1. Trang chủ
  2. » Y Tế - Sức Khỏe

Thể loại sản phẩm vệ sinh cá nhân

22 292 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 22
Dung lượng 1,07 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Điều này đã được kiểm chứngnhờ rất nhiều những khai quật thành công ở khắp mọi nơi trên thế giới, trong đó que nhai, cành cây, lông chim, xươngđộng vật và lông nhím đã được phát hiện.Mọi

Trang 1

ể loại:Sản phẩm vệ sinh cá nhân

Trang 2

Mục lục

1.1 Cơ chế tẩy rửa của xà phòng 2

1.2 Lịch sử 2

1.2.1 Giả thiết 2

1.3 Xem thêm 3

1.4 am khảo 3

2 981 4 2.1 Sự kiện 4

2.2 Sinh 4

2.3 Mất 4

2.4 am khảo 4

3 Natri stearat 5 3.1 Sử dụng 5

3.2 Sản xuất 5

3.3 Chú thích 5

3.4 Liên kết ngoài 5

4 Xà phòng hóa 6 4.1 am khảo 6

5 Bàn ải đánh răng 7 5.1 Lịch sử 7

5.2 Sử dụng 8

5.2.1 Lựa chọn bàn chải 8

5.2.2 Cách đánh răng 8

5.3 Bàn chải điện 8

5.4 Xem thêm 8

5.5 Chú thích 9

5.6 Liên kết ngoài 9

6 Băng vệ sinh 10 6.1 Lịch sử 10

i

Trang 3

ii MỤC LỤC

6.2 Tổng quan 12

6.3 Phân loại 12

6.3.1 Băng vệ sinh dùng một lần 12

6.4 am khảo 13

7 Băng vệ sinh dạng ống 14 7.1 Ưu điểm 14

7.2 Nhược điểm 14

7.3 iết kế và đóng gói 14

7.4 am khảo 14

8 Dầu gội 15 8.1 am khảo 15

8.2 Liên kết ngoài 15

9 Giấy vệ sinh 16 9.1 Tại Việt Nam 16

9.2 Xem thêm 16

9.3 am khảo 17

9.4 Liên kết ngoài 17

9.5 Nguồn, người đóng góp, và giấy phép cho văn bản và hình ảnh 18

9.5.1 Văn bản 18

9.5.2 Hình ảnh 18

9.5.3 Giấy phép nội dung 19

Trang 4

Chương 1

Xà phòng

Một bánh xà phòng Marseille, được làm thủ công theo phương

pháp cổ của Pháp.

Xà phòng hay xà bông (phiên âm từtiếng Pháp: savon)

là một chất tẩy rửa các vết bẩn, vết dầu mỡ ành phần

của xà phòng làmuối natrihoặckalicủaaxít béo Xà

phòng được dùng dưới dạng bánh, bột hoặc chất lỏng

Xà phòng trước kia được điều chế bằng cách chochất

béotác dụng vớikiềmbằngphản ứng xà phòng hoá

Sản phẩm tạo ra là muối natri hoặc kali của axit béo

Vì thế xà phòng được phân loại thành xà phòng cứng

(chứa natri) và xà phòng mềm (chứa kali) Loại xà

phòng này có một nhược điểm là không giặt được trong

nước cứngvì nó tạo các kết tủa với cácion canxivà

magiêbết lên mặt vải làm vải chóng mục

Về sau, xà phòng được sản xuất từdầu mỏ Vì thế nó

đã khắc phục được nhược điểm trên để có thể giặt được

quần áo bằng nước cứng

Xà phòng hiệu Cô Ba của nhà doanh nghiệp Trương Văn Bền ,

đã từng nổi tiếng dưới thời Pháp thuộc trong lịch sử Việt Nam Hiện vật đang được trưng bày trong Bảo tàng TP Hồ Chí Minh, Việt Nam.

Tác dụng tẩy rửa của xà phòng

1

Trang 5

2 CHƯƠNG 1 XÀ PHÒNG

1.1 Cơ chế tẩy rửa của xà phòng

Xà phòng là muối kali hay natri của axit béo hay

xà phòng tổng hợp đều có hai phần Một là đầu

hiđrocacbon kị nước, còn một đầu là ionkim loạiưa

nước Đối với các vết bẩn, dầu mỡ bám trên mặt vải thì

đầu kị nước sẽ quay vào trong vết bẩn, đầu ưa nước

hướng ra ngoài Sau đó sẽ tạo thànhmixenlà một khối

dạng cầu có đầu ưa nước quay ra ngoài tách vết bẩn ra

khỏi bề mặt vải

1.2 Lịch sử

Xà phòng nước

Xà phòng trang trí, thường thấy trong những khách sạn

Xà phòng làm thủ công, bán tại Hyères , Pháp

1.2.1 Giả thiết

3000 năm trước công nguyên, những người tiền sử dọc

bờsông Nilsau những lần nướng thịt thú săn trên lửa

để ăn, để tế thần Những giọt mỡ rơi xuống đống trotàn khi nguội lại sẽ vón thành cục cứng có màu xámxịt của tro Khi các cục cứng đó kết hợp với nước sẽtạo ra bọt, khi dùng để tẩy rửa vết bẩn (cố ý hoặc ngẫunhiên) sẽ rửa trôi rất nhanh, từ đó người ta chủ độnglàm theo cách đó để chế tạo ra sản phẩm tẩy rửa đầutiên của văn minh nhân loại loài người

Rồi cũng có giả thiết cho rằng người cổ đại từ lâu đãbiết tẩy rửa vệt bẩn trên cơ thể bằng cách bôi dầu tràmlên da, sau đó dùng nước hoa quả trộn với tro rửa lại cơthể cho sạch

Nhưng giả thiết phổ biến nhất, có độ tin cậy cao nhấtvẫn là 600 năm trước công nguyên ở đế chếLa Mã cổđại, có nhóm phụ nữ “tình cờ phát hiện” giặt quần áotrênsông Tiberdưới chân thành Sapo (ành Roma)sạch sẽ hơn hẳn so với các dòng sông khác Vậy bí mậtkhác biệt nằm ở đâu? Đó chính là do lớp tro và mỡđộng vật đổ ra từ các miếu thờ thần nằm trên đỉnh đồi.Kết hợp với nước từ dòng sông, chúng tạo thành chấttẩy rửa cổ đại, tiền thân của xà phòng hiện đại ngàynay Từ đó cái tên gọi phản ứng xà phòng hóa gọi là

“Saponification” được lái theo là tên đồi Sapo nơi người

ta khám phá ra xà phòng Từ “xà phòng” trong tiếng

Anh là Soap, tiếng Pháp là Savon đều bắt nguồn từ Sapo

mà ra, còn tiếng Việt là xà phòng

Khoảng năm 600 trước Công nguyên, những người đibiển từ đất nước Tây Ban Nha cổ đại đã làm ra loại xàphòng tương tự như xà phòng hiện nay Họ sử dụngtro của thân cây (chứa nhiều kali) hòa với mỡ dê vàđun sôi Sau khi nước bốc hơi và phần chất rắn nguội

đi, hỗn hợp này trở thành một chất rắn giống như sáp:

Trang 6

1.4 THAM KHẢO 3

phòng từ tro thân cây và mỡ động vật Họ gọi sản phẩm

này là ‘saipo’ Đó chính là nguồn gốc của từ ‘soap’ (xà

phòng) trong tiếng Anh hiện đại này nay

Đến năm 300 sau Công nguyên, Zosimos of Panopilos,

một nhà hóa học người Ai Cập, đã có thể làm xà phòng

rất giỏi và ông đã viết về quy trình nấu xà phòng Ở

Naplesvào thế kỷ VI và ở Tây Ban Nha vào thế kỷ VIII

đã có phường hội sản xuất xà phòng Cũng vào thế kỷ

VIII, ông Jabir Ibn Hayyan, một trí thức người Ả Rập,

đã viết về việc sử dụng xà phòng để tắm rửa

1.3 Xem thêm

Bột giặt

Natri stearatlàmuối natricủaaxit stearic Chất

rắn màu trắng này là loạixà phòngthông dụng

nhất

Xà phòng hóa

Các loại xà phòng

1.4 Tham khảo

Trang 8

Chương 3

Natri stearat

Natri stearat làmuối natricủaaxit stearic Chất rắn

màu trắng này là loạixà phòngthông dụng nhất Nó

có mặt trong nhiều loại chất khử mùi, cao su, sơn latex,

và mực Đây cũng là một thành phần của một sốphụ

giavà hương liệu thực phẩm.[1]

3.1 Sử dụng

Là đặc trưng của xà phòng, natri stearat có cả phầnthân

nướcvà phầnthân dầu, tương ứng đó là gốc cacboxylat

và mạch hydrocacbon dài Hai thành phần khác nhau

về mặt hóa học giúp hình thành nên những mixen,

trong đó đầu thân nước hướng ra ngoài còn đuôi kị

nước hướng vào bên trong, cung cấp một môi trường

thân dầu cho các hợp chất kị nước Phần đuôi hòa tan

trong dầu mỡ và tạo ra các thể mixen Nó cũng được

sử dụng trong công nghiệp dược phẩm như mộtchất

hoạt động bề mặtđể cải thiện tính tan của các chất kị

nước khi sản xuất nhiều loại chất sủi bọt trong miệng

(mouth foam)

3.2 Sản xuất

Natri stearat được tạo ra như là sản phẩm chính của

quá trìnhxà phòng hóadầu và chất béo Hàm lượng

natri stearat tùy thuộc vào thành phần chất béo Mỡ

động vật có chứa hàm lượng cao axit stearic (dưới

dạngtriglyceride), trong khi hầu hết các loại chất béo

khác chỉ chứa hàm lượng nhỏ Phương trình phản

ứng lý tưởng cho quá trình tạo natri stearat từ stearin

(triglyceride của axit stearic) như sau:

(C17H35COO)3C3H5 + 3NaOH →

C3H5(OH)3+ 3C17H35COONa

Natri stearat tinh khiết có thể được tạo ra từ phản ứng

trung hòaaxit stearicvớinatri hiđroxit

3.3 Chú thích

[1] Klaus Schumann, Kurt Siekmann, “Soaps” in Ullmann’s

Encyclopedia of Industrial Chemistry, 2005, Wiley-VCH,

Weinheim

3.4 Liên kết ngoài

Safety Data

5

Trang 9

Chương 4

Xà phòng hóa

Xà phòng hóa triglyceride bằng natri hiđrôxit

Xà phòng hóa là quá trìnhthủy phân este trong môitrườngkiềm, tạo thànhancolvà muốicacboxylat.Cho một lượngchất béorắn (ví dụ:tristearin) vào bát

sứ đựng dung dịchnatri hiđrôxit, đun sôi nhẹ hỗn hợptrong khoãng 30 phút đồng thời khuấy đều Để nguộihỗn hợp thì chất lỏng đồng nhất Rót thêm 10-15mldung dịchnatri cloruabão hòa vào hỗn hợp, khuấy nhẹsau đó giữ yên hỗn hợp, thấy có lớp chất rắn màu trắngnhẹ nổi lên trên, đó là muối natri củaaxit béo

(CH3[CH2]16COO)3C3H5+ 3 NaOH > 3

CH3[CH2]16COONa + C3H5(OH)3

Muốinatristearinđược dùng làm xà phòng nên phản

ứng trên được gọi là phản ứng xà phòng hóa.

4.1 Tham khảo

6

Trang 10

Chương 5

Bàn chải đánh răng

Ba chiếc bàn chải đánh răng

Bàn ải đánh răng (hay còn gọi là Bót đánh răng do

phiên âm từ chữ brosse trongtiếng Pháp) là một dụng

cụ được sử dụng để làm sạch răng, nó gồm có một chổi

nhỏ gắn liền trên một cán ông thường, thuốc đánh

răng còn có chứa thêm chấtflođể giúp làm sạch răng

hơn Đa số cácnha sĩkhuyến cáo người dùng nên chọn

loại bàn chải có nhẵn “Mềm” để tránh làm hư hạimen

và nướurăng Vì thế ngày nay, hầu hết bàn chải đánh

răng được thiết kế lông dạng đầu tròn, sợi lông mềm,

nhiều kích thước và hình dạng khác nhau

Bức ảnh năm 1899 chỉ cách sử dụng bàn chải.

5.1 Lịch sử

Sự đa dạng về dụng cụ vệ sinh răng miệng đã có trước

cả khi lịch sử được ghi lại Điều này đã được kiểm chứngnhờ rất nhiều những khai quật thành công ở khắp mọi

nơi trên thế giới, trong đó que nhai, cành cây, lông chim,

xươngđộng vật và lông nhím đã được phát hiện.Mọi người sử dụng các loại bàn chải đánh răng khácnhau Y học củaẤn Độđã sử dụng cây neem (còn gọi

là daatun) và từ đó chế ra một loại bàn chải đánh răng

mà nó đã được sử dụng trong nhiều thiên niên kỉ Người

ta nhai phần ngọn của một cành cây neem cho đến khi

nó dường như đủ mảnh để làm lông của một bàn chảiđánh răng, rồi sau đó sử dụng nó để chải răng Ở thếgiớihồi giáo, miswak, hay siwak, được tạo ra một cành

hoặc rễ cây có tính chất khử trùng, đã được sử dụngrộng rãi kể từ thời kỉ hoàng kim của đạo Hồi Đánh7

Trang 11

8 CHƯƠNG 5 BÀN CHẢI ĐÁNH RĂNG

răng bằng soda hoặc bằng phấn cũng đã từng rất phổ

biến

Chiếc bàn chải đánh răng đầu tiên có hình dạng gần

giống như ngày nay được tin là đã được tạo ra đầu tiên

tại Trung ốc vào khoảng cuối thập niên năm 1400,[1]

nó đã có lông cứng lấy từ cổ lợn, được gắn trên một

khúc tre

William Addis ởAnhđược tin là đã tạo ra bàn chải có

thể sản xuất hàng loạt đầu tiên vào năm 1780 Năm

1770, ông bị bỏ tù vì tội gây rối trật tự Trong tù, ông

đã quyết định phương pháp đánh răng – chà một miếng

giẻ nhỏ vào răng cùng với muối và nhọ nồi(soot) – cần

được thay đổi Nên ông lấy một mẩuxươngđộng vật

nhỏ, đục vào đó vài cái lỗ nhỏ, xin một vài sợi lông từ

người lính gác Ông buộc chúng lại thành các búi sau

đó luồn chúng qua những cái lỗ trên cụcxươngvà dán

chúng lại Ông sớm trở nên ốm yếu Ông mất vào năm

1808 và để lại công ty cho người con cả, William II

Bằng sáng chế bàn chải đầu tiên được trao cho H

N Wadsworth năm 1857 (Bằng sáng chế của MĨ No

18.653) ởHoa Kỳ, nhưng dây chuyền sản xuất ở Mĩ

lại phải đến năm 1885 mới bắt đầu iết kế nâng cao

hơn có tay cầm làm bằng xương với những cái lỗ được

khoan và gắn vào lông lợn lòi Xi-Bia Lông lợn lòi

không phải là một vật liệu quá lý tưởng, nó giữ lạivi

khuẩn, nó không được khô cho lắm, lông thường tuột

khỏi bàn chải Nó không được sử dụng cho đếnChiến

tranh thế giới thứ II, tuy thế, khái niệm về việc đánh

răng lại thức sự được năm bắt ở Mĩ, bởi vì nó dường

như đã trở thành một phần trách nhiệm của người lính

Mĩ để vệ sinh răng của họ Nó là một bài thực hành mà

họ đã mang trở về nhà sau khi chiến tranh kết thúc

Lông tự nhiên (từlôngđộng vật) được thay thế bằngsợi

tổng hợp, thường là sợi nylon, bởi DuPont năm 1938

Bàn chải sử dụng sợi nylon đầu tiên được bán lần đầu

vào ngày 24 tháng 2 năm 1938 Chiếc bàn chải điện

đầu tiên, Broxodent, được giới thiệu bởi công ty

Bristol-Myers (giờ là Bristol-Bristol-Myers Squibb) vào năm 1959

Vào tháng 1 năm 2003, bàn chải đánh răng được chọn

đứng vị trí số một trong những phát minh mà không

thể thiếu đối với cuộc sống của người Mỹ, vượt qua cả

điện thoại di động,máy tính,xe ôtô, vàlò vi sóngtheo

Lemelson-MIT chỉ số phát minh.[2]

5.2 Sử dụng

5.2.1 Lựa chọn bàn chải

Cùng với sự phát triển kinh tế là việc xuất hiện nhiều

thương hiệu cho người tiêu dùng bình chọn Tuy vào

mỗi thương hiệu lại đưa ra các dấu hiệu nhận biết riêng

để lựa chọn bàn chải đánh răng, tuy nhiên, có một số

lời khuyên chung cho nhiều loại sau:

• Sử dụng bàn chải mới, dùng riêng cho mỗi người

một bàn chải Nếu phải dùng bàn chải đã qua sửdụng thì nên chọn chiếc sạch, không có mùi hôithối, lông bàn chải phải có màu đồng đều

• Kích cỡ vừa miệng, không quá bé, quá to

• Lông bàn chải phải mềm,độ cứngvừa phải đảmbảođàn hồi

• Nên thay bàn chải định kỳ theo đúng tiêu chuẩn

• Sử dụng lực vừa phải tránh ráchlợi, mòn men răng

• Không kéo ngang bàn chải, nên đưa lên và xuống

theo chiều răng hoặc xoay tròn

• Đánh răng đủ cả năm mặt: mặt nhai, mặt ngoài

(gần má), mặt trong (giáp vớilưỡi) và hai mặt bêngiáp với hai răng bên cạnh (khuyến khích làm sạchhai mặt này bằng chỉ nha khoa)

Trang 12

Taking Care of Your Teeth Naturally

American Dental Association statements on

Trang 13

Chương 6

Băng vệ sinh

Băng vệ sinh.

Băng vệ sinh (sanitary napkin) là miếng lót thấm hút

dành cho nữ giới đang trong kỳkinh nguyệt, sau khi

vừa thực hiệnca phẫu thuật âm đạo, sau khi sinh nở

hay sau khiphá thai, hoặc trong bất kỳ tình huống nào

khác mà cần phải thấm hút một dòng máu chảy ra từ

âm đạo[1]

Những miếng lót băng vệ sinh không nên nhầm lẫn với

những miếng lót không thấm nước với độ thấm hút cao

hơn dùng cho những người bị chứng tiểu tiện không

kiểm soát (cả nam lẫn nữ) hay trải nghiệm căng thẳng

không kiểm soát Băng vệ sinh cũng có thể được một

số người sử dụng cho mục đích này

6.1 Lịch sử

a các thời đại phụ nữ đã sử dụng các hình thức khác

nhau để che chắn trong kỳ kinh nguyệt.[2][3]

Miếng lót kinh nguyệt được nhắc đến sớm nhất vào

thế kỷ thứ 10 ởSuda, nơi nữ học giả Hypatia thành

Alexandria, người đã sống vào thể kỷ thứ 4 sau Công

nguyên, được cho là đã ném một những tấm giẻ dùng

để thấm kinh nguyệt vào một anh chàng ngưỡng mộ

bà trong một nỗ lực để làm nản lòng anh ta.[4][5] Phụ

Một áp phích quảng cáo miếng lót của hãng Hartmann, khoảng

1900 “Accouchement” có nghĩa là sinh con và “puerperal fever”

là sốt hậu sản, chứng nhiễm trùng sau sinh.

nữ thường sử dụng dải vải cũ gấp lại (giẻ rách) để thấmdòng chảy máu kinh nguyệt của họ, đó là lý do tại saocụm từ “trên giẻ rách” được dùng để chỉ kỳ kinh nguyệt

Ý tưởng về miếng băng vệ sinh dùng một lần phát triển

từ một phát minh của Ben Franklin tạo ra để giúp cácbinh sĩ bị thương cầm máu,[6] nhưng xuất hiện mangtính thương mại hóa đầu tiên khoảng năm 1888 vớimiếng lót thương hiệu Southall.[7]

Tã dùng một lần mang tính thương mại xuất hiện đầutiên ở Mỹ là Lister’s Towels được sản xuất bởiJohnson

& Johnsonnăm 1888 Những miếng lót dùng một lầnbắt đầu với việc các y tá sử dung các dải băng làm từbột gỗ để thấm máu trong kỳ kinh, tạo ra một miếnglót được làm từ các vật liệu có thể tìm được dễ dàng vàkhông tốn kém để vứt đi sau khi sử dụng.[8]

10

Trang 14

6.1 LỊCH SỬ 11

Vỏ băng vệ sinh

ảng cáo đầu tiên củaKotexvề các sản phẩm được

làm bằng bột gỗ này (Cellucoon) xuất hiện vào năm

1888.[9]Một số hãng sản xuất miếng lót dùng một lần

đầu tiên trên thế giới cũng là những hãng sản xuất băng

cứu thương, có thể dưa ra chỉ dẫn về các sản phẩm

này là như thế nào Cho đến khi băng vệ sinh dùng

1 lần được sáng tạo ra, các miếng lót tái sử dụng hoặc

miếng vải được sử dụng rộng rãi để thấm hút máu kinh

nguyệt Phụ nữ thường sử dụng nhiều miếng lót kinh

nguyệt tự làm từ nhiều chất liệu vải khác nhau để dùng

trong chu kỳ kinh.[2][10]

ậm chí khi miếng lót vệ sinh dùng một lần đã có mặt

trên thị trường, trong nhiều năm giá của nó vẫn quá

đắt đối với nhiều phụ nữ.[11] Khi họ có đủ khả năng

chi trả, phụ nữ được phét đặt tiền vào trong một cái

hộp để họ không phải nói với nhân viên thu ngân và tự

mình lấy một hộp băng Kotex ở quầy tính tiền.[9]Phải

mất vài năm để băng vệ sinh dùng một lần trở nên phổ

biến Tuy nhiên, hiện giờ chúng được sử dụng gần như

độc quyền ở hầu hết các nước công nghiệp hóa trên thế

giới.[11]

Những miếng lót dùng một lần đầu tiên nói chung códạng hình chữ nhật làm từ sợibông gònhoặc loại sợitương tự được phủ một lớp thấm hút Những phần đầu

và đuôi lớp lót được mở rộng về phía trước và sau đểphù hợp qua phần vòng đai đặc biệt hoặc các dây buộcdưới đáy quần lót iết kế này khét tiếng về việc miếngbăng có thể trượt cả về phía sau hoặc phía trước vị trí

dự định ban đầu Sau đó người ta nghĩ ra việc thêmmột dải băng keo dính nằm ở giữa miếng băng vệ sinh

để dán vào đáy quần lót và điều này đã trở thành mộtphương pháp được ưa chuộng với phụ nữ Miếng lótkinh nguyệt buộc dây nhanh chóng biến mất vào đầunhững năm 1980

iết kế gọn nhẹ và vật liệu sử dụng để làm miếng đệmcũng thay đổi qua các năm 1980 đến ngày hôm nay Vớicác chất liệu trước đó không có khả năng thấm hút hiệuquả và những miếng lót trước đó dày tới 2cm, những kẽ

hở đó là một vấn đề lớn

Vài biến thể được giới thiệu như may chần lớp lót,thêm vào các “cánh” và giảm độ dày của miếng lótbằng cách sử dụng các sản phẩm như sphagnum vàgel superabsorbent polyacrylate có nguồn gốc từ dầu

mỏ Các vật liệu được sử dụng để sản xuất hầu hết cácmiếng lót có nguồn gốc từ ngành công nghiệp dầu khí

và lâm nghiệp Các lõi thấm hút được làm từ bột giấyđược tẩy trắng bằng chlorine có thể được cắt giảm để

để tạo ra các sản phẩm mỏng hơn với việc bổ sunggelpolyacrylatehút chất lỏng nhanh chóng và giữ nótrong một thể vẩn dưới áp suất Các nguyên liệu còn lạichủ yếu xuất phát từ ngành công nghiệp dầu khí, giấyphủ ngoài sử dụngpolypropylenekhông dệt, với màngngăn chống tràn làm từ màng phimpolyethylene.Những miếng lót kinh nguyệt bằng vải đã trở lại vàokhoảng những năm 1970,[12]do sự phổ biến của chúngngày càng tăng trong những năm cuối thập niên 80 vàđầu những năm 90 Lý do phụ nữ chọn để chuyển sangbăng vệ sinh bằng vải bao gồm sự thoải mái, tiết kiệmthời gian, tác động môi trường và lý do sức khỏe.Ngày nay có nhiều kiểu băng vệ sinh vải trên thịtrường, trải từ pantyliners tới các loại miếng lót banđêm Các loại miếng lót kinh nguyệt vải phổ biến gồmtất cả trong một hoặc miếng lót AIO, với lớp thấp hútđược khâu bên trong miếng lót, các miếng lót kiểu'thêm vào bên trên' với lớp thấm hút có thể được bảođảm ở phía trên miếng lót khi cần, các miếng lót kiểuphong bì hoặc bỏ túi có lớp thấm hút có thể thêm vàobên trong miếng lót khi cần hoặc kiểu có thể gập lạitrong đó miếng lót bao quanh các lớp thấm hút Cácmiếng lót bằng vải có thể có lớp lót chống nước, đemlại sự bảo vệ chống tràn cao hơn nhưng cũng có thểgiảm sự thông thoáng

Ở các nước kém phát triển, miếng lót tái sử dụng hoặctạm thời vẫn được sử dụng để thấm hút máu kinhnguyệt.[13]Vải vụn, đất, và bùn cũng báo cáo là được

sử dụng trong kỳ kinh nguyệt.[14]

Để đáp ứng nhu cầu trong việc đạt được một giải

Ngày đăng: 27/08/2017, 12:10

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w