Trong lĩnh vực này, âm vực được sử dụng như một đặc điểm để xác định và phân loại giọng hát thành những kiểuchất giọngkhác nhau.[1] 4.1 Định nghĩa của âm vực trong ca hát Định nghĩa rộng
Trang 21 Âm nhạc học 1
1.1 Chú thích 1
1.2 am khảo 1
2 Âm giai 3 2.1 Xem thêm 3
2.2 am khảo 3
2.3 Liên kết ngoài 3
3 Âm sắc 4 3.1 am khảo 4
4 Âm vực 5 4.1 Định nghĩa của âm vực trong ca hát 5
4.2 Chú thích 5
5 Âm vực nhạc cụ 6 6 Âm vực nhạc cụ dàn nhạc cổ điển 7 6.1 Âm vực Kèn gỗ 7
6.2 Âm vực Kèn đồng 7
6.3 Nhạc cụ kích phát 7
6.4 Âm vực Hợp xướng 7
6.5 Âm vực Đàn vĩ 7
7 ành phần dàn nhạc cổ điển 8 7.1 am khảo 8
8 Cao độ (âm nhạc) 9 8.1 Cảm âm 9
8.1.1 Cao độ và tần số 9
8.1.2 Ngưỡng phân biệt 10
8.1.3 Cao độ: cao và thấp 10
8.2 Chú thích 10
8.3 Đọc thêm 10
Trang 39 Lý thuyết âm nhạc 12
9.1 am khảo 12
10 Nhịp độ 13 10.1 Đo nhịp độ 13
10.2 Xem thêm 13
10.3 Liên kết ngoài 13
11 Tẩu pháp 14 11.1 Tính chất của Tẩu pháp 14
11.2 Các thành phần của Tẩu pháp 14
11.2.1 Nhạc đề chính của Tẩu pháp và cách khởi tấu của nó 14
11.2.2 Các chương chính của Tẩu pháp 14
11.3 Kỹ thuật sáng tác Tẩu pháp 15
11.3.1 Biến tấu Cung thể (Tonal variation) 15
11.3.2 Biến tấu Đối âm (Contrapuntal variation) 15
11.3.3 ể loại Nghịch đảo Đối âm 16
11.3.4 Cách tính kiểu Nghịch đảo Đối âm 16
11.3.5 Cách tính ãng sau khi nghịch đảo 16
11.4 am khảo 16
11.5 Liên kết ngoài 16
12 anh nhạc 17 12.1 Chú thích 17
13 Tông nhạc 18 13.1 Tông cơ bản 18
13.2 Định luật Fourier 18
13.3 am khảo 18
14 Trường độ 19 14.1 Xem thêm 19
14.2 am khảo 19
14.3 Nguồn, người đóng góp, và giấy phép cho văn bản và hình ảnh 20
14.3.1 Văn bản 20
14.3.2 Hình ảnh 20
14.3.3 Giấy phép nội dung 21
Trang 4Âm nhạc học
Âm nhạc học là ngành phân tích nghiên cứu về
âm nhạc Âm nhạc học là một phần của nhân văn
học.[1][2][3]
1.1 Chú thích
[1] John Haines, Eight Centuries of Troubadours and
Trouvères: e Changing Identity of Medieval Music
(Cambridge, 2004), '55
[2] For broad treatments, see the entry on “musicology” in
Grove’s dictionary, the entry on “Musikwissenscha”
in Musik in Geschichte und Gegenwart, and the classic
approach of Adler (1885)
[3] Adler, Guido (1885) Umfang, Methode und Ziel
der Musikwissenscha Vierteljahresschri ür
Musikwissenscha, 1, 5-20
1.2 Tham khảo
• Allen, Warren Dwight (1962) Philosophies of
Music History: a Study of General Histories of
Music, 1600-1960 New… ed New York: Dover
Publications N.B.: First published in 1939;
expanded and updated for republication in 1962
• Babich, Babee (2003) "Postmodern Musicology"
in Victor E Taylor and Charles Winquist, eds.,
Routledge Encyclopedia of Postmodernism, London:
Routledge, 2003 pp 153–159 ISBN 30886-1
978-0-415-• Bracke, David (1995) Interpreting Popular Music.
• Honing, Henkjan (2006) "On the growing role
of observation, formalization and experimentalmethod in musicology " Empirical Musicology Review.
• Kerman, Joseph (1985) Musicology London:
Fontana.ISBN 0-00-197170-0
• McClary, Susan, and Robert Walser (1988) “Start
Making Sense! Musicology Wrestles with Rock”
in On Record ed by Frith and Goodwin (1990), pp.
277–292.ISBN 0-394-56475-8
• McClary, Susan (1991) Feminine Endings Music, Gender, and Sexuality University of Minnesota
Press.ISBN 0-8166-1899-2(pbk)
• McClary, Susan (2000) “Women and Music on
the Verge of the New Millennium (Special Issue:
Feminists at a Millennium)", Signs 25/4 (Summer):
1283-1286
• Middleton, Richard (1990/2002) Studying Popular Music Philadelphia: Open University Press.ISBN0-335-15275-9
• Moore, A.F (2001) Rock: e Primary Text, 2nd
edn.,ISBN 0-7546-0298-2
• Parncu, Richard (2007) "Systematic musicologyand the history and future of Western musicalscholarship", Journal of Interdisciplinary Music Studies, 1, 1-32.
Trang 5• Randel, Don Michael, ed (4th ed 2003) Harvard
Dictionary of Music, pp 452–454 e Belknap
Press of Harvard University Press ISBN
0-674-01163-5
• Tagg, Philip (1979, ed 2000) Kojak - 50 Seconds of
Television Music: Toward the Analysis of Affect in
Popular Music, pp 38–45 e Mass Media Music
Scholar’s Press.ISBN 0-9701684-0-3
• Tagg, Philip (1982) “Analysing Popular Music:
eory, Method and Practice”, Popular Music, Vol.
2, eory and Method, pp 37–67
• van der Merwe, Peter (1989) Origins of the
Popular Style: e Antecedents of Twentieth
Century Popular Music. ISBN 0-19-816305-3
(1992)
• Winkler, Peter (1978) “Toward a theory of pop
harmony”, In eory Only, 4, pp 3–26., cited in
Moore (2003), p 9
• Nicholas COOK, “What is Musicology?", BBC
Music Magazine 7 (May, 1999), 31–3
Trang 6Âm giai
Âm giai hay gam (tiếng Anh: scale, tiếng Pháp: gamme)
là một dãy cácnốt nhạctheo thứ tự tăng dần hoặc giảmdần
2.1 Xem thêm
• Hợp âm
2.2 Tham khảo
2.3 Liên kết ngoài
• Gam nhạctạiTừ điển bách khoa Việt Nam
• ScaletạiEncyclopædia Britannica(tiếng Anh)
Trang 7Âm sắc
Trongâm nhạc, âm sắc được biết là phẩm chất của một
nốt nhạc hoặc âm thanh Âm sắc giúp phân biệt làmnhững loại nhạc cụ khác nhau Những tính chất vật lýcủa âm thanh ảnh hưởng đến sự nhận thức âm sắc baogồmphổ âmvàcường độ
Trong thanh âm học, âm sắc được biết đến như là “chấtlượng” âm thanh hay “màu sắc” của âm thanh
Ví dụ, âm sắc là cái mà người ta có thể dùng để phânbiệt một kènsaxophonevà một kèntrumpettrong mộtnhóm chơinhạc Jazz, ngay cả khi cả hai loại nhạc cụnày đang chơi những nốt nhạc có cùng cường độ và caođộ
3.1 Tham khảo
4
Trang 8Âm vực
Âm vực hay âm trình là độ rộng củacao độmà một
người có thể phát âm được Mặc dù nghiên cứu về
âm vực có rất ít ứng dụng thực tiễn trong những lĩnh
vực về âm ngữ, nhưng nó vẫn là một chủ đề nghiên
cứu củangôn ngữ học,ngữ âm học, âm ngữ bệnh học
(speech-language pathology), đặc biệt nó có liên quan
đến việc nghiên cứu những ngôn ngữ có thanh điệu
(tonal languages) và một số loại rối loạn phát âm Tuy
nhiên, ứng dụng lớn nhất của âm vực là trong lĩnh vực
ca hát Trong lĩnh vực này, âm vực được sử dụng như
một đặc điểm để xác định và phân loại giọng hát thành
những kiểuchất giọngkhác nhau.[1]
4.1 Định nghĩa của âm vực trong ca
hát
Định nghĩa rộng của âm vực chỉ đơn giản là khoảng
cách từ nốt thấp nhất đến nốt cao nhất mà một người
có thể phát âm được, tuy nhiên trong lĩnh vực ca hát
thì định nghĩa về âm vực lại khác Các giáo viên thanh
nhạc hướng tới việc xác định âm vực là khoảng cách
của những nốt “hữu ích đối với âm nhạc” mà mộtca sĩ
có thể hát được, vì một số các nốt mà một người có thể
phát ra có thể không được coi là hữu dụng cho các ca sĩ
khi trình diễn bởi nhiều lý do khác nhau.[2]Ví dụ, trong
operatất cả các ca sĩ phải trình diễn với một dàn nhạc
mà không có sự trợ giúp củamicrô, do đó họ chỉ có thể
hát trong âm vực gồm những nốt có thể nghe được rõ
ràng Ngược lại, âm vực của một nghệ sĩ nhạcpoplại
gồm những nốt có thể nghe được với sự trợ giúp của
một cái micrô
Một yếu tố khác nữa là việc sử dụng các hình thái khác
nhau trong phát âm.Con ngườicó khả năng phát ra
âm thanh bằng cách sử dụng các quá trình sinh lý khác
nhau trongthanh quản Những hình thái khác nhau
của phát âm được gọi là nhữngquãng giọng Trong khi
những con số và định nghĩa chính xác về quãng giọng
là một chủ đề gây tranh cãi trong lĩnh vực ca hát, thì các
ngành khoa học xác định chỉ có bốn khoảng âm: giọng
siêu cao (whistle register), giọng giả hay giọng mũi
(falseo register), modal và vocal fry ông thường,
âm vực được xác định trong quãng giọng modal, là
quãng giọng mà khi nói hoặc hát bình thường người
ta thường sử dụng Tuy nhiên, một số trường hợp khác
âm vực bao gồm thêm những quãng giọng khác.[1]Ví
dụ, trong opera,giọng phản nam cao(countertenor) lạithường xuyên sử dụng quãng giọng falseo vàgiọng
nữ cao màu sắc(coloratura soprano) hay dùng quãnggiọng headvoice trên C6 nghe rất giống với whistle Do
đó, những kiểu giọng sẽ bao gồm những nốt trong cácquãng giọng thuộc phạm vi âm vực của họ Tuy nhiên,trong hầu hết các trường hợp thì chỉ có các nốt mà ca
sĩ có thể sử dụng được trong quãng giọng modal đượctính vào khi xác định âm vực của ca sĩ đó.[2]
4.2 Chú thích
[1] McKinney, James (1994) e Diagnosis and Correction of
Vocal Faults Genovex Music Group.ISBN 940-0
978-1-56593-[2] Appelman, D Ralph (1986) e Science of Vocal
Pedagogy: eory and Application Đại học Indiana
Press.ISBN 978-0-253-20378-6
Trang 9Âm vực nhạc cụ
6
Trang 11Thành phần dàn nhạc cổ điển 7.1 Tham khảo
8
Trang 12Cao độ (âm nhạc)
Trong ký âm, vị trí của các nốt khác nhau cho thấy cao độ khác
nhau &
Cao độ là một đặc tính củatri giáccho phép người ta
có thể sắp xếp những âm thanh khác nhau thành một
chuỗi những âm có mối tương quan với nhau vềtần số
dao động,[1]tức cao độ là độ “cao”, “thấp” của âm thanh
phụ thuộc vào tần số dao động.[2]Tần số dao động càng
lớn thì âm thanh càng “cao” và ngược lại Cao độ cùng
vớitrường độ,cường độvàâm sắclà 4 thuộc tính chính
của âm thanh có nhạc tính.[3]
Cao độ có thể được định lượng nhưtần số, nhưng nó
không phải là một tính chất thuần túy khách quan
thuộcvật lý, mà nó là một thuộc tính chủ quan thuộc
tâm lý âm học (tâm thính học; psychoacoustic) của âm
thanh Việc nghiên cứu về cao độ và sự nhận thức về
cao độ đã từng là một vấn đề trọng tâm trong ngành
tâm lý âm học, và nó từng được dùng làm phương tiện
trong sự định hình và kiểm nghiệm những nguyên lý
về đặc tả âm thanh, về quá trình xử lý và nhận thức
trong hệ thốngthính giác.[4]
8.1.1 Cao độ và tần số
Cao độ là mộtcảm giáccủathính giác, trong đó người
nghe có thể ấn định được những âm thanh vào các vị
trí tương đối trên một thước đo chủ yếu dựa vào tần số
Mối tương quan giữa tần số và nhận thức về cao độ.
rung.[5]Cao độ có quan hệ chặt chẽ với tần số, nhưngkhông phải là một mối quan hệ tương đương Tần số
là một khái niệm khoa học khách quan, trong khi cao
độ là một phạm trù mang tính chủ quan Bản chất củacácsóng âmkhông có cao độ, vàdao độngcủa chúng
có thể được đo đạc với kết quả là tần số Nhưng tần sốnày khiến não bộ của con người sắp đặt thành nhữngtiêu chuẩn chủ quan về cao độ
Các cao độ thường được xác định như là những tần số(số dao động trong 1 giây hoặc hertz) bằng cách so sánhnhững âm này với nhữngđơn âmlà những âm có chu
kỳ và dạng sóng nhưsóng sin Có thể xác định cao độcủa những sóng âm có dạng phức tạp và không tuầnhoàn bằng cách này.[6][7][8] Trong hầu hết các trườnghợp, cao độ của những âm thanh phức tạp như giọngnói hoặc nốt nhạc gần giống như tần số của những âmthanh có chu kỳ tuần hoàn hoặc gần tuần hoàn.[7][8]
Cao độ của những âm phức tạp có thể được cảm nhậnrất mơ hồ, có nghĩa là tùy vào người nghe mà có thểcảm nhận được sự khác nhau giữa hai hoặc nhiều nốtnhạc.[4]Tuy tần số cơ bản thực tế (tần số chính của âm)
có thể được xác định bằng các dụng cụ đo đạc, nhưng
nó vẫn gây ra những cảm nhận khác nhau về cao độ,nguyên nhân là do nhữngbồi âm,sóng hàihay nhữngnguyên do khác Sự cảm nhận của hệ thống thính giáccủa con người có thể gặp khó khăn trong việc phânbiệt các tần số khác nhau của các nốt nhạc trong những
Trang 13(cường độ, âm lượng), đặc biệt là ở tần số dưới 1000Hz
và trên 2000 Hz Cao độ của âm trầm sẽ cảm thấy thấp
dần khi tăng áp lực âm thanh (tăng âm lượng) Ví dụ,
một âm thanh có tần số 200 Hz nếu nghe trong điều
kiện âm lượng lớn sẽ cảm thấy cao độ của nó thấp hơn
bán cungso với cao độ khi nghe âm này với âm lượng
vừa đủ nghe Trên 2000 Hz, cao độ sẽ cao hơn khi âm
lượng lớn hơn.[9]
8.1.2 Ngưỡng phân biệt
Ngưỡng phân biệt (just-noticeable difference/jnd:
ngưỡng của sự thay đổi mà có thể cảm nhận được) phụ
thuộc vào lượng thay đổi của tần số âm thanh Dưới 500
Hz, ngưỡng phân biệt nằm ở khoảng 3 Hz đối vớisóng
sin, và 1 Hz đối với âm thanh phức tạp, trên 1000 Hz
thì ngưỡng phân biệt đối với sóng sin là khoảng 0.6%
(khoảng 10cent).[10] Ngưỡng phân biệt thường được
thử nghiệm bằng cách phát 2 âm liên tiếp xem người
nghe có thể cảm nhận được sự khác biệt của cao độ
hay không.[9] Ngưỡng phân biệt trở nên nhỏ hơn nếu
hai âm được phát cùng một lúc vì khi đó người nghe có
thể phân biệt đượchiện tượng phách Tổng số cao độ
có thể cảm nhận được trong phạm vingưỡng nghecủa
con người là khoảng 1400, tổng số nốt nhạc trong âm
giai điều hòa âm từ 16 đến 16000 Hz là 120 nốt.[9]
8.1.3 Cao độ: cao và thấp
eoViện Tiêu chuẩn ốc gia Hoa Kỳ, cao độ là thuộc
tính thính giác của âm thanh, theo đó âm thanh có thể
được đặt trên một thang đo từ thấp đến cao Kể từ khi
cao độ được xem như là một đại lượng liên quan chặt
chẽ đến tần số thì nó gần như được xác định bằng tốc
độ dao động của không khí gây ra bởi sóng âm và hầu
như không liên quan gì với cường độ, hoặc biên độ của
sóng Cao độ “cao” có nghĩa là dao động rất nhanh, và
cao độ “thấp” tương ứng với dao động chậm hơn Mặc
dù vậy ở phần lớn cácngôn ngữđều dùng những đặc
ngữ liên quan đến "độ cao” của âm thanh để chỉ “cao
độ".[11]Có bằng chứng chứng minh rằng con người thật
sự cảm nhận được một nguồn âm thanh phát ra từ vị
trí cao hơn hoặc thấp hơn theo chiều không gian thẳng
đứng khi tần số âm thanh tăng hoặc giảm.[11]
[1] Anssi Klapuri and Manuel Davy (2006) Signal
processing methods for music transcription Springer tr.
8.ISBN 978-0-387-30667-4
[2] Plack, Christopher J.; Andrew J Oxenham, Richard R
Fay, eds (2005) Pitch: Neural Coding and Perception.
Springer.ISBN 0-387-23472-1 For the purposes of this
we define pitch as 'that aribute of sensation whosevariation is associated with musical melodies.' Althoughsome might find this too restrictive, an advantage ofthis definition is that it provides a clear procedure fortesting whether or not a stimulus evokes a pitch, and aclear limitation on the range of stimuli that we need toconsider in our discussions
[3] Roy D Paerson, Etienne Gaudrain, and omas C.Walters (2010) “e Perception of Family and Register
in Musical Tones” Trong Mari Riess Jones, Richard R.Fay, and Arthur N Popper.Music Perception Springer.
tr 37–38.ISBN 978-1-4419-6113-6.[4] Hartmann, William Morris (1997).Signals, Sound, and Sensation Springer tr 145, 284, 287.ISBN 1-56396-283-
7.[5] Plack, Christopher J.; Andrew J Oxenham, Richard R.Fay, eds (2005) Pitch: Neural Coding and Perception.
Springer.ISBN 0-387-23472-1.[6] Robert A Dobie and Susan B Van Hemel (2005)
Hearing loss: determining eligibility for Social Security benefits National Academies Press tr 50–51.ISBN 978-0-309-09296-8
[7] E Bruce Goldstein (2001) Blackwell handbook of perception(ấn bản 4) Wiley-Blackwell tr 381 ISBN978-0-631-20683-5
[8] Richard Lyon and Shihab Shamma (1996) “AuditoryRepresentation of Timbre and Pitch” Trong Harold
L Hawkins and Teresa A McMullen Auditory Computation Springer tr 221–223. ISBN 978-0-387-97843-7
[9] Olson, Harry F.(1967).Music, Physics and Engineering.
Dover Publications tr 171, 248–251.ISBN
0-486-21769-8.[10] B Kollmeier, T Brand, and B Meyer (2008) “Perception
of Speech and Sound” Trong Jacob Benesty, M MohanSondhi, Yiteng Huang Springer handbook of speech processing Springer tr 65.ISBN 978-3-540-49125-5.[11] Carroll C Pra (1930) “e spatial character of highand low tones.” Journal of Experimental Psychology 13:
278–85
8.3 Đọc thêm
• Moore, B.C & Glasberg, B.R (1986) resholds
for hearing mistuned partials as separate tones inharmonic complexes J Acoust Soc Am., 80, 479–483
• Parncu, R (1989) Harmony: A psychoacoustical
approach Berlin: Springer-Verlag, 1989