Nhu cầu cơ bản liên quan đến các yếu tố thể lý của con người như mong muốn có đủ thức ăn, nước uống, được ngủ nghỉ… Những nhu cầu cơ bản này đều là các nhu cầu không thể thiếu hụt vì nếu
Trang 1ể loại:Tâm lý tích cực
Trang 2Mục lục
1.1 Các tác phẩm xuất bản 1
1.1.1 Bài báo 1
1.1.2 Sách 2
1.2 Phỏng vấn 2
1.3 am khảo 2
1.3.1 Tài liệu khác 2
1.4 Liên kết 3
2 áp nhu cầu của Maslow 4 2.1 Căn bản của lý thuyết 4
2.2 Chi tiết nội dung tháp nhu cầu 4
2.3 Mở rộng tháp 5
2.4 Chú thích 5
3 uyết Dòng Chảy 6 3.1 Tổng quan 6
3.2 Các thành tố 6
3.3 Từ nguyên học 6
3.4 Lịch sử/nền tảng 6
3.5 Cơ chế 7
3.6 am khảo 7
4 Trí tuệ xúc cảm 8 4.1 Nguồn gốc 8
4.2 Định nghĩa 8
4.3 Các mô hình 8
4.3.1 Mô hình về khả năng Trí tuệ xúc cảm 8
4.3.2 Các mô hình hỗn hợp của TTXC 9
4.3.3 Mô hình TTXC tính cách 9
4.4 Phê bình 9
4.4.1 TTXC định nghĩa quá rộng và các định nghĩa của nó không ổn định: 9
4.4.2 TTXC không được thừa nhận là một loại trí thông minh: 10
i
Trang 3ii MỤC LỤC
4.4.3 TTXC không có giá trị tiên đoán thực tế 10
4.5 am khảo 10
5 Báo cáo Hạnh phúc thế giới 12 5.1 Danh sách xếp hạng hạnh phúc 12
5.1.1 Xếp hạng năm 2016[2] 12
5.1.2 Bản đồ (năm 2016)[5] 12
5.2 am khảo 12
5.3 Xem thêm 12
5.4 Liên kết ngoài 12
6 Chất lượng cuộc sống 14 6.1 uật ngữ 14
6.2 Đo lường 14
6.2.1 Các tiêu chí được đề cập 14
6.2.2 eo Liên Hiệp ốc 15
6.2.3 Tiêu chí của WHO 15
6.3 Xếp hạng 15
6.3.1 2010 15
6.3.2 2011 16
6.4 Chú thích 16
6.5 Liên kết ngoài 16
7 Chỉ số hành tinh hạnh phúc 18 7.1 Công thức tính HPI 18
7.2 Bảng xếp hạng 18
7.3 Chú thích 18
7.4 Xem thêm 19
8 Hạnh phúc 20 8.1 Ý kiến và nhận xét 20
8.2 Xem thêm 20
8.3 am khảo 20
8.4 Liên kết ngoài 20
9 Happy (bài hát của Pharrell Williams) 21 9.1 Xếp hạng 21
9.2 Chứng nhận 21
9.3 Xem thêm 21
9.4 am khảo 21
9.5 Liên kết ngoài 25
Trang 4MỤC LỤC iii
11.1 am khảo 27
11.2 Liên kết ngoài 27
12 Ngày ốc tế Hạnh phúc 28 12.1 Tổng quan 28
12.1.1 Khởi thủy 28
12.1.2 Ấn định 28
12.2 Hưởng ứng 29
12.3 Những lễ kỷ niệm đã qua 29
12.4 am khảo 29
12.5 Liên kết ngoài 30
13 Vui vẻ 31 13.1 Từ nguyên 31
13.2 Tâm lý 31
13.3 Sinh lý 31
13.4 am khảo 31
13.5 Nguồn, người đóng góp, và giấy phép cho văn bản và hình ảnh 32
13.5.1 Văn bản 32
13.5.2 Hình ảnh 32
13.5.3 Giấy phép nội dung 41
Trang 5Chương 1
Daniel Kahneman
Daniel Kahneman (tiếng Hebrew: ןמנהכ לאינד ) (sinh
ngày 5 tháng 3 năm 1934) là một nhà tâm lý học, người
thắnggiải Nodel Kinh tếnăm 2002, ông là người Mỹ
gốc Israel Các nghiên cứu của ông về tâm lý khi phán
quyết và ra quyết định, kinh tế học hành vi và tâm lý
học hưởng thụ
Cùng với Amos Tversky và những người khác,
Kahneman đã tạo lập một cơ sở nhận thức cho những
lỗi phổ biến của con người phát sinh từ đánh giá
kinh nghiệm và thành kiến (Kahneman & Tversky,
1973; Kahneman, Slovic & Tversky, 1982; Tversky &
Kahneman, 1974), và phát triển lý thuyết triển vọng
(Kahneman & Tversky, 1979) Ông được trao giải Nobel
Kinh tế năm 2002 cho công trình của ông về lý thuyết
triển vọng
Năm 2011, tạp chí Chính sách đối ngoại đưa ông vào
danh sách các nhà tư tưởng hàng đầu toàn cầu.[1]Cùng
năm, cuốn sách của ông Tư duy, nhanh và chậm đã được
xuất bản và trở thành một cuốn sách ăn khách Trong
cuốn sách này đã tóm tắt nhiều nghiên cứu của ông
Hiện nay, ông là giáo sư danh dự về tâm lý học và các
vấn đề công cộng tại trường Woodrow Wilson thuộc
Đại học Princeton Kahneman là đồng sáng lập củae
Greatest Good, một công ty tư vấn hoạt động từ thiện
và doanh nghiệp Ông kết hôn vớiAnne Treisman, bà
là thành viên hiệp hội hoàng gia.[2]
1.1 Các tác phẩm xuất bản
Dưới đây là một phần các ấn bản của ông
1.1.1 Bài báo
• Kahneman, D.; Beay, J (1966) “Pupil
diameter and load on memory” Science
154 (3756): 1583–1585 PMID 5924930
doi:10.1126/science.154.3756.1583
• Tversky, A.; Kahneman, D (1971) “Belief in the
law of small numbers” Psychological Bulletin 76
(2): 105–110.doi:10.1037/h0031322
• Kahneman, D.; Tversky, A (1972) “Subjective
probability: A judgment of representativeness”
Cognitive Psychology 3 (3): 430–454.doi:10.1016/0010-0285(72)90016-3
• Kahneman, D (1973) Aention and effort.Englewood Cliffs, NJ: Prentice-Hall
• Kahneman, D.; Tversky, A (1973) “On the psychology of prediction” Psychological Review
80 (4): 237–251.doi:10.1037/h0034747
• Tversky, A.; Kahneman, D (1973) “Availability:
A heuristic for judging frequency and
probability” Cognitive Psychology 5 (2): 207–
232.doi:10.1016/0010-0285(73)90033-9
• Tversky, A.; Kahneman, D (1974). “Judgmentunder uncertainty: Heuristics and biases”
Science 185 (4157): 1124–1131. PMID 17835457.doi:10.1126/science.185.4157.1124
• Kahneman, D.; Tversky, A (1979) “Prospect
theory: An analysis of decisions under risk”
Econometrica 47 (2): 263–291. JSTOR 1914185.doi:10.2307/1914185
• Kahneman, D.; Tversky, A (1979) “Prospect
theory: An analysis of decisions underrisk” Econometrica 47 (2): 313–327.doi:10.2307/1914185
• Tversky, A.; Kahneman, D (1981). “e framing
of decisions and the psychology of choice”
Science 211 (4481): 453–458. PMID 7455683.doi:10.1126/science.7455683
• Kahneman, D.; Tversky, A (1984) “Choices,
values and frames” American Psychologist 39 (4):
341–350.doi:10.1037/0003-066X.39.4.341
• Kahneman, D.; Miller, D.T (1986) “Norm
theory: Comparing reality to its alternatives”
Psychological Review 93 (2): 136–153.doi:10.1037/0033-295X.93.2.136
• Kahneman, D.; Knetsch, J.L.; aler, R.H (1990).
“Experimental tests of the endowment effect and
the Coase theorem” Journal of Political Economy
98 (6): 1325–1348.doi:10.1086/261737
1
Trang 62 CHƯƠNG 1 DANIEL KAHNEMAN
• Fredrickson, B L.; Kahneman, D (1993) “Duration
neglect in retrospective evaluations of affective
episodes” Journal of Personality and Social
Psychology 65 (1): 45–55. PMID 8355141
doi:10.1037/0022-3514.65.1.45
• Kahneman, D.; Lovallo, D (1993) “Timid choices
and bold forecasts: A cognitive perspective
on risk-taking” Management Science 39: 17–31.
doi:10.1287/mnsc.39.1.17
• Kahneman, D.; Tversky, A (1996) “On the reality
of cognitive illusions” Psychological Review 103
(3): 582–591 PMID 8759048
doi:10.1037/0033-295X.103.3.582
• Schkade, D A.; Kahneman, D (1998) “Does
living in California make people happy?
A focusing illusion in judgments of life
satisfaction” Psychological Science 9 (5): 340–346.
doi:10.1111/1467-9280.00066
• Kahneman, D., Diener, E., & Schwarz, N (Eds.).
(1999) Well-being: e foundations of hedonic
psychology New York: Russell Sage Foundation.
• Kahneman, D (2003) “A perspective on judgment
and choice: Mapping bounded rationality”
American Psychologist 58 (9): 697–720. PMID
14584987.doi:10.1037/0003-066X.58.9.697
• Kahneman, D.; Krueger, A.; Schkade, D.; Schwarz,
N.; Stone, A (2006) “Would you be happier
if you were richer? A focusing illusion” (PDF)
Science 312 (5782): 1908–10. PMID 16809528
doi:10.1126/science.1129688
• Kahneman, D (2003) Maps of bounded
rationality: A perspective on intuitive judgment
and choice In T Frangsmyr (Ed.), Les Prix Nobel
2002 [Nobel Prizes 2002] Stockholm, Sweden:
Almquist & Wiksell International Note that
this chapter has two sections: the first is an
autobiography (with a eulogy for Amos Tversky),
and the second is a transcript of his Nobel
lecture, which is what the title refers to e
autobiographical portion has been republished
as: Kahneman, D (2007) Daniel Kahneman In
G Lindzey & W.M Runyan (Eds.), A History of
Psychology in Autobiography, Volume IX (pp 155–
197) Washington, DC: American Psychological
Association It is also available on theNobel Prize
website
• Professor Paul Bloom, Đại học Yale 2008, Yale
Open Course, Introduction to Psychology, Lecture
10 Transcript
1.1.2 Sách
• Kahneman, D (2011) inking, Fast and Slow,
Farrar, Straus and Giroux,ISBN 978-0374275631
(Reviewed by Freeman Dyson in New YorkReview of Books, ngày 22 tháng 12 năm 2011, pp.40–44.)
• Kahneman, D (2011). inking Fast and Slow,Allen Lane 2011
• Kahneman, D., & Tversky, A (Eds.) (2000) Choices, values and frames New York: Cambridge
Phỏng vấn trên radio
• All in the Mind, ABC, Australia (2003)
• All in the Mind, BBC, Great Britain (2011)Phỏng vấn trực tuyến
• inking about inking – An Interview with
Daniel Kahneman (2011)
1.3 Tham khảo
[1] “e FP Top 100 Global inkers 71 Daniel Kahneman”.foreignpolicy.com Ngày 28 tháng 11 năm 2011 Truycập ngày 3 tháng 11 năm 2012
[2] Kahneman, Daniel (2002) “Autobiography”
nobelprize.org Truy cập ngày 3 tháng 11 năm2012
1.3.1 Tài liệu khác
• Kahneman, Daniel; Diener, Ed; Schwarz, Norbert
(1999) Well-Being e Foundations of Hedonic Psychology Russell Sage Foundation ISBN 0-87154-424-5
Trang 71.4 LIÊN KẾT 3
1.4 Liên kết
• Website chính thức(at Princeton)
• Kahneman’s resume (2011)
• Các công trình liên quan hoặc của Daniel
Kahneman trên các thư viện của thư mục
• Teller exploits fast thinking
• Talco Parsons Prize Ceremony and Address: Two
Systems of the Mind
• Review: inking, Fast and Slow by Daniel
Kahneman
• 2012 Singularity Summit Q&A with Kahnemanon
Fora.tv
• Daniel Kahneman (1934–) e Concise
Encyclopedia of Economics.Library of Economics
and Liberty(ấn bản 2) (Liberty Fund) 2008
Trang 8Chương 2
Tháp nhu cầu của Maslow
áp nhu cầu của Maslow (tiếng Anh: Maslow’s
hierarchy of needs) được nhà tâm lý học Abraham
Maslowđưa ra vào năm 1943 trong bài viết A eory of
Human Motivation[1]và là một trong những lý thuyết
quan trọng nhất củaquản trị kinh doanh; đặc biệt là
các ứng dụng cụ thể trongquản trị nhân sựvàquản trị
marketing
2.1 Căn bản của lý thuyết
eo Maslow, về căn bản, nhu cầu của con người được
chia làm hai nhóm chính: nhu cầu cơ bản (basic needs)
và nhu cầu bậc cao (meta needs).
Nhu cầu cơ bản liên quan đến các yếu tố thể lý của con
người như mong muốn có đủ thức ăn, nước uống, được
ngủ nghỉ… Những nhu cầu cơ bản này đều là các nhu
cầu không thể thiếu hụt vì nếu con người không được
đáp ứng đủ những nhu cầu này, họ sẽ không tồn tại
được nên họ sẽ đấu tranh để có được và tồn tại trong
cuộc sống hàng ngày
Các nhu cầu cao hơn nhu cầu cơ bản trên được gọi là
nhu cầu bậc cao Những nhu cầu này bao gồm nhiều
nhân tố tinh thần như sự đòi hỏi công bằng, an tâm, an
toàn, vui vẻ,địa vị xã hội, sự tôn trọng, vinh danh với
một cá nhân v.v
Các nhu cầu cơ bản thường được ưu tiên chú ý trước so
với những nhu cầu bậc cao này Với một người bất kỳ,
nếu thiếu ăn, thiếu uống… họ sẽ không quan tâm đến
các nhu cầu về vẻ đẹp, sự tôn trọng…Tuy nhiên, tuỳ
theo nhận thức, kiến thức, hoàn cảnh, thứ bậc các nhu
cầu cơ bản có thể đảo lộn Ví dụ như: người ta có thể hạn
chế ăn, uống, ngủ nghỉ để phục vụ cho các sự nghiệp
cao cả hơn Ngược lại, theo chủ thuyết cách mạng vô
sản, của cải, sở hữu tài sản là nhu cầu số một bỏ qua
các nhu cầu bậc cao khác
2.2 Chi tiết nội dung tháp nhu cầu
Cấu trúc của áp nhu cầu có 5 tầng, trong đó, những
nhu cầu con người được liệt kê theo một trật tự thứ bậc
hình tháp kiểu kim tự tháp
Tháp nhu cầu
Những nhu cầu cơ bản ở phía đáy tháp phải được thoảmãn trước khi nghĩ đến các nhu cầu cao hơn Các nhucầu bậc cao sẽ nảy sinh và mong muốn được thoả mãnngày càng mãnh liệt khi tất cả các nhu cầu cơ bản ởdưới (phía đáy tháp) đã được đáp ứng đầy đủ
5 tầng trong áp nhu cầu của Maslow:
• Tầng thứ nhất: Các nhu cầu về căn bản nhất thuộc
“thể lý" (physiological) - thức ăn, nước uống, nơi
trú ngụ, tình dục, bài tiết, thở, nghỉ ngơi
• Tầng thứ hai: Nhu cầu an toàn (safety) - cần có
cảm giác yên tâm về an toàn thân thể, việc làm,gia đình, sức khỏe, tài sản được đảm bảo
• Tầng thứ ba: Nhu cầu được giao lưu tình cảm
và được trực thuộc (love/belonging) - muốn được
trong một nhóm cộng đồng nào đó, muốn có giađình yên ấm, bạn bè thân hữu tin cậy
• Tầng thứ tư: Nhu cầu được quý trọng, kính mến
(esteem) - cần có cảm giác được tôn trọng, kính
mến, được tin tưởng
• Tầng thứ năm: Nhu cầu về tự thể hiện bản thân
(self-actualization) - muốn sáng tạo, được thể hiện
khả năng, thể hiện bản thân, trình diễn mình, cóđược và được công nhận là thành đạt
4
Trang 92.4 CHÚ THÍCH 5
2.3 Mở rộng tháp
Sau Maslow, có nhiều người đã phát triển thêm tháp
này như thêm các tầng khác nhau, thí dụ:
• Tầng Cognitive: Nhu cầu về nhận thức, hiểu biết:
- Học để hiểu biết, góp phần vào kiến thức chung
• Tầng Aesthetic: Nhu cầu về thẩm mỹ - có sự yên
bình, ham muốn hiểu biết về những gì thuộc nội
tại
• Tầng Self-transcendence: Nhu cầu về tự tôn bản
ngã - một trạng thái siêu vị kỷ hướng đến trực
giác siêu nhiên, lòng vị tha, hòa hợp bác ái
Tuy nhiên, mô hình căn bản được chấp nhận rộng rãi
vẫn chỉ có 5 tầng như ở trên
2.4 Chú thích
[1] A.H Maslov, A eory of Human Motivation,
Psychological Review 50 (1943):370-96
Trang 10Chương 3
Thuyết Dòng Chảy
Dòng Chảy là trạng thái tâm trí hoạt động mà trong
đó cá nhân thực hiện một hành động được “nhúng”
ngập trong dòng cảm xúc và sự tập trung nguồn năng
lượng, tham dự một cách toàn vẹn và tận hưởng trong
quá trình hoạt động diễn ra Được đưa ra bởi Miha’ly
Csikszentmihalyi, đây là một khái niệm trong nhánh
tâm lý học thực chứng (hoặc “tâm lý học tích
cực-positive psy) đã được tham chiếu rộng rãi trong các lĩnh
vực khác
3.1 Tổng quan
eo Csikszentmihalyi, Dòng Chảy là động lực được
tập trung toàn vẹn Đó là một dạng nhúng sâu tâm trí
và có thể tạo nên một dạng sử dụng toàn vẹn những
xúc cảm cho quá trình thực hiện thao tác cũng như học
tập Trong Dòng Chảy, các cảm xúc không chỉ được
dung chứa và truyền dẫn mà còn được kích hoạt, tập
trung và điều hướng theo từng thao tác hiện tại Dấu
hiệu xác nhận ra Dòng Chảy là khi bạn có một cảm giác
tận hưởng tức thời, thậm chí là mê ly khi bạn thực hiện
một tác vụ, dù trạng thái này cũng được mô tả (như
dưới đây) như một sự tập trung sâu vào không gì cả,
kể cả những xúc cảm hay cảm thức bản thân của một
người, mà chỉ vào hoạt động đó thôi Các khái niệm
gần với trạng thái tinh thần này có thể kể đến là: sống
trong hiện tại, cái Hiện tiền, trong một khoanh vùng,
tập trung phi thường, tâm điểm, hoà điệu, bừng cháy,
thông suốt, cuộn chảy
3.2 Các thành tố
Nakamura và Csikszentmihalyi xác định sáu yếu tố gắn
với một trải nghiệm về Dòng chảy:
1 Hướng đến và tập trung sự chú ý vào khoảnh
Các thành tố này có thể xuất hiện độc lập với mỗi cáikhác nhưng chỉ trong sự thống hợp chúng mới tạo nênmột trải nghiệm gọi là Dòng Chảy
3.3 Từ nguyên học
Dòng chảy là khái niệm được định danh khi trong cáccuộc phỏng vấn của Csikszentmihalyi năm 1975, nhiềungười đã mô tả những trải nghiệm “dòng chảy” của họbằng việc sử dụng ẩn dụ là một dòng nước cuốn họ trôitheo Khái niệm tâm lý học về dòng chảy không liênquan tới cụm thành ngữ “trôi xuôi theo dòng – go withthe flow” (hay còn được hiểu là sự linh hoạt, đi với bụtmặc áo cà sa – đi với ma mặc áo giấy)
3.4 Lịch sử/nền tảng
Nghiên cứu về khái niệm dòng chảy bắt đầu từ nhữngnăm 1960 Mihaly Csikszentmihalyi được xem nhưngười sáng lập nên thuyết này và các nhà nghiên cứusau ông đã bắt đầu nghiên cứu Dòng Chảy sau khiCsikszentmihalyi đã bị lôi cuốn bởi các nghệ sĩ thực
sự muốn sự mất mát trong công việc của họ Cácnghệ sĩ, đặc biệt là các hoạ sĩ đã đắm chìm vào côngviệc của họ khi họ không chú ý tới những nhu cầu
ăn uống và thậm chí là ngủ nữa Bởi thế nên nghiêncứu tiên khởi về thuyết Dòng Chảy đã được thực hiệnkhi Csikszentmihalyi cố nhận hiểu về hiện tượng trảinghiệm này qua các nghệ sĩ đó
Nghiên cứu về hiện tượng này trở nên thịnh hành trongnhững năm 1980 và 1990 và Csikszentmihalyi cùngđồng sự tại Italy vẫn là tiên phong Các nhà nghiêncứu quan tâm tới những trải nghiệm tận mức và tậptrung vào những trải nghiệm tích cực, đặc biệt trongcác ngành như học đường và thương mại cũng đã bắt6
Trang 113.6 THAM KHẢO 7
đầu nghiên cứu về thuyết Dòng chảy trong thời gian
này uyết Dòng Chảy đã được Maslow và Rogers sử
dụng nhiều trong lý thuyết của họ để phát triển dòng
tâm lý học nhân văn
Dòng Chảy đã được trải nghiệm trong dòng lịch sử và ở
nhiều nền văn hoá Các bài giảng của Phật giáo và Lão
giáo đã nói về trạng thái tâm trí như là “Cái làm của
cái Không Làm” hoặc “Làm mà không Làm” rất tương
hợp với ý tưởng về Dòng Chảy (ở đây đang nói về khái
niệm Vô Vi và Tuỳ Duyên mà làm trong Phật và Lão
giáo, nhưng để tôn trọng bản gốc nên tôi vẫn dịch theo
cách diễn đạt của Phương Tây) Trong các văn bản của
dòng triết Advaita (nhất nguyên hay sát nghĩa – 1 tiểu
nhánh của triết lý Vedanta) ở Ấn Độ như Ashtavakra
Gita và Yoga hiểu biết như Bhagavad-Gita cũng đề cập
tới trạng thái tương tự
Những nguồn sử liệu gợi cho thấy rằng Michelangelo
có thể đã vẽ bức tranh trên trần nhà thờ Sistine ở
Vatican trong một trạng thái như Dòng Chảy, rằng ông
đã vẽ liên tục trong nhiều ngày và bị mê cuốn trong
công việc đến mức không dừng để ngủ nghỉ hay ăn
uống cho đến nét vẽ cuối cùng Ông sẽ tỉnh thức phục
hồi và lại tiếp tục vẽ, lại nhập vào một lần nữa trạng
thái mê cuốn tuyệt mức đó.Lý Tiểu Long cũng từng nói
về trạng thái tâm lý như dạng Dòng Chảy trong cuốn
"Đạo của Triệt yền Đạo” của ông
3.5 Cơ chế
Trong từng khoảnh khắc được đem lại có biết bao luồng
thông tin ập tới cá nhân Các nhà tâm, lý học đã khám
phá ra rằng tâm trí của chúng ta chỉ có thể chú ý vào
một khối lượng thông tin nhất định trong hiện tại eo
nghiên cứu của Mihaly năm 1956 thì khối lượng đó có
thể vào khoảng 126 bits thông tin mỗi giây Đó có vẻ
là một con số lớn (và nhiều thông tin) nhưng những
tác vụ đơn giản thường ngày cũng có biết bao nhiêu
là thông tin Chỉ một cuộc hội thoại cũng có khoảng 40
bit thông tin mỗi giây; tức là chiếm 1/3 dung lượng Khả
ể của một người Đó là lý do tại sao một người không
thể tập trung tốt vào những chuyện khác khi đang đối
thoại
Trong phần lớn trường hợp (ngoại trừ những cảm giác
cơ thể thiết yếu như đói và đau – đó là bẩm sinh) mọi
người có thể quyết chọn những gì họ muốn dành sự chú
ý của mình vào Nhưng khi một người đang trong trạng
thái Dòng Chảy thì anh/chị ta bị choán toàn bộ tâm trí
vào việc đang làm mà không có sự quyết định một cách
có ý thức vào việc đó, buông mất sự thức nhận về tất
cả mọi thứ khác: thời gian, con người, giải trí, thậm chí
cả những nhu cầu thể lý cơ bản Hiện tượng này xuất
hiện bởi tất cả sự chú ý của một người trong trạng thái
Dòng Chảy đã đặt vào tác vụ họ đang làm nên không
còn sự phân bố nào khác của chú ý nữa
3.6 Tham khảo
Trang 12Chương 4
Trí tuệ xúc cảm
Trí tuệ xúc cảm (emotional intelligence - EI) thường
dùng dưới hàm nghĩa nói về chỉ số cảm xúc (emotional
intelligence quotient - EQ) của mỗi cá nhân Chỉ số này
mô tả khả năng, năng lực, kỹ năng (trong trường hợp
của mô hình tính cách về trí tuệ xúc cảm) hay khả năng
tự nhận thức để xác định, đánh giá và điều tiết cảm xúc
của chính mỗi người, của người khác, của các nhóm
cảm xúc[1] Trí tuệ xúc cảm là nhánh nghiên cứu tương
đối mới của ngànhtâm lý học Do đó, định nghĩa về trí
tuệ xúc cảm không ngừng thay đổi
4.1 Nguồn gốc
Nguồn gốc sâu xa nhất của trí tuệ cảm xúc có thể truy
ngược về việcDarwinnghiên cứu về tầm quan trọng
của sự diễn đạt cảm xúc của các cá thể trong quá trình
chọn lọc tự nhiên và các thay đổi thích nghi[2] Vào
những năm 1900, mặc dù các định nghĩa truyền thống
về trí tuệ nhấn mạnh tới yếu tố nhận thức như là trí
nhớ và khả năng giải quyết vấn đề, nhiều nhà khoa học
có ảnh hưởng trong lĩnh vực trí nghiên cứu trí tuệ đã
bắt đầu nhận ra tầm quan trọng của khía cạnh “ngoài
nhận thức” (non-cognitive) Ví dụ như ngay từ những
năm 1920, E L orndike, đã sử dụng khái niệm “hiểu
biết xã hội” để miêu tả kỹ năng hiểu và quản lý người
khác.[3]
Tương tự, năm 1940 David Wechsler đã miêu tả ảnh
hưởng của yếu tố không hiểu biết tới các ứng xử thông
minh, và chứng tỏ xa hơn rằng các mô hình của chúng
ta về sự thông minh vẫn chưa hoàn thiện cho tới khi
chúng ta có thể miêu tả thích đáng các yếu tố này Năm
1983, trong cuốn Frames of Mind: e eory of Multiple
Intelligences (Những cơ cấu của nhận thức: Lý thuyết về
thông minh bội)[4]của Howard Gardner đã giới thiệu
về ý tưởng về những thông minh bội mà trong đó bao
gồm “Trí tuệ giữa các cá nhân” (khả năng hiểu những
ý định, động cơ và mong muốn của người khác) và
“Trí tuệ trong cá nhân” (khả năng hiểu ai đó, tán đồng
cảm nhận của người đó, cảm giác sợ hãi và động cơ
thúc đẩy) Trong quan sát của Gardner, các kiểu trí tuệ
truyền thống như IQ, không thể giải thích một cách đầy
đủ khả năng nhận thức của con người.[5]Vì vậy thậm
chí với những tên cho trước đến những khái niệm biến
đổi, đều có một tin tưởng chung rằng những định nghĩatruyền thống về trí tuệ đang thiếu khả năng giải thíchnhững kết quả trước đó
Wayne Payne là người đầu tiên sử dụng thuật ngữ Trítuệ xúc cảm (TTXC) trong luận văn tiến sĩ của anh:
“Nghiên cứu về xúc cảm: Phát triển trí tuệ xúc cảm” vàonăm 1985.[6]Tuy nhiên, thuật ngữ gần tương tự đã xuấthiện trước đó Leuner (1966) Greenspan (1989) cũngđồng thời đề xuất mô hình TTXC này năm 1985, nốitiếp bởi Salovey và Mayer (1990), và Goleman (1995)
4.2 Định nghĩa
Có rất nhiều tranh luận về định nghĩa của TTXC khixem xét thuật ngữ và cả các hoạt động Tiên phong làSalovey và Mayer (1990) đã định nghĩa TTXC là “khảnăng giám sát cảm giác và xúc cảm của một người nào
đó và những người khác, phân biệt giữa họ và sử dụngthông tin này để dẫn dắt suy nghĩ và hành động củangười đó".[7]
Mặc dù với định nghĩa sớm này, vẫn có sự nhầm lẫnkhi xem xét nghĩa chính xác của cách xây dựng này.Các định nghĩa thường quá biến hóa, và các lĩnh vựccũng lớn mạnh rất nhanh, các nhà nghiên cứu thườngxuyên thay đổi các định nghĩa.[8] Hiện tại, có ba môhình TTXC chính:
• Các mô hình về khả năng TTXC
• Các mô hình hỗn hợp về TTXC
• Mô hình đặc thù TTXC
4.3 Các mô hình
4.3.1 Mô hình về khả năng Trí tuệ xúc cảm
Nhận thức của Salovey và Mayer về TTXC đạt được khiđịnh nghĩa TTXC bên trong những phạm vi của nhữngtiêu chí cho một loại Trí tuệ mới eo những nghiêncứu liên tục của họ, định nghĩa ban đầu về TTXC đượcsửa đổi thành: “Khả năng tiếp nhận cảm xúc, tích hợp8
Trang 134.4 PHÊ BÌNH 9
cảm xúc để làm thuận tiện việc suy nghĩ, hiểu và điều
chỉnh các cảm xúc cho việc xúc tiến sự phát triển cá
nhân”
an điểm của mô hình khả năng TTXC như các
nguồn thông tin hữu dụng mà có giúp ai đó có ý nghĩa
và thông qua môi trường xã hội.[9]Mô hình đề xuất các
cá thể có thể thay đổi trong khả năng của họ để xử lý
thông tin của một xúc cảm tự nhiên và trong khả năng
của họ liên quan đến việc xử lý cảm xúc để cung cấp
một nhận thức sâu rộng hơn Khả năng này được nhìn
nhận như tự biểu hiện trong một vài hành vi thích hợp
Mô hình đề xuất TTXC bao gồm bốn loại khả năng:
1 Tiếp nhận cảm xúc - khả năng phát hiện giải mã
các cảm xúc trên gương mặt, tranh ảnh, giọng nói
và các giả tạo văn hóa (cultural artifact) Tiếp nhận
cảm xúc đại diện cho một khía cạnh của TTXC,
như là nó làm cho tất cả các xử lý thông tin cảm
xúc khác trở thành có thể
2 Sử dụng cảm xúc - khả năng khai thác các cảm xúc
để thuận tiện cho nhiều hành vi nhận thức, như là
nghĩ và giải quyết vấn đề Trí tuệ cảm xúc cá nhân
có thể tích lũy đầy đủ ngay lúc người ta thay đổi
tâm trạng để phù hợp trực tiếp nhất với công việc
3 Hiểu cảm xúc - khả năng thấu hiểu các ngôn ngữ
cảm xúc, hiểu rõ các mối quan hệ phức tạp giữa
các cảm xúc Ví dụ như hiểu cảm xúc hoàn thiện
khả năng nhạy bén trước các thay đổi rất nhỏ giữa
các cảm xúc, và khả năng nhận biết và mô tả các
cảm xúc tiến hóa theo thời gian
Mô hình này bị chỉ trích trong nghiên cứu là thiếu hiệu
lực trực diện và tiên đoán.[10]
4.3.2 Các mô hình hỗn hợp của TTXC
Mô hình Cảm xúc Năng lực (Goleman)
Mô hình giới thiệu bởiDaniel Goleman[11]tập trung về
TTXC như là mảng sâu rộng các năng lực và kỹ năng
điều khiển hiệu suất lãnh đạo Mô hình của Goleman
phác thảo 4 cách xây dựng TTXC chính:
1 Tự nhận thức — khả năng đọc các cảm xúc và nhận
ra ảnh hưởng của họ khi sử dụng cảm nhận Gut
để hướng đến các quyết định
2 Tự quản lý — bao gồm điều khiển các cảm xúc,
kích thích và thích nghi để thay đổi hoàn cảnh
3 Nhận thức xã hội — khả năng cảm nhận, hiểu vàphản ứng với các cảm xúc của người khác khi nhậnthứcmạng xã hội
4 ản lý mối quan hệ — khả năng truyền cảmhứng, gây ảnh hưởng và phát triển các kỹ năngkhác khi quản lý xung đột
Goleman bao hàm một tập các năng lực cảm xúc bêntrong mỗi cách xây dựng TTXC Các năng lực cảm xúckhông phải là các tài năng bẩm sinh, mà là các khả nănghọc được, phải được đào tạo liên tục, phát triển và đạtđến hiệu năng nổi trội Goleman thừa nhận rằng các
cá thể được sinh ra với các TTXC chung có khả năngxác định được các khả nãng tiềm tàng cho việc học hỏicác kỹ năng xúc cảm.[12]Mô hình của Goleman bị chỉtrích chỉ là tâm lý bình dân (Mayer, Roberts, & Barsade,2008)
4.3.3 Mô hình TTXC tính cách
Petrides và đồng nghiệp (2000a, 2004, 2007) đã đề nghịphân chia khái niệm giữa mô hình khả năng và mô hìnhdựa trên tính cách của TTXC.[13] TTXC tính cách là
“một chùm sao của các tri giác bản thân liên đới xúccảm, định vị tại tầng thấp hơn của tính cách” Trongphạm vi hẹp, TTXC đặc điểm chỉ đến tri giác bản thâncủa một cá thể về các khả năng cảm xúc của họ Địnhnghĩa này về TTXC bao gồm cách sắp đặt hành vi vàkhả năng tự cảm nhận và được đo bởi báo cáo bản thân(self report), đối lập với mô hình dựa khả năng, đã đượcchứng minh là đề kháng cao với các phương pháp đokhoa học TTXC đặc điểm cần được nghiên cứu bêntrong khung cảnh củatính cách.[14]Một danh hiệu thaythế cho cùng cách xây dựng là hiệu quả bản thân về xúccảm tính cách
Mô hình tính cách TTXC là khái quát và là sự lắp ghépcủa mô hình Goleman và các mô hình ngoại lệ (Bar-On)
Khái niệm hóa về TTXC như là các tính cách cá nhândẫn đến việc xây dựng những khả năng phép phân loạingoài nhận thức của con người Đây là cách phân biệtquan trọng như hướng thẳng đến các thao tác hóa củaviệc xây dựng lý thuyết và giả thuyết đã được phát biểu
4.4 Phê bình
4.4.1 TTXC định nghĩa quá rộng và các
định nghĩa của nó không ổn định:
Một trong những lập luận chống lại tính đúng đắn lýthuyết của khái niệm gợi ý rằng thay đổi liên tục và mởrộng những định nghĩa - sẽ bao hàm vô số các yếu tốkhông liên quan - đã nêu ra một khái niệm khó hiểu
Trang 1410 CHƯƠNG 4 TRÍ TUỆ XÚC CẢM
“Cái gi là yếu tố chung hoặc tích hợp trong khái niệm
được bao hàm:nội quanvề cảm xúc, diễn đạt biểu cảm,
giao tiếp không mô thức với những cái khác, sự thấu
cảm, tự điều chỉnh, tính quy hoạch, suy nghĩ sáng tạo
và hướng chú ý? Không có gi cả".”[15]
Những chỉ trích khác của Landy[16]đề cập rằng không
có ổn định nào về các khái niệm và các phương pháp
đo, siêu phân tích rất khó để thực hiện và lý thuyết nhất
quán thì gần như bất lợi vi ảnh hưởng của sự thiếu ổn
định
4.4.2 TTXC không được thừa nhận là một
loại trí thông minh:
Các phác thảo sớm của Goleman đã bị chỉ trích là thừa
nhận rằng TTXC là một kiểu trí thông minh Eysenck
viết rằng mô tả của Goleman về TTXC hàm chứa các
giả định về trí thông minh nói chung và rằng nó thậm
chí vẫn đối nghịch với cái mà các nhà nghiên cứu phải
kỳ vọng khi nghiên cứu các dạng thông minh:
“Goleman ví dụ hóa rõ ràng hơn tất cả các điều ngớ
ngẩn căn bản khác về xu hướng phân loại hầu hết bất kỳ
hành vi nào đều như một kiểu 'thông minh'… Nếu năm
khả năng định nghĩa 'TTXC', chúng ta có thể kỳ vọng
vài điều hiển nhiên rằng chúng đã quá tương quan;
Goleman thừa nhận rằng chúng có thể không liên quan,
và trong mọi trường hợp rằng nếu chúng ta không thể
cân đo đong đếm, làm thế nào chúng ta biết được rằng
chúng có liên quan? Vì vậy toàn bộ lý thuyết được xây
dựng trên một nền móng không vững chắc: không có
sự đúng đắn của khoa học căn bản”
Tương tự, Locke (2005)[15]nêu lên rằng khái niệm của
TTXC ngay trong bản thân nó là một giải thích sai lầm
về xây dựng trí thông minh và anh ta đề nghị một cách
diễn đạt khác: nó không phải là một kiêu hay dạng khác
của trí thông minh, nhung trí thông minh—khả năng
nắm đượctrừu tượng hóa—ứng dụng như một lãnh vực
đặc thù của đời sống: các cảm xúc Ông gợi ý rằng khái
niệm có thể được đặt tên lại và tham chiếu như là một
kỹ năng
4.4.3 TTXC không có giá trị tiên đoán thực
tế
Landy (2005)[16] đã xác nhận rằng chỉ có vài nghiên
cứu tích lũy hợp lý về TTXC đã chứng minh rằng nó
chỉ thêm vào rất ít hay không có giải thích hoặc tiên
đoán về các kết quả chung (hâu hết các thành công hàn
lâm nổi tiếng) Landy đề xuất rằng lý do mà các nghiên
cứu đã tìm thấy một lượng tăng nhỏ trong hiệu lực tiên
đoán là trong thực tế, mộtphương pháp luậnngụy biện
-các xem xét không đầy đủ về các giải thích thay thế:
“TTXC được so sánh và tương phản với một phép đo
của trừu tượng hóa trí tuệ với một phép đo tính cách
hoặc với một phép đo tính cách nhưng không có trí tuệ
Cách hiểu sự tương quan giữa các TTXC tự báo vàcác tính cách biên đổi và không nhất quán Nhiều nhànghiên cứu đã xác nhận rằng các tương quan trongkhoang.40 tạo nên hoàn toàn nhưng dư thừa,[18]trongkhi những người khác gợi ý răng TTXC tự báo là mộttính cách ngay trong bản thân nó.[13]
4.5 Tham khảo
[1] Bradberry, Travis and Greaves, Jean (2005) eEmotional Intelligence ick Book New York: Simonand Schuster (ISBN 0743273265)
[2] Bar-On, R (2006) e Bar-On model of social intelligence (ESI) Psicothema, 18, supl., 13-25.[3] orndike, R.K (1920) “Intelligence and Its Uses”,Harper’s Magazine 140, 227-335
emotional-[4] Gardner, H (1983) Frames of mind New York: BasicBooks
[5] “Howard Gardner, multiple intelligences andeducation” infed.org Truy cập 13 tháng 2 năm2015
[6] Payne, W.L (1983/1986) A study of emotion:developing emotional intelligence; self integration;relating to fear, pain and desire Dissertation AbstractsInternational, 47, p 203A (University microfilms No.AAC 8605928)
[7] Salovey, P.&Mayer, J.D.(1990)“Emotional intelligence”
Imagination, Cognition, and Personality, 9, 185-211[8] Dulewicz V & Higgs M (2000) Emotional intelligence– A review and evaluation study Journal of ManagerialPsychology 15 (4), 341 – 372
[9] Salovey P and Grewal D (2005) e Science of EmotionalIntelligence Current directions in psychologicalscience, Volume14−6
[10] Bradberry, T and Su, L (2006) Ability-versusskill-based assessment of emotional intelligence,Psicothema, Vol 18, supl., pp 59-66
[11] Goleman, D (1998) Working with emotionalintelligence New York: Bantam Books
Trang 154.5 THAM KHẢO 11
[12] Boyatzis, R., Goleman, D., & Rhee, K (2000) Clustering
competence in emotional intelligence: insights from the
emotional competence inventory (ECI) In R Bar-On &
J.D.A Parker (eds.): Handbook of emotional intelligence
(pp 343-362) San Francisco: Jossey-Bass
[13] Petrides, K V & Furnham, A (2000a) On the
dimensional structure of emotional intelligence
Personality and Individual Differences, 29, 313-320
[14] Petrides, K V & Furnham, A (2001) Trait emotional
intelligence: Psychometric investigation with reference
to established trait taxonomies European Journal of
Personality, 15, 425-448
[15] Locke, E.A (2005) Why emotional intelligence is an
invalid concept Journal of Organizational Behavior, 26,
425-431
[16] Landy, F.J (2005) Some historical and scientific issues
related to research on emotional intelligence Journal of
Organizational Behavior, 26, 411-424
[17] MacCann, C., Roberts, R.D., Mahews, G., & Zeidner,
M (2004) Consensus scoring and empirical option
weighting of performance-based emotional intelligence
tests Personality & Individual Differences, 36, 645-662
[18] Davies, M., Stankov, L., & Roberts, R D (1998)
Emotional intelligence: In search of an elusive
construct Journal of Personality and Social Psychology,
75, 989-1015
Trang 16Chương 5
Báo cáo Hạnh phúc thế giới
Báo cáo Hạnh phúc thế giới (World Happiness Report)
là thước đo hạnh phúc được xuất bản bởi cơ quan Mạng
lưới Giải pháp phát triển bền vững củaLiên Hợp ốc
(UN Sustainable Development Solutions Network) Báo
cáo này được viết bới các Giáo sư John F Helliwell,
trường Đại học British Columbia và Viện nghiên cứu
tiến bộ Canada, Lord Richard Layard, Giám đốc của
Chương trình Well-Being tại Trung tâm về Hiệu suất
kinh tế của LSE, và Giáo sư Jeffrey Sachs, giám đốc Viện
Trái đất tại Đại học Columbia, Giám đốc SDSN, và là Cố
vấn đặc biệt của Tổng thư ký Liên Hợp ốc.[1]
5.1 Danh sách xếp hạng hạnh phúc
Số liệu được thu thập từ người dân tại hơn 150 quốc gia
Nó được tính dựa trên 6 tiêu chí sau:GDP bình quân
đầu người, hỗ trợ xã hội,tuổi thọ trung bình, quyền tự
do lựa chọn cuộc sống và nhận thức về tham nhũng
Mỗi tiêu chí trên được đánh giá trên thang điểm từ 0
đến 10, được theo dõi liên tục và so sánh với các quốc
gia khác Điểm của mỗi nước cũng được so sánh với
một quốc gia giả, gọi là Dystopia Dystopia đại diện cho
các nước có thứ hạng trung bình thấp nhất cho mỗi tiêu
chí quan trọng và được sử dụng như một mức điểm tiêu
[1] World Happiness Report 2013 Ranks Happiest
Countries Around Globe Huffingtonpost.com
2013-09-09 Truy cập 15/07/2015
[2] “World Happiness Report 2016 Update” Cơ quan Mạng
lưới Giải pháp phát triển bền vững -Liên Hợp ốc;
Viện Trái đất -Đại học Columbia Trang 20-21-22
Phiên bản tĩnh của Bản đồ Hạnh phúc thế giới
[3] “2016 Update Report download”(PDF) Truy cập ngày
• Lists of countries and territories
• Danh sách các nước theo tỷ lệ sinh
• Danh sách các quốc gia theo tốc độ tăng trưởngdân số
• Danh sách các nước theo tuổi trung bình
• Danh sách các quốc gia theo tỉ lệ tử vong
Trang 175.4 LIÊN KẾT NGOÀI 13
nó là một phần lãnh thổ của mình Kosovo được 91/193
thành viên Liên Hiệp ốc công nhận
[2] See the following on statehood criteria:
• Mendes, Errol (30 tháng 3 năm 2010).“Statehood
and Palestine for the purposes of Article 12 (3)
of the ICC Statute” (PDF) 30 March 2010 tr
28, 33 Truy cập ngày 17 tháng 4 năm 2011:
"…the Palestinian State also meets the traditional
criteria under the Montevideo Convention…";
"…the fact that a majority of states have
recognised Palestine as a State should easily fulfill
the requisite state practice”
• McKinney, Kathryn M (1994).“e Legal Effects
of the Israeli-PLO Declaration ofPrinciples:
Steps Toward Statehood for Palestine” Seale
University Law Review (Seale University) 18
(93): 97 Truy cập ngày 17 tháng 4 năm 2011:
“It is possible, however, to argue for Palestinian
statehood based on the constitutive theory”
• McDonald, Avril (Spring 2009).“Operation Cast
Lead: Drawing the Bale Lines of the Legal
Dispute” Human Rights Brief (Washington
College of Law, Center for Human Rights and
Humanitarian Law) 25 Truy cập ngày 17 tháng
4 năm 2011: “Whether one applies the criteria of
statehood set out in the Montevideo Convention
or the more widely accepted constitutive theory
of statehood, Palestine might be considered a
state.”
Trang 18Chương 6
Chất lượng cuộc sống
Nước sạch, một trong những tiêu chí đánh giá chất lượng cuộc
sống, nhất là đối với các nước đang phát triển
Chất lượng cuộc sống là mộtthuật ngữđược sử dụng
để đánh giá chung nhất về các mức độ tốt đẹp của cuộc
sống đối với cáccá nhânvà trên phạm vi toànxã hội
cũng như đánh giá về mức độ sựsảng khoái, hài lòng
(well-being) hoàn toàn về thể chất, tâm thần và xã hội
Chất lượng cuộc sống là thước đo về phúc lợi vật chất
và giá trị tinh thần Trong thời đại ngày nay, việc không
ngừng nâng cao chất lượng cuộc sống cho con người là
một nỗ lực của cácnhà nước(Chính phủ),xã hộivà cả
cộng đồng quốc tế
6.1 Thuật ngữ
uật ngữ chất lượng cuộc sống được sử dụng trongmột loạt các ngữ cảnh bao gồm các lĩnh vực phát triểnquốc tế, y tế, sức khỏe và thậm chí là cả về mặt chínhtrị Chất lượng cuộc sống không nên nhầm lẫn với kháiniệm vềmức sống, mà tiêu chí là dựa chủ yếu vàothunhập ay vào đó, chỉ số tiêu chuẩn về chất lượng củacuộc sống bao gồm không chỉ về thu nhập, sựgiàucó
vàviệc làm, mà còn làmôi trường xã hội,môi trườngsống,sức khỏe(về thể chất) vàtinh thần,giáo dục,giảitrívà cuộc sống riêng tư Chất lượng cuộc sống cũngkhông nên nhầm vớichất lượng sống, một khái niệmchỉ về các chỉ số sức khỏe của con người
Ngoài ra chất lượng cuộc sống thường xuyên liên quanđến những khái niệm trừ tượng và đậm màu sắcchínhtrịnhưtự do,dân chủ,nhân quyền,dân quyền Ngoài
ra nó cũng liên quan đếnchỉ số hạnh phúc, tuy nhiên,
vìhạnh phúclà yếu tố mang tính chủ quan và khó để
đo lường,thống kê, người ta không thể cân đong đođếm được và không nhất thiết phải là sự giàu có, tăngthu nhập mới là sự hạnh phúc, thoải mái và mức sốngkhông nên được coi là một thước đo duy nhất của hạnhphúc
Chất lượng cuộc sống và hạnh phúc hiện tại của conngười tùy thuộc vào mức thu nhập vào các điều kiệnkinh tế và tài chính Nhưng vấn đề là điều kiện sống cóthoải mái hay không? Điều đó tùy thuộc vào sức khỏe,vào môi trường xã hội, vào kiến thức của từng người,vào các hoạt động văn hóa, vào thời gian để giải trí, nói14
Trang 196.3 XẾP HẠNG 15
chung là vào rất nhiều yếu tố không thể cân, đong, đo,
đếm bằng tiền bạc
Bữa ăn một trong những yếu tố phản ánh chất lượng cuộc sống
Một số tiêu chí khác có thể phản ánh chất lượng cuộc
sống như:HDI,GDP(GDP bình quân đầu người và hộ
gia đình, chỉ số nghèo đói), chỉ sốgiáo dục(gồm tỷ lệ
người biết chữ, trình độvăn hóavàtay nghề, số người
mù chữ, số năm đến trường, cơ sở hạ tầng cho giáo
dục), Chỉ sốtuổi thọ(gồm tuổi thọ,sức khỏe,y tếvà
các dịch vụ y tế, chăm sóc sức khỏe, cơ sở hạ tầng cho
y tế), và một số tiêu chí khác như chỉ sốcalobình quân
đầu người - phản ánh tình trạng no đủ và chất lượng
bữa ănđầu người, điều kiện sử dụngđiệnsinh hoạt, sử
dụngnướcsinh hoạt (nước sạch,nước lọc,nước máy,
nước ngầm,nước giếng…) là vấn đề cơ bản và cấp thiết
của con người, điều kiện vềnhà ở,chỗ ởcủa con người
(bao gồm diện tích nhà ở và chất lượng nhà ở), ngoài
ra còn các công trình công cộng, xã hội khác nhưcông
viên,nhà vệ sinh công cộng,nhà ở xã hội… và các công
trình phúc lợi công cộng khác phục vụ cho cuộc sống
vật chất và tinh thần của con người
6.2.2 Theo Liên Hiệp Quốc
Có lẽ biện pháp quốc tế được sử dụng phổ biến nhất để
đo lường chất lượng cuộc sống là cácchỉ số phát triển
con người(HDI), với các nội dung cơ bản về tuổi thọ,
giáo dục và mức sống như là một nỗ lực để nâng cao
cuộc sống có cho các cá nhân trong một xã hội nhất
định HDI được sử dụng bởi Chương trình Phát triển
của Liên Hợp ốc trong Báo cáo phát triển con người
của Liên Hiệp ốc Đây là một tiêu chí tổng hợp phản
ánh chất lượng cuộc sống
Hiện nay, tiêu chí để đánh giá chất lượng cuộc sống của
một nước dựa trên bảng chỉ số phát triển con người
của Liên Hợp ốc, chuyên theo dõi tỉ lệ mù chữ ở
người lớn, tuổi thọ trung bình và mức thu thập Bên
cạnh những nhân tố xếp hạng truyền thống như kinh
tế, an ninh, tỉ lệ thất nghiệp, còn có những nhân tố khác
như việc áp dụng các biện pháp tránh thai, sức khoẻ của
trẻ em, tỉ lệ tội phạm, tử hình…
6.2.3 Tiêu chí của WHO
WHOđã đưa ra tiêu chí chất lượng cuộc sống (ality
of life-100) gồm 100 câu hỏitrắc nghiệmđể đo một sốtiêu chí là:
• Đi lại(giao thông,vận tải)
• uốc men(y tế, chăm sóc sức khỏe)
Trên cơ sở đó chất lượng cuộc sống được định nghĩanhư một cảm nhận có tính cách chủ quan của cá nhânđặt trong bối cảnh môi trường xã hội và thiên nhiên[1]
6.3 Xếp hạng
6.3.1 2010
Năm 2010, Liên Hợp ốc xếp hạng chỉ số chất lượngcuộc sống, theo đó một số nước có chất lượng cuộc sốngcao là:[3][4]
Trang 2016 CHƯƠNG 6 CHẤT LƯỢNG CUỘC SỐNG
Zimbabweđứng cuối bảng xếp hạng của 169 nước được
xếp hạng, sau Mozambique, Burundi, Nigervà Cộng
hòa dân chủ Congo
6.3.2 2011
Tuy nhiên vào năm 2011, Australia đã trở thành nước
đứng đầu nhóm các nước có chỉ số cao về đảm bảo chất
lượng cuộc sống cho người dân Hai vị trí tiếp theo
thuộc về Canada và ụy Điển Mỹ đứng thứ 7 vàổ
Nhĩ Kỳđứng cuối cùng.[5]
Năm 2011, Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế
(OECD) đã công bố danh sách 11 nước đứng đầu thế
giới về chất lượng sống ứ tự 11 nước như sau:[6]
1 Úc: Tuổi thọ trung bình: 81 tuổi Tỷ lệ lao động
phải làm việc hơn 50 giờ mỗi tuần: 0,14%
2 Canada: Sốphòngbình quân của một người: 2,5
phòng Tỷ lệ người lao động phải làm 50 giờ một
tuần: 0,04%
3 ụy Điển: Tỷ lệ người dân không cónhà vệ sinhriêng: 0% Tỷ lệ cử tri đi bầu cử: 82%
4 New Zealand: Tuổi thọ trung bình: 80,4 năm Tỷ
lệ những người có thể dựa vào bạn bè hoặc ngườithân: 97,1%
5 Na Uy: Chi tiêu bình quân một hộ gia đình: 29.366đôla một năm Tỷ lệ lao động: 75,31%
6 Đan Mạch: Mức độ hài lòng về cuộc sống củangười dân là: 7,8/10 Tỷ lệ bà mẹ đang làm việc
và có con trong độ tuổi đi học là: 77,5%
7 Mỹ: Tỷ lệ người không có nhà vệ sinh riêng: 0%
Số vụ giết người trên 100.000 người dân: 5,2
8 ụy Sĩ: Tỷ lệ người lao động: 78,59% Tỷ lệ đi bỏphiếu: 49% dân số đăng ký
9 Phần Lan: ời gian một người tiêu tốn chogiảitrívà chăm sóc cá nhân: 15,95 giờ mỗi tuần Tỷ lệngười không có nhà vệ sinh riêng: 0,80%
10 Hà Lan: Tỷ lệ người lao động: 74,67% Tỷ lệ laođộng phải làm hơn 50 giờ mỗi tuần: 0,01%
11 Luxembourg: Số vụ giết người trên 100.000 ngườidân: 1,5 vụ Tỷ lệ lao động trong độ tuổi 15 – 64đang tìm việc làm: 1,29%
6.4 Chú thích
[1] Đi tìm chất lượng cuộc sống - Tuổi Trẻ Online
[2] RFI - Chỉ số đo lường chất lượng cuộc sống và hạnhphúc con người
[3] Na Uy - Nước có chất lượng cuộc sống tuyệt vời nhấtthế giới - ế giới - Dân trí
[4] VGP News | Những quốc gia có chất lượng cuộc sốngtốt nhất thế giới - Nhung quoc gia co chat luong cuocsong tot nhat the gioi
[5] SGGP Online- Australia có chất lượng cuộc sống caonhất thế giới
[6] “11 quốc gia có chất lượng sống cao nhất thế giới VnExpress Kinh doanh” VnExpress - Tin nhanh ViệtNam Truy cập 3 tháng 6 năm 2014
-6.5 Liên kết ngoài
• e First European ality of Life Survey 2003
• ality of Life in a Changing Europe, A researchproject on the quality of lives and work ofEuropean citizens
• Ensuring quality of life in Europe’s cities and towns,European Environment Agency
Trang 216.5 LIÊN KẾT NGOÀI 17
• AQoL Instruments, ality of Life Assessment
Instruments - Centre for Health Economics,
Monash University Australia
• Applied Research in ality of Life, the official
journal of the International Society for
ality-of-Life Studies
• Child Indicators Research, the official journal of
the International Society for Child Indicators
• ality of Life Research, an international journal
of quality of life aspects of treatment, care, and
rehabilitation - official journal of the International
Society of ality of Life Research
• Aer 2015: '3D Human Wellbeing', policy briefing
on the value of refocusing development on 3D
human wellbeing for pro-poor policy change,
from the Institute of Development Studies, UK
• Mercer ality of Living survey
• Subjective well-being: measuring subjective well
being ISBN 978-1456507572
• Basic Guide to the World: ality of Life
roughout the World
• Family database, OECD
Trang 22Chương 7
Chỉ số hành tinh hạnh phúc
Chỉ số hành tinh hạnh phúc, màu này xếp ở vị trí cao nhất ,
màu này xếp ở vị trí thấp nhất
Chỉ số hành tinh hạnh phúc (tiếng Anh: Happy Planet
Index, viết tắt HPI, có tài liệu dịch là Chỉ số hạnh
phúc hành tinh) là chỉ số do NEF (New Economics
Foundation- một tổ chức nghiên cứu kinh tế-xã hội
có trụ sở chính tạiVương quốc Anh) công bố Kết quả
dựa vào các số liệu chọn lọc từ các quốc gia, các tổ chức
quốc tế và các số liệu do chính NEF điều tra[1] Chỉ số
này nói lên mối quan hệ giữa tuổi thọ, cảm giác thoải
mái và các hành vi tác động đếnmôi trường, do vậy
đây không phải là chỉ số thuần túy đo hạnh phúc của
quốc gia, điều này có nghĩa là một nước có chỉ số HPI
cao chưa chắc đã là nước hạnh phúc thực sự mà có thể
chỉ vì họ không khai thác quá nhiềutài nguyên[1]
Do đó, dễ dàng nhận thấy là nhữngquốc gia đang phát
triển hoặckém phát triển nhấttạichâu Á, Nam Mỹ
lại được xếp đầu bảng, trong khi nhữngquốc gia công
nghiệpgiàu mạnh tạiBắc Mỹ,châu Âulại thường nằm
cuối bảng vì họ đã tận dụng quá nhiều tài nguyên thiên
nhiên[2]
eo bảng xếp hạng năm 2006,Việt Namđứng ở vị trí
số 12 trên thế giới và cao nhất châu Á[3] Trong 30 nước
dẫn đầu phần lớn là các nước đang phát triển, 2 quốc
gia thuộc Đông Nam Á khác làPhilippinvàIndonesia
lần lượt nắm các vị trí 17 và 25, Cuba còn xếp đến thứ
6 Những con số trên cho thấy tính độc lập rất lớn của
các tiêu chí do NEF đưa ra với các chỉ số khác nhưHDI
(chỉ số phát triển con người) vàGDP(tổng sản phẩm
quốc nội), vì các nước có chỉ số HPI cao lại thường có
HDI và GDP thấp và ngược lại Bằng chứng làVanuatu,
nước có chỉ số phát triển con người đứng thứ 120 thế
giới[4] lại là nước có HPI cao nhất, cònHoa Kỳnước
giàu có nhất thế giới, thu nhập theo đầu người xếp ở
vị trí thứ 4 (tính theo sức mua tương đương) và thứ 9(tính theo danh nghĩa)[5]lại chỉ xếp hạng 150 trên tổng
số 178 nước được khảo sát
7.1 Công thức tính HPI
• HPI= (Chỉ số hài lòng với cuộc sống x Tuổi thọ
trung bình) / Chỉ số dấu chân sinh thái (EF)
• Như vậy là HPI tỉ lệ thuận với tuổi thọ trung bình
và chỉ số hài lòng với cuộc sống, tỉ lệ nghịch vớichỉ số dấu chân sinh thái
7.2 Bảng xếp hạng
2012[6]
7.3 Chú thích
[1] Nghien_cuu_ve_hanh_phuc_va_chi_so_hanh_phuc/Nghiên cứu về hạnh phúc và chỉ số hạnh phúc
[2] Marks, N., Abdallah, S., Simms, A., ompson, S et al.
(2006) e Happy Planet Index 1.0 New EconomicsFoundation
[3] Việt Nam có chỉ số hành tinh hạnh phúc cao nhất tạiChâu Á, www.voanews.com
[4] ^ http://hdr.undp.org/en/media/hdr_20072008_en_complete.pdf Báo cáo phát triển con người 2007/2007của UNDP
[5] “Report for Selected Countries and Subjects (180countries; 6 subjects)" ỹ Tiền tệ ốc tế Truy cập17-06-2007
[6] New Economics Foundation (ngày 14 tháng 6 năm2012) “Happy Planet Index 2012” New EconomicsFoundation Truy cập ngày 14 tháng 6 năm 2012.[7] Abdallah, S., ompson, S., Michaelson, J., Marks, N.,
Steuer, N et al (2009).e Happy Planet Index 2.0 NewEconomics Foundation
18