Mặc dù thếvẫn có nhiều nhóm gồm các tác giả văn-ca-kịch cộngtác với nhau để viết nên tác phẩm, ví dụ như làMozart cùng vớiLorenzo da Ponte.Nhạc Opera truyền thống gồm có 2 cách hát: hát
Trang 1ể loại:Nhạc thểva nhip dieu
Trang 2Mục lục
1.1 Một số hình thức bài hát 1
1.2 am khảo 1
2 Chaconne 2 2.1 Chú thích 2
2.2 Liên kết ngoài 2
3 Nét ủ đạo 3 3.1 Chú thích 3
3.2 Đọc thêm 3
4 Opera 4 4.1 uật ngữ học Opera 4
4.2 Về lịch sử 5
4.3 am khảo 5
4.4 Chú thích 6
4.5 Liên kết ngoài 6
5 Rondo 7 5.1 am khảo 7
6 Tổ khúc 8 6.1 Lịch sử[1] 8
6.1.1 ời kỳ âm nhạc Phục hưng 8
6.1.2 ời kỳ âm nhạc Baroque 8
6.1.3 ời kỳ âm nhạc Cổ điển 9
6.1.4 ời kỷ âm nhạc Lãng mạn 9
6.1.5 ế kỷ XX 9
6.2 Một số bản tổ khúc nổi tiếng 9
6.2.1 Vivaldi 9
6.2.2 Bach 9
6.2.3 Handel 9
6.2.4 Tchaikovsky 9
i
Trang 3ii MỤC LỤC
6.2.5 Grieg 9
6.2.6 Holst 9
6.3 Chú thích 9
7 Dấu mắt ngỗng 10 7.1 Hình thức 10
7.1.1 Trong phần mềm vi tính 10
7.2 Lịch sử và cách dùng 10
7.2.1 Ngày nay 11
7.3 Chú thích 11
7.4 am khảo 11
8 Điệu 12 8.1 Nhân chủng học 12
8.2 uật ngữ 13
8.2.1 Phách vả trường canh 13
8.2.2 Đơn vị và kí hiệu 14
8.2.3 Phách mạnh, phách nhẹ và sự lặp lại 14
8.2.4 Nhịp độ và trường độ 14
8.2.5 Cấu trúc của nhịp 15
8.3 Điệu hỗn hợp 16
8.4 Ký hiệu Điệu 16
8.5 Những khóa học về chương trình Văn học/ Luyện tập nâng cao 16
8.5.1 Âm nhạc Châu Phi 16
8.5.2 Âm nhạc Ấn Độ 17
8.5.3 Âm nhạc phương Tây 17
8.6 Ngôn ngữ học 17
8.7 Trong văn hóa quần chúng 18
8.8 am khảo 18
8.9 Đọc thêm 19
8.10 Liên kết ngoài 20
9 Nhịp 21 9.1 Xem thêm 21
9.2 am khảo 21
9.3 Đọc thêm 23
9.4 Liên kết ngoài 23
10 Nhịp (âm nhạc) 24 10.1 Hình thức và chức năng của vạch nhịp 24
10.2 Nhịp lấy đà 24
10.3 Lịch sử 24
10.4 am khảo 24
Trang 4MỤC LỤC iii
11.1 Đo nhịp độ 25
11.2 Xem thêm 25
11.3 Liên kết ngoài 25
12 Ostinato 26 12.1 am khảo 26
13 Trường độ 27 13.1 Xem thêm 27
13.2 am khảo 27
13.3 Nguồn, người đóng góp, và giấy phép cho văn bản và hình ảnh 28
13.3.1 Văn bản 28
13.3.2 Hình ảnh 28
13.3.3 Giấy phép nội dung 30
Trang 5Chương 1
Bài hát
Bài hát (các từ đồng nghĩa trongtiếng Việt: bài ca, ca
khúc hay khúc ca) thường là một sản phẩmâm nhạc,gồm có phần lời hát và giai điệunhạc ông thườngbài hát được thể hiện bằng giọng hát củacon ngườivàcácnhạc cụsẽ chơi đệm cho giọng hát đó ường thìmột bài hát có thể được trình diễn đơn ca (một ngườihát), song ca (hai người hát), tam ca (ba người hát), tứca hay nhiều người cùng biểu diễn (đồng ca) và lớnhơn nữa làhợp xướng Lời bài hát có thể được lấy từmộtbài thơ Bài hát có thể được chia theo nhiều thể
loại như dân ca, bài hát hiện đại Các thể loại khác để
xếp loại bao gồm mục đích thể hiện (thánh ca), phongcách thể hiện (theo nhạc nhảy, tình ca…) hay theo thờigian sáng tác (Phục hưng, Hiện đại…)
Trong âm nhạc hiện đại, ngườinhạc sĩsáng tác có thểviết nhạc dựa trên một lời hát đã có sẵn của bản thân
hoặc của một tác giả khác á trình này gọi là phổ nhạc Ngược lại, một bài hát có thể ra đời với ý tưởng
của người nhạc sĩ, phần âm nhạc được viết trước, rồimới đến phần lời
Bài hát thường được ca sĩ biểu diễn vì nó thuộc tácphẩm có lời Khi một tác phẩm âm nhạc được dàn nhạc
trình diễn không có người hát, nó được coi là hòa tấu.
Trang 6Chương 2
Chaconne
Chaconne (tiếng Pháp:[ʃaˈkɔn]); tiếng Tây Ban Nha:
chacona;tiếng Ý: ciaccona (tiếng Ý:[tʃakˈkoːna]) là mộtloại tác phẩm âm nhạc phổ biến trong thời kỳBaroque
Ban đầu Chaconne như là một điệu nhảy phát triển ở
Tây Ban Nhavào thế kỷ 16 và bắt đầu phát triển thànhphong trào.[1]
2.1 Chú thích
[1] Alexander Silbiger, “Chaconne,” e New Grove Dictionary of Music and Musicians, ed. Stanley Sadieand J Tyrrell (London: Macmillan, 2001)
2.2 Liên kết ngoài
• Passacaglias and Chaconnes for Lute
2
Trang 7Chương 3
Nét chủ đạo
Nét ủ đạo (tiếng Anh: leitmotif/ˌlaɪtmoʊˈtiːf/) là một
"tiết nhạcngắn và lặp đi lặp lại liên tục”[1]gắn liền với
một người, địa điểm hoặc ý tưởng cụ thể Nó có liên hệ
chặt chẽ đến khái niệm âm nhạc idée fixe hay
moo-theme.[2] uật ngữ này là một từ Anh hóa từtiếng
Đứccủa Leitmotiv, tạm hiểu là “nhạc tố dẫn đầu”, hoặc
có thể chính xác hơn là “nhạc tố chỉ đạo” Mộtnhạc tố
được định nghĩa là "ý nhạc ngắn … du dương, hài hòa
hay theo nhịp, hoặc [kết hợp] cả ba”,[3]mộtnhịp nhạc
bất kỳ nổi bật, đoạn nhạc hay các nốt tiếp theo có một
số ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong hoặc đặc trưng
củabài nhạc đang soạn".[4]
Mặc dù thường là mộtgiai điệungắn, nét chủ đạo cũng
có thể là mộtchuỗi hợp âmhoặc thậm chí là một nhịp
điệu đơn giản Nét chủ đạo có thể giúp để ràng buộc
các phần nhạc lại với nhau thành một khối mạch lạc,
và cũng cho phép các nhà soạn nhạc liên tưởng đến
một câu chuyện mà không cần dùng lời nói, hoặc để
cung cấp thêm cho câu chuyện đã được trình bày eo
thời gian làm pha trộn, từ này cũng đã được sử dụng
để định nghĩa là bất kỳ loại chủ đề trongvăn học, hoặc
(theo nghĩa bóng) cuộc đời của một nhân vật hư cấu
hoặc một con người ngoài đời thật Đôi khi nó cũng
được dùng trong cuộc thảo luận về các thể loại âm nhạc
khác, chẳng hạn như phối cụ, điện ảnh vànhạc trò chơi
điện tử, đôi khi lẫn lộn với loại hình tổng quát hơn gọi
lànhạc chủ đề Việc sử dụng như vậy thường làm lu mờ
các khía cạnh quan trọng của nét chủ đạo-trái ngược
• eodor Adorno, tr Rodney Livingstone, In Search
of Wagner, London 2005 (ISBN 978-1-84467-344-5)
• Peter Burbidge and Richard Suon, e Wagner Companion, London, 1979.ISBN 0-571-11450-4
• R Donnington, Wagner’s 'Ring' and its Symbols,
London, 1979
• William Drabkin, 'Motif', in New Grove Dictionary
of Music, London 1995, vol 12
• Donald Jay Grout and Hermine Weigel Williams (2003) A Short History of Opera (4th ed.) Columbia
University Press.ISBN 0-231-11958-5
• H Rosenthal and J Warrack (eds.), Concise Oxford Dictionary of Opera, Oxford 1979
• Michael Kennedy, e Concise Oxford Dictionary
of Music, Oxford, 1987.ISBN 978-0-19-311320-6
• Barry Millington (ed.), e Wagner Compendium,
London 1992
• Alexander Rehding, review of Christian orau,
“Semantisierte Sinnlichkeit: Studien zu Rezeptionund Zeichenstruktur der Leitmotivtechnik
Richard Wagners” in Opera arterly vol 23
(Oxford, 2007) pp 348–351
• Christian orau, “Guides for Wagnerites:
Letimotifs and Wagnerian Listening”, in T Grey,
(ed.), Richard Wagner and his World, (pp 133–150)
Trang 8Chương 4
Opera
Nhà hát opera Palais Garnier ở Paris
Opera là một loại hìnhnghệ thuậtbiểu diễn, cũng là
một dạng của kịch mà những hành động diễn xuất của
nhân vật hầu hết được truyền đạt toàn bộ qua âm nhạc
và giọng hát Opera bắt đầu xuất hiện và biết đến nhiều
vào tầm khoảng nhữngnăm 1600 Nhìn chung nó có sự
liên kết với âm nhạc cổ điển của phương Tây.[1]
Mặt khác, Opera đồng thời cũng sử dụng các yếu tố của
ngôn ngữ nhà hát như là: cảnh nền trang trí, y phục, và
nghệ thuật biểu diễn trên sân khấu Mặc dù thế, nhìn
chung ta nhận thấy Opera cũng có điểm phân biệt với
các thể loại nhạc kịch khác, đó chính là việc sử dụng sức
mạnh của các nhạc điệu và sự hoà nhịp của kĩ thuật âm
thanh điêu luyện Người ca sĩ trình bày tác phẩm cùng
với sự đệm nhạc của một dãy dàn nhạc được sắp xếp từ
một nhóm các công cụ nhỏ cho đến cả một ban nhạc
giao hưởng đầy đủ êm vào đó, Opera cũng có thể
được kết hợp với khiêu vũ và nhảy múa (đây là một
loại hình nghệ thuật tiêu biểu của nước Pháp) Và cuối
cùng, Opera được biểu diễn trong một nhà hát riêng
biệt cùng với những trang bị thiết yếu cho việc biểu
diễn, mà ta được biết đến dưới tên gọi là “Opera House”
(Nhà hát Opera)
4.1 Thuật ngữ học Opera
Nghĩa chính xác của từ Opera được hiểu là “lời nhạc
kịch” (theo nghĩa văn học chuyên môn là “cuốn sách
nhỏ") Một vài nhà soạn nhạc, đặc biệt chúng ta kể đến
ở đây làRichard Wagner, đã tự viết lời nhạc Mặc dù thếvẫn có nhiều nhóm gồm các tác giả văn-ca-kịch cộngtác với nhau để viết nên tác phẩm, ví dụ như làMozart
cùng vớiLorenzo da Ponte.Nhạc Opera truyền thống gồm có 2 cách hát: hát nói(đây là 1 thể loại đặc trưng của Opera thông qua việchát mà không cần giai điệu đệm) và bài hát phối khígiọng hát (khí sắc hoặc là một bài hát mang tính hìnhthức), trong đó cảm xúc của nhân vật sẽ được bày tỏqua những tổ hợp giai điệu trầm bổng Hát đôi, hát bahoặc là sự hòa âm thường được biểu diễn, và nhữngđoạn đồng thanh thường được sử dụng để bình luận vềnhững diễn biến trên sân khấu
Trong một vài hình thức khác của Opera, như làSingspiel, ópera comique, ca vũ kịch Opera và semi-opera, phần hát nói sẽ được thay thế hầu hết cho nhữngđoạn văn trò chuyện Giai điệu hoặc là một phần giaiđiệu sẽ được dạo lên vào khúc giữa hoặc là thay thếmột phần nào đó trong khi hát nói, mà hầu hết đều lànhững giai điệu âm nhạc nắm vai trò chủ đạo
Trong suốt thời kì phong trào nghệ thuật Ba-rốc (tầmkhoảng cuối thế kỉ 16 ở châu Âu) và thời kì Cổ điển, hátnói thường được xuất hiện qua hai loại hình cơ bản:
1 Secco (hát nói nhanh), thường được hợp tấu với lối
hát bè chạy nối đuôi nhau, trong đó thường đượcbiểu diễn vùng với đàn davico
2 Accompagnato (có nghĩa là hát nói hợp tấu, cũng
được hiểu như là “stromentato”) mà trong đó cảban nhạc sẽ cùng hợp tấu với nhau Do đó, trongthể loại này có ít sự ứng khẩu qua lại và tính chấthùng biện hơn thể loại secco, nhưng lại thường
có nhiều âm điệu hơn Đây là loại hình thườngxuyên được biểu diễn trong dàn nhạc để nhấnmạnh những phần diễn tiến đặc sắc của nhạc kịch.Vào thế kỉ 19, accompagnato đạt được những bướcphát triển nhảy vọt, do đó ban nhạc ngày càngđóng vai trò quan trọng hơn
Richard Wagner đã đổi mới Opera bằng cách hủy bỏhầu hết sự điểm khác biệt giữa bài hát phối khí dànhriêng cho một giọng hát và hát nói Trong quan điểm4
Trang 94.3 THAM KHẢO 5
mới ấy, ông ấy đạt cho nó tên gọi “những giai điệu vô
tận” eo sau đó, những nhà soạn nhạc khác cũng đi
theo tiền lệ của Wagner, tuy nhiên cũng có vài người,
như là Stravinsky trong tác phẩm e Rake’s Progress
đã khuyến khích và rất phấn khởi với xu hướng này
4.2 Về lịch sử
Từ Opera có nghĩa là “công việc” trong tiếng Ý(bắt
nguồn từ số nhiều của tiếng Latinh: opus có nghĩa là
“công việc” hoặc là “lao động”) được đề xướng bời sự
kết hợp giữa loại hình nghệ thuật trình diễn đơn ca và
hát hợp xướng, sự ngâm thơ, nghệ thuật đóng và khiêu
vũ trên những sân khấu có trang trí quang cảnh minh
họa
Jacopo Periđã sáng tác tác phẩm Dafne Dafne được
xem như là 1 bài Opera sớm nhất trong lịch sử mà
chúng ta biết đến về loại hình này cho đến tận ngày
hôm nay Tác phẩm được viết vào khoảng những năm
1597, phần lớn được sáng tác dưới cảm hứng của 1
nhóm những nhà nghiên cứu văn hóa cổ điển vùng
Florentine (ở Ý), với những cảm xúc tinh túy nhất
về văn học mà ta thường được biết đến dưới cái tên
“Camerata” an trọng hơn hết, tác phẩmDafnelà sự
cố gắng phục hồi lai thể loạikịch cổ điểncủaHy Lạp,
một phần nữa cũng là sự hồi sinh trở lại những đặc tính
mang tính chất cổ xưa của thời kì Phục hưng Những
thành viên của Camerata đã cân nhắc, xem xét kỹ phần
"điệp khúc” của thể loại kịch Hy Lạp Với hi vọng nó có
thể có một cách hát độc đáo hơn và thay thế cho vai trò
của toàn bộ những đoạn văn nói trong tác phẩm Vậy
thì, ở đây Opera có thể được quan niệm là một cách
thức “phục hồi” lại hoàn cảnh Nhưng thật không may
mắn, tác phẩm Dafne đã bị thất lạc
Một công trình tiếp theo sau đó được viết bởi Peri, tác
phẩm “Euridice”, được xác định viết từ năm 1600, đó
chính là bản hòa âm Opera đầu tiên mà vẫn còn tồn
tại cho đến ngày hôm nay Để thể hiện long tôn kính
với tác phẩm Opera đầu tiên, người ta vẫn thường biểu
diễn tác phẩm đó một cách đều đặn trong các buổi trình
diễn Mặc dù thế, sau đấy tiếp tục vẫn có sự đóng góp
của tác phẩm Orfeo do Claudio Monteverdi sáng tác để
phục vụ cho cung điện trong năm 1607
4.3 Tham khảo
• Apel, Willi, ed (1969) Harvard Dictionary of
Music, Second Edition Cambridge, Massachuses:
e Belknap Press of Harvard University Press
SBN 674375017
• Cooke, Mervyn (2005) e Cambridge Companion
to Twentieth-Century Opera. Cambridge:
Cambridge University Press.ISBN 0-521-78009-8
See also Google Bookspartial preview Truy cậpngày 3 tháng 10 năm 2009
• Silke Leopold, “e Idea of National Opera, c 1800”, United and Diversity in European Culture c.
1800, ed. Tim Blanningvà Hagen Schulze (NewYork: Oxford University Press, 2006), 19–34
• e New Grove Dictionary of Opera, edited by
Stanley Sadie(1992), 5,448 pages, is the best, and
by far the largest, general reference in the Englishlanguage.ISBN 0-333-73432-7andISBN 1-56159-228-5
• e Viking Opera Guide, edited byAmanda Holden
(1994), 1,328 pages,ISBN 0-670-81292-7
• e Oxford Illustrated History of Opera, ed Roger
Parker (1994)
• e Oxford Dictionary of Opera, byJohn Warrack
and Ewan West (1992), 782 pages, ISBN 869164-5
0-19-• Opera, the Rough Guide, by Mahew Boyden et al.
(1997), 672 pages,ISBN 1-85828-138-5
• Opera: A Concise History, by Leslie Orrey and
Rodney Milnes, World of Art, ames & Hudson
• DiGaetani, John Louis: An Invitation to the Opera,
Anchor Books, 1986/91.ISBN 0-385-26339-2
• Dorschel, Andreas, 'e Paradox of Opera', e Cambridge arterly 30 (2001), no 4, pp 283–306.
ISSN (printed): 0008-199X ISSN (electronic):
1471-6836 Discusses the aesthetics of opera
• MacMurray, Jessica M and Allison Brewster Franzei: e Book of 101 Opera Libreos: Complete Original Language Texts with English Translations, Black Dog & Leventhal Publishers,
• Simon, Henry W.: A Treasury of Grand Opera,
Simon and Schuster, New York, 1946
• Howard Mayer Brown, “Opera”, e New Grove
Dictionary of Music and Musician 2001 OxfordUniversity Press
• “Louis II”, Encyclopædia Britannica.http://www.britannica.com/EBchecked/topic/348741/Louis-II
• “Opera”, Encyclopædia Britannica. http://www.britannica.com/EBchecked/topic/429776/opera
• Grout, Donald Jay A Short History of Opera
One-vol ed New York: Columbia University Press,1947
Trang 106 CHƯƠNG 4 OPERA
4.4 Chú thích
[1] Some definitions of opera: “dramatic performance or
composition of which music is an essential part, branch
of art concerned with this” (Concise Oxford English
Dictionary); “any dramatic work that can be sung (or at
times declaimed or spoken) in a place for performance,
set to original music for singers (usually in costume)
and instrumentalists” (Amanda Holden, Viking Opera
Guide); “musical work for the stage with singing
characters, originated in early years of 17th century”
(Pears Cyclopaedia, 1983 ed.)
4.5 Liên kết ngoài
• Operabase – Comprehensive opera performances
database
• StageAgent – synopses & character descriptions
for most major operas
• What’s it about? – Opera plot summaries
• OperaGlass, a resource at Stanford University
• HistoricOpera – historic operatic images
• “America’s Opera Boom”By Jonathan Leaf, e
American (magazine), July/August 2007 Issue
• Opera~Opera article archives
• “A History of Opera” eatre and Performance.
Victoria and Albert Museum Truy cập ngày 15
tháng 2 năm 2011
Trang 12Chương 6
Tổ khúc
Tổ khúc là một thể loạikhí nhạc nổi tiếng ể loại
nhạc cổ điểnnày, cũng giống như nhiều thể loại khác,
phát triển từ thời đạiPhục hưng Sau đó, nó có bước
phát triển mạnh mẽ vàothời kỳ âm nhạc Baroque, trước
khi phải nhường chỗ cho rất nhiều thể loạiâm nhạc
khác gồmsonata,concertovàgiao hưởngvàothời kỳ
âm nhạc Cổ điển Tiếp theo, nó phát triển mạnh mẽ
nhất vàothời kỳ âm nhạc Lãng mạn, rồi thể loại này có
phần thoái trào vàothế kỷ XX Tổ khúc là thể loại âm
nhạc nhiều phần, số lượng các phần thì còn tùy thuộc
vàongườisáng tác
6.1 Lịch sử[1]
Tổ khúc xuất phát từ việc ghép các vũ khúc lại với
nhau Việc làm này có từthế kỷ XIV Tuy nhiên, tác
phẩm được coi là bản tổ khúc đầu tiên làSuyes de
bransles, một tác phẩm đượcEstienne du Tertresáng
tác vàonăm 1557 Đó không phải là một tổ khúc thực
sự vì tác phẩm này chỉ đơn thuần là kết quả của việc
ghép hơn là việc hình thành một chuỗi được chơi thực
sự Phần lớn các nhóm vũ khúc từthập niên 1540cho
đến cuốithế kỷ XVIđều là các cặp tác phẩm Đến bước
ngoặt củathế kỷ, cácnhà soạn nhạcở nướcAnhbắt đầu
việc mở rộng quy mô của tổ khúc bằng việc thay vì chỉ
ghép các vũ khúc với nhau, họ ghép các nhóm vũ khúc
với nhau Nhưng tác phẩm đầu tiên được xuất bản với
tư cách là tổ khúc được hình thành do ghép đồng bộ là
Newe Padouan, Intrada, Däntz und Galliarda, tác phẩm
được sáng tác vàonăm 1611củaPaul Peuerl.Bancheo
musicale(tác phẩm củaJohann Schein, được sáng tác
vào năm1617) cũng là một cột mốc trong lịch sử của tổ
khúc bởi tính thống nhất các vũ khúc của nó
Tóm tắt chung
Ở thời kỳ này, tổ khúc có một định nghĩa, đó là: Là
một thể loại gồm một số chương, biết tất cả hay một
vài trong chúng có mang hình thức và tính chất của vũ
khúc Và tên gọi cho nhóm vũ khúc thì cũng chẳng ít:
Partita,overture,orduevàSonata da camera
Sự phát triển và bên lề
Sự phát triển của tổ khúc thời kỳ này có thể được chialàm 3 giai đoạn:
Giai đoạn A-C-S Đây là những chữ cái đầu của
allemande,courantevàsarabande Đóng góp vào giaiđoạn này đó là cácnghệ sĩ đàn luteởParisvà các bậcthầy về vũ khúc ởcung đìnhcủaPháp Tác phẩm tiêubiểu đó làTablature de mandore de la composition du Sieur Chancy(1629)
Giai đoạn thêm cả gigue (G) Khi gigue được chấpnhận một cách thưa thớt, không chỉ quy mô của nhóm
vũ khúc trên mà cả vị trí của các vũ khúc trong nhómcũng thay đổi Trường hợp củaJohann Jakob Froberger
là tiêu biểu Trong các tác phẩm của Froberger, có khilại là A-C-S-G (trường hợp này hiếm hơn), có khi lại làA-G-C-S, trong đó cấu trúc A-G-C-S được phát triển
để trở thành đặc trưng của các nhà soạn nhạc Đứcthời kỳ này Gigue không gây chú ý đối với ngườiAnh Còn ở Pháp, trong triều đại của Louis XIV, A-C-S-G được đi kèm với các vũ khúc khác Cũng phảinói thêm rằng người Pháp có những sáng tác riêngcủa mình cho thể loại tổ khúc Bằng chứng là các tổkhúc dành choharpsichordcủa nhữngLouis Couperin,
Jean-Henri d'Anglebertvà các nhà soạn nhạc khúc gồmprelude không nhịp và các tác phẩm đã có từ trước đượcxếp với nhau Hay trường hợp củaJean-Baptiste Lully
sáng tác hẳn một overture đứng trước một tổ khúc nào
đó, trở thành bộ overture-tổ khúc
Thời kỳ của Johann Sebastian Bach và George
nhạc Baroque này đã viết các tổ khúc của mình theo cấutrúcprelude, tức là A-C-S-X-G (với X là một hay nhiều
vũ khúc (cặp vũ khúc) thêm vào) Tuy nhiên, có vẻ Bachquan tâm đến các thể loại này hơn Các tác phẩm tiêubiểu của Bach đó làTổ khúc Anh,Tổ khúc Pháp, ba bảnpartita choviolin, sáu bản tổ khúc chocellovà một số8
Trang 136.3 CHÚ THÍCH 9
bản partita cho harpsichord Điều đó không có nghĩa
là Handel không có những tổ khúc xuất sắc nhưNhạc
nướcvàÂm nhạc cho lễ hội pháo hoa của Hoàng gia Ở
Đức cũng xin kể thêm trường hợp củaGeorg Philipp
Telemannkhi ông khẳng định sáng tác không ít hơn
200 tổ khúc
Tổ khúc mất hẳn vị trí quan trọng của mình trong con
mắt của các nhà soạn nhạc thời kỳ này Các tổ khúc bị
coi là các bài luyện tập cổ xưa và dĩ nhiên, cố tìm một
bản tổ khúc nổi bật vào lúc này là điều gần như quá sức
Vất vả lắm ta mới tìm được trường hợp củaWolfgang
Amadeus Mozartvới bảnTổ khúc cung Đô trưởng, K
399/385i
Tuy nhiên, khác với các vị tiền bối của mình, các nhà
soạn nhạc Lãng mạn đã chú ý hơn đến thể loại này Tuy
nhiên, thay vì được sử dụng với định nghĩa tập hợp các
vũ khúc với nhau, hai từ “tổ khúc” lại được sử dụng như
tiêu đề của một bộ tuyển chọn dành chodàn nhạc giao
hưởng(Lully trước đó cũng có các tổ khúc dành cho
dàn nhạc, nhưng định nghĩa của thời Lully khác hẳn)
được rút ra từ một tác phẩm lớn, đặc biệt là từballetvà
opera, hay là một chuỗi các khúc nhạc kết nối với nhau
một các lỏng lẻo theo một chương trình mang tính mô
tả (Những hành tinhcủaGustav Holst) hay mang tính
ngoại lại hoặc dân tộc (trường hợp củaEdvard Grieg,
Pyotr Ilyich Tchaikovsky, Nikolay Rimsky-Korsakov
vàJean Sibelius)
Đến thế kỷ này, tổ khúc lại đánh mất vị trí của mình
khi tiếp bị coi là bài luyện tập cổ xưa Tuy nhiên, các
bản tổ khúc nổi bật lúc này nhiều hơn so với thời Cổ
điển, điển hình là củaMaurice Ravel,Claude Debussy,
Paul Hindemith,Richard StraussvàArnold Schönberg
Lúc này, sự độc lập của tổ khúc với vũ khúc được tiếp
• sáu bản tổ khúc cho cello
• ba bản partita cho violin
• Partita cho harpsichord
Trang 14Chương 7
Dấu mắt ngỗng
Dấu mắt ngỗng được đặt bên trên nốt đen
Dấu mắt ngỗng (hay dấu ấm ngân, tiếng Anh:
fermata) là một ký hiệu trong hệ thống ký hiệu nhạc
phương Tây, khi được đặt ở nốt nhạchoặc dấu lặng
nào thì tức là nốt đó cần kéo dài trường độ hơn bình
thường, hoặc nếu đặt bên trên vạch nhịp thì để chỉ ra
rằng đến đó là hết tiết nhạc hoặc hết một đoạn của tác
phẩm nhạc.[1] Kéo dài bao lâu là tùy ý của nhạc công,
nhạc trưởng hoặc ca sĩ
7.1 Hình thức
Dấu mắt ngỗng có dạng dấu chấm được bao quanh là
một nửa đường tròn Người ta thường viết nó phía bên
trênkhuông nhạcnhưng thi thoảng cũng viết ở phía
dưới và dấu này bị quay ngược lại
TrongUnicode, có hai biểu tượng dành cho dấu mắt
ngỗng đặt bên trên và bên dưới khuông nhạc như sau:
Một số ví dụ về vị trí của dấu mắt ngỗng
Phần mềmsoạn nhạc Lilypond[2] cung cấp bốn hìnhthức dấu mắt ngỗng như sau:
Các biến thể này được phát triển thêm ở thế kỷ 20 và
sẽ được nói thêm ở phần dưới
7.2 Lịch sử và cách dùng
Dấu mắt ngỗng xuất hiện từ thế kỷ 14thời Trung cổ,rất thường đặt tại nốt nhạc cuối của tác phẩm âm nhạc.Vàothời Phục hưngở thế kỷ 15, chúng rất phổ biếntrong các tác phẩm của Guillaume Dufayvà Josquindes Prez
Trong âm nhạc thời kỳ Baroque, các hợp xướng của
Johann Sebastian Bachvà những nhà soạn nhạc khácthường chỉ dùng dấu mắt ngỗng tại phần cuối của tiếtnhạc do ở đây cần một nhịp thở Trong một vài tácphẩm dành cho đại phong cầm, dấu mắt ngỗng có ởnhững ô nhịp dành cho tay trái và tay phải và cả chochân, khiến việc thực thi dấu này là phi thực tế.Sang thế kỷ 20, một số nhà soạn nhạc hiện đại (trong
đó cóFrancis Poulenc,Krzysztof Pendereckivà LuigiNono) sáng tạo thêm các biến thể dấu mắt ngỗng mới
để dùng chúng ghi lại những sự kéo dài trường độ khácnhau Cách làm của họ là thay đổi kích thước dấu, tạothêm các dấu hình vuông và tam giác,… Một số đề xuấtcủa họ:
• êm những từ như lunga (đầy đủ theo tiếng Ý: lunga pausa, nghĩa là “dừng lâu”) ở bên trên hoặc
10
Trang 157.4 THAM KHẢO 11
bên dưới mắt ngỗng nhằm nói lên rằng cần kéo
dài hơn ường thấy cách dùng này trong nhạc
của Poulenc
• êm số giây vào mắt ngỗng, ví dụ:
• Dùng những hình dạng dấu mắt ngỗng khác như
hình vuông, hình tam giác
Trong tác phẩm củaMaurice Ohana, có thể thấy một
loại dấu mắt ngỗng vuông trong đó dấu chấm được thay
bằng dấu phẩy, mang nghĩa là nhịp thở Ohana thường
dùng nó bên trên vạch nhịp, có thể hiểu là "điểm nghỉ
ngắn để thở".[Ct 1]
Dấu mắt ngỗng có thể nằm ở cuối hoặc giữa tác phẩm
(hoặc phần nào đó của tác phẩm), theo sau nó là
một khoảng lặng ngắn hoặc các nốt nhạc Tác giả
McElheran chia dấu mắt ngỗng làm ba loại:
• Dấu mắt ngỗng theo sau là một "âm thanh không
gián đoạn”
• Dấu mắt ngỗng theo sau là một “khoảng lặng
ngắn”
• Dấu mắt ngỗng theo sau là một “khoảng lặng dài”.
Dấu mắt ngỗng có thể tạo hiệu lực lên nốt nhạc, hợp
âm, dấu lặng hoặc vạch nhịp Đối với nốt nhạc, hợp âm
và dấu lặng, dấu mắt ngỗng yêu cầu phải kéo dài trường
độ của chúng song người biểu diễn được tùy ý xử lý,
thường thì là kéo dài gấp đôi trường độ gốc Đối với
vạch nhịp, dấu mắt ngỗng có nghĩa là tạo khoảng nghỉ
giữa hai ô nhịp; trong trường hợp này, ngược lại với
dấu mắt ngỗng là dấu aacca - yêu cầu người biểu diễn
phải tiếp tục mà không được dừng giữa hai ô nhịp.[7]
7.3 Chú thích
[1] Ví dụ trong Dies Solis (París, Jobert, 1983) Nói chung,
Ohana dường như dùng dấu mắt ngỗng vuông với ý
nghĩa chỉ khoảng nghỉ ngắn cho dù là áp dụng lên nốt
nhạc hay dấu lặng
7.4 Tham khảo
[1] Randel, Don Michael (biên tập): Harvard Dictionary of
Music Cambridge, Mass.: Belknap Press, 2003,tr 310.[2] Fermata LilyPond.org
[3] Bitsch, Marcel & Holstein, Jean-Paul: Aide-mémoire
musical París: Durand, 1972, bảng 5 También: “Le point
d'orgue carré est un point d'orgue court.” trong Chailley,
Jacques & Challan, Henri: Abrégé de la éorie de la
musique París: Alphonse Leduc, 1948, §16.
[4] Read, Gardner: Music Notation Boston: Alleyn & Bacon,
1969, p 108
[5] Durieux, được trích trong Danhauser, Adolphe: éorie
de la musique París: Henry Lemoine, 1994, chú thích 10,
§3.1,b).ISBN 978-0-230-92226-6
[6] Durieux, được trích trong Danhauser, op cit 1994, chú
thích 10, §3.1,a)
También en Abromont, Claude & Montalembert,
Eugène de: Guide de la éorie de la musique, París:
Fayard – Henry Lemoine, 2001, tr 148, a).ISBN 2-213-61304-8
978-[7] Grabner, Hermann: Teoría general de la música.
Barcelona: Akal, 2001,tr 24
Trang 16Chương 8
Điệu
Điệu, một chuỗi lặp đi lặp lại, thể hiện trong khiêu vũ: một tranh
động miêu tả waltz
Điệu (từ gốc tiếng Hy Lạp ῥυθμός, rhythmos, “là bất
kì chuyển động thường xuyên mang tính chu kì,đối
xứng" (Liddell and Sco 1996)) thường có nghĩa là một
"chuyển độngđược kí hiệu bằng chuỗi liên tiếp có quy
tắc của những thành phần mạnh và yếu, hay là những
phần đối xứng và khác nhau” (Anon 1971, 2537) Định
nghĩa thông thường về sự lặp lại thường xuyên hay
những khuôn mẫu xuất hiện theo quy định của thời
giancó thể áp dụng cho hàng loạt những hiện tượng
tuần hoàn của tự nhiên mang tínhchu kỳhoặctần số
xuất hiện nhiều lần từ chỉ vài micro giây cho đến vài
phút, vài giờ, thậm chí trong nhiều năm
Trong nghệ thuật, Điệu là sự lặp lại các âm thanh
đúng thời điểm trên hệ thống âm giai;âm nhạc, dấu
lặngtrong âm nhạc,điệu nhảyhayngôn ngữvàthơ
Trong một số biểu diễn nghệ thuật, nhưhip hop, Điệu
chuyển tải lời bài hát là một trong những yếu tố quan
trọng nhất của phong cách này Điệu cũng có thể là
những cái có thể thấy được, như “những chuyển động
đúng lúc trong không gian” (Jirousek 1995, và một ngôn
ngữ chung của mô hình kết hợp giữa nhịp điệu với
hình học Trong những năm gần đây Điệu(Rhythm)
và nhịp(meter) trở thành một đề tài nghiên cứu trong
các học giả âm nhạc Những công trình gần đây về đềtài này bao gồm những cuốn sách của Maury Yeston(1976), Fred Lerdahl và Ray Jackendoff (Lerdahl vàJackendoff, 1983), Jonathan Kramer, Christopher Hasty(1997), Godfried Toussaint (2005), William Rothstein(1989), and Joel Lester (Lester 1986)
Trong cuốn “Suy nghĩ và số phận”(“inking andDestiny”), Harold W Percival định nghĩa Điệu là bảnchất và nghĩa của suy nghĩ được nhấn mạnh thôngqua trường canh(the measure) hay sự nhanh chậm(themovement) trong âm thanh hay hình thức của một bàinhạc(form), hay bởi những kí tự chữ viết hay các từ(Percival 1946, 1006)
sự đều đặn của bước chân và nhịp tim Những nghiêncứu khác đề cập rằng Điệu không liên quan trực tiếpđến nhịp tim mà liên quan nhiều hơn đến tốc độ cảmxúc ảnh hưởng lên nhịp tim Hiện nay những nghiêncứu khác đề cập rằng Chức năng chính yếu của âmnhạc con người là lan tỏa, vì vậy có lý do để nghi ngờrằng sự sáng tạo Điệu có những nguồn gốc trong việctiến hóa của lịch sử (Patel 2014,[page needed]) Justin12
Trang 178.2 THUẬT NGỮ 13
London viết rằng nhịp(meter) của âm nhạc “bao gồm
những khái niệm ban đầu cũng như những dự đoán
tiếp theo của chuỗi phách chúng ta trừu tượng hóa từ
bề mặt của Điệu khi nó dần dần phát ra trong thời gian”
(London 2004, 4) Sự “nhận biết”(“perception”) và “sự
trừu tượng”(“abstraction”) về ô nhịp của điệu(measure
rhythm) là hoạt động âm nhạc bản năng của con
người, như khi chúng ta phân chia chuỗi âm thanh của
đồng hồ thành tiếng “tích tắc tích
tắc”(“tick-tock-tick-tock”)(Scholes 1977b; Scholes 1977c)
Một cấu trúc Trống đơn giản dưới một trường độ bình thường
trong âm nhạc:
Joseph Jordania gần đây đã đề cập rằng sự nhận biết
Điệu được phát triển từ rất sớm trong sự tiến hóa của
loài vượn người(hominid evolution) bởi sự chọn lọc của
tự nhiên(Jordania 2011,[page needed]) Rất nhiều loài
động vật bước đi có nhịp điệu và nghe được nhịp tim
trong bụng mẹ, nhưng chỉ con người có khả năng bị lôi
cuốn trong những âm thanh và những hoạt động được
phối hợp nhịp nhàng eo Jordania, sự phát triển về
khả năng cảm âm(the sense of rhythm) là điểm chính
trong sự đạt tới một trạng thái thần kinh đặc biệt được
gọi là thôi miên, rất quan trọng trong sự phát triển hệ
thống phòng thủ hiệu quả của loài vượn cổ Điệu của
tiếng hét xung trận(war cry), Điệu trống shamans, Điệu
của câu khẩu hiệu lặp lại của những người lính hay
của lực lượng chiến đấu đặc biệt khi nghe Điệu rock
(Pieslak 2009,[page needed]), tất cả đều sử dụng khả
năng của Điệu để đoàn kết các cá nhân con người trở
thành “một sự thấu hiểu tập thể”(a shared collective
identity) nơi mà các thành viên của nhóm đặt mong
muốn của nhóm lên trên mong muốn và sự an toàn
của bản thân.Pieslak 2009,
Một vài loài vẹt có thể hiểu Điệu(Anon 2009) Nhà thần
kinh học Oliver Sacks tuyên bố rằng một số con vượn
và các loài khác không có sự thấu hiểu Điệu mặc dù
thừa nhận sự thấu hiểu Điệu của con người là một điều
cơ bản, để mà sự hiểu biết của con người về Điệu không
bị mất(Ví dụ bởi bệnh Đột quỵ(stroke)) “Không có một
bản báo cáo nào về động vật được rèn luyện để gõ tay,
mổ hay di chuyển đồng bộ với một nhịp âm thanh”
(Patel 2006, được trích dẫn trong Sacks 2007, 239–40,
ông cũng thêm rằng “Không nghi ngờ nhiều người yêu
thú cưng sẽ tranh cãi vấn đề này, và hơn nữa nhiều
loài động vật, từ những con ngựa Lippizaner của trường
cưỡi ngựa Tây Ban Nha tại Vienna đến những con thú
trong rạp xiếc dường như nhảy theo nhạc Điều này
không rõ liệu chúng đang nhảy theo nhạc hay phản
ứng theo những kí hiệu thị giác và xúc giác với những
người xung quanh chúng.”) Nghệ thuật Điệu của con
người có thể bắt nguồn một phần từ nghi thức tántỉnh(Mithen 2005,[page needed]) Mithen 2005,
Cấu trúc gộp 3 Trống: Chia 3 phách thành 3 phần riêng biệt Có
sự lặp lại trên cấp độ ba.
Sự thành lập những phách cơ bản yêu cầu khái niệm
về chuỗi liên tiếp phách ngắn(pulse) riêng biệt và, vìnhận thức chủ quan của âm thanh liên quan đến cáccấp độ tiếng ồn xung quanh, một phách ngắn buộc phảihoàn toàn biến mất dẫn đến sự im lặng hoàn toàn trướckhi một phách ngắn tiếp theo vang lên nếu 2 pháchngắn này thực sự khác nhau Với lý do này, Những
âm thanh nhanh thoáng qua của các nhạc cũ gõ đượcdùng để dịnh nghĩa Điệu Những nền văn hóa âm nhạcdựa vào nhạc cụ này có thể phát triển đa điệu đượcphân nhiều tầng(multi-layered polyrhythm) và nhữngĐiệu đồng thời với nó nhiều hơn một kí hiệu, đượcgoi là đa nhịp(polymeter) Như là the cross-rhythms ofSub-Saharan Africa và Điệu interlocking kotekan củagamelan
Những thông tin về Điệu trong âm nhạc Ấn Độ xemTala(music) Cho những cái liên quan đến âm nhạcChâu Á về Điệu xem Rhythm in Persian music, Rhythm
in Arabian music và Usul—Rhythm in Turkish music vàDumbek rhythms