Trước đây, long diên hương được sử dụng trong ngành công nghiệp sản xuất nước hoa, nhưng ngày nay nó đã được thay thế phần lớn bằngvật liệu tổng hợp và chỉ còn được sử dụng trong một số
Trang 1ể loại:Vật liệu sản xuất nước hoa222
Trang 2Mục lục
1.1 Đặc điểm 1
1.2 Việc nuôi trồng ở Việt Nam 1
1.3 Hình ảnh 2
1.4 Chú thích 2
1.5 Xem thêm 2
2 Long diên hương 3 2.1 Hình thành 3
2.1.1 Lịch sử và những ngộ nhận về sự hình thành 3
2.2 Tính chất vật lý 4
2.3 Tính chất hóa học 4
2.4 Sử dụng 4
2.5 Chú thích 4
2.6 am khảo 4
2.7 Liên kết ngoài 5
3 Long não 6 3.1 Độ hòa tan 6
3.2 Sử dụng 6
3.3 Độc tính học 6
3.4 Phản ứng 6
3.5 Tổng hợp sinh học 7
3.6 am khảo 7
4 Nardostays jatamansi 8 4.1 Hình ảnh 8
4.2 Chú thích 8
4.3 Liên kết ngoài 8
5 Opopanax 9 5.1 Hình ảnh 9
5.2 Chú thích 9
5.3 am khảo 9
i
Trang 3ii MỤC LỤC
6.1 Hình ảnh 10
6.2 Chú thích 10
6.3 Liên kết ngoài 10
7 ảng hoắc hương 11 7.1 Chú thích 11
7.2 Liên kết ngoài 11
8 Raspberry ketone 12 8.1 Trong tự nhiên 12
8.2 Điều chế 12
8.3 Ứng dụng 12
8.4 Chú thích 12
8.5 Liên kết ngoài 13
8.6 Nguồn, người đóng góp, và giấy phép cho văn bản và hình ảnh 14
8.6.1 Văn bản 14
8.6.2 Hình ảnh 14
8.6.3 Giấy phép nội dung 15
Trang 4Chương 1
Huệ
Huệ còn gọi là dạ lai hương (thơm ban đêm) hoặc
vũ lai hương (thơm lúc mưa)[2](danh pháp hai phần:
Polianthes tuberosa), là một loàihoađặc biệt, nở về
đêm, có khả năng tỏa hương về ban đêm với mùi hương
ngào ngạt ỞViệt Nam, hoa huệ dùng để cắm trong các
dịp cúng, lễ, còn gọi là huệ ta, để phân biệt với hoa huệ
trong bức tranh nổi tiếng "iếu nữ bên hoa huệ" là huệ
tây (Lilium longiflorum), hay còn gọi là hoa loa kèn
1.1 Đặc điểm
Hoa huệ thuộchọ ùa(Agavaceae), hình dáng giống
câytỏi Hoa huệ có hai giống, huệ đơn còn gọi là huệ
xẻ, cây thấp hoa ngắn và thưa Huệ kép còn gọi là huệ
tứ diện, cây cao, hoa dày và bông dài hơn
Hai giống này có thể phân thành nhiều loại trong đó
có huệ trâu cao khoảng 1,5- 1,6 mét bông dài Huệ ta
bông ngắn, thường nở trên cây, có mùi thơm, ngoài ra
còn có huệđỏ
Hoa huệ có màutrắng, bao hoa hình phễu, hương ngào
ngạt, toả hương về ban đêm Nhiều người cho rằng
hương thơmcủa huệ không tốt cho sức khoẻ nên ít ai
cắm huệ trong phòng ngủ
Cây hoa huệ là cây ưaánh sáng, cho hoa quanh năm
Tuy nhiên, hoa huệ nở chủ yếu vàomùa hècònmùa
đôngcho ít hoa, hoa nhỏ, bông ngắn hơn
Hoa huệ có cấu tạo cánh khá đặc biệt, khikhông khícó
độ ẩm cao, những khí khổng (lỗ trao đổi khí) trên cánh
hoa tự động mở to để dầu thơm thoát ra ngoài Ban đêm
tuy không cónắng, nhưng độ ẩm không khí lại cao hơn
ban ngày, cho nên các khí khổng mở to cho mùi thơm
thoát ra (mở túi thơm) Chính vì thế, banngàyhoa huệ
chỉ toả hương thoang thoảng, nhưng banđêmnó lại
thơm ngào ngạt
Hoa huệ toả mùi thơm theo độ ẩm, vì vậy không chỉ
ban đêm, mà vào ban ngày, kể cả khi trờimưa, độ ẩm
không khí cao, hoa huệ cũng thơm hơn ngày nắng.[2]
Tập tính nở về đêm của huệ hình thành qua quá trình
tiến hóa tiến hoá Do hoa tỏa ra mùi thơm để thu hút
côn trùng đến thụ phấn, duy trì nòi giống, vì vậy hoa
thụ phấn nhờ vào các loạicôn trùnghoạt động vào ban
đêm đặc biệt là hoa huệ thụ phấn nhờbướmđêm, nên phải nở vào ban đêm để thu hút những loài côn trùng này
1.2 Việc nuôi trồng ở Việt Nam
Ở Việt Nam, hoa huệ là thứ hoa được dùng nhiều trong việc cúng, lễ mà ít dùng để tặng nhau Cắm huệ vào bình nên rửa chân hoa và thay nước hàng ngày để giữ hoa được lâu Nước cắm hoa nên nhỏ vài giọt thuốc tím hay thuốc đỏ để diệt khuẩn gây thối chân hoa Hoa Huệ được trồng nhiều tại miền Bắc và một số vùng
ở miền Trung Hoa huệ được tiêu thụ nhiều nhất vào mùa lễ hội, đi chùa sau tết âm lịch ở Việt Nam Hiện nay, huệ đang được trồng chủ yếu ở các tỉnh phía Bắc Việt Nam, đặc biệt là các vùng trồng hoa lân cận
Hà Nội
Dùng hoa huệ trong các dịp lễ tết đã là một thói quen tiêu dùng của Việt Nam vì vậy nhu cầu tiêu thụ hoa huệ rất lớn Tuy nhiên, do quá trình độ thị hoá nên diện tích trồng Huệ ở đây đã bị thu hẹp nhanh chóng, trong khi đó nhu cầu về hoa Huệ trên thị trường ngày càng gia tăng vì vậy giá hoa Huệ nhiều năm vẫn ở mức cao Trung bình từ 10 – 15 nghìn một chục, đặc biệt trong các dịp lễ, tết giá hoa có thể tăng gấp rưỡi đến gấp đôi Mỗi sào Huệ sau khi trừ đi mọi chi phí khoảng 8 triệu đồng, thu tiền lãi từ 9 đến 10 triệu đồng một năm Nếu thời tiết thuận lợi có thể thu lãi được 15 đến 20 triệu đồng/sào
Nhiều nông dân ở các tỉnh lân cậnthành phố Hồ Chí Minhđã chuyển sang trồng hoa huệ để đáp ứng nhu cầu thị trường Tại Đồng Nai,Bình Dương, Bà Rịa – Vũng Tàunhiều hộ dân đã thay đổi nhờ trồng hoa Huệ Hoa huệ cũng được coi là nguyên liệu để chế biến một
số món ăn bổ dưỡng
1
Trang 52 CHƯƠNG 1 HUỆ
1.3 Hình ảnh
•
•
•
1.4 Chú thích
[1] “e Plant List: A Working List of All Plant Species”
Truy cập ngày 4 tháng 3 năm 2014
[2] http://vnexpress.net/GL/Khoa-hoc/Ban-co-biet/2004/
10/3B9D79E1/
1.5 Xem thêm
Trang 6Chương 2
Long diên hương
Bản vẽ một cục long diên hương năm 1753.
Long diên hương là một chất sáp màu xám được tạo ra
tronghệ tiêu hóacủacá nhà táng Trước đây, long diên
hương được sử dụng trong ngành công nghiệp sản xuất
nước hoa, nhưng ngày nay nó đã được thay thế phần
lớn bằngvật liệu tổng hợp và chỉ còn được sử dụng
trong một số loại nước hoa đắt tiền
2.1 Hình thành
Long diên hương nguyên gốc của một con cá nhà táng.
Long diên hương được tạo thành trong hệ tiêu hóa của
cá nhà táng nhưng chính xác quá trình hình thành như
thế nào thì chưa được khám phá Khác với nhiều người
tưởng, long diên hương không được nôn ra từ cá nhà táng mà được bài tiết ra cùng vớiphânvà có mùi tương
tự khi mới được thải ra.[1][2]Nhiều giả thuyết cho rằng
đó là chất tiết để bao bọc những thức ăn khó tiêu như răng của một số loài mực, nhưng cũng có thuyết cho rằng chất tiết này như một loạikháng sinhđể làm lành những vết thương trong ruột của cá nhà táng Long diên hương sau đó được nôn hoặc bài tiết ra ngoài hay
nó thoát ra biển sau khi cá nhà táng chết và xác bị phân hủy
2.1.1 Lịch sử và những ngộ nhận về sự
hình thành
Long diên hương đã được biết đến từ thế kỷ thứ 10 Từ những báo cáo có được từ các thương gia và thủy thủ,
du hành gia người Ả RậpAl-Masudiđã cho rằng long diên hương là một loại nấm mọc dưới đáy biển bị bão bứt ra khỏi gốc và trôi dạt vào bờ biển Lý thuyết về sự hình thành này tồn tại trong 6 thế kỷ
Người Ả Rập tin rằng long diên hương được chảy từ các con suối gần bờ biển Trong câu chuyện cổ tíchNgàn
lẻ một đêm, nhân vậtSinbadbị đắm tàu và trôi dạt vào một hoang đảo, nơi đây anh ta phát hiện ra một con suối chảy ra long diên hương
Khoảng năm 1000 CN, trong cổ thư Trung ốc đặt tên cho chất này là long diên hương (bính âm:Lóngxiánxiāng,zh: ) và miêu tả nó là một loại
“nước bọt của rồng”, bởi vì người ta tin rằng chất này
có nguồn gốc từ nước bọt của con rồng đang nằm ngủ gần biển tiết ra.[3]
Marco Pololà người đầu tiên ghi nhận long diên hương
là một chất bài tiết của cá nhà táng sau khi ông quan sát
cá nhà táng nôn ra chất này trong một cuộc săn mực gần quần đảo Socotra ởẤn Độ Dương
Năm 1783, nhà thực vật họcJoseph Bankstrong một tác phẩm của mình đã mô tả những quan niệm sai lầm phổ biến về long diên hương ở Tây Âu và nguồn gốc của chất này Ông xác định rằng nó là một sản phẩm sản sinh từ phần ruột bị phình to của một con cá nhà táng đang bệnh
Hai nhà hóa học người Pháp, Joseph Bienaimé 3
Trang 74 CHƯƠNG 2 LONG DIÊN HƯƠNG
Caventou và Pierre Joseph Pelletier là những người đầu
tiên sử dụng long diên hương làm chất nền trong nước
hoa
2.2 Tính chất vật lý
Long diên hương thường được tìm thấy ở dạng tảng,
cục với nhiều kích thước và hình dạng khác nhau
Khối lượng của nó dao động từ 15 g (~½ oz) đến 50
kg (110 pound) hay thậm chí là hơn thế Khi mới được
lấy ra từ cơ thể cá nhà táng, tiền chất dạngchất béo
của long diên hương có màu trắng nhợt, đôi khi điểm
vài vệt đen, mềm và có mùiphânrất nặng Sau nhiều
tháng hay nhiều năm bịôxi hóavàgiảm cấp quang hóa
(Photodegradation) ở biển khơi, tiền chất này chuyển
sang màu xám đậm hay đen với một kết cấu dạngsáp
và cứng giòn với hương thơm rất kỳ lạ bao gồm có mùi
đất, mùi biển và mùi của động vật Mùi của long diên
hương được miêu tả giống như “một phiên bản mùi nhẹ
nhàng nhưisopropanolmà không có mùi hắc và khó
chịu”
Trong điều kiện đã “trưởng thành”,long diên hương có
tỉ trọngtrong khoảng 0,780 và 0,926 Nó nóng chảy ở
62 độ bách phân và trở thành một chất lỏng dạng nhựa
cây có màu vàng Ở 100 ℃ (212 ℉) thì nó bay hơi, tạo
thành một làn hơi có màu trắng Long diên hương tan
được trongdietyl etevà dầu
2.3 Tính chất hóa học
Long diên hương trơ vớiaxít Nhữngtinh thể ambrein
màu trắng có thể được tách ra khỏi long diên hương
nếu ta nung nóng long diên hương trong cồn và để
nguội Ôxi hóa ambrein có thể sản sinh raambroxvà
ambrinol, hai thành phần chính tạo mùi hương của
long diên hương
Ambroxan, hiện được dùng rộng rãi trong ngành sản
xuấtnước hoa, là một trong những chất hóa học do con
người điều chế có tính chất mô phỏng theo long diên
hương tự nhiên.[4]
2.4 Sử dụng
Cũng nhưxạ hương, người ta biết nhiều đến long diên
hương thường chủ yếu là do nó được dùng trong việc
sản xuất nước hoa.[5] Long diên hương đã bị cấm sử
dụng ở nhiều quốc gia trong những năm 1970, trong
đó có Hoa Kỳ, bởi vì nguồn gốc của nó là từ cá nhà
táng, là mộtloài dễ bị tổn thương.[6]
Người Ai Cập cổ đốt long diên hương để xông thơm,
còn người Ai Cập hiện đại thì sử dụng nó trong các loại
thuốc lá thơm.[7] Trong đại dịchCái chết Đenở châu
Âu, người ta tin rằng nếu mang theo một quả cầu long
diên hương sẽ có thể giúp tránh bị lây nhiễm bởi vì
họ cho mùi thơm của nó có thể xua đi chướng khí gây bệnh
Chất này cũng từng được sử dụng như một hương liệu cho thực phẩm, và chất kích dục Trong thời Trung
cổ, người châu Âu sử dụng long diên hương như một loại thuốc chữa nhức đầu, cảm, động kinh, và các bệnh khác.[3]
Long diên hương có giá rất cao Giá của long diên hương vào thời điểm năm 2012 là 20 USD/gam, bằng 2/3 giávàng.[8]
2.5 Chú thích
[1] Christopher Kemp (2006).Floating Gold: A Natural (and Unnatural) History of Ambergris University of Chicago Press tr 12
[2] Peter Smith (ngày 12 tháng 6 năm 2012).“A Taste of Edible Feces” Smithsonian
[3] “Strange but True: Whale Waste Is Extremely Valuable: Scientific American” Sciam.com Ngày 26 tháng 4 năm
2007 Truy cập ngày 14 tháng 3 năm 2010
[4] “Perfume Shrine: Ambrox/Ambroxan: a Modern Fascination on an Elegant Material” Truy cập 3 tháng
10 năm 2015
[5] Kieran Mulvaney (ngày 8 tháng 6 năm 2012).“ere’s Gold in at ar Whale Poop” Discovery
[6] IUCN Redlist [7] Brady, George Stuart; Clauser, Henry R.; Vaccari,
John A (2002) Materials Handbook: An Encyclopedia
for Managers, Technical Professionals, Purchasing and Production Managers, Technicians, and Supervisors.
United States: McGraw-Hill Professional tr 64.ISBN 978-0-07-136076-0
[8] Eric Spitznagel (ngày 12 tháng 1 năm 2012).“Ambergris, Treasure of the Deep” BusinessWeek
2.6 Tham khảo
• Borschberg, Peter, “O comércio de âmbar asiático
no início da época moderna (séculos XV-XVIII) – e Asiatic ambergris trade in the early
modern period (15 to 18 century)" Oriente, Lisbon:
Fundação Oriente, vol 8, April 2004, pp 3–25
• Kemp, Christopher (ngày 15 tháng 5 năm 2012) Floating Gold: A Natural (and Unnatural) History
of Ambergris University of Chicago Press. ISBN 9780226430362
• Alain Corbin: Pesthauch und Blütendu: Eine Geschichte des Geruchs (Originaltitel: Le miasme
et la jonquille Aubier Montaigne, Paris 1982.
Trang 82.7 LIÊN KẾT NGOÀI 5
Übersetzt von Grete Osterwald), Wagenbach,
Berlin 2005 (Erstausgabe 1984),ISBN
978-3-8031-3618-3
• Sabine Krist/Wilfried Grießer: Die Erforschung
der chemischen Sinne. Geruchs- und
Geschmackstheorien von der Antike bis zur
Gegenwart Lang, Frankfurt am Main / Berlin /
Bern / Bruxelles / New York / Oxford / Wien 2006,
ISBN 978-3-631-55284-1
• Gisela Reinecke, Claudia Pilatus: Parfum - Lexikon
der Düe Komet, Köln 2006, ISBN
978-3-89836-596-3
• Renate Smollich: Der Bisamapfel in Kunst und
Wissenscha Deutscher Apotheker Verlag,
Stugart 1983,ISBN 3-7692-0733-5, S 26–30 (zur
Geschichte des Dustoffs)
• Bernd Schäfer (tháng 12 năm 2011) Ambrox:
Unwiderstehliche Dunote Chemie in unserer Zeit
45 (6) (Weinheim: Wiley-VCH Verlag) tr 374–388.
ISSN 0009-2851.doi:10.1002/ciuz.201100557
2.7 Liên kết ngoài
• Natural History Magazine Article (from 1933):
Floating Gold e Romance of Ambergris
• Ambergris - A Pathfinder and Annotated
Bibliography
• On the chemistry and ethics of Ambergris
• Scientific American Strange but True: Whale
Waste Is Extremely Valuable
• “e Origin of Ambergris” excerpted from
Floating Gold by Christopher Kemp
• Trở thành tỷ phú trong phút chốc nhờ nhặt được
“cục vàng”Báo Dân trí online
Trang 9Chương 3
Long não
Long não hay còn gọi là băng phiến là một chất rắn kết
tinh màu trắng hay trong suốt giống như sáp với mùi
thơm hăng mạnh đặc trưng Nó là một loạiterpenoid
với công thức hóa học C10H16O Nó được tìm thấy
trong gỗ của câylong não(Cinnamonum camphora),
một loại cây thân gỗ lớn thường xanh, mọc ởchâu Á,
đặc biệt làBorneo,Indonesiavà một vài loại cây gỗ có
quan hệ họ hàng khác tronghọ Nguyệt quế, đáng chú
ý làOcotea usambarensisở Đông Phi Nó cũng có thể
được tổng hợp từnhựa thông Nó được sử dụng vì mùi
của nó, trong vai trò của các chất lỏng để ướp và cho
các mục đích y học
Long não đượcGustaf Komppatổng hợp nhân tạo lần
đầu tiên vào năm1903 Trước đó, một số hợp chất hữu
cơ (chẳng hạnurê) cũng đã được tổng hợp trong phòng
thí nghiệm, nhưng khi đó long não là một sản phẩm
ít có trong tự nhiên và lại với nhu cầu rộng khắp thế
giới nên nó đã được Komppa bắt đầu sản xuất ở quy mô
công nghiệp tạiTainionkoski,Phần Lannăm1907như
là chất tổng hợp toàn phần công nghiệp đầu tiên
3.1 Độ hòa tan
Long não hòa tan kém trong nước, chỉ khoảng 0,12
g/100 ml nước ở 25 ℃ nhưng nó hòa tan khá tốt trong
các dung môi khác như axít axetic (~200 g/100 ml),
êtanol(~100 g/100 ml),axêton(~250 g/100 ml),ête(~100
g/100 ml) hay clorofom (~200 g/100 ml) ở điều kiện
tương tự
3.2 Sử dụng
Ngày nay long não được sử dụng làm tác nhân làm mềm
choxenluloza nitrat, cũng như để làm các viênbăng
phiếnđể chống côn trùng làm hại quần áo, cũng như là
chất khử trùng, trong ướp thơm và trong các loạipháo
hoa Các tinh thể long não cũng được dùng để ngăn
chặn thương tổn do bị các loạicôn trùngnhỏ cắn Một
số dạng thuốc mỡ chống ngứa có sử dụng long não như
là thành phần hoạt tính chủ yếu Nó cũng được sử dụng
trongy học Long não dễ dàng hấp thụ qua da và tạo ra
cảm giác mát tương tự nhưtinh dầu bạc hà(menthol)
và có tác dụng như là một chất gây tê và khử trùng nhẹ cục bộ Nó cũng thể uống với lượng nhỏ (50 mg) đối với các triệu chứng bệnh tim nhỏ cũng như mệt mỏi Long não cũng được sử dụng như là một loại hương liệu trong các loại đồ ngọt ởẤn Độvàchâu Âu Người ta cũng cho rằng long não đã từng được dùng làm hương liệu trong các loại bánh kẹo tương tự nhưkemởTrung
ốctrong thời kỳnhà Đường
Trong các lễ tế puja của đạo Hindu, long não cũng được dùng để thắp sáng ngọn lửa cho nghi lễ aarti
3.3 Độc tính học
Với một lượng lớn, nó là một chất gây ngộ độc khi nuốt phải và có thể gây ra tai biến ngập máu, rối loạn, kích thích và hiếu động thái quá Năm 1980, FDAHoa Kỳđã đặt giới hạn 11% long não cho phép trong các sản phẩm tiêu dùng và cấm toàn bộ các
sản phẩm dán nhãn là camphorated oil, camphor oil, camphor liniment, camphorated liniment (các loại dầu
long não) (nhưng long não lại không có mặt trong
“white camphor essential oil"-tinh dầu long não trắng)
3.4 Phản ứng
Các phản ứng điển hình mà long não tham gia là:
• Brôm hóa
• Ôxi hóabằngaxít nitric 6
Trang 103.6 THAM KHẢO 7
• Chuyển hóa thành isonitrosocamphor
Long não cũng có thể bị khử thànhisoborneol bằng
bohiđrua natri
3.5 Tổng hợp sinh học
Trong tổng hợp sinh học, long não được sản xuất
từ geranyl pyrophotphat, thông qua đóng vòng của
linaloylpyrophotphat thànhbornylpyrophotphat, tiếp
theo là thủy phân thànhborneolvà ôxi hóa thành long
não
Tổng hợp sinh học của long não từ geranyl pyrophotphat
3.6 Tham khảo
1 J Mann, R S Davidson, J B Hobbs, D V
Banthorpe, J B Harborne, Natural Products, các
trang 309-311, Addison Wesley Longman Ltd.,
Harlow, UK, 1994.ISBN 0-582-06009-5
2 Handbook of Chemistry and Physics, CRC Press,
Ann Arbor, Michigan
3 e Merck Index, Ấn bản lần thứ 7, Merck & Co,
Rahway, New Jersey, Hoa Kỳ, 1960