn

thờ Phật được đặt quay về hướng Đông Trên bệ thờ được bày một loại tượng duy nhất là tượng Phật Thích Ca Pho tượng lớn ở chính giữa, nhiều pho tượng nhỏ xung quanh do Phật tử dâng cúng Điểm này khác hẳn với chùa của người Kinh, người Hoa, là thường bày nhiều loại tượng như Quan Thế Âm, Di Lặc, các vị La Hán, Bồ Tát Xung quanh tường thường cho vẽ các bức tranh liên hoàng kể về sự tích Đức Phật Thích Ca

2.2 Lễ kết giới trong xây dựng chính điện chùa của người Khmer Nam Bộ

Sau khi xây dựng xong ngôi chính điện thì người ta sẽ tổ chức lễ kết

giới theo phong tục: lễ kết giới hay còn gọi là (Bon banh chos xây ma) theo tiếng Khmer đó là một lễ lớn mà hầu như chùa nào mới xây hoặc những chùa đã xây dựng trước đó đều phải làm Lễ kết giới Lễ này tổ chức rất quy mô, trọng thể và tốn kém Do chính điện lúc nào cũng là công trình được hoàng thành sau cùng nên nhiều khi các công trình khác đã xây xong từ lâu mà “nhà của Phật” (chính điện) vẫn còn đang xây dựng Chỉ khi nào chính điện xây xong và làm Lễ kết giới thì chùa

đó mới được cộng nhận chính thức Lễ mời nhiều sư sãi và phật từ các nơi đến dự và diễn ra từ hai đến ba ngày đêm và phải làm theo các nguyên tắc nghiêm ngặt như đã quy định, nếu làm sai chính điện đó sẽ không được sử dụng Người chủ trì buổi lễ thường là một vị sư cao niên, thông suốt giáo luật để hường dẫn các nghi lễ Suốt ba buổi sáng, trưa, tối trong các ngày làm lễ, các vị sư và tín đồ tiến hành tụng kinh, còn dân chúng và khách thập phương thì tham gia các hoạt động của

Ngày đăng: 27/08/2017, 14:42

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w